Xuất phát từ thực tế liên kết chuỗi sản xuất hàng hóa là xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại; liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì như liên kết cung ứng đầu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ANH VŨ
Phản biện 1: PGS.TS PHẠM TRUNG LƯƠNG
Phản biện 2: TS LÊ MINH NGHĨA
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luâ ̣n văn ta ̣i:
Thư viện Ho ̣c viê ̣n Khoa ho ̣c xã hô ̣i
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ba Vì là một Huyện có thế mạnh về chăn nuôi bò sữa.Trên địa bàn huyện Ba Vì, tính đến năm 2015 có 1.800 hộ chăn nuôi bò sữa với tổng đàn bò khoảng 10.000 con (chiếm 65% tổng đàn bò sữa toàn Thành phố Hà Nội) Xuất phát từ thực tế liên kết chuỗi sản xuất hàng hóa là xu thế tất yếu của nông nghiệp hiện đại; liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì như liên kết cung ứng đầu vào cho sản xuất, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản
phẩm còn hạn chế, tác giả chọn đề tài "Liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội"làm luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tiếp cận nghiên cứu liên kết theo chuỗi Somuah và các cộng sự (2013) đã phân tích liên kết ở cấp độ vĩ mô trong thực thi chính sách nông nghiệp và phát triển cụm ngành công nghiệp chế biến dựa trên bản
đồ hóa các chuỗi giá trị và cho rằng, sự gắn kết giữa các lãnh thổ để hỗ trợ cho chuỗi sản xuất lúa gạo chưa được thiết lập
Theo Sykuta và Parcell (2003), thực hiện nông nghiệp hợp đồng
là hệ giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn là nông dân thiệt thòi trong
quan hệ với DN chế biến và DN thu mua
Liên kết nông dân – doanh nghiệp cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong đó Hồ Quế Hậu đã phân tích tổng quát về thực trạng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến nông sản Việt Nam trong thời gian qua Mối liên kết này còn được đề cập đến dưới một tên gọi khác là nông nghiệp hợp đồng trong một số nghiên cứu gần đây của Nguyễn Thị Bích Hồng (2008),Nguyễn Thị Hà (2010)
Trang 4Có thể khẳng định, các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp theo hình thức hộ sản xuất hàng hóa đã xuất hiện và phát triển ở nhiều nơi Tuy nhiên, những hạn chế trong việc liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vẫn là phổ biến.Do vậy, tác giả mong muốn nghiên cứu về “Liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa
ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội” để có những giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể trong chuỗi
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở làm rõ về cơ sở lý luận và thực
trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì hiện nay, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực
tiễn về liên kết kinh tế của các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm nông nghiệp; Làm rõ thực trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, qua đó đánh giá được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong liên kết các chủ thể tham gia chuỗi; Đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Quá trình liên kết các chủ thể tham gia
chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Hà Nội
*Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa trên địa bàn huyện Bà Vì mà trọng tâm là nghiên cứu liên kết của hộ nông dân chăn nuôi bò sữa với các doanh nghiệp chế biến sữa, các nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì trong sản xuất, chế
Trang 5biến và tiêu thụ sản phẩm sữa, các chủ thể khác ngoài huyện hoặc nước ngoài được đề cập đến có giới hạn
- Về thời gian:Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì từ năm 2011 đến
2016 và các giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể giai đoạn 2017 -
2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu thứ cấp chủ yếu từ báo
cáo của các phòng, ban ngành có liên quan của huyện Ba Vì, Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Môn Ca Đa; thu thập số liệu sơ cấp qua điều tra thực địa tại một số xã và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì bằng hai phương pháp chính: phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Phương pháp phân tích số liệu: Luận văn sử dụng phần mềm Excel
để xử lý số liệu, phương pháp thống kê so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: góp phần làm rõ về mặt lý luận về liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Ý nghĩa thực tiễn: góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy liên kết phát triển chuỗi cung ứng nông sản ở nước ta hiện nay; là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các viện nghiên cứu và trường đại học
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết các
chủ thể trong chuỗi nông sản
Trang 6Chương 2: Thực trạng liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò
sữa tại huyện Ba Vì, Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể
trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Hà Nội
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI NÔNG SẢN
1.1 Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản
1.1.1 Khái niệm liên kết
Có nhiều khái niệm khác nhau về liên kết:
Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể
Theo David (1999), Liên kết kinh tế chỉ các tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp
và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững
Điều 1 quyết định số 38/1989/QĐ-HĐBT ngày10/04/1989 của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong SX lưu thông và dịch vụ: “Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc SX kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy SX theo hướng có lợi nhất”
Theo Hồ Quế Hậu (2010), Liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội,
Trang 7nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung
Như vậy, liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông sản, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thị trường mới
1.1.2 Khái niệm vềchuỗi nông sản
Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả trích lược một số quan điểm về chuỗi sản phẩm của các tác giả trên thế giới
Ganeshan và cộng sự cho rằng chuỗi sản phẩm là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến người tiêu dùng
Tác giả Christopher cho rằng chuỗi sản phẩm là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược
và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng, bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng
Như vậy, theo các quan điểm đã trích dẫn, về cơ bản một chuỗi sản phẩm bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó
có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:- Cung cấp: tập trung vào các hoạt
động cung cấp đầu vào cho sản xuất ra sao? chủ thể chế biến hoặc chuyển đổi trong chuỗi mua nguyên liệu như thế nào? mua từ đâu và
khi nào nguyên liệu được cung cấp?- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng.- Phân phối: là quá
Trang 8trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng một cách kịp thời và hiệu quả
Kết luận: chuỗi nông sản là chuỗi sản phẩm bao gồm tất cả các khâu từ cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng; chuỗi nông sản không chỉ bao gồm nhà cung cấp đầu vào, nhà sản xuất, nhà chế biến, mà còn liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh, bán hàng và người tiêu dùng
1.1.3 Tính tất yếu liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản
Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản là tất yếu vì:
- Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản là vô cùng cần thiết
và quan trọng đến hiệu quả đạt được của chuỗi nông sản đối với từng chủ thể tham gia chuỗi và đối với nền kinh tế quốc dân
- Liên kết là sự hợp tác cùng phát triển của hai hay nhiều bên không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mối quan hệ liên kết chính là bảo đảm về lợi ích kinh tế của các bên tham gia liên kết
- Liên kết còn giúp cho các chủ thể phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm, tạo cơ hội đứng vững khi thị trường có biến đổi bất lợi
1.1.4 Các hình thức, phương thức liên kết
Các hình thức liên kết: Liên kết theo hợp đồng bằng văn bản là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm Liên kết bằng thỏa thuận miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó
Các phương thức liên kết: Liên kết dọc: Là liên kết được thực hiện
theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận
động của sản phẩm) Liên kết ngang: Là hình thức liên kết mà trong đó
Trang 9mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế của các chủ thể
Nhân tố về thị trường: Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển
càng mạnh thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sản xuất; ngược lại thị trường sôi động, nông sản hàng hóa giao dịch nhiều thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường Để đáp ứng yêu cầu của thị trường buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà có điều kiện cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra
Nhân tố về cơ chế chính sách: Chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước đóng vai trò định hướng cho phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển nền nông nghiệp và mối liên kết giữa các chủ thể nói riêng Yếu tố này càng được quan tâm đúng ñắn, kịp thời thì hiệu quả liên kết càng cao
Năng lực liên kết của các chủ thể: gồm(1) năng lực liên kết của
hộ nông dân: năng lực liên kết của hộ nông dân được đánh giá thông qua 3 yếu tố đó là nhận thức của hộ về liên kết, khả năng kinh tế của
hộ để tham gia liên kết và quy mô sản xuất của hộ (2) năng lực liên kết của DN: Năng lực liên kết của DN phụ thuộc vào các yếu tố đó là quy mô DN, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và nhu cầu của thị trường về sản phẩm của DN
Trang 101.2 Kinh nghiệm liên kết kinh tế các chủ thể tham gia vào chuỗi nông sản ở một số địa phương trong nước
1.2.1 Mô hình liên kết tại tỉnh Vĩnh Long trong sản xuất lúa hàng hóa
Vĩnh Long là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích nông nghiệp hơn 116 ngàn ha, chiếm 78% diện tích đất tự nhiên với dân số hơn 1.031 ngàn người Vụ Đông Xuân năm 2013-2014, tỉnh Vĩnh Long đã mở rộng dự án cánh đồng mẫu lớn với 3.183ha và vận động được một số DN thực hiện liên kết trong sản xuất, tiêu thu lúa trong vùng dự án cánh đồng mẫu lớn Theo đó, các DN đầu tư thuốc bảo vệ thực vật theo hình thức trả chậm; các DN kinh doanh sản phẩm lúa gạo đã phối hợp với chính quyền địa phương, ký hợp đồng với bà con nông dân tham gia cánh đồng mẫu lớn tiêu thụ hàng hóa cho nông dân
