KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG- THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Xã hội học Mã số: 60 31 0
Trang 1KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG- THÀNH
PHỐ HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Thị Kiều Trang
Trang 22 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI, năm 2016
Trang 3Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa Học Xã Hội Người hướng dẫn khoa học: Ts Đỗ Thị Vân Anh
Phản biện 1: Ts Mai Thị Kim Thanh
Phản biện 2: Ts Bùi Thị Thanh Hà
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
Lúc giờ 14h ngày 17 tháng 4 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đồng tính, song tính, chuyển giới được xem như một xu hướng tính dục độc lập bên cạnh xu hướng di tính Tuy không thể thống kê một cách chính xác nhưng các nhà khoa học ước tính cộng đồng người này chiếm khoảng 3% dân số một nước Tỷ lệ này gần như không thay đổi giữa các quốc gia, thời đại hoặc nền văn hóa
Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập, xã hội ngày càng phát triển, cách nhìn nhận của con người về cuộc sống ngày càng thay đổi.Theo báo cáo của Trung tâm Bảo vệ và Thúc đẩy Quyền của người Đồng tính, Song tính và Chuyển giới (ICS) tổ chức nhân ngày Thế giới chống kỳ thị người Đồng tính, Song tính và Chuyển giới đưa ra: Tính theo “tỷ lệ an toàn” đã được nhiều nhà khoa học thừa nhận với mức 3%, Việt Nam hiện có khoảng 1,65 triệu người đồng tính và lưỡng tính trong độ tuổi 15-59; đa phần trong số họ đang phải chịu kỳ thị, định kiến, kể cả bạo lực Họ cũng phải chịu những thiệt thòi về cơ hội học tập, công việc, hôn nhân và chăm sóc sức khỏe.Đặc biệt, đối với một nhóm người thiểu số song tính, đồng tính, chuyển giới cộng đồng người Việt Nam chưa thực sự có cái nhìn cởi
mở và coi họ là những người bình thường Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), trước năm 1994 trên Thế giới vẫn quan niệm rằng, đồng tính là một căn bệnh thuộc nhóm bệnh lệch lạc giới tính và có liên quan đến các biểu hiện suy đồi đạo đức Thậm chí một số quốc gia còn liệt đồng tính thuộc bệnh
Trang 7tâm thần và cần theo dõi đặc biệt.Tại những nước theo đạo Hồi, đồng tính là vấn đề không thể khoan dung Người đồng tính luyến ái thường bị lăng mạ, bị cấm đoán, bị trừng phạt, thậm chí bị tử hình chỉ vì có xu hướng tình dục khác biệt Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử với người đồng tính không chỉ xảy ra ở những quốc gia Hồi giáo Trung Đông mà ngay cả ở những xã hội cởi mở như Hoa Kỳ, định kiến và phân biệt đối xử với người đồng tính luyến ái vẫn còn tồn tại Theo điều tra của Viện nghiên cứu dư luận xã hội Mỹ, 41% dân số
Mỹ cho rằng nếp sống của người đồng tính luyến ái mâu thuẫn với nếp sống của những cư dân còn lại Sự miệt thị và ghê sợ người đồng tính luôn đi kèm với nhau mà hậu quả là hàng năm ở Mỹ có hàng chục người đồng tính luyến ái bị sát hại Người ta nhận thấy tất cả những trường hợp trên đều chứa đựng chung một yếu tố là thành kiến chống lại sự bất thường về giới và xu hướng tình dục của những người đồng tính
Từ sau năm 1994, các nhà khoa học đã nhận ra sai lầm của mình nên từ đó đồng tính luyến ái không bị coi là bệnh Họ nhận ra rằng đây là một hiện tượng, một thiên hướng tình dục bình thường
Sự thay đổi về nhận thức tại các quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là những nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức đã góp phần tạo nên cách nhìn đúng đắn hơn về những người đồng tính nói riêng và cộng đồng LGBT nói chung Mặc dù vậy, một thực tế vẫn đang tồn tại ở Việt Nam là chúng ta vẫn chưa thực sự hiểu rõ về thế nào là đồng tính, song tính, chuyển giới Theo kết quả thống kê năm 2010 tại Việt Nam của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường
Trang 8(iSEE), 67,25% trong tổng số 3.231 người đồng tính trả lời hoàn toàn
bí mật hoặc gần như bí mật về bản dạng giới của mình Hai lý do chính để người đồng tính muốn giữ bí mật xu hướng tình dục là lo sợ
