khoản thuế được giảm trừ vào doanh thu như thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theophương pháp trực tiếp.b Việc điều chỉnh giảm doanh thu được thực hiện như sau: - Khoản chiết khấu thương mại
Trang 1Bố cục
Phần thứ nhất : những vấn đề chung về doanh thu
Phần thứ hai : các trường hợp ghi nhận doanh thu
A Doanh thu hoạt động tiêu dùng nội bộ
B Doanh thu hoạt động xuất khẩu
C Doanh thu hoạt động hàng đổi hàng
Phần thứ ba :Liên hệ công ty De Heus Việt Nam
Chủ đề 2:
Phần thứ nhất: Những vấn đề chung về doanh thu:
I, Khái niệm doanh thu
Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần= doanh thu - các khoản giảm trừ
Các trường hợp giảm trừ doanh thu:
Tài khoản 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu
* Nguyên tắc kế toán
a) Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản được điều chỉnh giảm trừ vàodoanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ, gồm: Chiết khấu thươngmại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại Tài khoản này không phản ánh các
Trang 2khoản thuế được giảm trừ vào doanh thu như thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theophương pháp trực tiếp.
b) Việc điều chỉnh giảm doanh thu được thực hiện như sau:
- Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại phát sinh cùng kỳ tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa dịch vụ được điều chỉnh giảm doanh thu của
kỳ phát sinh;
- Trường hợp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau mới phát sinh chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán hoặc hàng bán bị trả lại thì doanh nghiệp được ghi giảm doanh thu theo nguyên tắc:
+ Nếu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị trả lại nhưng phát sinh trước thời điểm phát hành Báo cáo tài chính, kế toán phải coi đây là một sự kiện cần điều chỉnh phát sinh sau ngày lập Bảng cân đối kế toán và ghi giảm doanh thu, trên Báo cáo tài chính của kỳ lập báo cáo (kỳ trước)
+ Trường hợp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị trả lại sau thời điểm phát hành Báo cáo tài chính thì doanh nghiệp ghi giảm doanh thu của kỳ phát sinh (kỳ sau)
c) Chiết khấu thương mại phải trả là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn Bên bán hàng thực hiện kế toán chiết khấu thương mại theo những nguyên tắc sau:
- Trường hợp trong hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng đã thể hiện khoản chiết khấu thương mại cho người mua là khoản giảm trừ vào số tiền người mua phải thanh toán (giá bán phản ánh trên hoá đơn là giá đã trừ chiết khấu thương mại) thì doanh nghiệp (bên bán hàng) không sử dụng tài khoản này, doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã trừ chiết khấu thương mại (doanh thu thuần)
- Kế toán phải theo dõi riêng khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp chi trả cho người mua nhưng chưa được phản ánh là khoản giảm trừ số tiền phải thanh toán trên hóa đơn Trường hợp này, bên bán ghi nhận doanh thu ban đầu theo giá chưa trừ chiết khấu thương mại (doanh thu gộp) Khoản chiết khấu thương mại cần
Trang 3phải theo dõi riêng trên tài khoản này thường phát sinh trong các trường hợp như:+ Số chiết khấu thương mại người mua được hưởng lớn hơn số tiền bán hàng được ghi trên hoá đơn lần cuối cùng Trường hợp này có thể phát sinh do người mua hàng nhiều lần mới đạt được lượng hàng mua được hưởng chiết khấu và khoản chiết khấu thương mại chỉ được xác định trong lần mua cuối cùng;
+ Các nhà sản xuất cuối kỳ mới xác định được số lượng hàng mà nhà phân phối (như các siêu thị) đã tiêu thụ và từ đó mới có căn cứ để xác định được số chiết khấu thương mại phải trả dựa trên doanh số bán hoặc số lượng sản phẩm đã tiêu thụ
d) Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh
tế Bên bán hàng thực hiện kế toán giảm giá hàng bán theo những nguyên tắc sau:
- Trường hợp trong hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng đã thể hiện khoản giảmgiá hàng bán cho người mua là khoản giảm trừ vào số tiền người mua phải thanh toán (giá bán phản ánh trên hoá đơn là giá đã giảm) thì doanh nghiệp (bên bán hàng) không sử dụng tài khoản này, doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã giảm(doanh thu thuần)
- Chỉ phản ánh vào tài khoản này các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm giá sau khi đã bán hàng (đã ghi nhận doanh thu) và phát hành hoá đơn (giảm giá ngoài hoá đơn) do hàng bán kém, mất phẩm chất
đ) Đối với hàng bán bị trả lại, tài khoản này dùng để phản ánh giá trị của số sản phẩm, hàng hóa bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách
*Tài khoản 521 - Các khoản giảm trừ doanh thu không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 521 có 3 tài khoản cấp 2
- Tài khoản 5211 - Chiết khấu thương mại: Tài khoản này dùng để phản ánh
khoản chiết khấu thương mại cho người mua do khách hàng mua hàng với khối lượng lớn nhưng chưa được phản ánh trên hóa đơn khi bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong kỳ
