1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ TÀI: Kiểm sát xử lý đơn yêu cầu thi hành án – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.

16 529 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 41,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMỞ ĐẦU2NỘI DUNG3I . Khái niệm công tác kiểm sát thi hành án dân sự3II . Kỹ năng kiểm sát việc xử lý yêu cầu thi hành án41.Kỹ năng kiểm sát việc tiếp nhận yêu cầu thi hành án41.1Các vi phạm thường gặp của Cơ quan thi hành án đối với việc tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án trên thực tế :61.2Các vi phạm thường gặp trong công tác kiểm sát việc thỏa thuận thi hành án của đương sự trên thực tế:82.Kỹ năng kiểm sát việc từ chối yêu cầu thi hành án92.1Các trường hợp Kiểm sát viên cần lưu ý:12TÀI LIỆU THAM KHẢO16MỞ ĐẦUHọat động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tòan bộ quá trình giải quyết vụ án bởi vì bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định đó được thi hành trên thực tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì thế cũng được bảo vệ một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Trong thi hành án dân sự các bên đương sự có thể tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định hoặc yêu cầu thông qua Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó.Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Đối với hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự, cụ thể kiểm sát việc xử lý đơn yêu cầu thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân cần phải áp dụng phương thức kiểm sát phù hợp, góp phần đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ thi hành án dân sự. Sau đây, tôi xin trình bày đề tài: Kiểm sát xử lý đơn yêu cầu thi hành án – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.NỘI DUNGI . Khái niệm công tác kiểm sát thi hành án dân sựThi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản ản, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức. Việc thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại tổ chức thực hiện. Cơ quan tổ chức thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án và các chủ thể khác có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đúng căn cứ pháp luật, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.Kiểm sát việc thi hành án dân sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thi hành án được hiện đúng quy định của pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Cụ thể, Điều 12 Luật Thi hành án dân sự 2014 quy định “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự”.Qua hoạt động kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự sẽ nâng cao trách nhiệm thi hành án của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành án dân sự, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự, bảo đảm việc thi hành án dân sự nhanh chóng và đúng căn cứ pháp luật, tránh tình trạng xâm phạm quyền và các lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong thi hành án dân sự. Hoạt động thi hành án dân sự rất đa dạng nên nguyên tắc kiểm sát thi hành án dân sự được thể hiện gồm nhiều nội dung khác nhau đảm bảo tính hiệu quả, khả thi khi thi hành các bản án, quyết định trên thực tế.Như vậy, kiểm sát thi hành án dân sự là một trong các công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và các chủ thể khác liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự nhằm đảm bảo việc thi hành án dân sự kịp thời, đúng căn cứ pháp luật.II . Kỹ năng kiểm sát việc xử lý yêu cầu thi hành án1.Kỹ năng kiểm sát việc tiếp nhận yêu cầu thi hành ánXuất phát từ thực tiễn trước đây, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 chưa quy định quyền yêu cầu thi hành án dân sự của người phải thi hành án dân sự, nhưng xuất phát từ thực tiễn nhận thấy, trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau, người được thi hành án không làm đơn yêu cầu thi hành án ngay sau khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Trong khi đó, người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành, hơn thế, mong muốn nhanh chóng thực hiện xong nghĩa vụ của mình. Vì vậy, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 ra đời đã bổ sung quy định người phải thi hành án cũng có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án và đến nay Luật Thi hành án dân sự năm 2014 vẫn duy trì quy định này. Mục đích của việc bổ sung quy định này là nhằm khuyến khích ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người phải thi hành án cũng như để đảm bảo quyền lợi của họ trong trường hợp cần thiết.Do đó, trước khi tiếp cận với vấn đề tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án, chúng ta cần có tư duy đổi mới theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thi hành án dân sự năm 2014.Với quy định đổi mới này, đương sự được thể hiện ý chí của mình bằng quyền yêu cầu thi hành án thay vì trước đây phải làm đơn yêu cầu thi hành án; khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án của đương sự thì cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm tổ chức thi hành và chỉ được từ chối yêu cầu thi hành án khi đảm bảo các điều