1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích đánh giá hoạt động ngân hàng acb và vcb

31 480 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tỷ lệ nợ xấu tăng cao, quy mô vốn nhỏ, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng trưởng huy động và GDP, và cơ cấu thu nhập chủ yếu vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng - Từ đầu năm 20

Trang 1

Mở đầu

Ở hầu hết các nước, ngành ngân hàng được coi là một khu vực then chốt đảm bảo cho nền kinh tế quốc gia hoạt động một cách nhịp nhàng Vì vậy, khu vực này được chính phủ các nước đặc biệt quan tâm và là một trong những ngành nhận được sự giám sát chặt chẽ nhất trong nền kinh tế, đặc biệt tại các nước đang phát triển như Việt Nam Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh trên quy mô toàn cầu hiện nay thì hệ thống ngân hàng thương mại đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Tuy nhiên với sự tăng trưởng nhanh chóng về số lượng của hệ thống NHTM trong thời gian qua đáng để chúng ta lưu tâm, liệu vấn đề chất lượng trong hoạt động hệ thống NHTM có thật sự tốt nhất hay chưa? Đòi hỏi chúng ta cần có sự nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan hoạt động của hệ thống NHTM để thấy được bức tranh toàn cảnh của hệ thống NHTM Việt Nam điểm mạnh là gì và điểm yếu là gì? Có như vậy mới giúp cho việc hoạch định chính sách cũng như quản trị NHTM ngày càng trở nên hiệu quả hơn, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nhiều hơn và ổn định hơn Trong bài này, tác giả sẽ cũng cấp cho các bạn cái nhìn tổng quan về hoạt động của hệ thống ngân hàng trong giai đoạn từ 2010 đến nay Từ đó đi sâu vào nghiên cứu hoạt động của 2 ngân hàng điển hình trong 2 nhóm NHTM tại Việt Nam (nhóm NHNN và nhóm NHTMCP) đó là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương (VCB) và Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB)

Trang 2

1 Tổng quan về tình hình hoạt động ngành ngân hàng

Những nhận định chung về tình hình hoạt động của ngân hàng bao gồm một số ý sau:

- Ngành ngân hàng tăng trưởng nhanh cả về số lượng và quy mô tài sản Tuy nhiên chỉ

có 25.6% ngân hàng nội địa có vốn điều lệ trên 5000 tỷ

- Thị phần tín dụng và huy động của khối Ngân hàng Quốc doanh vẫn dẫn đầu tuy nhiên sụt giảm mạnh do sự thống lĩnh của khối Ngân hàng cổ phần

- Tỷ lệ nợ xấu tăng cao, quy mô vốn nhỏ, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng trưởng huy động và GDP, và cơ cấu thu nhập chủ yếu vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng

- Từ đầu năm 2010 đến nay, ngành ngân hàng liên tục có nhiều biến động về lãi suất và tín dụng theo hướng không có lợi cho hoạt động các Ngân hàng thương mại

- Việt Nam hiện có nhiều ngân hàng quy mô nhỏ, chủ yếu xuất phát là ngân hàng nông thôn nhưng lại vươn ra hoạt động tại thành thị, do đó có tốc độ tăng trưởng tài sản nhanh và danh mục cho vay phát triển quá nóng Kèm theo đó là hệ thống quản lý rủi

ro và kỹ năng quản lý hoạt động ngân hàng còn kém, gây tác động không tốt đến hệ thống

- Tuy chỉ chiếm số lượng nhỏ trong tổng số các NHTM nhưng khối NHTMQD lại chiếm ưu thế lớn về vốn và về thị phần ngân hàng, cả về thị phần huy động lẫn thị phần cho vay

- Khách hàng truyền thống của khối này là các doanh nghiệp và các Tổng công ty Nhà nước Tuy nhiên việc cho vay các doanh nghiệp quốc doanh cũng tiềm tàng nguy cơ nợ xấu nhiều hơn so với các doanh nghiệp khác Theo thống kê ngân hàng Nhà nước, trong số 2.5% nợ xấu toàn ngành của năm 2010 thì có tới 60% là nợ xấu của các doanh nghiệp quốc doanh

- Với sự phát triển nhanh về số lượng các NHTMCP thị phần tín dụng cũng có sự thay đổi rõ rệt Thị phần của khối này đã sụt giảm đáng kể trong giai đoạn 2005 đến nay dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất

- Tổng thị phần tín dụng của khối NHTMQD năm 2010, 2011 là 49.3%, thấp hơn rất nhiều so với 74.2% năm 2005

Cùng với những thách thức trong giai đoạn phát triển này, chúng tôi muốn đề cập đi sâu phân tích hoạt động của hai ngân hàng VCB (thuộc khối ngân hàng thương mại nhà nước), và ACB (thuộc khối ngân hàng thương mại cổ phần) từ đó đưa ra những đánh giá hoạt động của hai ngân hàng nói riêng và hai khối ngân hàng nói chung

Trang 3

2 Phân tích và đánh giá hoạt động của ngân hàng VCB và ngân hàng ACB

2.1 Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu

Biểu đồ 1: Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu trong ngân hàng

Về qui mô tài sản: VCB và ACB lần lượt giữ vị trí thứ 4 và 5 trong toàn hệ thống

Ngân hàng có mức gia tăng ấn tượng về tỷ trọng tổng tài sản so với toàn ngành trong

2011 là ACB (từ 4,8% lên 5,9%), ACB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản cao nhất (tăng 37,01% so với năm 2010) Trong khi đó tỷ trọng tổng tài sản của VCB cũng có sự cải thiện so với năm 2010 (tăng từ 7,3% lên 7,8%)

Biểu đồ 2: Biến đổi vốn điều lệ ngân hàng ACB

Trang 4

Biểu đồ 3: biến đổi vốn điều lệ ngân hàng VCB

Theo lộ trình quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP, mức vốn pháp định áp

dụng cho các ngân hàng TMCP đến cuối năm 2010 là 3.000 tỷ đồng Vì vậy, theo lộ

trình đó vốn điều lệ của ngân hàng ACB có sự gia tăng liên tục từ năm 2007-2010 và

đạt 9,376,694,700,000 đồng cho đến hiện nay Đối với ngân hàng VCB tuy không chịu

sức ép gia tăng vốn điều lệ, nhưng đứng trước nhu cầu khách quan về tăng trưởng và

phát triển nên cũng đã gia tăng mức vốn điều lệ liên tục từ 2009 đến đầu quý I/2012 và

dừng lại ở mức 23,174,170,760,000 đồng Bên cạnh đó một số đặc điểm ngân hàng

VCB là ngân hàng có vốn cổ phần Nhà nước (với yếu tố sở hữu nhà nước chiếm phần

lớn) và ngân hàng ACB thì hoàn toàn không có vốn góp nhà nước So sánh về mức

vốn điều lệ thì ngân hàng VCB lớn hơn gấp đôi ngân hàng ACB

 Về các cổ đông đối tác bên ngoài của ACB: Standard Chartered APR Ltd,

Connaught Investors Ltd

 Về các cổ đông đối tác bên ngoài của VCB: Ngân hàng Mizuho

STT Mã CK

Sở Hữu Nhà Nước

Sở Hữu Nước Ngoài

Sở Hữu

Khối lượng đang lưu hành

Công ty TNHH Chứng khoán ACB 150,000,000 16%

937,696,500

Standard Chartered APR Ltd 82,263,883 8.80%

2,317,417,076

Ngân hàng Mizuho 347,612,562 15%

Lê Thị Kim Nga 8,768 0%

Bảng 1: Thành phần cổ đông sở hữu chính

Trang 5

Biểu đồ 4: tăng trưởng nguồn vốn_VCB

Biểu đồ 5: tăng trưởng nguồn vốn_ACB

Trang 6

2.2 Vốn huy động và tín dụng:

Nguồn vốn huy động là nguồn vốn hoạt động chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của NHTM Các NHTM nhận vốn từ những người gửi tiền, các chủ thể cho vay để thực hiện nhu cầu kinh doanh của mình

Về vốn huy động:

Bốn NHTMQD chiếm tới 48,3% thị phần tín dụng toàn ngành Về thị phần VCB

có sự cải thiện Thị phần huy động vốn của VCB tăng từ 8,0% lên 8,5% và vẫn giữ vị trí thứ 4 trong hệ thống ACB Tăng trưởng huy động vốn mạnh (32,9%)

Biểu đồ 6: Tín dụng và huy động vốn một số ngân hàng trong hệ thống

tỷ trọng lớn nhất (47,5%) trong tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống Theo Ngân hàng Nhà nước, thị phần tín dụng của khối ngân hàng quốc doanh có sự tăng trưởng mạnh mẽ, tăng 1,5% so với đầu năm

