1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật sự vân DỤNG của CHỦ TỊCH hồ CHÍ MINH và ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM TRONG HOẠC ĐỊNH ĐƯỜNG lối CHIẾN lược CÁCH MẠNG VIỆT NAM

32 366 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 198,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phép biện chứng duy vật macxít là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp . Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Như vậy, phép biện chứng duy vật mácxít là một khoa học, một trong hai bộ phận cấu thành triết học MácLênin. Là sản phẩm vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển tư duy triết học nhân loại. Ở đó có sự kế thừa, phát triển và hoàn thiện những tri thức triết học của nhân loại trong lịch sử. Vậy phép biện chứng duy vật là gì? Nó ra đời và phát triển như thế nào? Vì sao giai cấp vô sản và chính Đảng của nó phải coi đó là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của mình.

Trang 1

phép biện chứng duy vật mác xít Sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam

và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối lãnh đạo cách mạng

MỞ ĐẦU

Phép biện chứng duy vật macxít là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận vàphương pháp Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúngđắn thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hướng cho conngười nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Như vậy, phép biện chứng duy vậtmácxít là một khoa học, một trong hai bộ phận cấu thành triết học Mác-Lênin Làsản phẩm vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển tư duy triết học nhân loại Ở đó có sự

kế thừa, phát triển và hoàn thiện những tri thức triết học của nhân loại trong lịch

sử Vậy phép biện chứng duy vật là gì? Nó ra đời và phát triển như thế nào? Vìsao giai cấp vô sản và chính Đảng của nó phải coi đó là kim chỉ nam cho mọi

hành động cách mạng của mình Ăngghen chỉ rõ rằng: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những qui luật phổ biến của sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy” (1)

Phép biện chứng hình thành từ thời cổ đại, lịch sử ra đời và phát triển củaphép biện chứng từ xưa đến nay, là lịch sử đấu tranh không khoan nhượng củaphép biện chứng duy vật với các quan điểm đối lập với nó từ nhiều phía Ngàynay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị và xã hội trênthế giới Đặc biệt là từ khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ Điều

đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch vốn đang điêncuồng chống phá về mọi mặt đối với các nước xã hội chủ nghĩa, nay càng có thêmthực tiễn để chứng minh cho những luận điểm chống phá của chúng đối với chủnghĩa Mác- lênin nói chung và phép biện chứng duy vật mỏcxớt nói riêng Trongđiều kiện hiện nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật và công

(1) Các Mác- Ăngghen: toàn tập, T.20 NxbCTQG, H N,1994,tr.15

Trang 2

nghệ cùng với nhiều vấn đề của thời đại, đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới tạocho chủ nghĩa duy tâm tôn giáo những mảnh đất màu mỡ để tồn tại và phát triển.Trước tình hình ấy phép biện chứng duy vật một lần nữa đứng trước những thửthách mới Lịch sử không ngừng vận động biến đổi và phát triển Thế giới đã,đang và sẽ còn xuất hiện nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh Đó là sự đòihỏi tất yếu khách quan và cấp bách cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung và hoànthiện lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin nói chung, phép biện chứng duy vật mácxítnói riêng.

Yêu cầu đặt ra hàng đầu đối với mỗi chỳng ta trong nghiên cứu bộ môn triếthọc là phải hiểu được bức tranh toàn cảnh về triết học Mác nói chung và nắmđược nguồn gốc ra đời, tính khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vậtmỏcxit nói riêng Từ đó giỳp chỳng ta có cơ sở khoa học vững chắc để quán triệtđúng đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, xõy dựng niềm tin tấtthắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng Cộng sản Việt Nam và HồChí Minh cùng toàn thể dân tộc ta đã lựa chọn Trong phạm vi bài tiểu luận nàytôi xin phép trình bày một số hiểu biết ban đầu của mình về bản chất khoa học vàcách mạng của phép biện chứng duy vật mácxít Sự vận dụng của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong việc hoạch định đường lối chiến lược lãnh đạo cách mạng ViệtNam

Phần I: Khái lược lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng trước Mác

1.1 Khái lược lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng.

Lịch sử phát triển của triết học l là l ịch sử phát triển của tư duy triếthọc gắn liền với cuộc đấu tranh của hai phương pháp tư duy- biện chứng

v siêu hình Bià l ện chứng v siêu hình l hai mà l à l ặt đối lập trong phươngpháp tư duy Chính cuộc đấu tranh lâu d i cà l ủa hai phương pháp n y à l đãthúc đẩy tư duy triết học phát triển v à l được ho n thià l ện dần với thắng lợi