kiện mà luật quy định, không được tùy nghi hay chủ quan mà từ chối.Theo đó việc yêu cầu thi hành án được coi là quyền năng của đương sự. Khi bản án, quyết định đã có lực pháp luật hoặc được thi hành ngay theo quy định của pháp luật thì đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án) có quyền yêu cầu được thi hành án; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức và người có liên quan tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành, vì vậy khi đương sự có yêu cầu thì cơ quan, tổ chức và người có liên quan có trách nhiệm phải thi hành ( trừ một số trường hợp) do pháp luật quy định. Khi kiểm sát việc nhận yêu cầu thi hành án, Viện kiểm sát kiểm sát về thời hiệu yêu cầu ( 5 năm kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật), ai là người yêu cầu (người có quyền yêu cầu hoặc người được đương sự ủy quyền hợp pháp); hình thức yêu cầu; Những quy định pháp luật Viện kiểm sát dùng để làm căn cứ là các Điều 30, 31 Luật Thi hành án dân sự 2014; Điều 4 Nghị định 622015NĐCP ngày 1872015 của Chính phủ Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung luật Thi hành án dân sự năm 2014.Về hình thức, theo qui định tại Khoản 1 Điều 31 Luật THADS 2014 thì:Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án qua các hình thức sau:Trực tiếp nộp đơn Trình bày bằng lời nói Gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra xem nội dung đơn có đầy đủ nội dung bắt buộc có theo qui định tại Khoản 2 Điều 30 Luật THADS 2014 không? ( tên, tuổi, địa chỉ, nội dung yêu cầu, chữ ký, thông tin tài sản, điều kiện thi hành án…).Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi. 1.1 Các vi phạm thường gặp của Cơ quan thi hành án đối với việc tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án trên thực tế :Trước đây điểm đ, khoản 1, Điều 31 Luật THADS 2008 quy định phải có đơn yêu cầu thi hành án và quy định đơn phải có “ thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án”, do vậy nhiều Cơ quan thi hành án lợi dụng quy định này tùy nghi tiếp nhận hoặc từ chối đơn yêu cầu thi hành án của đương sự với lý do đơn không cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án dẫn đến người có đơn yêu cầu phải xin xỏ, “ lót tay” để được tiếp nhận. Vì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án nên khi tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án cán bộ thụ lý không vào sổ ngay theo quy định mà để gần ngày ra quyết định mới vào sổ nhằm hợp thức về quy định thời hạn phải ra quyết định thi hành án để kéo dài thời gian xử lý đơn. Nhiều trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu hoặc sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không bảo đảm nhưng với mục đích vụ lợi Cơ quan thi hành án vẫn tiếp nhận đơn yêu cầu và ra quyết định thi hành án.Nghiêm trọng hơn là nhằm để giảm số lượng thụ lý có Cơ quan thi hành án đã để ngoài không vào sổ thụ lý sau khi đã tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự… Kỹ năng để kiểm sát vấn đề này Kiểm sát viên cần kiểm tra lại sổ thụ lý, nhận đơn ( nhận yêu cầu thi hành án) kiểm tra đối chiếu lại giữa ngày nhận đơn với việc vào sổ; việc ghi sổ; đối chiếu giữa sổ nhận đơn với sổ ra quyết định thi hành án; đối chiếu giữa đấu đóng Công văn đến lưu trên từng đơn ( yêu cầu cầu thi hành án); kiểm tra lại các căn cứ về trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà Cơ quan thi hành án đã áp dụng cho hưởng thời hiệu; Trường hợp cần thiết VKS phải tiến hành gặp đương sự để xác minh việc gửi, đưa đơn yêu cầu ….•Lưu ý trường hợp: Đối với đơn yêu cầu thi hành án có kèm theo thỏa thuận về việc thi hành án.Theo Luật THADS 2014, đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc thi hành án theo qui định tại Điều 6 Luật này. Đồng thời tại Điều 5 Nghị định 622015NĐ CP cũng qui định: đương sự có thể thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.Vấn đề cần đặt ra ở đây là trường hợp đương sự đã có thỏa thuận về việc thi hành án trước khi có đơn yêu cầu thi hành án nhưng bên có nghĩa vụ lại không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn. Vì thế, bên có quyền được yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định. Do đó, Kiểm sát viên lưu ý đối với trường hợp yêu cầu thi hành án có kèm theo thỏa thuận này, cần kiểm tra xem việc thỏa thuận đó có đúng theo qui định tại Điều 5 Nghị định 622015NĐ CP không (vì tuy là quyền nhưng nếu vi phạm thì thỏa thuận đó cũng không được chấp nhận): Có được lập thành văn bản không? Có nêu rõ thời gian địa điểm không? Nội dung thỏa thuận có vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, sự lạm dụng quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án không? Có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận không?Đồng thời cũng cần phải giải thích cho đương sự về quyền tự thỏa thuận thi hành án sau khi đã có yêu cầu thi hành án, các yêu cầu như về mặt hình thức, nội dung đối với thỏa thuận đó.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Họat động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng

có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tòan bộ quá trình giải quyết vụ án bởi vì bản

