Do tính cấp bách của việc hoàn thiện pháp luật về BHĐC và ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa nên việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật về BHĐC tại Việt Nam trên cơ sở tham chiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ QUANG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
VŨ VĂN TÚ
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ VIỆC HỌC HỎI KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA VIỆT NAM 4
1.1 Bán hàng đa cấp 4
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp 4
1.1.2 Vai trò bán hàng đa cấp 7
1.1.3 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam 8
1.2 Pháp luật về bán hàng đa cấp 10
1.2.1 Khái niệm pháp luật về bán hàng đa cấp 10
1.2.2 Nội dung pháp luật về bán hàng đa cấp 11
1.3 Vấn đề học hỏi kinh nghiệm một số nước trên thế giới về bán hàng đa cấp của Việt Nam 14
1.3.1 Nhu cầu học hỏi kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bán hàng đa cấp 14
1.3.2 Nguyên tắc học hỏi kinh nghiệm quốc tế 16
1.3.3 Kinh nghiệm của một số nước 16
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA VIỆT NAM 42
2.1 Một số nét về ngành công nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam 42
2.1.1 Lịch sử phát triển 42
Trang 42.1.2 Thực trạng ngành công nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam 44
2.2 Thực trạng quy định pháp luật về bán hàng đa cấp của Việt Nam 45
2.2.1 Chủ thể của quan hệ pháp luật bán hàng đa cấp 45
2.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động Bán hàng đa cấp 48
2.2.3 Các hiệp hội có liên quan 49
2.2.4 Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp 50
2.2.5 Kiểm soát hoạt động bán hàng đa cấp 55
2.3 Thực trạng thực thi quy định pháp luật và những khó khăn trong việc quản lý về bán hàng đa cấp tại Việt Nam 57
2.3.1 Vi phạm pháp luật về bán hàng đa cấp 57
2.3.2 Xử lý vi phạm 61
2.3.3 Khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý bán hàng đa cấp tại Việt Nam 65
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM THEO KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 73
3.1 Nhận định chung 73
3.1.1 Nhu cầu hoàn thiện những quy định pháp luật về Bán hàng đa cấp tại Việt Nam 73
3.1.2 Một số nét chính có thể học hỏi trong kinh nghiệm các nước để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Bán hàng đa cấp ………75
3.2 Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Bán hàng đa cấp 77
3.2.1 Tiếp tục thừa nhận phương thức bán hàng đa cấp và siết chặt quản lý 77
3.2.2 Điều chỉnh tên gọi của phương thức 77
3.2.3 Tội phạm hóa hành vi bán hàng đa cấp vi phạm pháp luật 78
3.2.4 Thừa nhận một cách chính thức bán hàng đa cấp đối với dịch vụ 79
3.2.5 Điều chỉnh các quy định về Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động Bán hàng đa cấp 79
Trang 53.2.6 Các điều chỉnh khác 82
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
BHĐC trên thế giới có lịch sử phát triển gần 80 năm và có những bước phát triển nhất định tại Việt Nam Trên thế giới có hơn 30.000 công ty phân phối sản phẩm theo phương thức BHĐC [53] Tại Việt Nam tính đến tháng 10/2012 đã có sự xuất hiện của 77 doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức BHĐC với số lượng NPP ngày càng tăng nhanh (khoảng 1 triệu người) [23] Trong khi đó, làn sóng của các công ty Việt Nam và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam sẽ chưa dừng lại trong thời gian tới với sự xuất hiện của một số công ty lớn có thể kể đến như TUPPERWARE (Indonesia), GANO EXCEL (Malaysia)…
Hiện nay, hệ thống pháp luật Việt Nam quản lý về hoạt động BHĐC còn đang
trong giai đoạn hoàn thiện với: Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 ngày 03/12/2004 (Luật
Cạnh tranh 2004) [26]; Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của Chính phủ
về quản lý hoạt động BHĐC (Nghị định 110) [7] được thay thế bởi Nghị định số 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động BHĐC (Nghị định
42) [10]; Thông tư số 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị
định 110 (Thông tư 19) [2] và Thông tư số 35/2011/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số nội dung về thủ tục hành chính tại Thông tư 19 (Thông tư 35) [3] được thay thế bởi Thông tư
số 24/2014/TT-BCT hướng dẫn Nghị định 42 (Thông tư 24) [5] Hệ thống pháp luật về
BHĐC vẫn còn nhiều lỗ hổng, hạn chế dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng gây khó khăn trong công tác quản lý, tình trạng BHĐC bất chính diễn ra phổ biến, vi phạm quy định hoạt động BHĐC xảy ra ngày một nhiều ảnh hưởng quyền lợi NTD Do vậy, nhu cầu sửa đổi, bổ sung là tất yếu để kiểm soát tốt sự phát triển ngành công nghiệp này
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam là một thành viên tích cực và có trách nhiệm trong hội nhập kinh tế quốc tế Chúng ta là thành viên của tổ chức thương mại thế giới – WTO (2007), Diễn đàn hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương – APEC (1998)… Do vậy, chúng ta cũng tranh thủ cơ hội để tiếp thu những thành tựu của nền lập pháp thế giới để giải quyết vấn đề cấp bách hiện nay