bị xã hội kỳ thị (41%) và gia đình không chấp nhận (39%) Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xu hướng hội nhập và giao lưu với văn hóa phương Tây, Đặc biệt, việc kết hôn giữa người cùng giới tính trong Luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam đã được sửa đổi kể từ ngày 1/1/2015, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng có quy định cụ thể: “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8) Đây là động lực rất lớn dẫn tới sự biến đổi mạnh mẽ trong thái
độ, hành vi của nhiều người dân đối với nhiều vấn đề của xã hội, đặc biệt bản thân những người đồng tính, song tính, chuyển giới đã mạnh
mẽ đứng lên đòi quyền con người và quyền được đối xử bình đẳng trong xã hội Mặc dù vậy, họ vẫn chịu nhiều áp lực, khó khăn
Khác với người đồng tính nam, được biết đến và nhận hỗ trợ nhiều hơn trong xã hội, người nữ yêu nữ dám đối mặt và tiết lộ về bản thân không nhiều Các nghiên cứu, bài viết về người đồng tính nói chung, nữ đồng tính nói riêng đã chỉ ra những áp lực, định kiến
từ phía xã hội dành cho nhóm người này vẫn còn không ít Thành phố Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ phát triển nhanh,văn minh và hiện đại nhất Nơi tập hợp rất nhiều những người đồng tính nữ đã và đang mong muốn được khẳng định xu hướng tính dục của bản thân với cộng đồng và xã hội Đề tài chọn nghiên cứu trường hợp tại địa bàn này với mong muốn tập trung nhìn nhận
Trang 9những khó khăn mang lại đối với người nữ đồng tính Với mục tiêu nhằm làm rõ câu hỏi: Theo cách nhìn nhận của những người nữ đồng tính hiện nay, họ phải đối mặt với những khó khăn nào? Những nhóm người khác nhau trong xã hội nhìn nhận sao về những khó khăn của họ? Khó khăn nào ảnh hưởng tới cuộc sống của người đồng tính nữ? Trong những khó khăn gặp phải, trở ngại nào khiến họ có cảm giác khó vượt qua nhất? Sự kỳ thị nguy hiểm ở chỗ, nó không chỉ biến một nhóm người thành nạn nhân mà nó biến cả xã hội thành thủ phạm, khi người ta phân tách nhóm, tạo ra đặc quyền của đa số
và đong đếm phẩm giá từng người dựa trên việc người đó khác biệt
so với số đông như thế nào, và bình thường hóa, biến nó thành sự hiển nhiên, tiêu chuẩn Với mong muốn được góp phần giảm bớt sự
kỳ thị từ xã hội với người đồng tính nữ, tác giả đi đến thực hiện đề
tài “Khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định
xu hướng tính dục của bản thân.”(Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hà Đông - Thành phố Hà Nội)
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu này là nhận diện được những khó khăn của người đồng tính nữ từ hai phía: Thứ nhất nhìn nhận những khó khăn từ chính bản thân người đồng tính Thứ hai, nhìn nhận những khó khăn này từ cộng đồng xã hộitại thành phố Hà Nội.Từ đó đưa ra những khuyến nghị cho cộng đồng và người đồng tính nữ nhằm giảm bớt những khó khăn trong quá trình công khai xu hướng tính dục của người đồng tính nữ nói riêng và người đồng tinh Việt Nam nói chung
Trang 102.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ nghiên
cứu đề tài
Tìm hiểu thực trạng khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân: Tiếp cận từ hướng nhìn cộng đồng, gia đình
Tìm hiểu thực trạng khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân: Tiếp cận từ hướng nhìn bản thân người đồng tính nữ
Đưa ra một số kiến nghị nhằm định hướng về việc giảm thiểu những khó khăn của người nữ yêu nữ trong xã hội khi họ muốn công khai về xu hướng tính dục của bản thân
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Theo cách tiếp cận từ hướng nhìn cộng đồng và gia đình, người đồng tính nữ gặp phải khó khăn gì trong quá trình khẳng định
xu hướng tính dục của bản thân? Nhóm cộng đồng nào dễ dàng chấp nhận xu hướng tính dục của người đồng tính nữ?
Theo cách tiếp cận từ hướng nhìn bản thân người đồng tính
nữ, quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân gặp phải những khó khăn gì? Trong những khó khăn gặp phải, trở ngại nào khiến họ có cảm giác khó vượt qua nhất?
