1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện lương tài, tỉnh bắc ninh

101 381 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng xã, phường, thị trấn vững mạnh là một trong những vấn đề cơ bản có ý nghĩa quan trọng, trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, nhất là đội ngũ cán bộ,

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHÙNG THỊ TÂM

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số : 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ XUÂN SANG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực Những kết luận, kiến nghị đề cập tại Luận văn là vấn đề mới chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phùng Thị Tâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam - Những người đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức

và tạo điều kiện giúp tôi thực hiện bản Luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS Lê Xuân Sang đã dành nhiều thời gian để xem xét và tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện Lương Tài, các phòng ban chức năng của huyện Lương Tài; Đảng ủy, UBND các xã, thị trấn của huyện Lương Tài

đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu, nghiên cứu trên địa bàn huyện

Chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phùng Thị Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN

BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ………7

1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp xã ……… 7 1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 25

Chương 2: THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH……… 30

2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 30 2.2 Thực trạng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực phát triển kinh tế của huyện Lương Tài 33 2.3 Thực trạng công tác nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài 53 2.4 Các nhân tố ảnh hưởng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài 57

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH……….63

3.1 Bối cảnh, cơ hội, thách thức, sự cần thiết nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp

xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài 63 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC : Cán bộ công chức CNH : Công nhiệp hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội HĐND : Hội đồng nhân dân HĐH : Hiện đại hóa

QLNN : Quản lý nhà nước QLKT : Quản lý kinh tế

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 6

trường huyện Lương 37

Bảng 2.5: Thông tin đội ngũ công chức Tư pháp - hộ tịch xã 39 Bảng 2.6: Thông tin về cán bộ, công chức Tài chính - kế toán 41 Bảng 2.7: Đánh giá về các kỹ năng làm việc của CBCC cấp xã trong lĩnh vực kinh tế

huyện Lương Tài 47

Bảng 2.8: Đánh giá về mức độ hoàn thành công việc của cán bộ, công chức cấp xã trong

lĩnh vực kinh tế huyện Lương Tài 49

Bảng 2.9: Nhận xét, đánh giá của người dân về trình độ năng lực, đạo đức lối sống, quan

hệ với nhân dân, chuyên môn và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Lương Tài 50

Bảng 2.10: Đánh giá của người dân về tinh thần, trách nhiệm và thái độ làm việc của

công chức cấp xã huyện Lương Tài 51

Bảng 2.11: Đánh giá của cán bộ, công chức huyện về khả năng giải quyết công việc và

quan hệ với nhân dân của cán bộ công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế huyện Lương Tài 51

Bảng 2.12: Đánh giá của cán bộ, công chức huyện về năng lực của cán bộ, công chức

cấp xã trong lĩnh vực kinh tế huyện Lương Tài 52

Bảng 2.13: Số lượng các lớp đã đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ cấp xã

(từ năm 2014-2016) 54

Bảng 2.14: Ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan đến nâng cao năng lực CBCC cấp xã

trong lĩnh vực kinh tế huyện Lương Tài 59

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân - là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương Trong đó chính quyền địa phương (cấp xã, phường, thị trấn) là đơn vị góp phần quan trọng Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở trong hệ thống tổ chức hành chính 4 cấp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi nhân dân địa phương trực tiếp sinh sống, học tập và lao động sản xuất

Xây dựng xã, phường, thị trấn vững mạnh là một trong những vấn đề cơ bản có ý nghĩa quan trọng, trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, nhất

là đội ngũ cán bộ, công chức xã trong lĩnh vực kinh tế có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ là hết sức cần thiết bởi cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn

là người gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với dân, hàng ngày triển khai, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; trực tiếp lắng nghe, giải quyết và phản ánh những kiến nghị, nguyện vọng của nhân dân với Đảng và nhà nước Năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta

Xuất phát từ vị trí, vai trò của xã, phường, thị trấn, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002

về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, nêu rõ vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trong giai đoạn hiện nay Đây là lần đầu tiên Đảng ta có nghị quyết riêng về xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, cho thấy rõ tầm quan trọng, yêu cầu cần thiết của nhiệm vụ củng cố vững mạnh đất nước ngay từ cơ sở

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế là người trực tiếp hàng ngày tiếp xúc với nhân dân, là những người trực tiếp truyền đạt chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước đến nhân dân, hơn nữa trong bối cảnh đất nước hiện nay đang trong thời kỳ CNH, HĐH ngày càng phát triển phức tạp, tinh vi và mở cửa hội nhập trong khi năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn hạn chế

Trang 8

Do đó, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế ở

cơ sở đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trở thành một yêu cầu quan trọng, một nhiệm vụ cấp bách phải được nhận thức đầy đủ và triển khai một cách có hiệu quả Để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế ở cơ sở vững mạnh, cần phải tập trung làm rõ những vấn đề có tính lý luận, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, vừa giải quyết yêu cầu trước mắt, vừa phải có tính chiến lược lâu dài