Trang 3

của tư duy biện chứng duy vật.Phép biện chứng duy vật l gì? Trà l ước hếtchúng ta cần hiểu phép biện chứng l gì? Theo tià l ếng Hy Lạp “phép” cónghĩa l “phà l ương pháp” Đó l cách thà l ức, hay thủ đoạn nhất định, đượcchủ thể h nh à l động để đạt được mục đích đặt ra Còn theo nghĩa chặt chẽ

về mặt khoa học: “ Phương pháp l h à h ệ thống những nguyên tắc được rút ra

từ tri thức về các quy luật khách quan, để điều chỉnh hoạt động nhận thức

áp dụng chúng một cách hợp lý mang lại hiệu quả tối đa ” 3 Vì vậy, giữaphương pháp với phương pháp luận có sự thống nhất v khác nhau Chúngà lthống nhất với nhau l bà l ởi, phương pháp luận l cà l ơ sở nghiên cứu củaphương pháp cụ thể, còn phương pháp cụ thể phải xuất phát từ quan điểm,nguyên tắc của phương pháp luận Còn giữa chúng có sự khác nhau l :à lphương pháp thì bao gồm cả lý luận v thà l ực tiễn Còn phương pháp luậnchỉ có lý luận thuần tuý

Lịch sử ra đời của phép biện chứng có từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứV-VI (tr.CN) Mặc dù ở buổi bình minh của lịch sử triết học, các nh trià l ếthọc chưa hiểu được phép biện chứng l gì, phép bià l ện chứng chưa trở

th nh mà l ột hệ thống với đầy đủ những nguyên lý, quy luật v các cà l ặp phạmtrù cơ bản Những tư tưởng biện chứng mộc mạc ấy, khi thì xuất hiện trênnhững trang sách của các nh trià l ết phương Tây như Hy Lạp hay La Mã cổ

2 Triết học Nxb CTQG, Hà Nội,1997, T3, Tr.29.

3 Triết học Nxb CTQG, Hà Nội,1997, T3, Tr.32.

Trang 4

đại, khi thì lại ở trong các b i thuyà l ết giáo của các nh trià l ết học phươngĐông như Ấn Độ hoặc Trung Quốc cổ đại.

Phép biện chứng trong triết học Phương Đông đã có từ rất sớm,

thậm chí ở thời điểm triết học phương Đông như Trăm hoa đua sắc ,”thì phương Tây chưa có bút tích triết học n o Mà l ột trong những trung tâmlớn của triết học phương Đông l à l Ấn Độ cổ đại Tư tưởng triết học Ấn Độ

cổ đại hình th nh tà l ừ khoảng cuối thiên niên kỉ thứ II đầu thiên niên kỉ thứ

I ( tr.CN) Nhưng phép biện chứng trong triết học Ấn Độ cổ đại, chỉ đếnthời kì Phật Giáo khoảng thế kỉ VI (tr.CN) mới hình th nh rõ nét hà l ơn cả.Đạo Phật quan niệm, mọi sự vật hiện tượng đều tuân theo một quy luật “Sinh- trụ- dị-diệt” hay “ vô thường, vô ngã” Theo quan niệm của đạo Phậtcho rằng hai th nh phà l ần tạo nên ngũ uẩn, do nhân duyên hợp th nh Mà l ỗicon người cụ thể có danh sắc Duyên hợp th nh ngà l ũ uẩn thì l ta Duyênà ltan ngũ uẩn thì không còn l ta, l dià l à l ệt, nhưng không phải l mà l ất đi mà ltrở lại với ngũ uẩn Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hoá theoquy luật nhân quả không ngừng Nên vạn vật, con người cứ biến hoá, vụtmất vụt còn Không có sự vật riêng biệt tồn tại mãi mãi Không có cái tôithường định Cái tôi hôm qua không còn l cái tôi hôm nay Trong kinhà l

“Tăng nhất A H m” vià l ết: “Pháp pháp tự sinh, Pháp pháp tự diệt, pháp pháp tự động, pháp pháp tự nghĩ pháp có thể sinh ra pháp Như thế hết thảy cái đó đều về cái không : không ta, không người, không mệnh, không sĩ, không phu, không hình, không tưởng, không nam, không nữ” 4 Như vậy,ngay từ buổi bình minh của triết học nhân loại, phép biện chứng trong triếthọc Phật Giáo đã thấy được rằng, mọi sự vật hiện tượng luôn tồn tại, vậnđộng v bià l ến đổi không ngừng Không có cái gì l tà l ồn tại bất biến

4 Triết học: NxbCTQG, Hà Noọi, 1997, T1,tr.54.N

Trang 5

Một trung tâm triết học cổ đại thứ hai của phương Đông l Trungà l

Quốc Trong thuyết “Ngũ h nh ành ” của người Trung Quốc thời cổ đại, đã

giải thích rằng: mọi sự vật hiện tượng được hình th nh v bià l à l ến đổi l doà l

sự tương tác của năm yếu tố: Kim- mộc- thuỷ- hoả-thổ biến hoá m ra.à lĐây l nà l ăm yếu tố cơ bản đầu tiên của vũ trụ, những tính năng của nămthứ vật chất ấy quy định tính chất, chủng loại, nguồn gốc của vạn vật tronggiới tự nhiên Các yếu tố trong ngũ h nh cà l ũng không tồn tại tĩnh Chúng là lnhững yếu tố hoạt luôn liên hệ, thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau, nên gọi là l

năm tác nhân “Ngũ h nh t ành ương sinh” l quá trình các yà l ếu tố tác động,chuyển hóa lãn nhau, tạo ra sự biến chuyển liên ho n trong và l ũ trụ, vạn vật