án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định đó được thi hành trên thực tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì thế cũng được bảo vệ một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

Trang 2

Trong thi hành án dân sự các bên đương sự có thể tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo bản án, quyết định hoặc yêu cầu thông qua Cơ quan thi hành án dân

sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Đối với hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự, cụ thể kiểm sát việc xử lý đơn yêu cầu thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân cần phải áp dụng phương thức kiểm sát phù hợp, góp phần đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ thi hành án dân sự

Sau đây, tôi xin trình bày đề tài: Kiểm sát xử lý đơn yêu cầu thi hành án – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn.

NỘI DUNG

Trang 3

I Khái niệm công tác kiểm sát thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản ản, quyết định được đưa

ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức Việc thi hành án dân sự

do cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng thừa phát lại, Thừa phát lại tổ chức thực hiện Cơ quan tổ chức thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án và các chủ thể khác có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đúng căn cứ pháp luật, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự

Kiểm sát việc thi hành án dân sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thi hành án được hiện đúng quy định của pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh Cụ thể, Điều

12 Luật Thi hành án dân sự 2014 quy định “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự”.

Qua hoạt động kiểm sát các hoạt động thi hành án dân sự sẽ nâng cao trách nhiệm thi hành án của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành

án dân sự, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật trong thi hành án dân

sự, bảo đảm việc thi hành án dân sự nhanh chóng và đúng căn cứ pháp luật, tránh tình trạng xâm phạm quyền và các lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong thi hành

án dân sự Hoạt động thi hành án dân sự rất đa dạng nên nguyên tắc kiểm sát thi hành án dân sự được thể hiện gồm nhiều nội dung khác nhau đảm bảo tính hiệu quả, khả thi khi thi hành các bản án, quyết định trên thực tế

Trang 4

Như vậy, kiểm sát thi hành án dân sự là một trong các công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên

và các chủ thể khác liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự nhằm đảm bảo việc thi hành án dân sự kịp thời, đúng căn cứ pháp luật.

II Kỹ năng kiểm sát việc xử lý yêu cầu thi hành án

1 Kỹ năng kiểm sát việc tiếp nhận yêu cầu thi hành án

Xuất phát từ thực tiễn trước đây, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 chưa quy định quyền yêu cầu thi hành án dân sự của người phải thi hành án dân sự, nhưng xuất phát từ thực tiễn nhận thấy, trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau, người được thi hành án không làm đơn yêu cầu thi hành án ngay sau khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Trong khi đó, người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành, hơn thế, mong muốn nhanh chóng thực hiện xong nghĩa vụ của mình

Vì vậy, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 ra đời đã bổ sung quy định người phải thi hành án cũng có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án và đến nay Luật Thi hành án dân sự năm 2014 vẫn duy trì quy định này Mục đích của việc bổ sung quy định này là nhằm khuyến khích ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người phải thi hành án cũng như để đảm bảo quyền lợi của họ trong trường hợp cần thiết

Do đó, trước khi tiếp cận với vấn đề tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án, chúng ta cần có tư duy đổi mới theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Thi hành án dân sự năm 2014

Trang 5

Với quy định đổi mới này, đương sự được thể hiện ý chí của mình bằng quyền yêu cầu thi hành án thay vì trước đây phải làm đơn yêu cầu thi hành án; khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án của đương sự thì cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm tổ chức thi hành và chỉ được từ chối yêu cầu thi hành án khi đảm bảo các điều kiện mà luật quy định, không được tùy nghi hay chủ quan mà từ chối

