1. Mục đích yêu cầu: Giới thiệu cho người học những kiến thức cơ bản về tư pháp và cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền và NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay; Định hướng, gợi mở người học nghiên cứu, vận dung thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ trên cương vị công tác được giao tham gia góp phần vào cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
Trang 1CẢI CÁCH TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Phần 1: Ý ĐỊNH GIẢNG BÀI
I MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1 Mục đích yêu cầu:
- Giới thiệu cho người học những kiến thức cơ bản về tư pháp và cải cách
tư pháp đáp ứng yêu cầu nhà nước pháp quyền và NNPQ XHCN Việt Nam hiệnnay;
- Định hướng, gợi mở người học nghiên cứu, vận dung thực hiện tốt chứctrách, nhiệm vụ trên cương vị công tác được giao tham gia góp phần vào cảicách tư pháp ở nước ta hiện nay
II NỘI DUNG Bố cục 3 phần
I Tư pháp và tính tất yếu khách quan của cải cách tư pháp trong xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
II Quan điểm, yêu cầu, phương hướng, nội dung và nhiệm vụ giải pháp cảicách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam hiện nay
III THỜI GIAN: 4 tiết
IV ĐỊAĐIỂM: Giảng đường
V TỔ CHỨC, PHƯƠNG PHÁP
Trang 2- Tổ chức: Lên lớp tập trung tại hội trường
- Phương pháp:
Kết hợp hình thức diễn giảng với sử dụng trình chiếu Powerpoint; hướngdẫn người học tự nghiên cứu với phân tích làm rõ những vấn đề quan trọng.Học viên nghe ghi theo ý hiểu, tìm đọc tài liệu tham khảo để mở rộng kiếnthức của bản thân
VI VẬT CHẤT ĐẢM BẢO:
1 Vật chất: Giáo án, tài liệu, phần mềm trình chiếu, phấn bảng
2 Tài liệu:
* Tài liệu bắt buộc:
1 Học viện Chính trị - Tập bài giảng Nhà nước pháp quyền (dùng cho đào
tạo cao học xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước) – H 12.2013
2 Các chuyên đề bài giảng Lý luận Chính trị cao cấp, Học viện CT-HCquốc gia Hồ Chí Minh, Nxb CT-HC, H 2011
3 Nghị Quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII; VIII; IX; X; XI
4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
5 Luật hành chính Việt nam Nxb CTQG, H.2008
6 Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị khóa X về chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020
* Tài liệu tham khảo:
1 Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam: Một số vấn đề lý luận vàthực tiễn/ PTS.Nguyễn Văn Niên.- H.: Chính trị quốc gia; 1996 - 204tr., 19cm
2 Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân.-H.:Quân đội Nhân dân; 2003 - 592tr., 27cm
3 Cơ sở lý luận và thực tiễn về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacủa dân, do dân, vì dân; Chương trình KX.04 Đề tài khoa học cấp Nhà nước
Mã số KX.04.01/ Nguyễn Duy Quý.- H.; 2004
Trang 34 Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân; Kỷ yếu hội thảo khoa học Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhànước giai đoạn 2001 - 2005 Mã số KX.04- Quyển I.- H Viện Khoa học xã hộiViệt Nam; 2002 - 150tr
5 Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng/ LS.Nguyễn Văn Thảo.- H.: Tư pháp; 2006 - 532 tr., 24 cách mạng
6 Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vìdân: Thông tin chuyên đề phục vụ nghiên cứu và giảng dạy; Lưu hành nội bộ/Viện Thông tin Khoa học.- H.: Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
9 Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì Nhân dân/ Nguyễn Phú Trọng.- H.: Chính trị quốcgiaSự thật; 2011 - 742tr., 22cm
Phần 2: THỰC HÀNH GIẢNG BÀI
I THỦ TỤC LÊN LỚP
- Nhận báo cáo, kiểm tra công tác chuẩn bị học tập của học viên
- Báo cáo cấp trên (nếu có)
II TRÌNH TỰ GIẢNG BÀI
Phần 1 60 ph Thuyết trình + Nêu vấn đề Giáo án,
Powerpoint Phần 2 120 ph Thuyết trình + Nêu vấn đề Giáo án,
Trang 4I TƯ PHÁP VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA CẢI CÁCH
TƯ PHÁP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1 Khái niệm tư pháp