Còn “Ngũ h nh t ành ương khác” l quá trình các yà l ếu tố trong ngũ h nh có sà l ựđối lập, r ng buà l ộc, chế ước lẫn nhau Những người theo thuyết n y à l đã cốgắng vận dụng trình tự sự thay đổi bíên hoá của năm yếu tố trên để giảithích tính tất yếu khách quan trong mỗi giai đoạn tồn tại, vận động v phátà ltriển của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ Đó l quan à l điểm có khuynhhướng máy móc, kinh nghiệm chủ nghĩa Song những quan điểm ấy cũng

có tác dụng tích cực chống lại thuyết định mệnh lúc bấy giờ

Trong học thuyết m d“Âm d ương” các nh trià l ết học Trung Quốc cổ đại

đã biết được rằng, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của mọi sựvật hiện tượng được tạo ra bởi sự tương tác của hai thế lực “âm” với

“dương” Các nh trià l ết học đó cho rằng “âm” với “dương” l hai yà l ếu tốcùng đồng đẳng với nhau, vừa đối lập nhau, chúng luôn chế ước, tác độnglẫn nhau trong một thái cực Chính từ sự đối lập, liên hệ, tác động qua lạilẫn nhau ấy đã tạo ra các yếu tố cơ bản của vạn vật Như vậy theo thuyết

Âm dm Dương, quy luật phổ biến v tà l ất yếu khách quan chi phối sự biến đổimọi lĩnh vực trong tự nhiên v xã hà l ội l do sà l ự tác động của hai thế lực vậtchất cơ bản trong thái cực đó l “ âm” và l ới “ dương” Nhưng tuỳ sự hấp

Trang 6

thụ khí “âm” hay khí “dương” ít hay nhiều, tăng hay giảm m sà l ự vật hiệntượng có những đặc tính muôn hình, vạn trạng Từ đó họ cho rằng, thếgiới vận động vĩnh viễn v quan nià l ệm mọi sự vật, hiện tượng luôn luônbiến hóa, phát triển theo chiều hướng mới v theo mà l ột quy luật nhất định.

Họ phủ nhận quan niệm siêu hình coi sự vật hiện tượng cũ l và l ĩnh viễnkhông thay đổi Vì vậy trong học thuyết của họ đã chứa đựng nhiều yếu tốbiện chứng về tự nhiên Tuy nhiên, họ vẫn hiểu quá trình vận động chungthế giới l quá trình tuà l ần ho n chung m thôi, luà l à l ật biến hoá cơ bản của sựvật “ng y c ng mà l à l ới” v sà l ự biến đôỉ chỉ l mà l ột giai đoạn trong quá trìnhtuần ho n chung Hà l ơn nữa, phép biện chứng trong học thuyết Âm dm Dươngvẫn còn chứa đựng nhiều yếu tố duy tâm, thần bí về mặt xã hội

Nghiên cứu triết học Trung Quốc cổ đại, chúng ta có thể thấy đượcnhững quan niệm rất biện chứng trong triết học của Lão Tử (khoảng thế kỉ

VI tr.CN) Từ sự quan sát sự vận động biến đổi của vạn vật trong vũ trụ,Lão Tử cố gắng tìm ra quy luật khách quan của sự vận động biến hoá củavạn vật Theo Lão tử, to n bà l ộ vạn vật trong vũ trụ bị tri phối bởi hai quyluật phổ biến l quy luà l ật bình quân v quy luà l ật phản phục Luật bình quângiữ cho vận động được thăng bằng, không có cái gì thái quá, không có cái

gì thiên lệch hay bất cập Cái gì khuyết thì ắt được tròn, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì cũ thì lại mới, cái gì ít sẽ được, nhiều sẽ mất 5

Ngược lại theo Lão Tử quá trình vận động, biến đổi của vạn vật còn tuântheo luật phản phục nghĩa l trà l ở lại với đạo tự nhiên Tuân theo quy luậtphản phục nghĩa l và l ạn vật biến hoá nối tiếp nhau theo một vòng tuần ho nà lđều đặn, nhịp nh ng, bà l ất tận như bốn mùa xuân- hạ- thu- đông Đó l cáià l

gì phát triển đến tột đỉnh thì sẽ trở th nh cái à l đối lập với nó Lão Tử chorằng, bất cứ sự vật hiện tượng n o cà l ũng đều l thà l ể thống nhất của hai mặt