Trang 4- Tài khoản 5212 - Hàng bán bị trả lại: Tài khoản này dùng để phản ánh
doanh thu của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bị người mua trả lại trong kỳ
- Tài khoản 5213 - Giảm giá hàng bán: Tài khoản này dùng để phản ánh
khoản giảm giá hàng bán cho người mua do sản phẩm hàng hóa dịch vụ cung cấp kém quy cách nhưng chưa được phản ánh trên hóa đơn khi bán sản phẩm hàng hóa,cung cấp dịch vụ trong kỳ
+Lưu ý: Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua,
do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng
Khoản chiết khấu thanh toán không phải là khoản giảm trừ doanh thu,được tính là một khoản chi phí hoạt động tài chính
II, Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng:
Theo nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực
tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền
Nếu nhận tiền trước là doanh thu chưa thực hiện
Nếu nhận tiền sau là doanh thu bán chịu
Nguyên tắc phù hợp: khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó
Doanh thu được theo dõi riêng biệt theo từng loại doanh thu: doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia Trong chủ đề thảo luận này, nghiên cứu về doanh thu bán hàng nên chúng ta chỉ phân tích về điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiệnsau:
(a)Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
Trang 5Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thờiđiểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua.
Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi nhận
Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa dưới nhiều hình thức khác nhau, như:
-Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt động bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường;
- Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người mua hàng hóa đó;
- Khi hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần quan trọngcủa hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành;
- Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có
bị trả lại hay không
Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận Ví dụ doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hóa chỉ để đảm bảo sẽ nhận được đủ các khoản thanh toán
(b)Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thờiđiểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua
Trang 6(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
-Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệpvới bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu
thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
- Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
-Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự
về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận
về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm
(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch
Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví
Trang 7dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không)
Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu
Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi
(e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng (như chi phí bảo hành và chi phí khác), thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thỏa mãn Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không được ghi nhận là doanh thu mà được ghi nhận là một khoản
nợ phải trả tại thời điểm nhận tiền trước của khách hàng Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trước của khách hàng chỉ được ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thỏa mãn năm (5) điều kiện
III, Xác định doanh thu:
- Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được:
+ Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
+ Không bao gồm các khoản thu hộ bên thứ 3
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệpvới bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của
Trang 8các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu
thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự
về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận
về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm
Vận dụng xác định doanh thu trong các trường hợp:
- Doanh thu trả góp,trả chậm= daonh thu bán hàng một lần không bao gồm lãi trả chậm,trả góp
- Doanh thu hàng trao đổi= giá bán tại thời điểm trao đổi
- Doanh thu đại lý=hoa hồng được hưởng
- Doanh thu gia công= giá gia công
- Doanh thuản phẩm giao khoán=số tiền phải thu ghi trên hợp đồng
- Doanh thu tín dụng= lãi cho vay đến hạn phải thu
- Doanh thu bảo hiểm=phí bảo hiểm
- Doanh thu công trình xây lắp nhiều năm= giá trị ứng với khối lượng hoàn thành trong năm được người giao thầu chấp nhận thanh toán
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ,doang thu bán hàng cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT
Trang 9-Đối với sản phẩm, hàng hoá,dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bánhàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán.