Trang 8Do tính cấp bách của việc hoàn thiện pháp luật về BHĐC và ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa nên việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định pháp luật về BHĐC tại Việt Nam trên cơ sở tham chiếu, học tập kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để hoàn thiện pháp luật trong nước là rất cần thiết Bởi vậy, trong đề tài luận văn thạc sĩ của mình,
tác giả xin lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về Bán hàng đa cấp tại Việt Nam
theo kinh nghiệm một số nước trên thế giới” làm đề tài nghiên cứu Luận văn nghiên
cứu các khía cạnh khác nhau của quy định pháp luật về BHĐC tại Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm lập pháp của một số nước để thấy được những vấn đề còn tồn tại của
hệ thống pháp luật Việt Nam và tìm ra hướng hoàn thiện
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các đề tài nghiên cứu trước đây thường đề cập đến vấn đề BHĐC dưới góc độ
“Bất chính” “Cạnh tranh không lành mạnh”, có thể kể đến luận văn thạc sĩ “Pháp luật về Bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam” của tác giả Ninh Thị Minh Phương bảo vệ năm
2012 do TS Bùi Nguyên Khánh hướng dẫn khoa học, đề tài tiến sĩ “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam” của tác giả Lê Anh Tuấn bảo vệ năm 2008 do
PGS.TS Nguyễn Như Phát hướng dẫn khoa học…
Luận văn này sẽ cố gắng đi sâu vào các khía cạnh khác nhau của hoạt động BHĐC, phân tích và đánh giá nó trên cơ sở học tập kinh nghiệm xây dựng pháp luật của một số nước trên thế giới để đưa ra được định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật và kiện toàn công tác quản lý trong thực tiễn hiện nay ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ khảo cứu hệ thống pháp luật Việt Nam về quản
lý hoạt động BHĐC, trên cơ sở đó, tìm hiểu thực trạng vi phạm và rà soát công tác quản
lý đối với các doanh nghiệp hoạt động BHĐC tại Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng khảo sát pháp luật của một số nước về quản lý hoạt động BHĐC để học tập kinh nghiệm giúp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu quy định pháp luật về
BHĐC, thực trạng vi phạm và vấn đề xử lý vi phạm của các cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp BHĐC tại Việt Nam những năm gần đây Song song với nó, luận văn cũng
Trang 9chú trọng tìm hiểu quy định pháp luật các nước: Malaysia, New Zealand, Canada để học hỏi kinh nghiệm, hoàn thiện pháp luật Việt Nam
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích chung nhất là hoàn thiện pháp luật về BHĐC Việt Nam để quản lý tốt hơn phương thức này trở thành một phương thức bán hàng đúng nghĩa của nó Trên cơ sở
đó, xây dựng cơ chế quản lý, điều hành tốt hơn đem lại lợi ích cho các bên liên quan Để thực hiện mục đích nghiên cứu ở trên, tác giả sẽ triển khai đồng bộ các nhiệm vụ sau: Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về BHĐC; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về BHĐC của Việt Nam để thấy những điểm còn hạn chế, chưa hợp lí; Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm, thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về BHĐC tại Việt Nam và nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về BHĐC; Nghiên cứu, tìm hiểu quy định pháp luật về BHĐC của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam; Đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản
lý hoạt động BHĐC
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử bao gồm: Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu ra thành ba phần gồm lời mở đầu, nội dung chính và kết luận Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo hướng đi từ những vấn đề chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể hơn Chi tiết:
Chương 1: Những vấn đề chung về BHĐC và việc học hỏi kinh nghiệm một số
nước trên thế giới về BHĐC của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng pháp luật về BHĐC của Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về BHĐC tại Việt Nam theo kinh nghiệm một số
nước trên thế giới
Chương 1
Trang 10NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ VIỆC HỌC HỎI KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CỦA
VIỆT NAM
1.1 Bán hàng đa cấp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Bán hàng đa cấp
BHĐC là thuật ngữ chung dùng để chỉ phương thức tiếp thị để bán lẻ sản phẩm với đội ngũ bán hàng được trả thưởng không chỉ từ doanh số bán hàng của họ mà còn từ doanh số bán hàng của những NPP cấp dưới, từ đó tạo thành hệ thống gồm các cấp độ trả thưởng khác nhau
Thông thường, các NPP sẽ bán sản phẩm trực tiếp tới tay NTD thông qua các mối quan hệ quen biết hay thông qua trao đổi, gặp gỡ và tiếp thị trực tiếp Khách hàng cũng
có thể lựa chọn mua hàng trực tiếp tại công ty hoặc qua một NPP của công ty (nhưng không phải thông qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ) Nhờ vậy, hình thức này tiết kiệm rất nhiều chi phí về tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển, khuyến mại, quảng cáo… Số tiền này thay vào đó, được dùng để trả thưởng cho NPP và nâng cấp, cải tiến sản phẩm (do đó chất lượng sản phẩm của các công ty tiếp thị đa cấp thường cao và liên tục được nâng cấp)