5 Theo tài liệu Triết học: NxbCTQG, Nà Nội,1997,T1, tr54.

Trang 7

đối lập, vừa xung khắc lại vừa dựa v o nhau v liên hà l à l ệ, r ng buà l ộc, bao

h m là l ẫn nhau Những yếu tố biện chứng trong triết học Lão Tử biểu hiệnnăng lực quan sát tinh vi v trình à l độ tư duy sâu sắc của ông, đối với sựvận động v phát trià l ển của thế giới khách quan Tuy nhiên ở Lão Tử, sựvận động của vạn vật không theo khuynh hướng phát triển v ta không thà l ấy

sự ra đời của cái mới, m chúng ta chà l ỉ có thể thấy được một dòng tuần

ho n theo quy luà l ật “phản phục” m thôi Chính vì thà l ế phép biện chứng củaông mất đi sinh khí của học thuyết Quy luật “ phản phục” vẫn dừng lại ởtính chất máy móc, lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ

Trường phái triết học Pháp Gia, do H n Phi Tà l ử ( khoảng 280-233tr.CN) đề xướng Kế thừa v phát huy quan à l điểm biện chứng về tự nhiêncủa Lão Tử, trong phép biện chứng của H n Phi Tà l ử đã lý giải sự vận độngphát triển của vạn vật theo quy luật khách quan Ông cho rằng mọi sự vậthiện tượng luôn luôn vận động v phát trià l ển Vận dụng quan điểm ấy v oà llĩnh vực tự nhiên, ông cho rằng: tự nhiên không có ý chí, ý muốn chủ quancủa con người cũng không sửa đổi được quy luật của tự nhiên Về lĩnhvực lịch sử, ông cho rằng: lịch sử xã hội lo i ngà l ười luôn luôn biến đổi, từtrước đến nay không có một xã hội n o tà l ồn tại vĩnh viễn Ông còn chỉ rađược nguyên nhân của sự biến đổi lịch sử l do dân sà l ố v cà l ủa cải trong xãhội ít hay nhiều Từ những tư tưởng khái quát trên cho thấy H n Phi Tà l ử

l mà l ột nh trià l ết học vô thần nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại, với việc cốgắng lý giải nguyên nhân biến đổi bên trong của đời sống xã hội Phát hiện

đó đã l mà l ột bước tiến d i trong là l ịch sử triết học lúc bấy giờ Những quanniệm của ông về tự nhiên v xã hà l ội thể hiện rõ tư tưởng biện chứng tựphát Tuy nhiên, hạn chế của ông l chà l ưa thấy được động lực thực sự củalịch sử

Trang 8

Khái quát lại phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đaị.Chúng ta thấy được quan niệm biện chứng của triết học Trung Quốc có từrất sớm, nội dung của phép biện chứng đề cập cả lĩnh vực tự nhiên v xãà lhội Hầu hết các triết gia Trung Quốc cổ đại đã tìm cách trả lời cho câuhỏi thế giới l gì? Cái gì l nguà l à l ồn gốc bản nguyên của vạn vật v mà l ốiquan hệ giữa vạn vật trong vũ trụ v v Song do hạn chế của trình độ hoạtđộng thực tiễn v trình à l độ nhận thức, các triết gia Trung Quốc khi giảithích thế giới chủ yếu dựa v o nhà l ững kinh nghiệm có tính trực quan, cảmtính, được rút ra từ kinh nghiệm của đời sống Họ mới chỉ vẽ lên nhữngnét chung, bề ngo i cà l ủa hiện thực sinh động m thôi.à l

Tìm hiểu phộp biện chứng trong triết học phương Tây, điển hình là ltriết học Hy Lạp v La Mã cà l ổ đại chúng ta thấy rằng, những quan điểm và l

tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí đáng kể Đây l giai à l đoạn đầutiên trong lịch sử nhận thức, mang tính biện chứng về sự vận động, pháttriển của hiện thực Chúng ta có thể nhận thấy ở Talét, Anaximăngđrơ hayAnaximen chưa thấy có những quan niệm biện chứng rõ r ng Song à l ởAnaxago, Hêraclít hay Pácmênít hoặc Dênông quan niệm biện chứng củacác ông đã bắt đầu xuất hiện Người có công đầu tiên khởi xướng những

tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp, LaMã cổ đại l Dênôngà l(khoảng thế kỷ V tr.CN), khi ông quan niệm: vận động l mà l ột quá trìnhthống nhất biện chứng giữa vận động v à l đứng im Tư tưởng n y, chúng taà lcòn bắt gặp trong tác phẩm “chống ĐuyRinh” khi Ăngghen cho rằng vậnđộng cơ học cũng l mà l ột quá trình chứa đựng những mâu thuẫn, sự vậttrong cùng một thời điểm vừa vận động lại vừa đứng im, vừa ở vị trí n yà llại đồng thời lại vừa không ở vị trí đó Hay Anaxago( khoảng 500- 428tr.CN) đã quan niệm sơ khai về mối quan hệ biện chứng mang tính phổ

biến của mọi sự vật hiện tượng rằng: mọi cái được trộn lẫn trong mọi

Trang 9

cái”6 , vì mỗi sự vật đều chứa trong mình các hạt giống của các sự vậtkhác, nhưng những tính chất của nó bị quy định bởi các đặc tính củanhững hạt giống m nó có Vì thà l ế, sự biến hoá về tính chất của các sự vật

l do sà l ự thay thế phần lớn trong nó các hạt giống của các sự vật Song hạnchế của ông l à l đã không thấy được sự thay đổi về lượng, đến một lúc n oà l