Theo đó việc yêu cầu thi hành án được coi là quyền năng của đương sự Khi bản án, quyết định đã có lực pháp luật hoặc được thi hành ngay theo quy định của pháp luật thì đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án) có quyền yêu cầu được thi hành án; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức và người có liên quan tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành, vì vậy khi đương sự có yêu cầu thì cơ quan, tổ chức và người có liên quan có trách nhiệm phải thi hành ( trừ một số trường hợp) do pháp luật quy định

Khi kiểm sát việc nhận yêu cầu thi hành án, Viện kiểm sát kiểm sát về thời hiệu yêu cầu ( 5 năm kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật), ai là người yêu cầu (người có quyền yêu cầu hoặc người được đương sự ủy quyền hợp pháp); hình thức yêu cầu;

Những quy định pháp luật Viện kiểm sát dùng để làm căn cứ là các Điều 30,

31 Luật Thi hành án dân sự 2014; Điều 4 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung luật Thi hành án dân sự năm 2014

Về hình thức, theo qui định tại Khoản 1 Điều 31 Luật THADS 2014 thì:

Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án qua các hình thức sau:

- Trực tiếp nộp đơn

- Trình bày bằng lời nói

Trang 6

- Gửi đơn qua bưu điện

Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan

Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra xem nội dung đơn có đầy đủ nội dung bắt buộc có theo qui định tại Khoản 2 Điều 30 Luật THADS 2014 không? ( tên, tuổi, địa chỉ, nội dung yêu cầu, chữ ký, thông tin tài sản, điều kiện thi hành án…)

Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu

Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc

trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi

1.1 Các vi phạm thường gặp của Cơ quan thi hành án đối với việc tiếp

nhận đơn yêu cầu thi hành án trên thực tế :

- Trước đây điểm đ, khoản 1, Điều 31 Luật THADS 2008 quy định phải có đơn yêu cầu thi hành án và quy định đơn phải có “ thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án”, do vậy nhiều Cơ quan thi hành án lợi dụng quy định này tùy nghi tiếp nhận hoặc từ chối đơn yêu cầu thi hành án của đương sự với lý do đơn không cung cấp thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi hành án dẫn đến người có đơn yêu cầu phải xin xỏ, “ lót tay” để được tiếp nhận

- Vì thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án nên khi tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án cán bộ thụ lý không vào sổ ngay theo quy định mà để gần ngày ra quyết định mới vào sổ nhằm hợp thức về quy định thời hạn phải ra quyết định thi hành án để kéo dài thời gian xử lý đơn

- Nhiều trường hợp đã hết thời hiệu yêu cầu hoặc sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không bảo đảm nhưng với mục đích vụ lợi Cơ quan thi hành án vẫn tiếp nhận đơn yêu cầu và ra quyết định thi hành án

Trang 7

- Nghiêm trọng hơn là nhằm để giảm số lượng thụ lý có Cơ quan thi hành án đã để ngoài không vào sổ thụ lý sau khi đã tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự…

Kỹ năng để kiểm sát vấn đề này Kiểm sát viên cần kiểm tra lại sổ thụ lý, nhận đơn ( nhận yêu cầu thi hành án) kiểm tra đối chiếu lại giữa ngày nhận đơn với việc vào sổ; việc ghi sổ; đối chiếu giữa sổ nhận đơn với sổ ra quyết định thi hành án; đối chiếu giữa đấu đóng Công văn đến lưu trên từng đơn ( yêu cầu cầu thi hành án); kiểm tra lại các căn cứ về trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng mà

Cơ quan thi hành án đã áp dụng cho hưởng thời hiệu; Trường hợp cần thiết VKS phải tiến hành gặp đương sự để xác minh việc gửi, đưa đơn yêu cầu …

Lưu ý trường hợp: Đối với đơn yêu cầu thi hành án có kèm theo thỏa thuận về

việc thi hành án

Theo Luật THADS 2014, đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc thi hành án theo qui định tại Điều 6 Luật này Đồng thời tại Điều 5 Nghị định

62/2015/NĐ- CP cũng qui định: đương sự có thể thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận

mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành

án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

Vấn đề cần đặt ra ở đây là trường hợp đương sự đã có thỏa thuận về việc thi hành án trước khi có đơn yêu cầu thi hành án nhưng bên có nghĩa vụ lại không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn

Vì thế, bên có quyền được yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định

Trang 8

Do đó, Kiểm sát viên lưu ý đối với trường hợp yêu cầu thi hành án có kèm theo thỏa thuận này, cần kiểm tra xem việc thỏa thuận đó có đúng theo qui định tại Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ- CP không (vì tuy là quyền nhưng nếu vi phạm thì thỏa thuận đó cũng không được chấp nhận): Có được lập thành văn bản không? Có nêu rõ thời gian địa điểm không? Nội dung thỏa thuận có vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, sự lạm dụng quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án không? Có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận không?