“Tư pháp” (theo tiếng Latinh cổ “Justitia” hay “Justition”) có nghĩa là
“công lý”, “công bằng”, “pháp chế”, đồng thời dưới góc độ hẹp nội dung bao gồm toàn bộ các cơ quan Tòa án và hoạt động thực hiện quyền xét xử của những cơ quan này Hiện nay, quan điểm và nhận thức về “tư pháp” được xem
xét dưới nhiều khía cạnh khoa học và thực tiễn khác nhau
Trong thuật ngữ tiếng Việt, chữ “tư pháp” có tới ba nghĩa hoàn toàn khácnhau:
Trước hết, “tư pháp” là quyền xét xử (tiếng Pháp viết là: pouvoirjudiciaire, tiếng Anh viết là judiciary power) Khái niệm “tư pháp” dùng trong
trường hợp này để chỉ các cơ quan tham gia vào hoạt động xét xử của nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng về dân sự giữa công dân với nhau Cụ thể, đó là các cơ quan phụ trách công tác điều tra, công tố, xét
xử để xử lý tội phạm theo trình tự tố tụng hình sự và tố tụng dân sự Chữ “cảicách tư pháp” dùng hiện nay là nhằm cải cách tổ chức và hoạt động ở các cơquan điều tra (công an) công tố (viện kiểm sát) và xét xử (tòa án)
Trong học thuyết tam quyền phân lập, nhà nước có ba quyền: lập pháp(làm pháp luật), hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp, thì chữ tư pháp này
được dùng để chỉ một nhánh quyền lực nhà nước phụ trách công việc xét xử và bảo vệ pháp luật Hiểu theo nghĩa này, hiện nay chúng ta cũng có từ “tư pháp lý
lịch” hay “lý lịch tư pháp” nghĩa là loại giấy tờ do cơ quan chuyên trách lập, ghicác quyết định của tòa án đối với người phạm tội theo bản án của tòa án tuyên(chú ý: cơ quan phụ trách tư pháp lý lịch hiện nay lại thuộc ngành hành pháp,hành chính nói dưới đây, chứ không thuộc ngành tòa án)
“Tư pháp” còn có nghĩa là sự công bằng, pháp luật (tiếng Pháp và tiếngAnh đều viết là Justice) Trong nhánh hành pháp (chú ý: không phải là nhánh tưpháp như nói trên) của nhà nước, ở nhiều nước đều có ngành phụ trách các côngviệc liên quan đến pháp luật Hiểu theo nghĩa này, ở nước ta hiện nay có Bộ Tư
Trang 5pháp (cơ quan thành viên của Chính phủ), Sở Tư pháp (cơ quan chuyên môngiúp việc cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), Phòng Tư pháp(cơ quan chuyên môn giúp việc cho UBND quận, huyện, thị xã, thành phốthuộc tỉnh) và các cán bộ Tư pháp - Hộ tịch giúp việc cho UBND ở cấp phường,
xã, thị trấn Các cơ quan này phụ trách hoạt động quản lý nhà nước (hành chính) chuyên môn liên quan đến pháp luật như: xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng cán bộpháp luật; và các tổ chức phụ trách quản lý các hoạt động chuyên môn khácnhư: công chứng, thi hành án dân sự, giám định pháp y, luật sư, tư vấn phápluật, thừa phát lại gọi chung là “bổ trợ tư pháp”
Ngoài ra, chữ “tư pháp” còn có một nghĩa khác nữa là ngành luật tư(tiếng Pháp viết là droit privé, tiếng Anh viết là private law) “Luật tư” (tưpháp) nghĩa là ngành luật điều chỉnh các quan hệ giữa tư nhân với nhau (như:luật dân sự hay dân luật, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại ) khác với
“luật công” (công pháp) là ngành luật điều chỉnh các quan hệ mang tính chấtnhà nước (như luật hiến pháp, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng ) Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do GS Hoàng Phê chủ
biên thì thuật ngữ “tư pháp” được hiểu là “Việc xét xử các hành vi vi phạm pháp và và các vụ kiện tụng trong nhân dân (nói khái quát)”1
Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phốihợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba
quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Do đó, quyền tư pháp được hiểu là
hoạt động xét xử của tòa án và những hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội Vì vậy, cơ
quan tư pháp bao gồm: tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quanđiều tra và các cơ quan, tổ chức tư pháp bổ trợ như: luật sư, công chứng, giámđịnh, tư vấn pháp luật…
tâm Từ điển học, 2002, tr.1071.