đó sẽ diễn ra sự thay đổi về chất, ông mới nhìn thấy sự thay đổi ấy l doà llực tác động bên ngo i m chà l à l ưa thấy được lực tác động bên trong ởHêraclít v Arixtà l ốt thế giới quan triết học của họ đã chứa đựng những yếu

tố biện chứng duy vật rõ r ng hà l ơn Như Ăngghen đã chỉ rõ: Những nhà h triết học Hy Lạp cổ đại đều l nh à h ững nh bi à h ện chứng tự phát bẩm sinh và h Arixtốt l b à h ộ óc bách khoa nhất trong các nh tri à h ết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức cơ bản của tư duy biện chứng” 7 Theo quan niệm củaArixtốt thì tự nhiên l to n bà l à l ộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vậnđộng v bià l ến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại bên ngo i sà l ự vật,hơn nữa sự vật n o cà l ũng l mà l ột hệ thống v có quan hà l ệ với các sự vậtkhác Ông cũng cho rằng, vận động gắn liền với vật thể, với mọi sự vật,hiện tượng của giới tự nhiên Ông cũng khẳng định, vận động l không thà l ể

bị tiêu diệt Theo nhận xét của Ăngghen thì các nh trià l ết học Hy Lạp v Laà l

Mã cổ đại, dù cho họ chưa hiểu phép biện chứng l gì, song trong chià l ềusâu của tư duy của các nh trià l ết học ấy đã biết liên kết các sự vật hiệntượng trong giới tự nhiên trong mối liên hệ r ng buà l ộc, tác động qua lại lẫnnhau trong sự tồn tại, vận động v phát trià l ển của chúng Ăngghen không chỉnhận xét đơn thuần, m còn minh chà l ứng hùng hồn cho lời nhận xét củamình, bằng việc lấy Hêraclít l m à l điển hình cho phép biện chứng tự phát,

bẩm sinh đó đã từng nói rằng: “Mọi vật đều tồn tại v à h đồng thời không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều

6 Arixtốt Siêu hình học, các tác phẩm, NxbTư tưởng, Mát xcơva 1976, T1, tr.134.

7 C Mác - Ănghen toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1994, T20, tr34.

Trang 10

không ngừng phát sinh v tiêu vong à h ”8 Chúng ta đã từng nghe lại câu nói nổitiếng của Hêraclít khi diễn tả sự tồn tại, vận động v phát trià l ển của các sựvật hiện tượng rằng: không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông Qua

câu nói nổi tiếng của Hêraclít, Ăngghen đã nhận xét rằng: “ Cái thế giới quan ban đầu mặc dù còn ngây thơ nhưng xét về thực chất thì đúng”9.Nhưvậy, Ăngghen đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, các nh trià l ết học Hy Lạp cổđại mặc dù phép biện chứng của họ l tà l ự phát bẩm sinh, song ở các nhà ltriết học cổ xưa ấy trong tư duy của họ đã thấy được một hình ảnh về bứctranh của tự nhiên, với muôn v n nhà l ững đường liên hệ chằng chịt gữachúng, tuyệt đối không có cái gì l à l đứng im, không có cái gì l bà l ất biến.Ngược lại mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động v bià l ến đổi khôngngừng Nhận xét về triết học Hy Lạp v La Mã cà l ổ đại, Ăngghen chỉ chochúng ta thấy được ưu điểm của phép biện chứng tự phát của họ l : “ à l Xét

về thực chất thì đúng” Song hạn chế của ông l à l ở chỗ, ông không lí giảiđược nguyên nhân vì sao m không ai có thà l ể tắm hai lần trên cùng mộtdòng sông, tức l ông chà l ưa thấy được sự chuyển hoá qua lại của các sựvật hiện tượng trong mối quan hệ của chúng Vì vậy, các nh trià l ết học duyvật biện chứng sau n y à l đánh giá triết học của Hêraclít l à l triết học tối tăm ,” song nhờ những phát kiến thiên t i cà l ủa ông m các nh trià l à l ết học sautiếp tục kế thừa v phát trià l ển phép biện chứng duy vật lên những nấcthang mới cao hơn

Nghiên cứu khái quát phép biện chứng trong triết học Đông Tây thời

kỳ cổ đại, chúng ta nhận thấy rằng, mặc dù phép biện chứng thời cổ đạichưa phát triển th nh hà l ệ thống, th nh nhà l ững nguyên lý, quy luật cơ bản.Song ngay từ thời cổ đại, trong tư duy của các nh bià l ện chứng ấy đã cơ

