1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội

100 605 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 10,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các kết quả nghiên cứu thì mỗi một đơn vị phân loại cảnh quan hay mỗi thể tổng hợp tự nhiên là một phần của lớp vỏ Trái đất mà trên đó xảy ra các quá trình tác động tương hỗ lẫn nha

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dương Thị Giang

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC BA VÌ, THÀNH PHỐ

HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Dương Thị Giang

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BẢO

VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC BA VÌ, THÀNH PHỐ

HÀ NỘI

Chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường

Trang 3

MỤC LỤC

CÁC CHỮ VIẾT TẮT……….i

DANH MỤC BẢNG……… ii

DANH MỤC HÌNH……… iii

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN BA VÌ………6

1.1 Khái niệm chung về cảnh quan 6

1.1.1 Khái niệm cảnh quan 6

1.1.2 Hệ thống phân loại cảnh quan 9

1.1.3 Bản đồ cảnh quan 16

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 18

1.2.1 Phân tích cảnh quan 18

1.2.2 Những vấn đề về đánh giá cảnh quan 21

1.2.3 Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 24

1.3 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 25

1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu 25

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 26

1.3.3 C¸c b-íc nghiªn cøu ……… 30

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan 32

2.1.1 Vị trí địa lý 32

2.1.2 Đặc điểm địa chất 32

2.1.3 Đặc điểm địa hình 37

2.1.4 Đặc điểm khí hậu 388

2.1.5 Đặc điểm thủy văn 43

2.1.6 Đặc điểm thổ nhưỡng 44

2.1.7 Đặc điểm sinh vật 50

2.1.8 Mức độ nhân tác 53

2.1.9 Đặc đểm kinh tế - xã hội 55

2.2 Đặc điểm cảnh quan huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 59

Trang 4

2.2.2 Đặc điểm phân hóa cảnh quan huyện Ba Vì, TP Hà Nội 60

2.2.3 Chức năng cảnh quan huyện Ba Vì 62

2.2.4 §Æc điểm cảnh quan huyện Ba Vì, TP Hà Nội………62

Chương 3: NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI……….66

3.1 Đánh giá cảnh quan cho phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp 66

3.1.1 Lựa chọn cây trồng đánh giá 66

3.1.2 Đặc trưng sinh thái của các loại cây trồng……… ……69

3.1.3 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu đánh giá 71

3.1.4 Quy trình đánh giá cảnh quan và cách phân hạng điểm mức độ thích nghi của từng loại cảnh quan 76

3.1.5 Đánh giá và phân hạng mức độ thích nghi đối với các loại cây………72

3.2 Đánh giá cảnh quan cho phát triển ngành du lịch 76

3.2.1 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu đánh giá 76

3.2.2 Kết quả đánh giá 77

3.3 Định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan………78

3.3.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn……… 78

3.3.2 Định hướng phát triển một số loại cây trồng nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Ba Vì ……… 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….84

Trang 5

ĐKTN: Điều kiện tự nhiên

NCCB: Nghiên cứu cơ bản

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Hệ thống phân loại Cảnh quan của A.G Ixatsenco 10

Bảng 1.2: Hệ thống phân loại của N.A Gvozdexki ……….10

Bảng 1.3: Hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaiev……… 11

Bảng 1.4: Hệ thống phân loại cấp cảnh địa lý của Vũ Tự Lập………13

Bảng 1.5: Hệ thống phân loại cấp dạng địa lý của Vũ Tự Lập………14

Bảng 1.6: Hệ thống phân loại các diện địa lý……… 14

Bảng 1.7: Hệ thống phân loại áp dụng cho xây dựng BĐ Cảnh quan Việt Nam 15

tỉ lệ 1:1.000.000……….15

Bảng 1.8: Thang điểm 3 bậc trong đánh giá cảnh quan huyện Ba Vì 28 Bảng 2.1: Số giờ nắng trong các năm tại trạm Sơn Tây……… ………39

Bảng 2.2: Nhiệt độ trung bình các năm tại trạm đo Sơn Tây……… 40

Bảng 2.3 : Độ ẩm trung bình các tháng trong các năm tại trạm Sơn Tây: 42

Bảng 2.4: Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-01 ……….45

Bảng 2.5: Kết quả phân tích phẫu diện đất HN-21 ……… ………….46

Bảng 2.6: Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-07 ……….48

Bảng 2.7: Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-05 ……… ….……….49

Bảng 2.8: Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Ba Vì……….59

Bảng 2.9 Đặc điểm các đơn vị cảnh quan huyện Ba Vì……… ……….62

Bảng 3.1: Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan phục vụ phát triển các loại cây trồng huyện Ba Vì……… ……….70

Bảng 3.2: Kết quả đánh giá tổng hợp và phân hạng thích nghi sinh thái của các loại cảnh quan đối với cây chè, cây đậu tương và cây keo tai tượng……….73

Bảng 3.3: Tổng hợp diện tích theo mức độ thích nghi sinh thái của các loại cảnh quan đối với 3 loại cây trồng nông, lâm nghiệp huyện Ba Vì ……… 75

Bảng 3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển ngành du lịch 77

Bảng 3.5: Đề xuất phân bố không gian phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp theo hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ……… 80

Trang 7

DANH MỤC HèNH

Hỡnh 1.1: Hệ thống phõn loại của Vũ Tự Lập (1974)……… 12

Hỡnh 1.2: Quy trỡnh đỏnh giỏ cảnh quan theo hướng thớch nghi sinh thỏi 28

Hình 1.3: Sơ đồ các b-ớc nghiên cứu và đánh giá ……… ……31

Hỡnh 2.1: Biểu đồ lượng mưa trung bỡnh năm tại cỏc trạm đo ……… …41

Hỡnh 2.2: Biểu đồ thể hiện sự tăng lượng mưa theo độ cao trờn nỳi Ba Vỡ 41

Hỡnh 2.3: Biểu đồ thể hiện lượng mưa trung bỡnh thỏng tại trạm đo Ba Vỡ 42

Hình 2.4 Phẫu diện đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì ……… ………… 45

Hình 2.5 Phẫu diện đất tại xã Vân Động, huyện Ba Vì ……….……… 46

Hình 2.6 Phẫu diện đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì ……… ……… 47

Hình 2.7 Phẫu diện đất tại xã Thụy An, huyện Ba Vì ……… ……… 49

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu cũng là nhiệm vụ chung được đặt ra cho các vùng, các tỉnh và các địa phương của nước ta hiện nay, nhằm tăng hiệu quả kinh

tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Bên cạnh đó, một trong những phương pháp góp phần làm nền tảng cho quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch tổ chức lãnh thổ chính là đánh giá cảnh quan thông qua việc phân tích mối quan

hệ tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên và nhân tạo Khoa học cảnh quan ở Việt Nam phát triển trong sự tiếp thu những kiến thức của nước ngoài (chủ yếu là trường phái Liên Xô cũ) và sự vận dụng cụ thể trên các quy mô về vùng lãnh thổ và tỷ lệ nghiên cứu khác nhau.…

Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa, nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 53 km Ba Vì nối liền với các tỉnh lân cận và trung tâm Hà Nội bằng các trục đường chính như: quốc lộ 32, tỉnh lộ 89A,… và các tuyến đường thủy qua sông Hồng, sông Đà có tổng chiều dài 70 km Với những lợi thế về giao thông đường thủy, đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế với cơ cấu đa dạng nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp

Một nét đặc thù rất riêng của Ba Vì là địa hình ở đây được chia ra làm ba vùng

rõ rệt: vùng núi, vùng đồi gò, vùng đồng bằng ven sông Vùng đồng bằng lại được bao bọc và bồi đắp bởi hai con sông là sông Hồng và sông Đà nên đất đai rất phì nhiêu, màu mỡ Những lợi thế ấy đã tạo đà cho nông nghiệp trở thành ngành sản xuất chính của địa phương Cùng với phát triển ngành nông nghiệp Ba Vì đặc biệt chú ý khai thác tiềm năng về du lịch - dịch vụ Vùng núi Ba Vì chiếm 42% diện tích toàn huyện, với trung tâm là ngọn núi Ba Vì cao 1.296 m, cùng hệ động thực vật phong phú, quý hiếm Tập trung xung quanh núi là hàng trăm con suối, hàng trục các hồ lớn nhỏ khác nhau như: Ao Vua, Khoang Xanh, Thác Mơ, suối Tiên, hồ Suối Hai, đặc biệt suối khoáng nóng Thuần Mỹ có thể khai thác phục vụ du lịch dưỡng bệnh, nghỉ ngơi Ngoài ra, Ba Vì còn có một loạt những di tích, địa danh đã đi vào lịch sử như khu căn

cứ kháng chiến Sơn Tây, vùng rừng thông Đá Chông, khu tưởng niệm Bác Hồ và hàng loạt các đình, đền, chùa đã được Nhà nước xếp hạng (đình Tây Đằng được xếp hạng là

Trang 9

một trong 12 di tích đặc biệt quan trọng) Hiện nay, hầu hết các điểm du lịch trên địa bàn huyện đã được đưa vào khai thác có hiệu quả

Như vậy, việc phát triển kinh tế - xã hội ở Ba Vì luôn luôn gắn với việc bảo tồn thiên nhiên, phát triển nông, lâm nghiệp, phát triển các loại hình du lịch là chủ yếu Để

có một nền kinh tế - xã hội ở Ba Vì phát triển thì cần phải có những nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý nhằm mục đích phát triển bền vững từ đó có những biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp Vì vậy hướng nghiên cứu Luận văn là của tác

giả là “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo

vệ môi trường khu vực Ba Vì, thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xác lập cơ sở khoa học phục vụ cho việc định hướng phát triển kinh tế huyện

Ba Vì dựa trên việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp cảnh quan

2.2 Nhiện vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Thu thập và nghiên cứu tài liệu có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài

- Xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ cảnh quan huyện

Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Đánh giá mức độ thích nghi sinh thái các đơn vị cảnh quan cho việc phát triển kinh tế (nông – lâm nghiệp và du lịch) nhằm sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: bao gồm toàn bộ không gian lãnh thổ huyện Ba

Vì, thành phố Hà Nội Gồm 30 xã và 1 thị trấn, với diện tích là 428,04km2

Ranh giới phạm vi hành chính lãnh thổ nghiên cứu được xác định trên cơ sở bản đồ hành chính huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

- Phạm vi khoa học:

Đề tài mang tính tổng hợp, đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ chuyên ngành sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường, đề tài chỉ dừng lại xác lập cơ sở phân vị các đơn vị cảnh quan, thành lập bản đồ cảnh quan, từ đó đánh giá sự phát triển kinh tế của

Trang 10

các ngành nông, lâm nghiệp và du lịch và đề ra định hướng trong việc phát triển kinh

tế - xã hội huyện Ba Vì

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu:

- Quan điểm hệ thống và tổng hợp

- Quan điểm lịch sử

- Quan điểm sinh thái học

- Quan điểm phát triển bền vững

Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo sát điều tra thực địa

- Phương pháp phân tích và xử lý tài liệu

- Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái

- Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích

- Phương pháp đánh giá tổng hợp cảnh quan

- Phương pháp bản đồ và GIS

5 Cơ sở tài liệu thực hiện Đề tài

Luận văn được thực hiện dựa trên nguồn cơ sở dữ liệu sau:

- Các số liệu, tài liệu điều tra và thu thập tại khu vực nghiên cứu

- Từ các tài liệu về đánh giá tổng hợp cảnh quan; các đề tài khoa học, luận án và các công trình nghiên cứu khác có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài

- Các loại tài liệu liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

- Thừa kế từ các công trình đã được triển khai nghiên cứu ở khu vực Ba Vì Hà Nội

6 Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và phần kết luận – kiến nghị thì cấu trúc dự kiến của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế

-xã hội huyện Ba Vì

Chương 2: Đặc điểm các nhân tố thành tạo và cấu trúc cảnh quan huyện Ba Vì Chương 3: Đánh giá thích nghi sinh thái và định hướng sử dụng hợp lý cảnh

quan huyện Ba Vì

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TR*ONG ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN BA VÌ

1.1 Khái niệm chung về cảnh quan

1.1.1 Khái niệm cảnh quan

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong cuộc sống, con người từ cổ xưa buộc phải phân biệt các bộ phận thiên nhiên của lãnh thổ mà chúng có sự khác nhau cả về nguồn lợi thiên nhiên và điều kiện tiến hành sản xuất Có thể nói nền tảng cơ sở của khoa học cảnh quan có từ rất sớm và đi sâu vào đời sống của nhân loại Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX V.V.Docutraev (1846-1903) - người được coi là nhà khoa học đặt nền móng cho học thuyết cảnh quan và là người đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên tại các địa phương cụ thể Ông cho rằng thổ nhưỡng

là hàm số của tất cả các yếu tố địa lý khác: kiểu nham, khí hậu, sinh vật… Theo ông:

“phải nghiên cứu thiên nhiên thống nhất, toàn vẹn và không tách rời từng phần” Tư tưởng này là tiếp nối quan điểm của Alecxăng Humbol (1765-1859), khi đề ra nguyên tắc nghiên cứu tổng hợp các hiện tượng tự nhiên, theo ông: “Địa lý học cung cấp lối nhìn chung về những hiện tượng trên mặt đất vói sự liên kết phụ thuộc của chúng”

Sau chiến tranh thế giới thứ II, cảnh quan học thực sự phát triển và được xác định như một “đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hoá địa đới và

phi địa đới” (A.G Ixatrenco, 1953) Theo L.C.Berg: “cảnh quan địa lý là một hợp

phần hay một nhóm các sự vật, hiện tượng, trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, thực vật và động vật cũng như hoạt động của con người hoà trộn với nhau vào một thể thống nhất hoà hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đới nhất định nào

đó của Trái đất”

Năm 1948, N.A Xolsev đó đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý được gọi là

một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh, trong đó có sự lặp lại một cách điển hình và

có quy luật của một và chỉ một tập hợp liên kết tương hỗ gồm: cấu trúc địa chất, dạng địa hình, nước mặt và nước ngầm, vi khí hậu, các biến chứng đất, các quần xã thực - động vật”

Còn theo A.G Ixatsenko trong “Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự

nhiên” năm 1965 đá đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt

phát sinh của một phần cảnh quan, một đới cảnh quan hay nói chung của một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự đồng nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa

Trang 12

đới, có một cấu trúc riêng và cấu tạo hình thái riêng” Đến năm 1991, A.G Ixatsenko

đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: “Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt

phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp”

Theo nhà địa lý Việt Nam Vũ Tự Lập, khi nghiên cứu cảnh quan địa lý miền

Bắc Việt Nam, Ông đã đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thể được

phân hóa trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” (1976)

Hiện này trong khoa học địa lý tồn tại 3 quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dung người ta muốn diễn đạt bao gồm: quan niệm chung; khái niệm loại hình; và khái niệm cá thể Chúng được áp dụng để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau:

a Quan niệm chung: Theo quan niệm này, cảnh quan đồng nghĩa với khái niệm

các tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ, các địa tổng thể ở bất kỳ cấp nào và có thể sử dụng cho bất kỳ đơn vị phân loại hoặc đơn vị phân vùng địa lý tự nhiên nào Quan niệm này coi cảnh quan được hiểu như một khái niệm chung đồng nghĩa với khái niệm địa tổng thể các cấp Người đưa ra quan điểm này là F.N Milkov và được D.L Armand, P.X Kuzonhexov, V.P Prokaev… tích cực ủng hộ Quan niệm này thường “chỉ thích hợp nghiên cứu một môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một loại hình sử dụng đất hay cho việc bố trí sản xuất trên qui mô trang trại hoặc kinh tế hộ gia đình”, (Phạm Hoàng Hải và nnk) Bởi nếu hiểu theo cách này sẽ không phản ánh rõ rệt được giới hạn về lãnh thổ, không thấy được trật tự phân cấp logic

b Quan niệm kiểu loại: cho rằng, cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ

thống phân chia các thể tổng hợp địa lý tự nhiên trên lãnh thổ Mỗi cấp phân chia phải dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng và được sắp xếp theo trình

tự thừ thấp lên cao như sau:

Tuy nhiên, theo quan niệm này cần xét đến sự phân hoá của các đơn vị cảnh quan đều chịu ảnh hưởng của quy luật địa đới và phi địa đới Quan niệm này thể hiện trong các công trình nghiên cứu của Polưnov, Markov, Pereman, N.A Gvozdexki…

và có lợi thế trong nghiên cứu thành lập bản đồ cảnh quan phục vụ mục đích thực tiễn

Trang 13

ở tỷ lệ lớn và trung bình, đối với các cảnh quan bị biến đổi bởi các hoạt động của con người, khi nhiều yếu tố chưa định lượng một cách chắc chắn và cần phải công nhận tính đồng nhất tương đối để có thể gộp chúng vào một nhóm Tính đồng nhất tương đối và tính lặp lại được thể hiện rõ trong hệ thống đơn vị phân loại khi thành lập bản đồ cảnh quan Quan niệm này sử dụng cho cả cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân sinh

c Quan niệm cá thể: Các đại diện cho quan niệm này là N.A Xolnsev (1948,

1949), X.V Kalexnic (1947-1959), A.G Ixatrenco, A.A Grioriev… đã xem cảnh quan là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị địa lý tự nhiên cơ

sở, là đối tượng cơ bản để nghỉên cứu lãnh thổ Mỗi đơn vị địa lý tự nhiên riêng biệt phải có nội dung, chỉ tiêu phân chia rõ ràng, có trật tự phân cấp logic Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này chia thành hai khuynh hướng:

- Khuynh hướng 1: Coi “Cảnh quan là đơn vị dưới cấp vùng địa lý tự nhiên”

- Khuynh hướng 2: Coi “Cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên thực chất là đồng nghĩa” Theo khuynh hướng này Vũ Tự Lập khi nghiên cứu cảnh quan địa lý Miền Bắc Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một tổng hợp thể được phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật mà bao gồm tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”

Quan niệm cảnh quan là một đơn vị phân hóa chung như một địa hệ tự nhiên bất kỳ nào đó được sử dụng nhiều không phải trong lĩnh vực cảnh quan học thuần túy, mà ở các lĩnh vực khác, các ngành khác khi có động đến sự phân dị lãnh thổ Vì vậy, nhiều người cho cảnh quan đồng nghĩa với các quan điểm phân vùng khác

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, quan niệm về cảnh quan theo quan niệm chung không có một giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo sự phân cấp (phân hóa nào) vì sử dụng như một danh từ chung Do vậy, thường được dùng cho các công trình chung nghiên cứu môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu cho một dạng sử dụng rất cụ thể nào đó

Đối với các nhà nghiên cứu chuyên ngành cảnh quan thì sử dụng hai quan niệm: kiểu loại và cá thể Trong đó, quan niệm kiểu loại được dùng phổ biến trong các nghiên cứu cảnh quan Vì theo quan niệm này, cảnh quan là đơn vị cơ sở, là cấp phân

vị - đơn vị phân loại thể hiện rõ nét nhất cả hai quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới

Trang 14

(A.G Ixatsenko, 1965), đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng Điều này thể hiện một trong những đặc tính của tập hợp, là đặc tính “nổi bật” chỉ có trong hệ thống các cấp, mà mỗi cấp có tính chất riêng cho sự liên kết tương hỗ của các yếu tố hợp thành

Ở Việt Nam, các nhà khoa học tiếp tục đi sâu vào những hướng tiếp cận khoa học tổng hợp nghiên cứu cảnh quan vùng, đồng thời ứng dụng các kết quả nghiên cứu

đó cho các mục đích phát triển, bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững

1.1.2 Hệ thống phân loại cảnh quan

Hệ thống phân loại cảnh quan là một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ cảnh quan Hiện trong cảnh quan vẫn chưa có hệ thống phân loại thống nhất và được mọi người công nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp

Vì vậy, khi nghiên cứu thành lập bản đồ Cảnh quan cho mỗi một khu vực, một lãnh thổ các tác giả thường xác lập một hệ thống phân loại mới dựa trên cơ sở của hệ thống phân loại có từ trước Tuy nhiên, theo Vũ Tự Lập và một số tác giả khác: mỗi hệ thống phân loại Cảnh quan được đưa ra phải đảm bảo theo những nguyên tắc nhất định:

- Hệ thống phân loại phải phản ánh đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật phân hoá không gian phổ biến của địa lý quyển, đây là nguyên nhân chính của

- Hệ thống phân loại phải được thể hiện rõ ràng bằng một mô hình phản ánh

những mối quan hệ giữa các cấp Tuỳ thuộc vào mức độ phân hoá của lãnh thổ mà lựa chọn hệ thống phân loại cũng như tập hợp chỉ tiêu phân loại thống nhất Nhưng không nên quá cồng kềnh và không bỏ qua những bậc và những chỉ tiêu cần thiết

*) Một số hệ thống phân loại Cảnh quan của tác giả nước ngoài

Năm 1957, T.N Sêglova (Liên Xô) đã sử dụng hệ thống phân loại gồm hai cấp

là vùng và á vùng để phân chia các khu vực địa lý tự nhiên Việt Nam và Singapore với các chỉ tiêu để phân chia vùng là: Yếu tố địa chất-kiến tạo, khí hậu, thực vật trong đó yếu tố chủ đạo là yếu tố khí hậu Chỉ tiêu để phân chia á vùng là các nhân tố địa mạo

Trang 15

- Hệ thống phân loại Cảnh quan của A.G Ixatsenco năm 1961 gồm 8 bậc cảnh quan: Nhóm kiểu, Kiểu, Phụ kiểu, Lớp, Phụ lớp, Loại, Phụ loại, Thể loại

Bảng 1.1: Hệ thống phân loại Cảnh quan của A.G Ixatsenco

Nhóm kiểu Sự giống nhau có tính chất địa đới của các Cảnh quan trong

phạm vi các địa ô và các châu lục khác nhau

Kiểu

Các điều kiện nhiệt ẩm cùng kiểu, những nét cấu trúc chung, cùng quá trình di động của các nguyên tố hoá học, các quá trình địa mạo ngoại sinh, sự thành tạo thổ nhưỡng, thành phần và cấu trúc sinh vật