Đồng thời cũng cần phải giải thích cho đương sự về quyền tự thỏa thuận thi hành án sau khi đã có yêu cầu thi hành án, các yêu cầu như về mặt hình thức, nội dung đối với thỏa thuận đó

1.2 Các vi phạm thường gặp trong công tác kiểm sát việc thỏa thuận thi

hành án của đương sự trên thực tế:

Chấp hành viên không làm tròn trách nhiệm khi chứng kiến, ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự ( không có biên bản từ chối khi thỏa thuận của đương sự trái pháp luật, vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội; thậm chí có trường hợp Chấp hành viên còn “mách nước” cho đương sự nhằm tránh phí thi hành án để chung chi, trục lợi); Không tổ chức thi hành đúng pháp luật khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận; thực hiện sai pháp luật khi đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành; trục lợi khi thực hiện thu các khoản phí khi chứng kiến sự thỏa thuận của đương sự ngoài trụ sở cơ quan thi hành án

Để phát hiện vi phạm, Kiểm sát viên ngoài việc nắm vững căn cứ pháp luật, năm vững hồ sơ theo mốc thời gian; cần kiểm tra đối chiếu kỹ giữa nội dung bản

Trang 9

án, quyết định và nội dung các thỏa thuận; trú trọng phát hiện vi phạm thông qua kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo; tiến hành xác minh khi cần thiết Khi phát hiện vi phạm tùy tính chất vi phạm mà tiến hành việc yêu cầu khắc phục ( yêu cầu thực hiện đúng nội dung bản án, quyết định khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận; yêu cầu thu phí thi hành án khi đương sự lạm dụng việc thỏa thuận ); kiến nghị khắc phục vi phạm khi Chấp hành viên không làm tròn trách nhiệm khi chứng kiến, ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự; Kháng nghị yêu cầu hủy bỏ khi phát hiện việc đình chỉ thi hành án trái pháp luật

2 Kỹ năng kiểm sát việc từ chối yêu cầu thi hành án

Theo quy định Khoản 5 Điều 31 Luật THADS 2014 thì Cơ quan thi hành

án chỉ được từ chối yêu cầu thi hành án và phải thông báo bằng văn bản cho người

yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:

Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu

không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

Theo qui định của Luật thi hành án dân sự 2014, người có quyền yêu cầu thi

hành án dân sự bao gồm: người được thi hành án và người phải thi hành án; không

bao gồm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nếu đương sự không thuộc các trường hợp có quyền yêu cầu thi hành án thì đương nhiên không thể thực hiện việc này

Trường hợp nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án là trường hợp người có quyền yêu cầu thi hành án yêu cầu thi hành án những nội dung không có, không được đề cập hoặc những nội dung khác, không đúng với nội dung trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực thi hành

Trang 10

Trường hợp bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự là trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực thi hành có nội dung không liên quan đến đương sự nên khi thi hành sẽ không ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự Vì vậy, các đương sự không có quyền yêu cầu thi hành

án

Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án

Đây là trường hợp tuy có thẩm quyền thi hành án nhưng lại không đúng thẩm quyền theo qui định tại Điều 35 Luật THADS 2014

Ví dụ: Người có quyền yêu cầu thi hành án thực hiện quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện thi hành án đối với Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân cấp tỉnh Theo qui định tại Khoản 1 Điều 35 Luật THADS 2014 thì Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện không có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án

Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo qui định tại Khoản 5 Điều 1 Luật

THADS 2014: là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.

Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án là trường hợp mà người có quyền yêu cầu thi hành án mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án Hay nói cách khác, hết thời hạn đó, nếu người được thi hành án, người phải thi hành án vẫn không có đơn yêu cầu thi hành án, thì người được thi hành án không còn quyền yêu cầu thi hành phần bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án nữa, còn người phải thi hành án không còn nghĩa vụ phải thi hành phần bản án, quyết định

Ngày đăng: 18/05/2017, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w