2.4 Giả thuyết nghiên cứu
- Sự kỳ thị của cộng đồng là nguyên nhân chính dẫn tới việc người đồng tính nữ giấu kín xu hướng tính dục của mình
- Sự định hướng thông tin của truyền thông Việt Nam về người đồng tính nữ chưa chính xác dẫn tới sự kỳ thị của cộng đồng về nhóm
Trang 113 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Nghiên cứu này tổng hợp, phân tích tài liệu và sử dụng những nghiên cứu có liên quan đến đồng tính luyến ái, là phương
Trang 12pháp được sử dụng để rút ra những thông tin có sẵn cần thiết trong tài liệu để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài
4.2 Thu thập thông tin sơ cấp
4.2.1 Phỏng vấn bán cấu trúc (phỏng vấn sâu)
Là phương pháp định tính, tiến hành phỏng vấn sâu 07 khách thể là người nữ đồng tính trên địa bàn Hà Nội với nội dung về những khó khăn và cách thức đối mặt, khắc phục khó khăn gặp phải trong cuộc sống của họ Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 3 gia đình có con là người đồng tính và 5 người bạn
4.2.2Khảo sát bằng bảng hỏi (tự ghi)
Nghiên cứu thực hiện trên 300 khách thể không bao gồm người đồng tính nữ, gồm: sinh viên, phụ huynh, cán bộ công nhân viên chức và người đi làm tự do (buôn bán, xe ôm,…) tại địa bàn thành phố Hà Nội
Phương pháp xử lý thông tin:
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để xử lý thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát Các số liệu định lượng sử dụng trong luận văn được rút ra từ cuộc khảo sát này
4.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Để tài sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, áp dụng phương pháp chọn mẫu “Quả bóng tuyết – Snowball-network sampling”
- Phỏng vấn sâu 7 người đồng tính nữ: Đề tài bắt đầu chọn mẫu có chủ đích từ một cá thể không ngẫu nhiên – một người đồng
Trang 13tính nữ từ cộng đồng “câu lạc bộ đồng tính nữ” Sau đó được sự giới thiệu của cá thể đó tới những người tiếp theo
Trang 14
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm làm việc
Việc xác định rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài không chỉ giúp chúng ta sử dụng nó như một công cụ nghiên cứu mà còn định hướng phạm vi nội dung và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
để đạt được lợi ích tinh thần nhất định Ví dụ, trong số những người đồng tính nữ, có những người đã tiết lộ cho một vài hoặc nhiều người không trong cộng đồng LGBT biết về xu hướng tính dục của bản thân, lại có những người không tiết lộ cho bất cứ ai, ngoài những người cũng trong cộng đồng LGBT Vậy, có thể thấy, việc tiết lộ hay không tiết lộ xu hướng tính dục cũng là một sự lựa chọn của người đồng tính để đạt được mục đích của mình Có những người đồng tính luôn cố gắng che dấu bản thân, điều này có nghĩa họ gặp trở ngại hoặc vấn đề gì đó, khiến họ không lựa chọn việc muốn công khai xu hướng tính dục của mình Còn với những người đã tiết lộ, có nghĩa,
Trang 15họ đã có những lựa chọn điều kiện, phương thức để công khai xu hướng tính dục của bản thân “có lợi” ở một khía cạnh nào đó
1.2.2 Tiếp cận theo lý thuyết lệch chuẩn
“Hành vi lệch chuẩn cá nhân” xảy ra khi một cá nhân hành động lệch lạc một cách đơn độc ra khỏi các chuẩn mực xã hội đã được thiết lập
“Hành vi lệch chuẩn nhóm” xảy ra khi một nhóm các thành viên hành động trái ngược với các chuẩn mực xã hội đã được qui ước Các hành vi lệch chuẩn nhóm thường thuộc loại tiểu văn hóa của nhóm Lệch chuẩn thuộc tiểu văn hóa xảy ra khi một cá nhân hay một nhóm không tuân thủ theo mong đợi chung của xã hội, nhưng hành xử theo mong đợi của nhóm Vấn đề lệch chuẩn của một nhóm xảy ra khi mong đợi của nhóm khác hoặc đi ngược với mong đợi của
xã hội Lệch chuẩn có thể thay đổi không còn là sự lệch lạc thậm chí
có thể thành chuẩn mực khi thời gian, nơi chốn và văn hóa thay đổi