Phụ kiểu Những khác biệt của địa đới thứ cấp và các dấu hiệu chuyển tiếp

trong cấu trúc

Lớp Mức độ tác động làm biến đổi của các yếu tố kiến tạo sơn văn

với cấu trúc của Cảnh quan Phụ lớp ở miền núi - sự phát triển nguyên vẹn của dãy đai cao điển hình Loại Sự giống nhau phát sinh, kiểu ưu thế của địa hình và đá mẹ cũng

như cấu trúc hình thái

Phụ loại Những đặc trưng của vật chất bề mặt

Thể loại Các đặc trưng của khí hậu địa phương

- Hệ thống phân loại cảnh quan của N.A Gvozdexki bao gồm 5 bậc cảnh quan: lớp cảnh quan, kiểu cảnh quan, phụ kiểu cảnh quan, nhóm cảnh quan, loại cảnh quan:

Bảng 1.2: Hệ thống phân loại của N.A Gvozdexki

Lớp Những dấu hiệu địa chất địa mạo quyết định đặc điểm biểu hiện tính địa

đới và tương quan nhiệt ẩm

Kiểu

Những dấu hiệu địa đới đặc trưng (đại lượng chỉ số khô hạn bức xạ, vòng tuần hoàn sinh học của các yếu tố di động không khí, các nguyên tố, loại hình di động nước, kiểu thảm thực vật và đất)

Phụ kiểu Tính địa đới (phụ đới vĩ độ và đai cao và “tính địa phương” theo kinh độ) Nhóm Các đặc trưng địa chất địa mạo

Loại Sự đồng nhất lớn của các ĐKTN và tính đồng dạng của cấu trúc ngang (sự

kết hợp của các kiểu Cảnh quan)

Trang 16

- Hệ thống phân loại Cảnh quan của Nhikolaiev (1966) ra đời gần sát với đối tượng cần phải phân chia hơn Hệ thống này gồm 12 bậc và được xây dựng cho nghiên cứu các cảnh quan đồng bằng nên khi áp dụng cho cảnh quan miền núi có bị hạn chế

Bảng 1.3: Hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaiev

Thống Kiểu tiếp xúc của các quyển địa lý trong cấu trúc của lớp vỏ Cảnh quan

Hệ Cân bằng nhiệt ẩm là biểu hiện của cơ sở năng lượng phân bố trong

không gian thông qua tính địa đới của các Cảnh quan

Phụ hệ Tính địa ô của các đới làm phân phối lại nền tảng của các đới

Lớp

Cấu trúc hình thái của các đơn vị cấp lớn (đại địa hình) đã xác định kiểu địa đới hay phi địa đới của lãnh thổ Có hai lớp chủ yếu là lớp đồng bằng và lớp núi

Phụ lớp Sự phân hoá tầng trong cấu trúc Cảnh quan ở núi và đồng bằng làm

phân hoá cường độ các quá trình địa lý tự nhiên

Nhóm

Kiểu chế độ thuỷ địa hoá do quan hệ giữa các yếu tố khí quyển, thổ nhưỡng, dòng chảy, mức độ chia cắt, phân phối lại các vật chất và năng lượng

Kiểu Các dấu hiệu sinhh khí hậu - thổ nhưỡng ở các cấp kiểu thổ nhưỡng

và lớp quần thể thực vật

Phụ kiểu Mang dấu hiệu của kiểu thổ nhưỡng nhưng ở cấp phụ thổ nhưỡng và

phụ lớp quần thể thực vật mang tính chất là các quần thể chuyển tiếp Hạng Các kiểu địa hình phát sinh

Phụ hạng Các kiểu địa hình phát sinh và nham thạch bề mặt

Loại Sự giống nhau của các dạng ưu thế

Phụ loại Ưu thế về diện tích của các dạng phụ thuộc

*) Hệ thống phân loại của các tác giả Việt Nam

Khoa học Cảnh quan tuy xuất hiện ở Việt Nam tương đối muộn song cũng thu được những thành quả tương đối đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng; và có một hệ thống phân loại luôn theo các nguyên tắc và phương pháp chung

- Hệ thống phân loại nhiều cấp của Vũ Tự Lập (1974) áp dụng cho nghiên cứu

Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam (gọi tắt là hệ thống phân vị)

* Những chỉ tiêu cơ bản để chẩn đoán các cấp phân vị của Vũ Tự Lập

- Địa lý quyển: Đây là cấp lớn nhất và không phân chia nên được nhiều người

nhất trí Đa số tác giả lấy đỉnh tầng đối lưu (8-16km cao) và đáy trầm tích (sâu

15-20km tại các địa máng) làm cấp trên và dưới

Trang 17

- Đất liền: Đây là cấp có ranh giới rõ rệt, ít bàn cãi Sự phân chia ra đất liền và đại

dương dựa vào tính chất khác nhau căn bản giữa các thành phần vật chất cấu tạo nên

- Vòng địa lí: là đơn vị được dùng để phân chia các lãnh thổ rộng lớn như một

châu lục, một nửa cầu Cấp này được xác định dựa vào nền tảng nhiệt hoặc là cân bằng bức xạ tính theo kcal/cm2/năm, hoặc là tổng nhiệt độ trên 100

C

- Đới địa lí: là đơn vị thông dụng nhất trong phân vùng địa lí tự nhiên theo quy

luật địa đới, đới có một chỉ số tương quan nhiệt - ẩm nhất định Đới phải tương ứng với một kiểu lớp phủ thổ nhưỡng, sinh vật địa đới nhất định, trong đó chú trọng đến kiểu thực vật địa đới nhiều hơn thổ nhưỡng

Trang 18

- Ô địa lí: là kết quả của sự phân hoá theo kinh độ Những biến đổi về khí hậu

do sự phân bố lục địa và biển thông qua hoạt động ưu thế của các khối không khí hải dương - lục địa

- Xứ địa lí: phải có sự thống nhất của một địa cấu trúc (nền bằng, khiên, vùng

uốn nếp) hoặc chỉ có dạng chung khuynh hướng ưu thế của vận động kiến tạo mới nhất, khiến cho các bộ phận địa - cấu trúc khác nhau có chung những nét đại địa hình (núi, đồng bằng, cao nguyên )

- Miền địa lí: là đơn vị phân hoá phi địa đới bởi nhân tố kiến tạo - địa mạo, song nó

lại có sự đồng nhất về mặt địa đới Miền là kết quả đan cắt giữa một xứ và một đới

- Khu địa lí: là sự phân hoá thứ cấp trong miền, được dùng chung cho cả miền núi

lẫn đồng bằng và được phân hoá ra từ miền do các nguyên nhân địa chất - địa mạo

- Đai cao địa lí: được phân theo quy luật phi địa đới (quy luật phân hoá đai

cao), chỉ tiêu để phân ra các đai theo độ cao tương ứng với chỉ tiêu của đới ngang nghĩa là căn cứ theo cân bằng bức xạ hay tổng nhiệt độ và tương quan nhiệt ẩm Số lượng các vành đai ở các khu vực khác nhau sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ cao tuyệt đối của các khu vực núi

- Khối địa lý: Cấp phân vị khối chỉ được dùng khi khu núi bị cắt sẻ rời rạc, như

vậy khối là một đơn vị địa chất - địa mạo tách biệt rõ trong phạm vi một khu núi và phải bao gồm ít nhất là hai đai cao Kích thước của khối vào cỡ hàng ngàn hoặc hàng trăm km2

- Á khu địa lý: là một cấp bổ trợ dùng cho các khu đồng bằng, khi ấy còn có sự

phân hoá địa đới thuộc cấp á đới

- Cảnh địa lý: có một vai trò rất quan trọng trong hệ thống phân vị, do bản chất

của nó đáp ứng đầy đủ nhất yêu cầu của một địa tổng thể, là đồng nhất cao về cả hai phương diện địa đới và phi địa đới Trong cấp cảnh địa lý, ông còn đưa ra hệ thống phân loại như sau :

Bảng 1.4: Hệ thống phân loại cấp cảnh địa lý của Vũ Tự Lập

1 Hệ Nền tảng nhiệt ẩm (tổng nhiệt độ và hệ số thuỷ nhiệt)

2 Lớp Các nhóm kiểu địa hình

3 Lớp phụ Kiểu địa hình

4 Nhóm Nhóm kiểu khí hậu

5 Kiểu Đại tổ hợp thổ nhưỡng

Trang 19

6 Chủng Toàn bộ sinh cảnh vô cơ (kiểu địa hình, nhóm kiểu khí hậu,

đại tổ hợp thổ nhưỡng, nền địa chất, loại thuỷ văn)

7 Loại Toàn bộ môi trường tự nhiên vô cơ-hữu cơ (sinh cảnh vô cơ,

trạng thái thực bì và đại tổ hợp đất

8 Thứ Mức độ nhân tác và biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo

- Dạng địa lý :Là tập hợp các nhóm diện địa lý phát triển trên mỗi dạng trung

địa hình âm hoặc dương, với các dấu hiệu để phân loại cấp dạng địa lý:

Bảng 1.5: Hệ thống phân loại cấp dạng địa lý của Vũ Tự Lập

1 Lớp Dạng trung địa hình theo phát sinh

2 Nhóm Nham thạch và lớp vỏ phong hoá

3 Kiểu Tiểu tổ hợp đất

4 Loại Tiểu tổ hợp thực vật

5 Thứ Mức độ nhân tác và biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo

- Diện địa lý: là một địa tổng thể nhỏ nhất, đơn giản nhất, có thể coi như không

chia sẻ được nữa về phương diện địa lý

Bảng 1.6: Hệ thống phân loại các diện địa lý

1 Lớp Địa thế (yếu tố địa hình, độ dốc, hướng)

2 Kiểu Biến chủng đất và độ phì

3 Loại Quần thể sinh vật và năng suất

4 Thứ Mức độ nhân tác và biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo

- Điểm địa lý: là chỉ các đối tượng có diện tích nhỏ có khi chỉ vài m2 và ít khi vượt quá vài chục m2, vì nguyên nhân hình thành chủ yếu là nhân tố sinh vật hoặc nhân tác

- Năm 1983, Vũ Tự Lập đưa ra hệ thống phân loại 4 cấp cho bản đồ các kiểu

Cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1: 2.000.000, bao gồm: Lớp Cảnh quan, Phụ lớp Cảnh quan,

Hệ Cảnh quan, Kiểu Cảnh quan (Nguồn : Phân vùng địa lí tự nhiên Việt Nam (Phần miền Bắc) NXB Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội, 1970)

- Năm 1997, khi nghiên cứu Cảnh quan NĐGM Việt Nam cho mục đích

SDHLTNTN và BVMT, các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã xây dựng hệ thống phân loại 7 cấp: Hệ thống Cảnh quan, Phụ hệ thống

Trang 20

Cảnh quan , Lớp Cảnh quan, Phụ lớp Cảnh quan, Kiểu Cảnh quan, Phụ kiểu Cảnh quan, Loại Cảnh quan với các chỉ tiêu như sau:

Bảng 1.7: Hệ thống phân loại áp dụng cho xây dựng BĐ Cảnh quan Việt Nam

2 Phụ hệ thống

Cảnh quan

Đặc trưng định lượng của các điều kiện khí hậu được quy định bởi bởi sự hoạt động của chế độ hoàn lưu khí quyển trong mối tương tác giữa các điều kiện nhiệt và ẩm ở quy

mô á đới, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các quần thể thực vật liên quan đến vùng sinh thái hệ thực vật

quan

Đặc trưng hình thái phát sinh của đại địa hình lãnh thổ, quyết định các quá trình thành tạo và thành phần vật chất mang tính chất phi địa đới biểu hiện bằng các đặc trưng định lượng của cân bằng vật chất, quá trình di chuyển vật chất, lượng sinh khối, cường độ tuần hoàn sinh vật của các quần thể phù hợp với điều kiện sinh thái được quy định bởi

sự kết hợp giữa yếu tố địa hình và khí hậu

4 Phụ lớp Cảnh

quan

Đặc trưng trắc lượng hình thái địa hình trong khuôn khổ lớp, thể hiện cân bằng vật chất giữa các đặc trưng trắc lượng hình thái địa hình, các đặc điểm khí hậu và đặc trưng của quần thể thực vật: sinh khối, mức tăng trưởng, tuần hoàn sinh vật theo các ngưỡng độ cao

quan

Những đặc điểm SKH chung quyết định sự thành tạo các kiểu thảm thực vật, tính chất thích ứng của đặc điểm phát sinh quần thể thực vật theo đặc trưng biến động của cân bằng nhiệt ẩm

6 Phụ kiểu Cảnh

quan

Những đặc trưng định lượng sinh khí hậu cực đoan quyết định thành phần loài của các kiểu thảm thực vật, quy định các ngưỡng tới hạn phát triển của các loài thực vật cấu thành các kiểu thảm theo nguồn gốc phát sinh

quan

Đặc trưng bởi mối quan hệ tương hỗ giữa các nhóm quần xã thực vật và các loại đất trong chu trình sinh học nhỏ, quyết định mối cân bằng vật chất của Cảnh quan qua các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, cộng với các tác động của các hoạt động nhân tác

Trang 21

Như vậy khi xem xét những hệ thống phân loại cảnh quan mà các tác giả trong

và ngoài nước đưa ra, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt của các hệ thống phân loại, các cấp bậc, các chỉ tiêu phân cấp Vì thế, không phải bất cứ lúc nào tên gọi một cảnh quan ở các hệ thống phân loại khác nhau cũng có thể đồng nghĩa với nhau

1.1.3 Bản đồ cảnh quan

Bản đồ cảnh quan: Đây là bản đồ mang tính tổng hợp cao phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng lẻ của tự nhiên

Theo các kết quả nghiên cứu thì mỗi một đơn vị phân loại cảnh quan hay mỗi thể tổng hợp tự nhiên là một phần của lớp vỏ Trái đất mà trên đó xảy ra các quá trình tác động tương hỗ lẫn nhau giữa các yếu tố (môi trường, sinh vật, các tác động nhân tác,…), mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định của chúng Có thể nói, những tác động của

tự nhiên và nhân tác cả mặt tích cực và tiêu cực đều dẫn đến sự thay đổi bộ mặt của tự nhiên, tăng cường động lực của cảnh quan và ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc và chức năng của cảnh quan

Nghiên cứu các đơn vị cảnh quan tức là nghiên cứu mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa hai tập hợp các yếu tố thành tạo cảnh quan và thành phần của tự nhiên (vô sinh và hữu sinh), trong đó biểu hiện cấu trúc hoàn chỉnh một đơn vị tổng hợp tự nhiên hoàn chỉnh Mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần và yếu tố thành tạo cảnh quan được thể hiện qua các quá trình của sự trao đổi vật chất và năng lượng giữa chúng với nhau

Trong thực tiễn nghiên cứu tự nhiên, công tác đánh giá các ĐKTN và TNTN để phục vụ mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT đòi hỏi trước hết phải có những nghiên cứu tổng hợp chung, đặc biệt là xây dựng một bản đồ tổng hợp - bản đồ cảnh quan của lãnh thổ Để qua các đơn vị cảnh quan cụ thể, cấu trúc hệ thống phân loại sẽ cho ta thấy một cách khách quan các đặc điểm về thành phần, yếu tố tự nhiên và nhưng thông tin quan trọng khác, đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng, những quy luật hình thành và phát triển, sự phân bố tự nhiên theo lãnh thổ

* Nguyên tắc thành lập bản đồ cảnh quan

Bản đồ cảnh quan là một bản đồ tổng hợp phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng lẻ của tự nhiên Các kết quả nghiên cứu cho thấy, mỗi một đơn vị phân loại

Trang 22

cảnh quan hay mỗi thể tổng hợp tự nhiên là một phần của lớp vỏ Trái Đất mà trên đó xảy ra các quá trình tác động tương hỗ đồng nhất

Các đơn vị cảnh quan được thành tạo nhờ sự phân hoá lãnh thổ, bị chi phối bởi các quy luật địa đới và phi địa đới Vì vậy, bản đồ cảnh quan cần phải thể hiện, phản ánh một cách đầy đủ, khách quan các đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần riêng lẻ của tự nhiên Để xây dựng bản đồ cảnh quan cần

sử dụng các nguyên tắc chính gồm: Nguyên tắc phát sinh hình thái, nguyên tắc tổng hợp, nguyên tắc đồng nhất tương đối Các nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và phải được vận dụng một cách linh hoạt, bổ sung cho nhau trong việc thể hiện cấu trúc và chức năng của các đơn vị cảnh quan

- Nguyên tắc phát sinh hình thái: Trên cơ sở nghiên cứu, tiến hành phân tích chi

tiết các quy luật phân hoá lãnh thổ để thành tạo các đơn vị cảnh quan ở các cấp khác nhau, xác định các quá trình phát sinh, phát triển của các đơn vị cảnh quan và so sánh với hiện trạng phát triển của cảnh quan, từ đó dự báo động lực phát triển trong tương lai của cảnh quan Như vậy, những đơn vị cảnh quan có cùng nguồn gốc phát sinh và hình thái tương đối đồng nhất thì được xếp vào một đơn vị cấp lớn hơn Ngược lại, những đơn vị có cùng hình thái nhưng khác nhau về nguồn gốc phát sinh sẽ được xếp vào cấp đơn vị cảnh quan khác Từ đó, tạo cơ sở cho việc vạch được ranh giới giữa các cấp của các đơn vị cảnh quan

- Nguyên tắc tổng hợp: Mỗi một đơn vị cảnh quan là một địa tổng thể tự nhiên,

là phức hợp các hợp phần địa lý tự nhiên nằm trong mối tác động qua lại và tạo thành thể thống nhất hoàn chỉnh ở các bậc khác nhau từ lớp vỏ địa lý đến diện địa lý thông qua chu trình trao đổi vật chất và năng lượng Trong nghiên cứu, thành lập bản đồ dựa trên nguyên tắc tổng hợp sẽ xác định được cơ chế, động lực trao đổi vật chất bên trong

và giữa các đơn vị cảnh quan Đồng thời xác định các nhân tố trội (nhân tố chủ đạo) quyết định sự hình thành, phân hoá cảnh quan ở các cấp để làm cơ sở vạch ranh giới giữa các đơn vị cảnh quan ở các cấp trong hệ thống Tuy nhiên, khi sử dụng nhân tố trội như là một phương pháp chính thì kết quả sẽ gần giống với bản đồ của một yếu tố nào đó Vì thế, sử dụng nhân tố chủ đạo phải được đặt trong mối quan hệ tổng hợp với các yếu tố khác đã thành tạo nên cảnh quan: Địa hình, thuỷ văn, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật, Đây là cơ sở vạch ranh giới chính thức của các đơn vị cảnh quan

Trang 23

- Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Sự phân hoá cảnh quan của các cấp cảnh

quan được thể hiện qua tính đồng nhất và không đồng nhất, tính liên tục và không liên tục Mỗi cấp phân vị đựơc xác định bởi một số chỉ tiêu nhất định, phản ánh mối quan

hệ giữa các hợp phần cảnh quan Mỗi cấp đơn vị lớn bao hàm ít nhất là hai cấp đơn vị nhỏ hơn nó Đối với cấp đơn vị cảnh quan càng lớn, lãnh thổ càng rộng thì mức độ đồng nhất càng thấp và ngược lại ở các cấp đơn vị càng thấp, lãnh thổ càng hẹp thì mức độ đồng nhất càng cao Theo nguyên tắc này, những đơn vị cảnh quan có các hợp phần có cùng nguồn gốc phát sinh, phát triển và hình thái tương đối đồng nhất sẽ được xếp vào cùng một cấp mặc dù chúng có thể phân bố xa nhau

+ Phương pháp bản đồ, viễn thám cho thấy sự hữu hiệu, ưu thế so với các phương pháp truyển thống và có thể hỗ trợ tốt cho các phương pháp truyền thống trong việc chính xác hóa ranh giới của các đơn vị cảnh quan trong phạm vi các lãnh thổ không thể đến quan trắc tại chỗ do điều kiện quả phức tạp của địa hình

+ Phương pháp khảo sát thực địa theo tuyến hoặc theo các điểm chìa khóa: đây

là phương pháp rất quan trọng và không thể thiếu để kiểm tra, đối chứng những kết quả đó được thực hiện trong phòng,…

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên

và bảo vệ môi trường

1.2.1 Phân tích cảnh quan

Trong nghiên cứu cảnh quan cũng như trong sự phát triển của khoa học địa lý, học thuyết cảnh quan tuân thủ các giai đoạn phát triển từ phân tích bộ phận đến tổng hợp, rồi phân tích bậc cao hơn Học thuyết của cảnh quan từ chỗ nghiên cứu tập hợp tương hỗ của các hiện tượng khác nhau trên bề mặt Trái đất, có mục đích, đối tượng nghiên cứu gắn với mục đích và đối tượng nghiên cứu của địa lý tự nhiên, sau đó cùng với sự phát triển của các khoa học địa lý bộ phận như các ngành địa mạo, khí hậu, thủy

Trang 24

văn, thổ nhưỡng, sinh vật,… và các thành tựu nghiên cứu sinh vật, trong đó nổi bật là

sự nghiên cứu sự phân hóa không gian của các hợp phần cảnh quan dựa trên sự kết hợp của các nguồn năng lượng tác động chủ yếu là nội năng và ngoại năng trong lớp

vỏ cảnh quan Các yếu tố hợp phần như địa hình và các yếu tố ngoại lực hình thành địa hình phân hóa không gian theo các cấp khác nhau Sự phân hóa của nền nhiệt, của chế