BHĐC là phương thức tiếp thị tận dụng chính thói quen của NTD khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ tốt là thường chia sẻ cho người thân, bạn bè và những người xung quanh NPP có vai trò như những đại lý bởi họ dùng những kinh nghiệm sử dụng sản phẩm của bản thân và những người quen biết để chia sẻ, từ đó thu hút khách hàng Trên cơ sở đó,
họ đem về lượng khách hàng cho công ty và bản thân họ Ngoài ra họ còn có thể tìm kiếm những đối tác khác để có thể trở thành NPP cùng làm việc với mình, việc này được quản lý bằng mã số Khi đó, mã số của một NPP mới được kết nối với mã số của người bảo trợ hay còn gọi là tuyến trên của người đó
Tại Việt Nam, BHĐC được định nghĩa trong Luật Cạnh tranh 2004 cũng mang những đặc điểm chung của BHĐC như sau:
BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:
Trang 11a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
b) Hàng hóa được người tham gia BHĐC tiếp thị trực tiếp cho NTD tại nơi ở, nơi làm việc của NTD hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;
c) Người tham gia BHĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia BHĐC cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp BHĐC chấp thuận [26, Điều 3 khoản 11]
Căn cứ vào định nghĩa được nêu ra tại khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004, các đặc trưng của phương thức BHĐC bao gồm:
- BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa
Với phương thức bán lẻ hàng hoá thông qua mạng lưới tiếp thị, doanh nghiệp BHĐC thiết lập mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với NTD không cần đầu tư thành lập, duy trì mạng lưới phân phối dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm, đại lý phân phối Doanh nghiệp BHĐC có thể là doanh nghiệp sản xuất trực tiếp tiếp thị và bán lẻ bằng phương thức đa cấp (Công ty TNHH Amway Việt Nam, Công ty TNHH Mỹ phẩm AVON Việt Nam…) hoặc là các doanh nghiệp phân phối hàng hóa do doanh nghiệp khác sản xuất (Công ty TNHH Kangzen-Kenko Việt Nam, Công ty TNHH Nu Skin Enterprises Việt Nam, Công ty TNHH Tupperware Việt Nam…) Cầu nối giữa doanh nghiệp và NTD là hệ thống NPP Họ được cung cấp tài liệu và hướng dẫn các thông tin
về đặc tính của sản phẩm để họ có thể giới thiệu chi tiết tới khách hàng Họ được trả hoa hồng thay vì lương, cộng tác với doanh nghiệp và tìm kiếm đối tác để xây dựng hệ thống của chính mình thay vì được tuyển dụng Điều này giúp cho cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp BHĐC gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí hệ thống và giảm giá thành sản phẩm
Đối tượng của phương thức BHĐC hiện nay vẫn chỉ là hàng hoá Mặc dù Nghị định số 42 được thông qua có ghi nhận trường hợp BHĐC đối với dịch vụ có thể được phép [10, Điều 4.3] Tuy nhiên, cho đến khi nào nhà làm luật có những quy định cụ thể hơn thì việc BHĐC với dịch vụ mới được triển khai Hiện tại, dịch vụ vẫn chưa phải là
Trang 12đối tượng được phép BHĐC Mặt khác, không phải mọi hàng hóa đều là đối tượng có thể được phân phối dưới hình thức BHĐC Theo quy định của pháp luật hiện hành, những hàng hóa như: dược phẩm, hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, hàng hóa pháp luật cấm kinh doanh… không được phân phối dưới phương thức BHĐC
- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau
Người tham gia BHĐC là những cộng tác viên trong việc tiếp thị, bán lẻ hàng
hoá (họ được gọi với nhiều tên khác nhau như NPP độc lập, tư vấn viên…) trực tiếp cho
NTD mà không nhân danh doanh nghiệp Như vậy, doanh nghiệp không phải là chủ thể trực tiếp thiết lập quan hệ với NTD mà thông qua mạng lưới người tham gia Do người tham gia BHĐC không phải là nhân viên của mình, nên doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm về hành vi của người tham gia, mà chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phạm vi chất lượng sản phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm do họ cung cấp
Khi tham gia mạng lưới BHĐC, người tham gia không phải là các đại lý phân phối theo quy định của Luật Thương mại 2005 [29], không thuộc các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm
do doanh nghiệp thành lập Luật Cạnh tranh 2004 quy định: “người tham gia tiếp thị hàng hoá tại nơi ở, nơi làm việc của NTD mà không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hay của người tham gia” [26, Điều 3 khoản 11] Do trực tiếp gặp gỡ NTD để
giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, người tham gia không phải đăng ký kinh doanh khi tham gia BHĐC
Người tham gia được tổ chức thành những cấp khác nhau Trong quan hệ nội bộ, người tham gia ở cấp trên có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của những người trong mạng lưới cấp dưới của mình và khi số người trong hệ thống đạt đến một mức độ nhất định thì hệ thống sẽ tách nhánh Số lượng bao nhiêu để một hệ thống tách nhánh tùy thuộc vào chính sách của mỗi doanh nghiệp
- Người tham gia được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác trong mạng lưới do mình tổ chức