Tính đến hết tháng 6, tăng trưởng tín dụng của VCB đạt 3% so với cuối năm 2011, trong đó cho vay VND tăng 3,4% và cho vay ngoại tệ tăng 1,9% Sự chênh lệch này chủ yếu là do VCB kiểm soát tăng trưởng cho vay ngoại tệ và khuyến khích cho vay VND Điều này cũng phù hợp với định hướng của NHNN trong 6T2012 với nỗ lực ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối Hoạt động cho vay ghi nhận sự tăng trưởng của tín dụng cá nhân (+13% ytd), cho vay các tổ chức kinh tế cũng duy trì được mức tăng 4,2%, trong khi cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ sụt giảm 9,8% so với 2011 Dự báo cho rằng tín dụng cá nhân sẽ được VCB đẩy mạnh trong những tháng tới

Tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), qua 8 tháng, tăng trưởng tiền gửi khá ấn tượng với 13%, trong khi tăng trưởng tín dụng chỉ 7,2% (223.054 tỷ) Trong khi đó, ngân hàng TMCP Á châu (ACB) có tăng trưởng tín dụng

Trang 7

âm khá lớn do khủng hoảng, các ngân hàng cổ phần lớn tại TP.HCM có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng rất thấp (tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm của ACB là 0,89%).

2.3 Lợi nhuận và khả năng sinh lời

Biểu đồ 7: Tăng trưởng doanh thu lợi nhuận _ VCB

Biểu đồ 8: Tăng trưởng doanh thu lợi nhuận _ACB

Trang 8

Bảng 2: Các chỉ tiêu cơ bản của NH VCB

Biểu đồ 9: Cơ cấu thu nhập và LNST của VCB qua các năm

Ngân hàng VCB

VCB đã công bố BCTC hợp nhất đã kiểm toán cho 6 tháng 2012 Theo đó, LNST

cổ đông Công ty mẹ đạt 2.249 tỷ đồng (-7,1% y-o-y_so với cùng kỳ năm ngoái), trong

đó thu nhập lãi tăng 4,5%, thu nhập dịch vụ giảm (-5%) so với cùng kỳ, thu nhập kinh doanh ngoại hối và hoạt động góp vốn đạt lần lượt 642 tỷ (+3% y-o-y) và 278 tỷ đồng (+112% y-o-y) Thu nhập lãi, phí dịch vụ và kinh doanh ngoại hối vẫn là những nguồn đóng góp chủ yếu vào tổng thu nhập, chiếm tỷ trọng lần lượt là 77,3%; 8,8% và 8,6% trong 6T2012 Cơ cấu này vẫn thể hiện được thế mạnh tương đối của VCB đối với các nguồn thu ngoài lãi so với các ngân hàng lớn khác trong ngành

Trang 9

Ngân hàng ACB

Lợi nhuận hợp nhất 6 tháng tăng 34% so với cùng kỳ năm ngoái tuy nhiên giảm

2,7% so với khi chưa hợp nhất Sự khác biệt này một phần do hợp nhất 265 tỷ đồng lợi

nhuận của khoản chứng khoán kinh doanh (chiếm 12,5% tổng thu nhập) từ công ty con ACBS và các quỹ so với mức lỗ 110 tỷ đồng từ hoạt động này trong 6T/2011

Thu nhập lãi (TNL) ACB tăng 21% và chiếm gần 90% tổng thu nhập Tính trong 6T/2012, TNL của ACB tăng 21% và tài sản có sinh lời tăng 12% Trước năm 2010, ACB là một trong những NH có thế mạnh về kinh doanh vàng, và hoạt động này mang lại một khoản lợi nhuận đáng kể cho ACB trong khi đó TNL chỉ chiếm 60% tổng thu nhập Sau tháng 3/2010 sàn vàng đóng cửa và mới đây là quy định ngưng huy động/cho vay vàng, cơ cấu thu nhập của ACB thay đổi, chú trọng vào nguồn thu nhập truyền thống cho vay và phát triển dịch vụ TNL của ACB hiện chiếm gần 90% tổng thu nhập

CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ

Năm Ngân hàng ROA(%) ROE(%) NIM(%)

Tỷ lệ TN ngoài lãi cận biên

NRST(%)

EPS(VND)

Bảng 3: Chỉ tiêu hiệu quả (Nguồn: BCTC của các TCTD liên quan)