-Đối với sản phẩm, hoàng hoá,dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán( bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt,hoặc thuế xuất khẩu)
Trang 10Phần thứ hai: Các trường hợp ghi nhận doanh thu:
A.Kế toán tiêu dùng nội bộ:
I.Phân tích bản chất cuả hoạt động:
1, Đặc điểm:
- Là sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung ứng
sử dụng cho tiêu dùng của cơ sở kinh doanh
- Việc xác định số thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT phải nộp và kê khai thuế GTGT, thuế TNDN thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế
2, Thời điểm ghi nhận doanh thu : Khi xuất dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sử dụng nội bộ
3, Cách xác định doanh thu :
Doanh thu tiêu dùng nội bộ = giá thành sản xuất của sản phẩm = giá gốc của hàng hóa
II, Trình bày và phân tích phương pháp kế toán :
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, tài khoản doanh thu bán hàng nội bộ 512 (theo quyết định 15) bỏ và chuyển qua tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Sử dụng cho tiêu dùng nội bộ chia thành 2 trường hợp:
- Nếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ tiêu dùng nội bộ để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT
Không phải tính thuế GTGT với hàng xuất dùng và không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào (theo TT119/2014)
Thuế GTGT là giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các nghiệp vụ này, không dựa vào doanh thu nội bộ
Thuế GTGT = Thuế suất thuế GTGT x giá của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các nghiệp vụ này
Trang 11(chi phí sản xuất hoặc giá vốn)
TK 623, 627, 641, 642…
TK 511
Doanh thu hàng hóa, sản phẩm tiêu dùng nội bộ
Phương pháp hạch toán kế toán:
– Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:
Nợ TK 632 – Giá vốn hàng bán
Có các TK 155, 156
– Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:
Nợ các TK 627, 641, 642,… (Nếu sản phẩm, hàng hóa xuất sử dụng cho hoạt động SXKD)
Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD)
Có TK 511 – Doanh thu bán hàng (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)
Sơ đồ hạch toán :
- Nếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ tiêu dùng nội bộ để dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT
Phải tính thuế GTGT của xuất dùng nhưng không được khấu trừ
Thuế GTGT phải nộp sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 12tiêu dùng nội bộ
TK 3331
Chi phí sản xuất hoặc giá vốn sản phẩm, hàng hóa
Thuế GTGT phải nộp
Phương pháp hạch toán kế toán:
- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:
Có TK 333 – Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (33311) (Thuế GTGT
của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)
Có TK 511 – Doanh thu bán hàng (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)
Trang 13B Doanh thu hoạt động xuất khẩu:
I Bản chất của doanh thu hoạt động xuất khẩu
1, Đặc điểm
Hoạt động xuất khẩu là quá trình bán những hàng hoá và dịch vụ của quốc gia đó cho một hay nhiều quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán
Như vậy, về bản chất hoạt động xuất khẩu và hoạt động buôn bán trong nước đều là một quá trình trao đổi hàng hoá (bán hàng), đó là quá trình thực hiện giá trị hàng hoá của người sản xuất hoặc người bán Tuy nhiên, về hình thức và phạm vi thì hoạt động xuất khẩu có nhiều điểm khác biệt
Một số đặc điểm cơ bản của hoạt động xuất khẩu:
Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài Do
đó, khi muốn phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp giống hoàn toàn như khi chinh phục khách hàng trong nước Bởi vì, giữa hai loại khách hàng này có nhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, mức sống, phong tục tập quán Điều này sẽ dẫn đến những khác biệt trong nhu cầu và cách thức thoả mãnnhu cầu Vì vậy, nhà xuất khẩu cần phải có sự nghiên cứu sâu hơn để tìm hiểu nhu cầu của khách hàng nước ngoài để đưa ra những hàng hoá phù hợp
Thứ hai, thị trường trong kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp và khó tiếp cận hơn thị trường kinh doanh trong nước Bởi vì thị trường xuất khẩu vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở cách xa hơn, phức tạp hơn và có nhiều nhân tố ràng buộc hơn
Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thường là mua bán qua hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả
Thứ tư, thời gian xuất nhập khẩu hàng hóa và thời điểm thanh toán tiền hàngthường không trùng nhau mà có khoảng cách kéo dài
Thứ năm, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán, vận chuyển, ký kết hợp đồng đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro
Trang 14Nói tóm lại, hoạt động xuất khẩu là sự mở rộng quan hệ buôn bán trong nước ra nước ngoài, điều này thể hiện sự phức tạp của nó Hoạt động xuất khẩu có thể đem lại kết quả cao hơn hoạt động kinh doanh trong nước nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro hơn.