độ ẩm,… sự phân bố dòng chảy, của chế độ dòng chảy,… theo không gian, của đất, của thực vật, động vật đó được tổng hợp trong nghiên cứu sự phân hóa trong cấu trúc của cảnh quan Do vậy, vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX là thời kỳ nghiên cứu mạnh

mẽ sự phân chia bề mặt Trái đất và cảnh quan học mới xác định rừ nhiệm vụ của mình

là học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ của lớp vỏ địa lý, cảnh quan là đơn vị

cơ sở và hệ thống phân vùng Đây là giai đoạn nghiên cứu sâu cấu trúc không gian của cảnh quan và xem các cảnh quan là những hệ thống cấu trúc không gian có tính chất phân bậc logic theo những trật tự xác định Những nghiên cứu cấu trúc thiên về xác định một cách định tính các tính chất của cảnh quan, sử dụng các biện pháp liên ngành (trong

đó đáng chú ý là sử dụng cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận điều khiển, tiếp cận sinh thái,… cũng như nghiên cứu tác động kỹ thuật vào cảnh quan), dần dần các nghiên cứu hướng sâu vào các chỉ tiêu định lượng cho các tính chất của cảnh quan cùng với sự ra đời của nhiều bộ phận khoa học cảnh quan mới như: Vật hậu cảnh quan học, địa hóa học cảnh quan, địa vật lý cảnh quan,…

Từ khi phát triển đến nay, cảnh quan học luôn tiếp cận đến cơ chế trao đổi vật chất và năng lượng cũng như trao đổi thông tin giữa các hợp phần trong cảnh quan giữa các đơn vị cảnh quan cùng bậc và sự chuyển hóa vật chất – năng lượng, thông tin

đó từ trên xuống dưới - từ các đơn vị bậc cao xuống các đơn vị bậc thấp và ngược lại Song trong nghiên cứu chức năng của cảnh quan vẫn còn những khó khăn là việc xác định đúng các tác động tương hỗ của nhiều yếu tố hợp phần tự nhiên Việc sử dụng các phương pháp cổ truyền và các phương pháp liên ngành mới chỉ cho phép giải quyết các cặp quan hệ như chỉ số tương quan nhiệt ẩm, chỉ số khô hạn của Grigoriev – Buduco,…

Việc áp dụng các biện pháp liên ngành và ứng dụng toán học vào giải quyết các vấn đề định lượng của cảnh quan đó cho phép mở rộng và đi sâu tìm hiểu bản chất của các cặp quan hệ thành phần của cảnh quan gần nhau như: nhiệt - ẩm, nước - lượng mưa…

Trang 25

Để tìm hiểu cơ chế trao đổi, chuyển hóa vật chất trong cảnh quan phải tiến đến bước chi tiết, định lượng hóa nghiên cứu Vì vậy, việc áp dụng lý thuyết hệ thống điều khiển vào nghiên cứu các đặc tính của cảnh quan (tiếp cận hệ thống) có vai trò rất quan trọng, đánh dấu bước tổng hợp bậc cao hơn những vấn đề lý thuyết của cảnh quan và nó đó được bắt đầu từ những năm 60 của thế ký XX

Bên cạnh đó, vào những năm 60 vấn đề “Môi trường sống dựa trên các nguyên tắc sinh thái và cảnh quan địa lý” đó tạo nên một hướng nghiên cứu cảnh quan chung - hướng sinh thái cảnh quan

Sử dụng tiếp cận sinh thái và nghiên cứu cảnh quan cho phép xác định được mối quan hệ tương hỗ giữa hai hợp phần vật chất: các vật chất hữu cơ sống và các chất không sống, hay nói cách khác giữa sinh vật và các điều kiện sinh thái trong phạm vị cảnh quan Đây là hướng ứng dụng nhằm trao đổi nghiên cứu và chuyển hóa vật chất của vòng tuần hoàn sinh vật trong cảnh quan, nhằm bảo vệ và làm tốt lên môi trường sống

Trong sự tiếp xúc, liên kết giữa cảnh quan học và sinh thái học đó hình thành nờn một ngành khoa học cảnh quan khác đó là cảnh quan sinh thái Cảnh quan sinh thái nghiên cứu sự phân hóa của các đơn vị cảnh quan sinh thái theo một hệ thống phân bậc, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu cảnh quan và hệ sinh thái

Với các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các khoa học liên quan như hóa học, sinh thái học, vật lý học,… cảnh quan học, nghiên cứu cảnh quan trong quá trình phát triển của mình đó không dừng lại ở những nội dung mang tính khái quát ban đầu mà đó đi sâu vào vấn đề bản chất của các sự việc, xu thế phát triển, phức tạp giữa các thành phần của tự nhiên,… đặc biệt là xu hướng phát triển các cảnh quan hiện đại dưới tác động kỹ thuật của con người

Xu thế nghiên cứu cảnh quan trên Thế giới và Việt Nam hiện nay là dựa vào các kết quả nghiên cứu ở phạm vi toàn cầu đó được chấp nhận để tiếp tục đi sâu vào những hướng tiếp cận khoa học tổng hợp nghiên cứu cảnh quan vùng và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đú cho các mục đích thực tiễn cụ thể như: đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển sản xuất, kinh tế, bảo vệ và phát triển môi trường lãnh thổ trên quan điểm phát triển bền vững

Để hiểu rõ được cấu trúc, chức năng của từng đơn vị cảnh quan thì vấn đề phân tích cảnh quan được đặt lên hàng đầu, để từ đó có thể đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp với thực tiễn cảnh quan đó

Trang 26

Phân tích cảnh quan bao gồm việc phản ánh thực trạng cấu trúc cảnh quan, chức năng của chúng cũng như các vấn đề khác liên quan Trong quá trình phát triển của học thuyết cảnh quan thì vấn đề phân tích cảnh quan được đề cập đến rất nhiều Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề này được đề cập đến với nhiều cơ sở và phương pháp mới, đáng chú ý nhất là phương pháp liên ngành và sử dụng các tiếp cận

hệ thống, tiếp cận sinh thái, xử lý bằng máy tính,… để xác định cấu trúc, chức năng của các cảnh quan nói chung trong việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn

Phân tích cảnh quan không tách rời với phân loại cảnh quan, vì mỗi cảnh quan là một cá thể, một hệ thống độc lập, song cũng đồng thời là một phần nào đó của tập hợp kiểu loại cảnh quan bậc cao hơn Mặt khác, trong tự nhiên chúng ta có thể gặp rất nhiều hiện tượng cụ thể riêng biệt, song giữa chúng vẫn có những cái chung, cái thống nhất và đặc trưng nhất để có thể xếp chúng vào một hệ thống thống nhất logic có trật tự

1.2.2 Những vấn đề về đánh giá cảnh quan

Với sự tiến bộ vượt bậc khoa học kỹ thuật, các dạng tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng được khai thác một cách triệt để nhằm phục vụ cho những mục đích khác nhau của con người, vượt qua khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của các dạng tài nguyên, dẫn đến những sự suy thoái của tự nhiên và điều kiện môi trường trên hành tinh này Vì vậy, vấn đề sử dụng, khai thác hợp lý các ĐKTN, TNTN trở thành vấn đề hết sức bức thiết, đồng thời có tầm quan trọng to lớn Do đó, công tác đánh giá tổng hợp các ĐKTN, TNTN là phần nội dung không thể thiếu và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn trong các công trình nghiên cứu, quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ nghiên cứu

Theo quan điểm chung của các công trình nghiên cứu cho thấy, đánh giá tổng hợp bao gồm các lý thuyết đánh giá chung và các thủ pháp tiến hành Việc thực hiện công tác đánh giá tổng hợp, nhiệm vụ quan trọng nhất là phải xác định được mục đích, các đối tượng, nội dung của nó cũng như việc lựa chọn các phương thức đánh giá phù hợp

Trong tự nhiên nói chung và trên từng lãnh thổ nói riêng, các thành phần luôn luôn

có mối tác động tương hỗ lẫn nhau Ngoài ra còn có mối tác động giữa con người với các thành phần tự nhiên như trong các hoạt động kinh tế - kỹ thuật cũng rất chặt chẽ, được biểu hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật nhất định Do đó, trong quá trình đánh giá cần

có những hiểu biết một cách sâu sắc các quy luật của tự nhiên, mối quan hệ và tác động

Trang 27

tương hỗ của hệ thống “tự nhiên – xã hội”, từ đó có thể đưa ra các biện pháp kinh tế - kỹ thuật cũng như những chính sách xã hội hợp lý

Trong đánh giá tổng hợp, việc xác định đối tượng, mục đích đánh giá rất quan trọng và phức tạp Vì trong tự nhiên nói chung, các ĐKTN, các dạng tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng, mức độ sử dụng chúng cho các mục đích cũng rất khác nhau Do đó, các kết quả đánh giá tổng hợp chúng cũng biểu thị mức “thích hợp” khác nhau cho các mục đích sử dụng

Với mức độ phức tạp của đánh giá nên không thể tồn tại một kiểu đánh giá chung mà tùy thuộc vào từng mục đích cụ thể để có được một kiểu đánh giá khác nhau như: đánh giá chung là giai đoạn đánh giá sơ bộ, ban đầu trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên theo các vùng lãnh thổ, mang tính định hướng chung của các mục đích thực tiễn khác nhau hay đánh giá mức độ “thuận lợi” hay

“thích hợp” của các ĐKTN, TNTN đối với các ngành sản xuất và đánh giá kinh tế - kỹ thuật lại đề cập sâu hơn đến giá trị và hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất đó Tuy nhiên, kiểu đánh giá được sử dụng rộng rãi nhất trong những thập kỷ gần đây là kiểu đánh giá các ĐKTN, TNTN theo mức độ “thuận lợi” hay “thích hợp” của nó cho các dạng khai thác khác nhau

Việc lựa chọn đúng, hợp lý phương pháp đánh giá là rất quan trọng và ảnh hưởng đến mức chi tiết, chính xác của kết quả đánh giá Hệ thống các phương pháp tổng hợp rất

đa dạng và phức tạp nên tùy vào mục đích cụ thể cũng như cho từng lãnh thổ riêng biệt

mà các phương pháp sẽ được chọn để sử dụng như: phương pháp mô hình chuẩn, phương pháp bản đồ, và phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số, Các phương pháp này trong quá trình đánh giá có thể được sử dụng riêng lẻ hay kết hợp với nhau theo từng giai đoạn và với từng mục tiêu cụ thể

Trong tự nhiên các thành phần và các yếu tố của tự nhiên thường không tồn tại độc lập mà có mối liên hệ, tác động tương hỗ lẫn nhau, tạo nên một hệ thống tự nhiên đồng nhất, hoàn chỉnh Do đó, khi đánh giá mức độ thuận lợi của các ĐKTN, TNTN cho các mục đích thực tiễn không thể đánh giá chúng thông qua các đặc điểm, tính chất của các hợp phần của tự nhiên một cách riêng rẽ mà phải xem xét chúng trong mối quan hệ ràng buộc cũng như những tác động tương hỗ giữa chúng với nhau Chỉ như vậy mới có thể đánh giá một cách đầy đủ, đồng bộ nhất từng đơn vị tự nhiên vốn rất phức tạp và luôn luôn biến động cho các mục đích cụ thể mà không bỏ sót những