Chỉ tiêu ROA là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý Nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng Nhìn chung ROA các năm gần đây không có nhiêu thay đổi so với trước nhưng đều tăng và vượt mức trung bình ngành Cụ thể, năm 2010 thì cả hai ngân hàng đều chưa đạt mức trung bình ngành, ACB thấp hơn so với VCB 0.23%, cho thấy hiệu quả đầu tư của ACB kém hơn và khả năng tạo lợi nhuận kém hơn làm giảm niềm tin từ các nhà đầu tư, khách hàng cả cá nhân và doanh nghiệp, ảnh hưởng không tốt đến khả năng huy động vốn của ngân hàng, giảm vị thế trong ngành Tuy nhiên, từ năm 2011 đến 6 tháng đầu năm 2012 thì tình hình đã được cải thiện, cả hai đều đạt mức trung binh ngành

Nhưng năm 2011, ROA của VCB đã giảm so với năm 2010 là 0.12% còn ACB thì ngược lại tăng 0.18% so với năm 2010 Như vậy hiệu quả đầu tư và khả năng tạo lợi nhuận của VCB năm 2011 kém hơn trước đó còn ACB đã cải thiện tốt hơn làm ảnh

Trang 10

hưởng tích cực đến hình ảnh và vị thế của NH trong toàn ngành Cả 2011 và 2012, ROA của ACB đều tăng vượt lên so với VCB cho thấy hiệu quả của chính sách quản lý của hội đồng quản trị ngân hàng ACB để tạo lợi nhuận cho ngân hàng ngày càng tốt và hiện tại đã tốt hơn VCB.

Khác với ROA, ROE là một chỉ tiêu đo lường tỉ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng( tức là đầu tư chấp nhận rủi ro để hi vọng có được thu nhập hợp lý) Ta thấy, ROE của 2 ngân hàng trong 3 năm đều đạt mức trung bình ngành và nhìn chung tăng dần mỗi năm Nhưng ROE của VCB năm 2011 thấp hơn so với 2010 là 2.82% mặc dù có tăng năm 2012, cho thấy thu nhập của các cô đông bị giảm xuống, còn với ACB thì thu nhập các cổ đông vẫn tăng ở năm 2011 và 2012 so với 2010 Mà theo số liệu ta thấy ROE của VCB trong 3 năm luôn thấp hơn ACB, chứng tỏ tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ

sở hữu của ACB lớn hơn VCB Bên cạnh đó, có trường hợp ROA thấp có thể đạt được ROE khá cao thông qua việc sử dụng nhiều nợ (FL) và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu

Mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 chỉ số ROA, ROE cho thấy thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản - sử dụng nhiều nợ hơn gồm cả tiền gửi hoặc nhiều vốn chủ sở hữu hơn

Biểu đồ 10: Chỉ số ROA và ROE NH ACB

Trang 11

Biểu đồ 11: Chỉ số ROA và ROE NH VCB

Cả hai ngân hàng đều nằm trong nhóm I, các nhóm có tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu trên 9.000 tỷ đồng Giai đoạn 2010 đến nay tỷ lệ NIM được duy trì ở mức trung bình 2.70% Khoảng cách biến động giữa các năm của 2 ngân hàng không lớn điều này chứng tỏ rằng cả 2 ngân hàng đều có sự quản lý tốt trong việc kiểm soát chi phí lãi Năm 2011, cả 2 ngân hàng đều cải thiện được hệ số NIM so với năm 2010 và đều vượt chỉ tiêu so với toàn ngành do mặt bằng lãi suất tăng cao Nhìn chung thì NIM của VCB cao hơn so với NH ACB ở cả năm 2010 và 2011, nhưng 6 tháng đầu năm 2012 thì tỉ lệ thu nhập lãi cận biên của ACB tăng vượt lên so với VCB Vậy trong năm 2012 ACB đã duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng chi phí tốt hơn VCB, nên ACB tốt hơn trong hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp

Trái lại, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồng thu ngoài lãi chủ yếu là thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu như tiền lương, chi phí sửa chữa, chi phí tổn thất tín dụng…và chênh lệch ngoài lãi thường âm- chi phí ngoài lãi nhìn chung vượt quá thu từ phí mặc dù tỷ lệ thu

từ phí trong tổng các nguồn thu của ngân hàng đã tăng rất nhanh trong những năm gần đây Theo bảng số liệu đã cung cấp, năm 2010 và 2011 chi phí ngoài lãi của VCB vượt quá thu từ phí nhiều hơn so với ACB và năm 2011 vượt hơn nhiều so với 2010, chứng tỏ trong 2 năm này VCB tỷ lệ phí ngoài lãi của VCB tăng hơn do tăng về các chi phí bảo hành, sửa chữa hay tổn thất tín dụng Nhưng vào 6 tháng đầu năm 2012 thì

tỷ lệ chi phí ngoài lãi của 2 ngân hàng nhìn chung đã giảm và VCB giảm nhanh hơn ACB, cho thấy VCB đã kiếm soát tốt một số chi phí hoạt động của mình

Chỉ tiêu NRST, thu nhập cận biên trước các giao dịch đặc biệt đo lường thu nhập của ngân hàng từ những nguồn ổn định bao gồm cả thu nhập từ khoản cho vay, đầu tư

và thu phí từ việc bán các dịch vụ tài chính so với tổng nguồn vốn của ngân hàng Trong năm 2011 và đầu năm 2012 thì NRST của ACB lớn hơn VCB cho thấy lãi từ hoạt động kinh doanh chứng khoán và lãi thu từ các khoản bất thường của ACB tốt hơn so với VCB và với năm 2010, vì 2010 thu nhập cân biên trước giao dịch đặc biệt thấp hơn VCB

Cuối cùng, thu nhập trên cổ phiếu (EPS) đo lường trực tiếp thu nhập của những

Trang 12

người sở hữu ngân hàng, các cổ đông tính trên mỗi cổ phiếu đang lưu hành Năm

2010, EPS của ACB lớn hơn VCB là 650 đồng Đến 2011 VCB vẫn giữ nguyên mức tăng trưởng, trong khi ACB tăng mạnh từ 2489 lên mức 3488 Dẫn đến thu nhập của các cổ đông tăng lên nhiều nên ảnh hưởng tốt đên tâm lý của nhà đầu tư

Đơn vị: EPS đồng, GIÁ ngàn đồng

Biểu đồ 12: Tăng trưởng EPS_giá(VCB)

Đơn vị: EPS đồng, GIÁ: ngàn đồng

Biểu đồ 13: Tăng trưởng EPS_giá (ACB)

Trang 13

3 Quản trị rủi ro và chiến lược phát triển

3.1 Quản trị rủi ro

3.1.1 Rủi ro thanh khoản

Qua biểu đồ tỷ lệ Dư nợ/Tiền gửi, nhận thấy nhóm các NHTMCP là nhóm đang phải đối mặt với rủi ro thanh khoản lớn hơn so với các nhóm các NHTMQD, hầu như huy động tiền gửi không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay nên phải lệ thuộc khá nhiều vào thị trường liên ngân hàng làm gia tăng sự lệ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài, mà đa phần nguồn vốn này phải chịu chi phí cao hơn so với huy động từ khách hàng và đặc biệt là tính ổn định không lớn Và cũng vì thương hiệu kém nên khả năng huy động vốn của nhóm này khá thấp thể hiện ở tỷ lệ Tiền gửi/Vốn chủ sở hữu ở mức thấp hơn Hầu hết các NHTMCP chấp nhận rủi ro để tăng trưởng tín dụng trong khi các nhóm

NH lớn hơn thắt chặt tín dụng để đảm bảo độ an toàn trong giai đoạn khó khăn, vì áp lực tăng lợi nhuận theo yêu cầu của cổ đông trong tiến trình gia tăng vốn điều lệ theo yêu cầu của Chính phủ trong thời gian qua Chính vì vậy, hầu hết các NHTMCP đối mặt với nhiều rủi ro thanh khoản trong trường hợp khách hàng đến rút tiền

Biểu đồ 14: Tỷ lệ dư nợ/tiền gửi của hệ thống NHTM từ năm 2009 đến nay

Trang 14

Biểu đồ 14: Tỷ lệ tiền vay/Tiền gửi khách hàng bằng ngoại tệ 9TCTD

Tỷ lệ tiền vay/Tiền gửi khách hàng bằng ngoại tệ bình quân của 9 TCTD niêm

yết tại 30/06/2012 là 139% tăng nhẹ so với hồi đầu năm (128%), nếu bao gồm cả khoản ngoại tệ vay gửi tại từ các tổ chức tín dụng khác, chỉ số này là 118%, giảm so với hồi đầu năm (127%) Trong đó, ACB có tỷ lệ tiền vay/gửi của khách hàng bằng ngoại tệ cũng vượt mức 175% Tuy nhiên, nếu xét cả khoản ngoại tệ vay gửi tại/từ các