* Các phương thức xuất khẩu hàng hóa
Các phương thức xuất khẩu hàng hóa:
Các doanh nghiệp thương mại xuất khẩu hàng hóa theo hai phương thức: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu ủy thác
- Xuất khẩu trực tiếp: đơn vị tham gia xuất khẩu trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng với nước ngoài, trực tiếp giao hàng và thanh toán tiền hàng với người mua
- Xuất khẩu ủy thác : đơn vị tham gia xuất khẩu không trực tiếp đàm phán, ký kếthợp đồng xuất khẩu với nước ngoài mà thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hóacủa mình thông qua một đơn vị xuất nhập khẩu khác
Phạm vi hàng hóa được coi là xuất khẩu gồm :
- Hàng bán cho thương nhận nước ngoài theo hợp đồng đã ký
- Hàng hóa gửi đi triển lãm ở nước ngoài sau đó bán thu ngoại tệ
- Hàng bán cho khách nước ngoài, cho Việt Kiều thu ngoại tệ
- Hàng viện trợ cho nước ngoài thông qua các hiệp định, nghị định thư do Nhà nước ký kết với nước ngoài nhưng được thực hiện thông qua doanh nghiệp xuấtnhập khẩu
- Hàng hóa chuyển bán cho các khu chế xuất
- Các dịch vụ sửa chữa, bảo hiểm tàu biển, máy bay cho nước ngoài thanh toán bằng ngoại tệ
2, Thời điểm ghi nhận doanh thu
Thời điểm ghi nhận hàng xuất khẩu :
Hàng hóa được ghi nhận là xuất khẩu khi hàng hóa đã hoàn thành các thủ tục hải quan, được sắp xếp lên phương tiện vận tải và rời khỏi hải phận, cửa khẩu hoặc sân bay cuối cùng của nước đó Thời điểm được ghi nhận hàng xuất khẩu được quy định rõ như sau:
- Nếu hàng vận chuyển bằng đường biển thì thời điểm xuất khẩu tính từ ngày thuyền trưởng ký vào vận đơn, hải quan cảng biển đã xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan
Trang 15- Nếu hàng vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ thì thời điểm xuất khẩu tính từ ngày hàng được giao tại ga, cửa khẩu theo xác nhận của hải quan cửa khẩu.
- Nếu hàng được vận chuyển bằng đường hàng không thì thời điểm tính hàng xuất khẩu khi cơ trưởng máy bay kí vào vận đơn và hải quan sân bay ký xác nhận hoàn thành thủ tục hải quan
- Hàng đưa đi hội chợ, triển lãm tính là xuất khẩu khi hoàn thành thủ tục bán hàng, thu ngoại tệ
Thời điểm ghi nhận doanh thu hàng xuất khẩu
Về nguyên tắc thì doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp đã chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua
Đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa thì thời điểm xác định doanh nghiệp
đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua cũng như doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa phải được xem xét cẩn thận dựa trên các “Điều kiện giao hàng” phù hợp với các quy định của Incoterm
2010
Tùy vào từng điều kiện giao hàng mà thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa có thể khác nhau (thông thường căn cứ vào ngày trên Vậnđơn) và cũng có thể khác với ngày xác nhận hoàn tất thủ tục hải quan trên tờ khai hải quan, dẫn đến có sự khác biệt về thời điểm ghi nhận Doanh thu theo kế toán và xác định Doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
Bảng tổng hợp so sánh thời điểm ghi nhận doanh thu theo kế toán và thuế TNDN đối với hàng hóa xuất khẩu trong một số trường hợp phổ biến:
Trang 16Ngày xác nhận hoàntất thủ tục hải quantrên tờ khai hải quan
Hàng đã được giao cho người chuyên chở
(Rủi ro về hư hỏng và mất mát hàng hóa sau khihàng đã được giao cho người chuyên chở sẽ đượcchuyển từ người bán sang người mua)