Trang 6Ở đây, chúng ta nghiên cứu tư pháp với quan niệm là các cơ quan nhànước trực tiếp thực hiện quyền tư pháp, trong đó tòa án nhân dân, viện kiểm sátnhân dân và các cơ quan điều tra là các cơ quan quan trọng nhất
2 Các cơ quan tư pháp
Khái niệm cơ quan tư pháp cũng là chủ đề còn nhiều ý kiến khác nhau ởnước ta Ở các nước phát triển, cơ quan tư pháp chỉ được hiểu là tòa án Ngaytrong Hiến pháp năm 1946 (Điều thứ 63), cơ quan tư pháp cũng được hiểu chỉ
là các tòa án (gồm có Tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhịcấp và sơ cấp)
Tuy nhiên, cùng với thời gian, nhất là kể từ khi Việt Nam có Hiến phápnăm 1959, khái niệm cơ quan tư pháp được hiểu theo nghĩa rất rộng, không chỉbao gồm các tòa án mà còn bao gồm cả các cơ quan công tố/kiểm sát, các cơquan điều tra thuộc ngành Công an
Khi này, khái niệm “tư pháp” không chỉ được hiểu là ‘xét xử” nữa, mà đã trởthành khái niệm “bảo vệ pháp luật” Khái niệm các cơ quan tư pháp với khái niệmcác cơ quan bảo vệ pháp luật trong giai đoạn này gần như trở nên đồng nhất vớinhau
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư phápđến năm 2020” cũng quan niệm các cơ quan tư pháp không chỉ là tòa án, màcòn bao gồm cả các viện kiểm sát, các cơ quan điều tra và cả các cơ quan thihành án (dân sự/hình sự) Với quan niệm như thế, cải cách tư pháp được Nghị
quyết 49 quan niệm theo nghĩa rộng trong đó có việc hợp lý hóa lại thẩm quyền, chức năng, cơ cấu, tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ của hệ thống tòa án (dù coi tòa án là trung tâm của nền tư pháp), hệ thống viện kiểm sát, hệ thống
cơ quan điều tra, hệ thống cơ quan thi hành án, hệ thống các thiết chế bổ trợ tư pháp.
a Cơ quan điều tra
Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biệnpháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thựchiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiệnphạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắcphục và ngăn ngừa
Trang 7Hiện nay chúng ta có 3 loại cơ quan điều tra: CQĐT trong CAND, CQĐTtrong QĐND và CQĐT của VKSNDTC
* Trong Công an nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnhsát điều tra Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận,thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều traCông an cấp huyện);
- Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công antỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninhđiều tra Công an cấp tỉnh)
* Trong Quân đội nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây:
- Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Cơ quan điều tra hình sự quânkhu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực;
- Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều traquân khu và tương đương
* Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Cơ quan điều tra sau đây:
- Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương
b Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có:
1 Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
2 Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
3 Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
4 Các Viện kiểm sát quân sự
Nhiệm vụ, quyền hạn:
- Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra vàcác cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Trang 8- Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân cótrách nhiệm thực hành quyền công tố, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúngtội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; kiểm sát việc xét
xử các vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh,kịp thời
- Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hônnhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quyđịnh của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịpthời
- Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà ánnhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cánhân có liên quan trong việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực phápluật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của phápluật nhằm bảo đảm các bản án, quyết định đó được thi hành đúng pháp luật, đầy
đủ, kịp thời
- Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơquan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý vàgiáo dục người chấp hành án phạt tù
c Tòa án nhân dân
Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân
sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam
Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, laođộng, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của phápluật
Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhândân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do,danh dự và nhân phẩm của công dân
Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân trung thànhvới Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của
Trang 9cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạmpháp luật khác.
Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Toà án sau đây:
- Toà án nhân dân tối cao;
- Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Các Toà án quân sự;
- Các Toà án khác do luật định
Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặcbiệt
* Nguyên tắc xét xử của TAND:
- Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, việcxét xử của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định củapháp luật tố tụng Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán
- Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
- Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
- Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mậtnhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sựtheo yêu cầu chính đáng của họ
- Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước phápluật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội,địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sởsản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước phápluật
- Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự
- Toà án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói,chữ viết của dân tộc mình trước Toà án
- Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử
Trang 10Đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà pháthiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình
tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do pháp luật tố tụng quy định
2 Cải cách tư pháp là một tất yếu khách quan trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a Từ vị trí, vai trò của tư pháp hiện nay
Thứ nhất, trước khi Hiến pháp năm 2013 ra đời thì Hiến pháp năm 1992
chưa xác định rõ quyền lực tư pháp do ai thực hiện
Hiến pháp năm 2013 có quy định ba quyền: quyền lập pháp, quyền hànhpháp, quyền tư pháp Điều 69 quy định “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lậppháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối vớihoạt động của Nhà nước” Đặc biệt, khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 cóquy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”; khoản 1 Điều 107 quy định “1 Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố, kiểm soát hoạt động tư
pháp” Đây là những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 mà Hiến pháp năm
1992 chưa quy định được Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 cũng mới chỉ hiếnđịnh cái chung nhất Tòa án thực hiện quyền tư pháp, Viện kiểm sát kiểm soáthoạt động tư pháp còn các vấn đề cụ thể thực hiện quyền tư pháp của Tòa ánnhư thế nào còn do luật định vấn đề đặt ra trong cải cách tư pháp là phải khẩnchương sửa đổi bổ sung ban hành luật đển làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của Tòa án trong thực hiện quyền tư pháp như thế nào, các cơ quan khácnhư Viện kiểm soát và các cơ quan hỗ trợ tư pháp thực hiện quyền này như thếnào thì chưa có quy định cụ thể
Thứ hai, nền tư pháp trong những năm vừa qua chưa khẳng định được
tầm quan trọng, vị trí và chức năng của mình trong nhiệm vụ xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trong một nền pháp quyền thì vị trí, vai trò của tư pháp rất quan trọng đểbảo đảm việc duy trì sự thượng tôn của Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyềncon người Hiến pháp hiện hành đã chưa thể hiện được tư tưởng chủ đạo này
Để thực hiện được sứ mệnh đó thì hoạt động xét xử phải được độc lập và trongsạch
Trang 11Mặc dù Hiến pháp năm 2013 mới có bổ sung mới tại khoản 2 Điều 103
“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá
nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” tuy nhiên thực tế
hiện nay không thể phủ nhận rằng việc xét xử vẫn chưa được độc lập nhìn từnhiều góc độ, với các cơ sở pháp lý và các cơ chế hiện hành Sự can thiệp từmột số yếu tố bên ngoài đối với một số vụ án cụ thể, mối quan hệ phụ thuộc củatòa án đối với chính quyền địa phương, sự lệ thuộc của tòa án cấp dưới đối vớitòa án cấp trên, của thẩm phán đối với lãnh đạo của tòa án cùng cấp và tòa áncấp trên, chế độ bổ nhiệm và tuyển chọn thẩm phán hiện nay, nhiệm kỳ thẩmphán , là những vấn đề làm cho sự độc lập xét xử chưa được thực hieenjjnghiêm túc Hiện tượng tham nhũng trong ngành tư pháp ở mức đáng lo ngại
đã được chỉ rõ trong những văn kiện của Đảng gần đây
Thiếu sự độc lập và hiện tượng tham nhũng khá phổ biến trong công tácxét xử đặt ra hai vấn đề cần giải quyết: Làm thế nào để việc xét xử được bảođảm độc lập và đồng thời cơ chế giám sát, kiểm soát hoạt động xét xử cần phảithay đổi ra sao để cho nền tư pháp được trong sạch hơn?