Do đó, hành vi lệch chuẩn có tính tương đối
Quay trở lại vấn đề đồng tính luyến ái có là lệch chuẩn hay không, điều này sẽ thay đổi theo không gian và thời gian Tại một số nước phương Tây, việc kết hôn đồng giới được pháp luật thừa nhận, người đồng tính được thừa nhận công khai, nhưng tại Việt Nam, đây vẫn là vấn đề để ngỏ Tại Hi Lạp cổ xưa, có những đội quân là người đồng tính, họ được chấp nhận sinh sống như những người dị tính khác Nhưng hiện nay, đặc biệt là tại Việt Nam, đồng tính có là lệch chuẩn hay không vẫn đang được đánh giá bởi nhiều suy nghĩ, con mắt khác nhau Khi sử dụng lý thuyết lệch chuẩn trong nghiên cứu này nhằm
lý giải những nhận định, hành vi của cộng đồng đối với người đồng tính nữ trong thời điểm hiện tại của Việt Nam
1.2.3 Lý thuyết “Mô hình nhận diện của Cass”
Trang 16Lý thuyết “Mô hình Nhận diện của Cass”[4,tr.14,15] – lý
thuyết do Vivienne Cass đưa ra vào năm 1979 Đây là một trong những lý thuyết được các tổ chức hỗ trợ cộng đồng LGBT quan tâm chú ý và nhắc tới nhiều nhất Nội dung lý thuyết này thực chất là một
mô hình gồm sáu giai đoạn Mô hình này mang tính chất tiên phong,
nó được xây dựng trên cái nhìn bình đẳng về các xu hướng tính dục
và đã xem xét đến cả yếu tố kỳ thị động tính Mô hình này lấy bối cảnh Xã hội còn xem đồng tính là bất thường và kỳ thị họ Cass mô
tả một quá trình gồm 6 giai đoạn khi một người đồng tính nam hoặc
nữ nhận diện mình là đồng tính và hòa nhập với xã hội xung quanh
Theo ICS, có thể các giai đoạn của Cass được trình bày theo dạng nối tiếp nhau, nhưng trên thực tế, tùy vào mỗi cá nhân, tùy vào hoàn cảnh riêng mà không nhất thiết các giai đoạn này phải trải qua lần lượt Có cá nhân sẽ bỏ qua, có cá nhân sẽ quay ngược hoặc ở một giai đoạn nào đó nhiều lần trong đời Các giai đoạn mà Cass đưa ra mang tính chất tổng hợp nhất, không áp dụng riêng biệt cho một trường hợp cụ thể nào Mô hình nhận diện của Cass gồm 6 (sáu) giai đoạn như sơ đồ 2.1 Việc Cass chỉ ra sáu giai đoạn trong quá trình nhận diện của người đồng tính có ý nghĩa khá quan trọng đối với các nghiên cứu về LGBT nói chung và những tìm hiểu về người đồng tính nói riêng Như đã nói, các giai đoạn có thể không được sắp xếp theo bất cứ thứ tự nào, nó phụ thuộc vào việc bản thân cá nhân đón nhận vấn đề ra sao, môi trường hoàn cảnh cá nhân đang tồn tại như thế nào…
Trang 17CHƯƠNG 2 KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN: TIẾP CẬN TỪ HƯỚNG NHÌN CỘNG ĐỒNG VÀ GIA ĐÌNH 2.1Những khó khăn mang lại từ phía cộng đồng sinh sống (bạn bè/ thầy cô/ hàng xóm/ đồng nghiệp)
2.1.1Nhận thức về đồng tính nữ:
Đồng tính nữ là thuật ngữ đã được du nhập vào Việt Nam cách đây không lâu, trước sự xuất hiện của HIV/AIDS tại Việt Nam đầu thập niên 1990, có rất ít thông tin về người đồng tính Từ năm
2008, sự xuất hiện của các tổ chức lớn hoạt động dành cho người đồng tính ở Việt Nam đã thu hút được rất nhiều người tham gia, đồng nghĩa với tỷ lệ tỷ lệ người biết đến thuật ngữ này cũng ngày càng nhiều hơn Đặc biệt, những tranh cãi trong sửa đổi luật Hôn nhân và gia đình về kết hôn đồng tính cũng đã được dư luận cả nước biết đến Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng có quy định cụ thể: “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8)
Dựa trên thực trạng nêu trên, đề tài tiến hành khảo sát trên
300 khách thể tại thành phố Hà Nội về những khái niệm, quan điểm
cơ bản nhất về đồng tính nữ, kết quả thu về cho thấy tỷ lệ người chưa bao giờ nghe đến thuật ngữ đồng tính nữ là rất ít, chỉ chiếm 5%
và phần lớn đều là những người lớn tuổi trong cộng đồng hoặc là ông/bà người thân trong gia đình của người đồng tính nữ Tỷ lệ người đã từng nghe (chiếm 31%) và nhận biết về thuật ngữ đồng tính
nữ chiếm tỷ lệ rất cao (57%) Qua quá trình khảo sát thì phần lớn đều