Trang 28

thành phần và yếu tố dù nhỏ nhất, nhưng đôi khi lại là những yếu tố giới hạn quan trọng cho sự phát triển của chúng

Ngoài ra, để các phương án tổ chức, quy hoạch sản xuất theo lãnh thổ dựa trên các kết quả đánh giá đạt hiệu quả cao còn phụ thuộc quan trọng vào việc lựa chọn các thang bậc và các chỉ tiêu đánh giá Đối với thang bậc đánh giá thì tùy vào mức độ nghiên cứu, mức độ yêu cầu và mục đích đề ra mà định thang bậc đánh giá từ 2,3,…

10 cấp hay nhiều hơn nữa Việc chọn đúng các chỉ tiêu trong công tác đánh giá tổng hợp có ý nghĩa quyết định đến độ chính xác của các kết quả đánh giá, do đó cần có sự nghiên cứu, lựa chọn kỹ các chỉ tiêu khi đưa vào áp dụng đánh giá

Trong đánh giá cảnh quan, những kết quả đạt được của đánh giá thành phần là tiền đề cho sự ra đời hướng tổng hợp trong địa lý nên có thể nói, đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên phục vụ cho mục đích cụ thể nào đó

Đánh giá cảnh quan nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu địa lý ứng dụng Nó có vị trí và đúng vai trò quan trọng đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch có được những quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể

Đánh giá cảnh quan thực chất là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích phát triển cụ thể nào đó Đánh giá tổng hợp tài nguyên lãnh thổ hết sức phức tạp, là một bộ môn khoa học liên ngành: tự nhiên, kinh tế - xã hội, vì vậy đối tượng, phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu phải là tập hợp các phương pháp nghiên cứu của các hợp phần riêng biệt Đối tượng của đánh giá tổng hợp không chỉ là các địa tổng thể mà còn là mối quan hệ, tác động qua lại giữa các hệ thống tự nhiên và kinh tế

- xã hội Nhiệm vụ của đánh giá phụ thuộc vào từng mục đích đánh giá được xác định trước mỗi một đơn vị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ, dựa trên đặc điểm về điều kiện tự nhiên và mối quan hệ giữa hai hệ thống nêu trên để tìm ra hướng khai thác và sử dụng tài nguyên đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời bảo vệ và phát huy được tiềm năng tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ nghiên cứu

Đánh giá tổng hợp phải đưa ra được những kết luận về:

+ Các nhu cầu sinh thái để phát triển các ngành kinh tế

+ Mức độ thích nghi, thuận lợi của khách thể A (địa tổng thể/cảnh quan) đối với chủ thể X (dạng sử dụng, dạng khai thác tài nguyên)

+ Những ảnh hưởng của chủ thể X đối với khách thể A

Trang 29

+ Mức độ biến đổi và tác động của khách thể A đối với chủ thể X

Đánh giá cảnh quan là một nhiệm vụ trong nghiên cứu địa lý ứng dụng, có vị trí

và vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đưa ra quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể Do đó, đánh giá cảnh quan là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản (NCCB) và quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (SDHLTN&BVMT)

NCCB  ĐGCQ  SDHLTN&BVMT

1.2.3 Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trong quá trình phân tích cảnh quan, miêu tả các đặc điểm của từng đơn vị trong hệ thống phân loại các tổng hợp thể tự nhiên từ đó làm sáng tỏ không chỉ các đặc điểm chung, các đặc điểm riêng của các cảnh quan, mà còn làm sang tỏ một cách định tính những đặc điểm chức năng của chúng

Cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trước hết phải được lựa chọn từ các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, các điều kiện môi trường sinh thái – lãnh thổ Sử dụng các kết quả nghiên cứu cảnh quan và nhất là qua bản đồ cảnh quan ở các tỷ lệ khác nhau sẽ cho một phương thức tiếp cận tổng hợp nhất, tương đối gần gũi, xác thực với hiện trạng tự nhiên mỗi vùng

Qua việc phân tích các quy luật hình thành, các đặc trưng về động lực phát triển của cảnh quan, mối tương quan và tác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần của tự nhiên cũng như giữa các tổng hợp thể tự nhiên với nhau,… đặc biệt là việc đánh giá tổng hợp các đơn vị cảnh quan sẽ cho phép xác định mức độ “thích hợp nhất”,

“tương đối thích hợp” hay “không thích hợp” của mỗi một đơn vị lãnh thổ cho từng ngành sản xuất, từng dạng sử dụng tài nguyên,…

Ngoài việc xem xét, đánh giá đúng tiềm năng các nguồn lực tự nhiên thì yếu tố con người luôn có ý nghĩa hết sức quan trọng, đây là nguồn động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển xã hội, khống chế và tác động lên các quá trình tự nhiên, đặc biệt là vai trò của con người trong điều tiết, sử dụng các ĐKTN, TNTN từng lãnh thổ

Do đó, trong quá trình đánh giá tổng hợp cần chú trọng đến những yếu tố con người cùng các đặc điểm chung của các điều kiện KT - XH và yếu tố nhân văn

Trên cơ sở nắm bắt, hiểu biết một cách hệ thống, có quy luật các đặc điểm đặc trưng của tự nhiên, qua việc nghiên cứu các đơn vị cảnh quan, các quy luật phân hóa chúng theo không gian mỗi vùng, nhất là động lực phát triển của chúng theo thời gian,

Trang 30

trong đó có tính đến những tác động cả chủ quan và khách quan của các quá trình tự nhiên cũng như của con người sẽ có thể hoạch định được một chiến lược lâu dài, tương đối phự hợp và với hiệu quả cao nhất của việc sử dụng hợp lý TNTN và BVMT cho mỗi vùng, mỗi khu vực nghiên cứu, đồng thời bố trí một cách hợp lý nhất các kế hoạch phát triển KT - XH, các ngành sản xuất theo lãnh thổ

1.3 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu

a, Quan điểm hệ thống và tổng hợp

Theo quan niệm mọi thực thể trong tự nhiên đều gắn bó mật thiết với nhau để tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh, vì vậy mỗi đơn vị cảnh quan được coi như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các tập hợp: đá mẹ-mẫu chất, khí hậu-thuỷ văn, thổ nhưỡng-sinh vật Các hợp phần này tác động lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển Mỗi đơn vị cảnh quan là hệ thống của các hợp phần tự nhiên và là một bộ phận nhỏ trong hệ thống cảnh quan lớn hơn Nghiên cứu cảnh quan trên quan điểm hệ thống thể hiện ở việc phân tích cấu trúc không gian (cấu trúc đứng và ngang) và cấu trúc thời gian trên từng đơn vị

Khi đưa các cây trồng công nghiệp dài ngày vào một đơn vị lãnh thổ thì tạo nên một hợp phần nhân tạo cùng với các hợp phần tự nhiên khác tạo thành một cấu trúc đứng mới Tính hệ thống theo cách nhìn của các nhà nghiên cứu là xem xét toàn bộ mọi hợp phần có quan hệ với nhau trong quá trình vận động, đó chính là nội dung chính của quan điểm tổng hợp

b, Quan điểm lịch sử

Đối với nhà địa lý, khi đánh giá tài nguyên ở một lãnh thổ nào đó thì việc xem xét lịch sử diễn ra trong quá khứ có tầm quan trọng đặc biệt Tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất và là mối tổng hòa của các mối quan hệ tương tác, sự tồn tại và phát triển của các yếu tố tự nhiên này phụ thuộc vào sự tồn tại của các yếu tố tự nhiên khác và ngược lại Do đó, nếu không hiểu được lịch sử phát sinh, quá trình phát triển và tồn tại của chúng trong tự nhiên thì không thể đưa ra được giải pháp hữu hiệu

Sự hình thành đặc điểm điều kiện tự nhiên của lớp vỏ cảnh quan trên bề mặt trái đất, không phải giai đoạn phát triển nào đấy, mà nó được hình thành trong suốt quá trình phát triển và tiến hóa lâu dài trong lịch sử Theo quan điểm này đã chứng minh được sự hình thành các yếu tố trong tự nhiên Có thể xem xét được các quá trình hình

Trang 31

thành, mối tác động tương hỗ giữa chúng với nhau Từ đó có thể đánh giá được sự phát triển kinh tế - xã hội, sinh thái và môi trường hiện tại và dự báo xu hướng phát triển của chúng trong tương lai và là cơ sở khoa học vững chắc cho việc đánh giá tài nguyên, định hướng quy hoạch sử dụng hợp lý, hiệu quả lãnh thổ

c, Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu sống của ngày nay

mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng cho những nhu cầu của thế hệ mai sau Phát triển bền vững là hướng nghiên cứu nhằm phát triển kinh tế, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Sự phát triển của một lãnh thổ được coi là bền vững phải đảm bảo thống nhất và đồng thời trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường

Bền vững về kinh tế: thể hiện ở sự ổn định và không ngừng gia tăng sức sản

xuất, làm cho giá trị tổng sản phẩm của vùng không ngừng tăng lên, thu nhập của người dân ngày càng cao

Bền vững về xã hội: là một xã hội có sự phát triển về mặt kinh tế nhưng phải

đảm bảo tính công bằng xã hội, thể hiện ở sự phân chia hợp lý thu nhập và phúc lợi xã hội cho mọi người trong cộng đồng Cần duy trì phát huy tính đa dạng và bản sắc dân tộc vốn có phục vụ cho sự phát triển chung của xã hội, chống lại các xu thế tiêu cực nảy sinh trong quá trình phát triển xã hội

Bền vững về môi trường: thể hiện qua việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên,

cả nguồn tài nguyên tái tạo và nguồn tài nguyên không tái tạo, trong đó vấn đề môi trường được đề cao, việc bảo vệ môi trường luôn luôn được chú trọng quan tâm một cách đặc biệt vì nó là điều kiện sống còn của sự phát triển của địa phương, của mỗi vùng ở hiện tại hay tương lai

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu

a, Phương pháp khảo sát điều tra thực địa

Đây là phương pháp truyền thống không thể thiếu trong nghiên cứu địa lý nói chung và trong đánh giá cảnh quan nói riêng Khảo sát thực địa nhằm thu thập thông tin tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội từ đó có cái nhìn khách quan trong quá trình đánh giá cảnh quan Phương pháp này bao gồm:

+ Tiến hành khảo sát, đo đạc và thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội

Trang 32

+ Nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và mối quan hệ giữa chúng cũng như mối quan hệ giữa tự nhiên với con người

+ Quá trình khảo sát thực địa tiến hành trên các tuyến theo lát cắt cảnh quan, tìm sự phân hóa tự nhiên và tác động qua lại giữa các nhân tố hình thành cảnh quan

+ Kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình suy diễn hay suy đoán trong phòng

b, Phương pháp phân tích và xử lý tài liệu

Bao gồm việc thu thập tài liệu, các báo cáo, các thông tin có liên quan về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, địa chất-khoáng sản, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng…và số liệu về kinh tế-xã hội: dân số, diện tích, lao động, hiện trạng sử dụng đất… Sau đó phân tích và xử lý các số liệu đó, phân tích hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất và đánh giá khả năng thích nghi cũng như phân tích liên hợp các bản đồ đơn tính để thành lập bản đồ cảnh quan Ngoài ra, phân tích, đối chiếu các loại bản đồ để làm rõ mối liên hệ giữa các hiện tượng, các thành phần và tìm ra quy luật của chúng, phục vụ cho việc định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ

c, Phương pháp phân tích tổng hợp

Sau khi đã thu thập được những tài liệu liên quan tới khu vực nghiên cứu, cần tiến hành phân tích và đánh giá tổng hợp để đưa ra những nhận xét và những hướng phát triển đúng đắn nhất phù hợp với tiềm năng vốn có của khu vực nghiên cứu Đây

là phương pháp rất quan trọng trong nghiên cứu địa lý nói riêng cũng như trong tất cả các ngành khoa học khác nói chung

d, Phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái

Là dạng đánh giá nhằm thể hiện mức độ thích hợp theo khía cạnh tự nhiên của cảnh quan và các hợp phần của chúng đối với dạng cảnh quan được hiểu là phân loại địa tổng thể theo mức độ thích hợp của chúng đối với một hay nhiều dạng sử dụng lãnh thổ Đây là phương pháp đánh giá truyền thống đặc trưng cho nghiên cứu địa lý ứng dụng Tính thích nghi được đánh giá theo điểm dựa vào nhu cầu sinh thái của loại

hình sử dụng và tiềm năng tự nhiên của địa tổng thể (Cảnh quan A thuận lợi với dạng

sử dụng X trong điều kiện Y)

Xét theo khía cảnh tự nhiên, các hợp phần của cảnh quan nhằm đánh giá mức

độ thích hợp (thuận lợi) với dạng hoạt động kinh tế, ở đây là hiện trạng sử dụng đất và thảm thực vậy Chúng tôi đã lựa chọn phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái sử

Trang 33

dụng thang điểm 3 bậc để đánh giá cảnh quan trên địa bàn huyện Ba Vì nhằm phân loại các đơn vị cảnh quan theo mức độ phù hợp với các dạng sử dụng lãnh thổ Đề tài chỉ giới hạn đánh giá trong nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch

Bảng 1.8: Thang điểm 3 bậc trong đánh giá cảnh quan huyện Ba Vì

(1) Môc tiªu, nhiÖm vô

Trang 34

Điểm đánh giá tổng hợp mức độ thích nghi của từng dạng cảnh quan được tính theo công thức n

n n

M  1 1

Trong đó: M0: Điểm đánh giá tổng hợp

a1, a2, an: Điểm đánh giá cho từng chỉ tiêu n: Số chỉ tiêu đánh giá

k1, k2…kn: Hệ số tầm quan trọng đối với từng chỉ tiêu

Do có nhiều mối tác động tổng hợp phức tạp của nhiều yếu tố lên các đơn vị cảnh quan và trong phân hạng đã xác định một cách tương đối khoảng giá trị của các yếu tố tương ứng với giá trị điểm nên trọng số các yếu tố được lấy bằng 1 Do đó công thức tính điểm tổng hợp mức độ thích nghi sẽ được tính bằng công thức:

Mỗi bậc trong phân hạng sẽ tương ứng với những khoảng giá trị của điểm đánh giá chung (ở đây là điểm trung bình nhân) Khoảng điểm D của các bậc trong trường hợp lấy đều nhau được tính theo công thức:

M

D D

D max  min

Trong đó: Dmax là điểm đánh giá chung cao nhất

Dmin là điểm đánh giá chung thấp nhất

Trang 35

rất quan trọng trong nghiên cứu địa lý Việc chỉnh biên và biên tập các bản đồ hợp phần và bản đồ cảnh quan của đề tài được tiến hành trong môi trường Arcgis nhờ ứng dụng một số công cụ sẵn có

1.3.3 Các bước nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã thực hiện 4 bước nghiên cứu sau:

Bước 1: Công tác chuẩn bị:

Bước này cần xây dựng mục tiêu, đối tượng, nội dung, quan điểm, phương pháp nghiên cứu cụ thể Đồng thời phải xây dựng kế hoạch cho quá trình nghiên cứu đề tài

Bước 2: Nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa những đặc điểm thành tạo cảnh

quan và những đặc điểm về kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu từ đó đưa ra khánh thể đánh giá A

Bước 3: Nghiên cứu nhu cầu sinh thái, kỹ thuật của các chủ thể cần đánh giá ở

đây tác giả đã lựa chọn đối tượng là các loại cây chè, đậu tương, cây keo tai tượng

Bước 4: Từ những kết quả nghiên cứu ở bước 2, bước 3 đi đến những đánh giá

cho từng chủ thể X đối với khách thể A Bước đầu tiên cho đánh giá cần phải xây dựng bảng đánh giá chuẩn, sau đó thực hiện các bước đánh giá từng thành phần, đánh giá chung sau đó đánh giá tổng hợp

Từ đó tạo ra kết quả đánh giá, thấy được mức độ phù hợp, thận lợi của chủ thể

X đối với khác thể A Trên cơ sở đó xây dựng được sơ đồ định hướng cảnh quan cho phát triển kinh tế trên lãnh thổ nghiên cứu

Trang 36

Hỡnh 1.3 Sơ đồ cỏc bước nghiờn cứu và đỏnh giỏ

Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Thực trạng KT - XH chung

- Dân số và lao động

- Hiện trạng sản xuất

Nhu cầu sinh thái, kỹ thuật

với A

Sơ đồ định h-ớng cảnh quan cho phát triển kinh tế

Công tác chuẩn bị:

- Xác định mục tiêu, đối t-ợng nội dung, quan điểm ph-ơng pháp nghiên cứu

- Xây dựng kế hoạch thực hiện

Xõy dựng bảng chuẩn đỏnh giỏ

Đánh giá thành phần

Đánh giá chung

Đánh giá tổng hợp Mối quan hệ qua lại

Dữ liệu đầu vào

Các b-ớc đánh giá

Dữ liệu đầu ra

Trang 37

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO

VÀ CẤU TRÚC CẢNH QUAN HUYỆN BA VÌ 2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan

- Phía Đông giáp Thành phố Sơn Tây

- Phía Nam giáp thị xã Hoà Bình

- Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ

* Khu vực Ba Vì khá đa dạng các thành tạo địa chất với các đá có tuổi từ Proterozoi đến Đệ tứ

Giới Proterozoi (PR): Phân vị địa tầng cổ nhất có ở trong vùng là các đá biến

chất tuổi Proterozoi thuộc phức hệ nắc cầu Trung Hà tới khu vực thị xã Sơn Tây, với diện tích khoảng 52km2

Về phía đông, thành tạo này bị trầm tích Đệ tứ phủ lên

Thành phần thạch học của phức hệ chủ yếu gồm gneis giàu plagiocla, biotit, silimanit màu xám đen, những lớp mỏng amfibolit màu đen lục, chuyển dần lên là đá phiến biotit – silimanit xen với gneis biotit, đôi nơi xen thấu kính nhỏ đá hoa Tất cả các thành tạo trên đều bị mâcmtit hoá, pecmatit cũng có mặt ở nhiều nơi Đá bị uốn nếp mạnh, chiều dày trên 2000m Gồm các hệ tầng: thạch khoáng với thành phần chủ yếu là đá phiến thạch anh hai mica – granat, đá phiến mica – staurolit – disthen, quaczit, đá hoa, với tầng dày khoảng 1000m; Hệ tầng Ngòi Chi với thành phần chủ

Trang 38

yếu là đá phiến thạch anh – biotit , gneis biotit, đá phiến silimanit, đá hoa, dày khoảng 700m; Hệ tầng núi con voi, loại đá chủ yếu là gneis biotit, graphit, đá hoa canciphyr,

đá phiến silimanit, quarzit, dày khoảng 300m

Thành phần khoáng vật của đá phiến biotit – silimanit - anmandin gồm thạch anh, biotit, silimanit, rất ít anmandin; Thành phần khoáng vật của amfibolit gồm horblen, plagiocla, thạch anh và một số khoáng vật phụ khác

Việc định tuổi của phức hệ Sông Hồng đến nay vẫn chưa đủ cơ sở vững chắc J Fromaget (1937), A.E Đovjikov,…(1965) đều xếp vào Arkei, Bùi Phú Mỹ (1972) xếp giả thiết vào Protezoroi và cho tới nay hầu hết mọi người đều để tuổi của phức hệ là Protezoroi

Giới Paleozoi (PZ):

Hệ Cambri-Ocdovic, hệ tầng Bến Khế (2 - O 1bk): Phân bố ở rìa đông bắc và

tây nam đỉnh Ba Vì với diện tích khoảng 56km2

Theo các kết quả nghiên cứu địa chất, địa mạo Ba Vì thì tại khu vực chân núi phía đông bắc đỉnh Ba Vì cho thấy các đá phiến hai mica của hệ tầng bị vò nhàu, uốn nếp và phong hoá mạnh Vỏ phong hoá ferosialit màu nâu đỏ khá giàu sắt, khác về cơ bản so với các đá trầm tích tuổi Mesozoi

Hệ Permi – hệ Triat, Hệ tầng Viên Nam (P 2 - T 1vn): Hệ tầng mang tên núi

Viên Nam, một khối núi có đỉnh cao 1029m, nằm liền kề phía Đông Nam và phía Tây Nam khối núi Ba Vì, diện tích hệ tầng này khá lớn, chiếm khoảng 89,6km2

trên tổng diện tích tự nhiên của huyện Ba Vì

Hệ tầng Viên Nam tuổi Permi thượng – Triat hạ được mô tả trong Địa chất tờ

Hà Nội gồm 3 phần:

- Phần dưới là đá phiến sét màu đen có xen ít lớp đá phiến sét than, chuyển lên

cát kết, đá vôi cát màu xám đen phân lớp vừa chứa Spiriferida

- Phần giữa là đá vôi màu xám phân lớp mỏng chuyển lên đá vôi màu xám phân

lớp dày chứa sét có Foraminifera

- Phần trên chủ yếu là pofirit bazan, spilit xen tuf của chúng

Tổng chiều dày của hệ tầng trên 1000m

Theo tài liệu đo vẽ địa chất tỷ lệ 1: 50.000 của Liên đoàn Bản đồ, hệ tầng Viên Nam được xác định tuổi Triat hạ do tại khu vực Minh Sơn, Ngô Quang Toàn và đồng

Trang 39

nghiệp đã tìm được hoá đá trong phụ hệ tầng dưới của hệ tầng Viên Nam gồm Tirolites

datvini Mo JS, Paranaini tes Sp,

Hệ tầng Tân Lạc: phân bố chủ yếu phía đông nam khối núi Ba Vì, thành phần

gồm cát kết, cuội kết, bột kết tuf phớt tím, đá phiến sét đen, đá vôi, sét vôi, tuf màu nâu tím, dày 890m

Hệ Triat, thống Trung - thượng, Hệ tầng Sông Bôi (T 2-3 sb): Đá của hệ tầng

sông Bôi phân bố ở khu vực U Bò và phía nam Xóm Quýt với diện lộ khoảng 10km2

Hệ tầng sông Bôi được chia làm hai phụ hệ tầng:

a Phụ hệ tầng dưới (T1-2 sb1): gồm cát kết hạt vừa đến nhỏ dạng quăczit, cát bột kết màu vàng Bề dày khoảng 600m

b Phụ hệ tầng trên (T1-2 sb2): thành phần gồm cát bột kết màu vàng xám đen, các lớp mỏng đá phiến sét Bề dày khoảng 250m