Rõ ràng có nhiều vấn đề thuộc về cơ chế, về phạm vi điều chỉnh của phápluật nhưng phải thừa nhận còn thiếu vắng một số cơ chế nhằm nâng cao vị thếcác cơ quan tư pháp, nhằm bảo đảm độc lập xét xử (ví dụ như việc bổ nhiệmthẩm phán tòa án các cấp, nhiệm kỳ thẩm phán) Hiện nay, khoản 3 Điều 105
Hiến pháp năm 2013 mới bổ sung quy định “Việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn
nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Thẩm phán và việc bầu, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luật định”; đồng thời khoản 3 Điều 88 cũng mới bổ sung quy định
Chủ tịch nước có quyền “Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn
cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó tránh án Tòa
án nhân dân tối cao, Thẩm phán các tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao…” Đây cũng là điểm mới so với Hiến pháp
năm 1992 Trước khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực để bảo đảm sự kiểm soátcủa các quyền lực khác trong việc bổ nhiệm thẩm phán (ví dụ như vai trò củaQuốc hội, của Chủ tịch nước trong việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án Nhân dân
Trang 12tối cao, vai trò của hội đồng nhân dân địa phương trong việc bổ nhiệm thẩmphán tòa án nhân dân địa phương) chưa có quy định cơ sở hiến định
Việc kiểm soát và giám sát của các quyền lực khác với hoạt động tư phápthông qua việc xem xét tín nhiệm, bãi nhiệm thẩm phán thay vì cơ chế giám sát
cụ thể đối với các phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tốicao như theo quy định của tố tụng hành chính và tố tụng dân sự hiện nay - điều
đó vô hình trung đã “lấn sân” vào quyền tư pháp đã được trao cho ngành tòa án
b Từ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và những thách thức đối với công cuộc cải cách tư pháp
Đặc thù của hoạt động tư pháp là duy trì và bảo vệ công lý, bảo vệ phápluật, thúc đẩy quan hệ kinh tế, bảo đảm quyền con người và quyền công dân.Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa cần thiết phải có một thể chế chính trịdân chủ, một hệ thống tư pháp đúng đắn, công bằng mà không chấp nhận hệthống yếu kém, nhiều phần thiếu công bằng, và có phần tham nhũng như hiệnnay
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thựchiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, thực hiện hội nhập kinh tế quốc
tế và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, cải cách tư pháp để đổi mới tổchức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng phát huy vai trò củaquyền tư pháp trong việc thực thi quyền lực nhà nước thống nhất nhằm bảo đảmcho nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổchức và cá nhân đều tuân theo pháp luật và được tổ chức và hoạt động trên cơ
sở pháp luật, các hành vi vi phạm pháp luật đều được xử lý nhanh chóng, chínhxác, đúng pháp luật, công bằng và nghiêm minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của nhà nước, xã hội và công dân
Hiện nay chúng ta thiếu là thiếu một cơ chế giám sát hữu hiệu, hay nóicách khác là dân chủ trong việc kiểm tra, giám sát còn hạn chế Nếu không sớmcải cách, cứ giữ nguyên như hiện nay thì sẽ không có tư pháp độc lập và đúngđắn Do vậy, cần cải cách tư pháp thay đổi căn bản thể chế, đáp ứng sự thay đổicủa đi lên của đất nước
c Từ thực trạng của công tác tư pháp và cải cách tư pháp