8 C Mác - Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1994, T20, tr35.

9 C Mác - Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, NN, 1994, T20, tr35.

Trang 11

bản phản ánh đúng bức tranh hiện thực của thế giới khách quan Trong bứctranh sinh động ấy, mọi sự vật hiện tượng luôn tồn tại trong sự tác độngảnh hưởng qua lại lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau Song những tư tưởng biệnchứng sơ khai ấy, mới chỉ dừng lại ở sự phỏng đoán trực quan cảm tính

về thế giới khách quan Những sản phẩm của tư duy biện chứng ấy chưaphải l kà l ết quả của sự suy luận dựa trên những th nh tà l ựu khoa học, do vậy

m các nh trià l à l ết học sau n y gà l ọi đó l phép bià l ện chứng tự phát, ngây thơ

1.2 Lịch sử ra đời v phát tri à phát tri ển của phép biện chứng siêu hình

Nghiên cứu lịch sử ra đời của phép biện chứng duy vật, chúng ta khôngthể không đề cập đến sự ra đời của phép siêu hình trong tiến trình hình thành

và phát triển của bộ môn triết học.Cũng như lịch sử ra đời của phép biện

chứng, phép siêu hình ra đời từ rất sớm.Thuật ngữ “siêu hình” có gốc từ tiếng

Hy lạp là metaphysica, với nghĩa là “những gì sau vật lý học” Theo Arixtốt( 384-322 tr CN), “ những gì sau vật lý học” là những hiện tượng “siêu vậtlý” thuộc về tinh thần, ý thức, là bản chất của sự vật, hiện tượng mà Arixtốtgọi là “ vô hình” hay “ siêu hình” Về sau, tài liệu triết học thường dùng theo

ý này và gọi là “ siêu hình học” Nhưng đến thế kỉ XVII, với sự phát triểnvượt bậc của khoa học tự nhiên cùng với những ứng dụng thành tựu của khoahọc tự nhiên đi sâu vào phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên ra thành bộ phậnriêng biệt, cố định để nghiên cứu.Trên cơ sở đó Bê-cơn và Lốc- cơ tạo raphương pháp tư duy siêu hình trong lĩnh vực triết học một cách khá phổ biến

Đặc trưng của phép siêu hình như Ăngghen từng chỉ ra: “ Xem xét các sự vật

tự nhiên và các quá trình tự nhiên trong trạng thái biệt lập của chúng, ở bên ngoài mối liên hệ chung và do đó không xem xét chúng trong trạng thái vận động, mà xem xét chúng trong trạng thái tĩnh, không coi chúng về cơ bản là biến đổi , mà coi chúng là vĩnh viễn không thay đổi, không xem xét chúng

Trang 12

trong trạng thái sống, mà xem xét chúng trong trạng thái chết”10 Đối với cácnhà triết học siêu hình, khi giải thích thế giới họ đã không nhận thấy tính đadạng, phức tạp của các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giớihiện thực Họ cho rằng, sự vật hoặc là tồn tại, hoặc là không tồn tại Một sựvật không thể vừa là nó, lại vừa không thể là nó Do vậy các nhà triết học siêuhình không thể nhìn thấy sự tác động qua lại, mối liên hệ phổ biến, và sựchuyển hoá lẫn nhau của sự vật, hiện tượng Họ chỉ nhìn thấy sự hiện diện của

sự vật hiện tượng, còn quá trình vận động, phát triển và tiêu vong của chúngthì tuyệt nhiên họ không nhận thấy được Song đánh gớa một cách kháchquan, phép siêu hình cũng đã để lại những kết quả tích cực trong lịch sử triếthọc Đó là sự phát triển của tư duy phù hợp với giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ,tương ứng với trình độ khoa học đương thời, đó là điều không tránh khỏi

Như Ăngghen đã viết: “ tất cả những cái đó là điều kiện cơ bản cho những tiến bộ khổng lồ, mà bốn trăm năm gần đây đã đem lại cho chúng ta trong lĩnh vực nhận thức giới tự nhiên.”(11) Song đối với những nhà siêu hình khiphải lí giải bức tranh tổng quát của tự nhiên thì phép siêu hình của họ đã bộc

lộ những hạn chế không thể khắc phục được Do đó phép siêu hình buộc phảinhường chỗ cho một phương pháp tư duy khác lên ngôi

1.3 Lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng duy tâm.

Quá trình hình thành và phát triển của phép biện chứng duy vật đã trảiqua nhiều giai đoạn khác nhau Thực tiễn lịch sử cùng với nhận thức luậnkhác nhau của mỗi thời kỳ đã tác động không nhỏ vào cuộc đấu tranh tưtưởng diễn ra trong lịch sử phát triển của nhân loại Trong cuộc đấu tranh đểgiải thích thế giới ấy, phép biện chứng duy tâm xuất hiện Phép biện chứngduy tâm xuất hiện từ sớm trong lịch sử song nó chỉ phát triển mạnh mẽ trongtriết học cổ điển Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỷ XIX Hêghen (1770- 1831)

10 C.Mác - Ăngghen, toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, HN,1994, Tr36.

(11) C Mác -Ăngghen, toàn tập, tập 20, NxbCTQG, HN,1994, tr.36.