Việc xác định tuổi của hệ tầng sông Bôi đã được đoàn Hà Nội xác định khi phân tích thành phần thạch học và các thành tạo tương ứng ở vùng lân cận

Giới Kainozoi

Hệ Neogen, Hệ tầng Vĩnh Bảo (N 2 vb): Trầm tích của hệ tầng lộ trên mặt ở

vùng Ba Vì bắt đầu từ Trung Hà qua đập Suối Hai kéo xuống phía dưới Xuân Khanh (đường nhựa Cu Ba) theo phương tây bắc - đông nam dài khoảng 171km Trong khu vực nghiên cứu diện lộ dài khoảng 20km rộng trung bình 5 - 6km Theo các tài liệu trước đây khi nghiên cứu vùng này, đã có nhiều ý kiến khác nhau về tuổi của dải trầm tích Neogen này

Hoàng Ngọc Kỷ khi nghiên cứu cho rằng dải trầm tích có tuổi ứng với phần trên Mioxen hạ (N2

1) của hệ tầng Phan Lương Nguyễn Xuân Bao và đồng nghiệp năm

1983 đã xếp vào Mioxen hạ (N1) hệ tầng Nà Dương Việc xác định chính xác hoá tuổi của dải trầm tích này phải kể đến công trình của các tác giả thuộc đoàn địa chất Hà Nội khi đo vẽ bản đồ địa chất tỉ lệ 1:50.000 vùng nghiên cứu Việc phát hiện được điểm hoá thạch Neogen ở lòng suối Đầm Long, cách đập hồ Suối Hai khoảng 1km về phía Đông bắc đã xác định tuổi chính xác của dải trầm tích này

Trật tự địa tầng của trầm tích như sau:

a Phần dưới (tập 1)

Bao gồm cuội kết đá khoáng, độ mài tròn tốt, kích thước từ 5 - 15cm, tổng kết

đa khoáng, xem thấu kính sạn, cát kết màu xám tro, thấu kính than li nhít

Trang 40

b Phần trên (tập 2)

Bao gồm cát bột kết, sét kết màu xám bẩn xen thấu kính cuội kết, chứa hoá đá động vật, thực vật bảo tồn tốt

Tổng chiều dày khoảng 100m

Hoá đá nằm trong lớp cát bột kết, sét đất màu xám bẩn (do lẫn mùn thực vật) thuộc phần dưới của tập 2 Các hoá đá này đã được Nguyễn Ngọc xác định vào năm

1986 bao gồm các di tích của ba nhóm động vật:

1 Gastropoda (chân bụng): - Vivipapus Sp; - Paludina Sp

2 Peluypoda (chân rìu): - Corbala Sp;

3 Ostracoda (trùng hạt đậu): - Candora Sp

Tập hợp mẫu này xác định cho tuổi Plioxen (N2) và là những dạng nước ngọt đặc trưng

Như vậy có thể xác định dải trầm tích Neogen có tướng lục địa Tuổi của trầm tích được xác định khá chắc chắn là Plioxen (N2) và xếp vào hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb)

Các trầm tích Đệ Tứ phát triển rộng khắp khu vực nghiên cứu Trong khu vực nghiên cứu gồm có các hệ tầng sau:

Hệ tầng Phan Lương (N 1

3

pl): gồm tảng kết, cuội kết, sạn kết, bột kết, thấu

kính than linhit, sét kết Dày khoảng 500m Phân bố ở phía bắc hồ Suối Hai, và kéo dài

theo hướng đông bắc – tây nam

Hệ tầng Hà Nội (Q1

2-3

hn): Hệ tầng Hà Nội do Hoàng Ngọc Kỷ xác lập năm

1973 khi nghiên cứu địa chất đồng bằng Hà Nội Phân bố ở phía Tây huyên Ba Vì, với diện tích không lớn, chỉ khoảng 1,7km2 Thành phần gồm:

- Phần đáy là lớp cuội, cuội tảng, bột cát sét màu vàng

- Phần giữa và trên là cuội sỏi, cát sét bị laterit hoá

Tuổi của tầng trầm tích này được xếp vào Pleistocen giữa - muộn Có bề dày từ

3 - 10m

Tầng Vĩnh Phúc (Q1

3

vp): Trong khu vực nghiên cứu về mặt địa mạo, các đất

đá của tầng Vĩnh phúc nằm trên bề mặt các thềm I của hệ thống sông suối và sông Hồng với diện tích khoảng 19,5km2

Thành phần gồm sét, sét bột, cát vàng, thấu kính cuội Phần trên bị laterit sét caolin sét đen lẫn mùn thực vật Ngày nay vấn đề nguồn gốc thành tạo của tầng trầm tích này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau: Một số tác giả như Hoàng Ngọc Kỷ, Nguyễn Xuân Bao cho rằng tầng Vĩnh Phúc được thành tạo

Ngày đăng: 17/05/2017, 18:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quang Anh, Phạm Thế Vĩnh và nnk. Bản đồ cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1:1.500.000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ản đồ cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1:1.500.000
2. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Th-ợng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi tr-ờng lãnh thổ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi tr-ờng lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Th-ợng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
3. Nguyễn Cao Huần (2002), Đánh giá cảnh quan theo h-ớng tiếp cận kinh tế sinh thái, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ"á"nh giá cảnh quan theo h-ớng tiếp cận kinh tế sinh thái
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Năm: 2002
4. Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Cao Huần, Phạm Hoàng Hải, Nghiên cứu các đơn vị cảnh quan Việt Nam, tỉ lệ 1:100.000 (Đất và biển), Hội thảo về sinh thái cảnh quan: Quan điểm và ph-ơng pháp luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các đơn vị cảnh quan Việt Nam, tỉ lệ 1:100.000 (Đất và biển)
5. Vũ Tự Lập (1976), Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1976
6. Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Thế Vĩnh (1992), Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan, Hội thảo về sinh thái cảnh quan:Quan điểm và ph-ơng pháp luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TiÕp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan
Tác giả: Nguyễn Thành Long, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Thế Vĩnh
Năm: 1992
7. Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh và nnk (1993), Nghiên cứu xây dựng bản đồcảnh quan các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm Địa lý tài nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng bản đồcảnh quan các tỉ lệ trên lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Long, Phạm Thế Vĩnh và nnk
Năm: 1993
8. Mai Trọng Thông và nnk (2003), Phân loại khí hậu Việt Nam, Tuyển tập các công trình nghiên cứu Địa lý, TT KHTN & CNQG, Viện Địa lý. NXB KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại khí hậu Việt Nam
Tác giả: Mai Trọng Thông và nnk
Nhà XB: NXB KHKT
Năm: 2003
9. Trần Tý, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Viết Thịnh, Trần Văn ý. Bản đồ cảnh quan sinh thái và đánh giá mức độ thuận lợi cho các mục tiêu kinh tế đồng bằng sông Hồng và phụ cận, Viện Địa lý, Trung tâm khoa học Tự nhiên và CNQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ản đồ cảnh quan sinh thái và đánh giá mức độ thuận lợi cho các mục tiêu kinh tế đồng bằng sông Hồng và phụ cận
10. Trần Võ Hùng Sơn. Nhập môn phân tích lợi ích chi phí, NXB Đại học quốc gia thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn phân tích lợi ích chi phí
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố HCM
11. Tạp chí các khoa học số 1 năm 2007, Nghiên cứu tài nguyên sinh khí hậu thành phố Đà Lạt và phụ cận phục vụ mục đích du lịch, Tr-ờng Đại học s- phạm Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tài nguyên sinh khí hậu thành phố Đà Lạt và phụ cận phục vụ mục đích du lịch
12. UBND thành phố Hà Nội, Niên giám thống kê thành phố Hà Nội năm 2009. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê thành phố Hà Nội năm 2009
13. UBND thành phố Hà Nội, Quy hoạch môi tr-ờng huyện Ba Vì giai đoạn 2010-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch môi tr-ờng huyện Ba Vì giai

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hệ thống phân loại của Vũ Tự Lập (1974) - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 1.1 Hệ thống phân loại của Vũ Tự Lập (1974) (Trang 17)
Hình 1.2: Quy trình đánh giá cảnh quan theo hướng thích nghi sinh thái - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 1.2 Quy trình đánh giá cảnh quan theo hướng thích nghi sinh thái (Trang 33)
Hình 1.3. Sơ đồ các bước nghiên cứu và đánh giá - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 1.3. Sơ đồ các bước nghiên cứu và đánh giá (Trang 36)
Bảng 2.1: Số giờ nắng trong các năm tại trạm Sơn Tây - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.1 Số giờ nắng trong các năm tại trạm Sơn Tây (Trang 46)
Bảng 2.2: Nhiệt độ trung bình các năm tại trạm đo Sơn Tây - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.2 Nhiệt độ trung bình các năm tại trạm đo Sơn Tây (Trang 47)
Hình 2.2: Biểu đồ thể hiện sự tăng lượng mưa theo độ cao trên núi Ba Vì - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện sự tăng lượng mưa theo độ cao trên núi Ba Vì (Trang 48)
Hình 2.3:  Biểu đồ thể hiện lượng mưa trung bình tháng tại trạm đo Ba Vì - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện lượng mưa trung bình tháng tại trạm đo Ba Vì (Trang 49)
Hình 2.4. Phẫu diện đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì  Bảng 2.4: Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-01 - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 2.4. Phẫu diện đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì Bảng 2.4: Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-01 (Trang 52)
Hình 2.5. Phẫu diện đất tại xã Vân Mộng, huyện Ba Vì  Bảng 2.5: Kết quả phân tích phẫu diện đất HN-21 - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 2.5. Phẫu diện đất tại xã Vân Mộng, huyện Ba Vì Bảng 2.5: Kết quả phân tích phẫu diện đất HN-21 (Trang 53)
Hình 2.6. Phẫu diện đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 2.6. Phẫu diện đất tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì (Trang 54)
Bảng 2.6: Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-07 - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.6 Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-07 (Trang 55)
Hình 2.7. Phẫu diện đất tại xã Thụy An, huyện Ba Vì  Bảng 2.7 : Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-05 - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Hình 2.7. Phẫu diện đất tại xã Thụy An, huyện Ba Vì Bảng 2.7 : Kết quả phân tích phẫu diện đất HT-05 (Trang 56)
Bảng 3.1: Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan phục vụ phát triển các - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.1 Đánh giá riêng các chỉ tiêu của loại cảnh quan phục vụ phát triển các (Trang 81)
Bảng 3.3: Tổng hợp diện tích theo mức độ thích nghi sinh thái của các loại cảnh - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích theo mức độ thích nghi sinh thái của các loại cảnh (Trang 89)
Bảng 3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển ngành du lịch - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế   xã hội và bảo vệ môi trường khu vực ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho phát triển ngành du lịch (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w