tổ chức tín dụng khác ACB là tổ chức dẫn đầu với tỷ lệ cho vay ngoại tệ cao hơn mức 200%; các ngân hàng còn lại đều ở mức vừa Bình quân 9 TCTD có tỷ lệ cho vay bằng ngoại tệ/tổng dư nợ cho vay khách hàng tại ngày 30/6/2012 là 25,26% tăng nhẹ so với thời điểm đầu năm (24,59%) VCB và ACB đều có dư nợ cho vay khách hàng bằng ngoại tệ trên tổng dư nợ cao hơn 25,26%

Tỷ lệ

an toàn vốn CAR(%)

Trang 15

Bảng 4:Các chỉ tiêu an toàn (Nguồn các báo cáo thường niên và BCTC ngân hàng)

Song song với sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn tiềm lực của các NHTMCP mà nổi bật nhất trong số đó là ngân hàng Á Châu, thì các ngân hàng này cũng vẫn luôn đạt được những chỉ số an toàn trong hoạt động tín dụng tích cực hơn và càng ngày càng có tính ổn định qua các năm Chỉ tiêu dư nợ cho vay trên huy động vốn của ngân hàng ACB từ năm 2009 đến nay luôn dao động ở mức khoảng 56%, ít hơn so với ngân hàng VCB là 84% Mặc dù thống lĩnh thị trường tín dụng vẫn là các NHTMQD tuy nhiên khoảng cách này so với các NHTMCP ngày càng được thu hẹp dần, sự phát triển của các NHTMQD theo thời gian đang có chiều hướng sụt giảm kèm theo đó là nguy cơ tỷ lệ nợ xấu gia tăng Từ năm 2009 đến nay tỷ lệ nợ xấu của NH VCB luôn duy trì ở mức khá cao (khoảng 2,8%) và có chiều hướng tăng theo các năm Trong khi đó tỷ lệ an toàn vốn trong cơ cấu của các NH đều cao hơn mức an toàn vốn tối thiểu mà NHNN đặt ra (9%), đảm bảo cho hoạt động tín dụng NH diễn ra ít rủi ro hơn, tính linh hoạt trong cơ cấu tài chính của NH sẽ cao hơn Tuy nhiên điểm khác biệt

đó là tỷ lệ an toàn vốn CAR của NH VCB qua các năm có sự dao động với biên độ lớn hơn so với NH ACB, điều này nói lên sự khác nhau về tính ổn định trong cơ cấu vốn của NHTMQD và NHTMCP

Nhìn chung thời gian qua, hệ thống NHTMCP mặc dù duy trì mức tăng trưởng dư nợ trong năm cao, song các NHTMCP vẫn kiểm soát được rủi ro ở mức độ an toàn Tỷ lệ nợ xấu luôn được kiềm chế ở mức thấp hơn so với trung bình của toàn ngành và thấp hơn khá xa so với chuẩn cho phép 3-5% của quốc tế ngay cả trong giai đoạn nền kinh

tế Việt Nam phải chịu tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.Tuy nhiên, Điều này cho thấy khả năng quản trị rủi ro tín dụng của hệ thống NTMCP chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng, nợ có khả năng mất vốn của Ngân hàng tăng mạnh

Tỷ lệ Nợ xấu/Dư nợ (%)

Ngày đăng: 17/05/2017, 16:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thành phần cổ đông sở hữu chính. - phân tích đánh giá hoạt động ngân hàng acb và vcb
Bảng 1 Thành phần cổ đông sở hữu chính (Trang 4)
Bảng 2: Các chỉ tiêu cơ bản của NH VCB - phân tích đánh giá hoạt động ngân hàng acb và vcb
Bảng 2 Các chỉ tiêu cơ bản của NH VCB (Trang 8)
Bảng 4:Các chỉ tiêu an toàn (Nguồn các báo cáo thường niên và BCTC ngân hàng) - phân tích đánh giá hoạt động ngân hàng acb và vcb
Bảng 4 Các chỉ tiêu an toàn (Nguồn các báo cáo thường niên và BCTC ngân hàng) (Trang 15)
Bảng 6: so sánh mức độ rủi ro tổng TS có - phân tích đánh giá hoạt động ngân hàng acb và vcb
Bảng 6 so sánh mức độ rủi ro tổng TS có (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w