Trang 13

là một điển hình trong phương pháp tư duy ấy Nếu như trước đây, phép biệnchứng chỉ tồn tại ở những quan điểm, những tư tưởng rời rạc không hệ thống,thì đến Hêghen phép biện chứng đã được hệ thống lại và được trình bày thành

hệ thống những nguyên lý, quy luật và những cặp phạm trù cơ bản Hêghencoi phép biện chứng không chỉ là một nghệ thuật tranh luận mà cho nó là mộtquan điểm nhất định về thế giới Ghi nhận những công lao to lớn của Hêghentrong việc góp phần làm cho phép biện chứng phát triển từ tự phát lên trình độ

tự giỏc, Ăngghen viết: “ lần đầu tiên và đây là công lao to lớn của ông, toàn

bộ giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày như là một quá trình, nghĩa là luôn vận động và biến đổi, biến hoá và phát triển Và Ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và phát triển ấy” (12) Do tác động

của thực tiễn lịch sử nhà nước Phổ lúc bấy giờ, đặc biệt Hêghen là môt nhàtriết học duy tâm, nên hệ thống triết học mà ông trình bày đã rơi vào hạn chếđáng tiếc Ông thừa nhận sự vận động phát triển không ngừng của các kháiniệm thì ông lại cho rằng lịch sử xã hội kết thúc ở chế độ quân chủ, nhà nướcPhổ, lịch sử không thể đi xa hơn được nữa và hệ thống triết học của ông làtuyệt đỉnh Đề cập đến những hạn chế của Hêghen, Ăngghen viết: phép biệnchứng của Hêghen là phép biện chứng đi bằng đầu hay phép biện chứng lộnngược, vì vậy hệ thống của ông mọi thứ đã bị đảo lộn Khi phân tích nhữnghạn chế trong phép phép biện chứng ấy, Ănghen đã chỉ ra nguyên nhân của

những hạn chế đó là: “ Một là bởi những giới hạn không thể tránh được của những tri thức của bản thân Ông, hai là bởi những tri thức và quan niệm của thời đại ông ba nữa Hêghen là một nhà duy tâm” (13) Do vậy cần phải dựngngược nó lại để thấy hết giá trị đích thực của nó Sứ mệnh lịch sử đó đượcMác và Ăngghen thực hiện thành công trong hệ thống triết học của mình

(12) C Mác- Ăngghen, toàn tập, tập 20, NxbCTQG, HN,1994, tr.40.

(13) C Mác- Ăngghen, toàn tập, tập 20, NxbCTQG,HN,1994, tr 40.

Trang 14

Phần II: Bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy

vật Mácxít

Khái quát lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng, chúng tathấy rằng những tư tưởng của phép biện chứng xuất hiện ngay từ buổi bìnhminh của lịch sử triết học Ở buổi ban đầu ấy, nó còn mang tính chất thô sơ,

tự phát Mặc dù “xét về mặt thực chất thì đúng” nhưng nó không phải là

những kết luận mang tính khoa học Còn đối với phép siêu hình, mặc dù cũng

đã để lại những kết quả tích cực trong lịch sử triết học, nhưng khi phải lý giảibức tranh tổng quát của tự nhiên thì phép siêu hình đã bộc lộ những hạn chếkhông thể khắc phục được Đỉnh cao của phép biện chứng trước Mác vàĂngghen là phép biện chứng duy tâm của Hêghen Song phép biện chứng của

ông là phép biện chứng lộn ngược, phép biện chứng của các “ý niệm” Do vậy

có thể khẳng định rằng, tất cả các phép biện chứng trước Mác không thể trởthành thế giới quan khoa học và cách mạng để giúp con người trong nhậnthức và cải tạo thế giới Do đó, cần phải cải tạo và phát triển phép biện chứngcủa Hêghen, làm cho phép biện chứng ấy thoát khỏi yếu tố duy tâm thần bí,trở thành phép biện chứng duy vật Sự ra đời của phép biện chứng đã đáp ứngđược yêu cầu đòi hỏi của xã hội lúc bấy giờ Vì vậy, phép biện chứng duy vậtmácxít ra đời là một tất yếu khách quan

Lịch sử ra đời và phát triển của phép biện chứng, là lịch sử phát triểnhợp quy luật, phù hợp với tư duy nhân loại Đó là lịch sử kế thừa và phát triểnnhững tư tưởng biện chứng của thế hệ sau đối với thế hệ trước Trong đó phépbiện chứng duy vật mácxít là đỉnh cao của tư duy nhân loại Như Ăngghen

từng khẳng định rằng: “ phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn hoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” (14) Trong tác phẩm “ chống Đuy rinh” Ăngghen

(14) C Mác- Ăngghen, toàn tập, tập 20, NxbCTQG, HN,1994, tr40.