1.2.2 Mô hình liên kết kinh tế hộ chăn nuôi bò với các chủ thể khác tại tỉnh Hà Giang
Dự án “Ứng dụng đổi mới công nghệ phát triển bò cao nguyên đá
Đồng Văn thành hàng hóa theo chuỗi giá trị” được hình thành trên cơ sở
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội thực tiễn của tỉnh Hà Giang.Một trong những vấn đề quan trọng để triển khai dự án thành công và giảm thiểu các tổn thất nếu có cho người dân và DN là Nhà nước thực hiện chính sách
“Bảo hiểm tương hỗ” Sự chia sẻ rủi ro, lợi ích của bảo hiểm tương hỗ của
dự án sẽ được chia sẻ dưới hình thức tái bảo hiểm với DN bảo hiểm được nhà nước ủy quyền (Bảo Việt, Bảo Minh), qua đó thúc đẩy người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư chăn nuôi
1.3 Bài học kinh nghiệm có khả năng áp dụng cho huyện Ba Vì
Một là: Trong liên kết kinh tế giữa các chủ thể trong chuỗi sản
phẩm hàng nông sản, DN đóng vai trò hạt nhân quyết định sự thành
Trang 11công của hình thức sản xuất theo hợp đồng với người nông dân
Hai là: Vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng
Ba là: Thực tiễn cho thấy không có ở đâu phương thức nông
nghiệp theo hợp đồng có thể thành công với mọi loại nông sản và trong mọi trường hợp
Bốn là:Các mô hình thành công cho thấy chính cơ chế tự thực
thi là cơ sở quyết định nhất cho mối quan hệ liên kết các chủ thể trong chuỗi giá trị hàng nông sản
Năm là: Trong mối quan hệ lợi ích giữa các bên cần phải xử lý
hài hòa Tuy nhiên lợi ích của nông dân phải được xem trọng, ưu tiên chăm sóc thì hợp đồng mới thu hút được nông dân, mới có động lực
để phát triển
Chương 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI SẢN PHẨM BÒ SỮA TẠI HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Ba Vì có tổng diện tích tự nhiên 42.804 ha, trong đó đất nông nghiệp 29.183 ha (chiếm trên 68% diện tích tự nhiên), dân số khoảng 280 ngàn người, hơn 70% tổng dân số làm nông nghiệp Đặc điểm riêng của Ba Vì là địa hình được hạ thấp từ Tây Nam lên Đông Bắc do ngọn núi Ba Vì nằm ở phía nam của huyện và Sông Đà có đoạn chảy ngược lên phía Bắc Do địa hình trên mà tạo nên những vùng đồi thấp, thoai thoải kiểu bình nguyện, thảo nguyên quanh chân núi Ba Vì rất thuận lợi cho chăn nuôi gia súc, nhất là chăn nuôi bò sữa
Trang 12Ba Vì
Từ những năm 1990, chính quyền huyện Ba Vì đã xác định chăn nuôi bò sữa là một thế mạnh trong phát triển nông nghiệp của huyện Năm 2008, Huyện ủy Ba Vì ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-
HU về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đến năm 2010 tiếp tục xác định chăn nuôi bò sữa là một trong những hướng đi để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chính của huyện Năm 2011, UBND huyện Ba Vì xây dựng chương trình phát triển đàn bò giai đoạn 2011-2015, định hướng 2020 Năm 2015, UBND huyện tiếp tục xây dựng Chương trình phát triển đàn bò giai đoạn 2015-2020, định hướng 2030 theo quy hoạch phát triển nông nghiệp, quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Ba Vì
2.1.3 Nhân tố thị trường và sự phát triển của các công ty chế biến sữa trên địa bàn huyện Ba Vì
Ba Vì được coi là “lá phổi xanh” phía Tây thủ đô Hà Nội, có rất nhiều điểm du lịch tự nhiên và văn hóa hấp dẫn, là điểm đến của
Trang 13khách du lịch trong và ngoài nước, là thị trường đầu ra tiềm năng cho các sản phẩm sữa Ba Vì Mặt khác, sữa là mặt hàng thiết yếu, nhu cầu về mặt hàng sữa của người tiêu dùng ngày càng tăng Nhiều công
ty sữa đã mở rộng quy mô sản xuất và đặt nhà máy chế biến sữa trên địa bàn huyện như Công ty Cổ phần sữa quốc tề IDP, Netle, Công ty
CP sữa Ba Vì… Đây là dấu hiệu tích cực thúc đẩy mối liên kết của các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa của huyện
2.1.4 Khoa học công nghệ
Dự án Jica giai đoạn 2001-2012 đã giúp cho năng lực quản lý, chữa trị bệnh, kỹ thuật chăn nuôi được thay đổi một cách rõ rệt tại vùng Ba Vì như: đã áp dụng các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của bê, bò sữa; sử dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 100% cho bò sữa; sử dụng công nghệ cấy truyền phôi, sử dụng hormone để tăng năng suất sinh sản cho đàn bò; sử dụng tinh phân ly giới tính để tăng đàn bò cái; sử dụng các tiến bộ kỹ thuật để chế biến thức ăn nâng cao giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần của bò sữa; có những giải pháp khống chế và điều trị có hiệu quả các bệnhvề chân móng,sinh sản, lệch dạ múi khế Qua đó góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì
2.1.5 Nhận thức của các chủ thể
Đối với hộ chăn nuôi: Trình độ còn hạn chế, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, SX còn lạc hậu, quy mô SX còn nhỏ lẻ, manh mún nên nhận thức của nông hộ về vấn đề liên kết trong SX và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn nhiều bất cập
Đối với doanh nghiệp: Các DN tham gia liên kết bao gồm các
DN hoạt động về cung ứng giống, cung ứng vật tư và DN chế biến tiêu thụ song chủ yếu là các DN vừa và nhỏ, nên năng lực liên kết của DN cũng có những hạn chế