Trang 15

tự hào viết rằng: “Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người

đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào quan niệm duy vật về tự nhiên và lịch sử xã hội” (15) Mác và Ăngghen giảicứu phép biện chứng thoát khỏi hệ thống triết học duy tâm của Hêghen Haiông đã phát triển và hoàn thiện nó, tạo ra sự thống nhất giữa thế giới quan duyvật và phép biện chứng Lịch sử xã hội loài người chứng minh, kể từ khi triếthọc Mác nói chung, phép biện chứng duy vật mỏcxít nói riêng ra đời, đã tạo

ra sự chuyển biến về chất trong lịch sử triết học nhân loại

2.1 Bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật mác xít

Bản chất khoa học, cách mạng của phép biện chứng duy vật mỏcxớtbiểu hiện ở tính phát triển v à l đúng đắn hơn hẳn về chất so với hệ thốngtriết học trong lịch sử Với phép biện chứng cổ đại, mặc dù những quanniệm biện chứng đó l à l đúng, nhưng đó chỉ l quan nià l ệm rời rạc thiếu hệthống v không phà l ải l sà l ản phẩm của tư duy khoa học Những nh bià l ệnchứng cổ đại không thể giải thích được vì sao sự vật lại như vậy Ngượclại phép biện chứng duy vật đã minh chứng dựa trên những kết luận khoahọc Đối với phép siêu hình, họ nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượngtrong trạng thái biệt lập, chết cứng Còn phép biện chứng duy vật luôn coicác sự vật, hiện tượng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất luôn có sựliên hệ, tác động ảnh hưởng, chuyển hoá lẫn nhau Chúng cũng luôn vậnđộng, biến đổi v phát trià l ển không ngừng Đối với phép biện chứng duytâm của Hêghen, l phép bià l ện chứng của các khái niệm, còn phép biệnchứng duy vật mácxit l bià l ện chứng của hiện thực Phép biện chứng duyvật coi sự vận động v phát trià l ển của thế giới hiện thực không phải l sà l ựngẫu nhiên, m coi sà l ự vận động v phát trià l ển đó luôn tuân theo những qui

(15) C Mác -Ăngghen: Toàn tập, T.20 NxbCTQG,HN,1994, tr.202.

Trang 16

luật tất yếu khách quan Những quy luật ấy được phép biện chứng duy vậtmácxít trình b y mà l ột cách có hệ thống, chặt chẽ v lôgíc thông qua nhà l ữngnguyên lý, những quy luật v các cà l ặp phạm trù cơ bản Đi sâu v o tà l ừng nộidung cơ bản n y, chúng ta sà l ẽ thấy rõ bản chất khoa học của phép biệnchứng duy vật.

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, đãkhái quát bức tranh to n cà l ảnh với những đường liên hệ chằng chịt của giới

tự nhiên, xã hội v tà l ư duy Tính chất vô hạn của thế giới, cũng như tínhchất có hạn của mỗi sự vật, hiện tượng v quá trình có thà l ể giải thíchđược trong mối liên hệ phổ biến v à l được quyết định bởi rất nhiều mốiliên hệ có vị trí v vai trò khác nhau Sà l ự liên hệ phổ biến l à l đặc trưng phổquát nhất của thế giới Vì vậy, quán triệt mục tiêu to n dià l ện l nguyên tà l ắcphương pháp luận chung nhất chỉ đạo mọi hoạt động v suy nghà l ĩ của conngười Nội dung chính của nguyên tắc n y à l đó l : Thà l ứ nhất, phải xem xét

to n dià l ện các mối liên hệ; Thứ hai, trong tổng số các mối liên hệ phải rút rađược những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để hiểu thấu bản chất của sựvật hiện tượng; Ba l , tà l ừ bản chất của sự vật phải quay lại hiểu rõ to n bà l ộ

sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả mốiliên hệ khác của sự vật để bảo đảm tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn

đề trong đời sống Quan điểm to n dià l ện, đối lập với mọi suy nghĩ v h nhà l à lđộng chiết trung, phiến diện hay siêu hình

Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật, phản ánhđặc trưng phổ quát nhất của thế giới Mọi sự vật, hiện tượng luôn luônvận động, biến đổi không ngừng Phép biện chứng duy vật mácxit chorằng, bản chất của sự vận động biến đổi ấy có xu hướng phát triển Vìvậy, quán triệt quan điểm phát triển, l nguyên tà l ắc chung nhất chỉ đạo mọisuy nghĩ v h nh à l à l động của con người Yêu cầu của nguyên tắc n y à l đòi

Ngày đăng: 18/05/2017, 09:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w