Là một trong tám huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện Lương Tài, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức trong lĩnh vực kinh tế đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế,

xã hội của huyện, tuy nhiên để đáp ứng cao hơn những yêu cầu trong giai đoạn phát triển mới, thì cần thiết phải có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế nói riêng không ngừng được nâng cao năng lực

và khả năng tổ chức thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân

Từ nhận thức trên, qua thực tiễn trực tiếp làm công tác tổ chức cán bộ cấp huyện,

xã tuy kinh nghiệm trong lĩnh vực này chưa nhiều song với mong muốn đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, giải quyết những vấn đề cần thiết từ thực tiễn hiện nay đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

nói chung và ở huyện Lương Tài nói riêng, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu, khảo sát về đội ngũ CBCC, xây dựng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội và các nhà hoạt động chính trị quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Nhiều công trình đã góp phần giải đáp những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn đối với yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là ở cấp xã nói riêng Một số công trình đã đề cập khá sâu

Trang 9

các quan điểm, giải pháp về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã như:

PGS Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung luận cứ đưa ra cơ sở lý luận trong

sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, các quan điểm và phương hướng trong việc nâng cao chất lượng công tác cán bộ Điểm nổi bật của luận cứ là việc đưa ra nội dung, “tiêu chuẩn hóa cán bộ” đây là một quan điểm đổi mới trong công tác cán bộ mà tác giả có thể vận dụng và kế thừa trong luận văn của mình để đưa ra các tiêu chuẩn hóa công chức cấp xã phù hợp với huyện Lương Tài trong

xu thế phát triển của thời đại và đặc trưng của huyện Lương Tài

Cùng quan tâm nghiên cứu về đề tài xây dựng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, tác giả Lê Thị Lý có Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia (2003) về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trước yêu cầu đổi mới” và tác giả Nguyễn Thị Hải có Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính (2001) về “Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở Thái Bình trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước” cũng đã làm sáng

tỏ thêm nhiều vấn đề lý luận về vai trò của tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; những tiêu chuẩn và yêu cầu đối với đội ngũ CBCC cấp xã trong điều kiện đổi mới và cải cách nền hành chính; đưa ra được những giải pháp để đổi mới tổ chức, hoạt động chính quyền cấp xã và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới

Đi sâu nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã đã có nhiều công trình, đề tài của nhiều tác giả: Tác giả Cao Thị Minh Nguyệt có luận văn Thạc sỹ (2014) về “nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong quản lý kinh tế trên địa bàn thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An” đã nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong quản lý kinh tế và đưa ra các giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đặc biệt là tác giả Nguyễn Thị Thảo có Luận văn thạc sỹ quản trị nhân lực (2014) về “nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp

xã huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Trang 10

Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề chất lượng công chức nói chung dưới góc độ lý luận cũng như sự vận dụng lý luận đó vào tình hình thực tiễn, đó đều là những công trình, sản phẩm của trí tuệ có giá trị và ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, là cơ sở kết thừa cho việc nghiên cứu tiếp theo

Tuy nhiên, những đề tài này mới chỉ đề cập được những vấn đề chung đối với đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế trong cơ chế quản lý mới, chưa đi sâu nghiên cứu và đưa ra được các giải pháp thiết thực để xây dựng đội ngũ công chức trong lĩnh vực kinh tế ở cấp cơ sở Đứng trước xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập thì vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt là đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế vẫn hết sức cấp thiết Việc nghiên cứu trực tiếp

về vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào Vì vậy, việc chọn nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của

hệ thống chính trị cơ sở huyện Lương Tài hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã trong

lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng năng lực cán bộ công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế ở

huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã trong lĩnh vực kinh

tế nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay và được cụ thể hóa bằng ba mục tiêu cụ thể sau:

+ Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cán bộ công chức cấp xã

+ Thứ hai, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đội ngũ cán

bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế

+ Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là năng lực CBCC cấp xã trong lĩnh vực kinh tế ở huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

- Khách thể nghiên cứu là đội ngũ CBCC cấp xã, CBCC cấp huyện và người dân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;

- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tình hình và số liệu trong 03 năm, từ năm 2014 đến năm 2016 và định hướng đến năm 2020;

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu đội ngũ CBCC cấp xã và các vấn đề liên quan đến năng lực đội ngũ CBCC cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực nói chung và chất lượng cán bộ, công chức nói riêng Ngoài ra còn dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta Chủ nghĩa Mác - Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, về chính quyền cấp xã và đội ngũ cán bộ QLNN cấp xã về kinh tế

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh để đánh giá thực trạng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế trên địa bàn huyện Lương Tài

- Đặc biệt Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp điều tra, khảo sát gồm: Chọn nhóm điều tra

Nhóm 1: Điều tra CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, điều tra 65 phiếu Trong đó: 28 cán bộ, 37 công chức

Lương Tài, điều tra 40 phiếu

Nhóm 3: Người dân trên địa Nhóm 2: CBCC cấp huyện ở huyện bàn nghiên cứu, điều tra 60 phiếu

Chọn địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành ở các cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở trên địa

Trang 12

bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài được tiến hành ở 02 xã và 01 thị trấn trên địa bàn huyện để tiến hành khảo sát nghiên cứu sâu

Địa điểm điều tra ở 03 đơn vị: gồm Thị trấn Thứa, 01 xã loại 3 là Lai Hạ và 01 xã loại 2 là An Thịnh Đây là những đơn vị tiêu biểu: 01 đơn vị là thị trấn của huyện, 01 xã đại diện cho các xã loại 2 đông dân cư và 01 xã đại điện cho các xã loại 2 dân cư ít hơn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hóa, làm rõ một số cơ sở lý luận về năng lực cán bộ, công

chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Làm rõ thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài; rút ra những kết quả, hạn chế, bất cập và nguyên nhân làm cơ sở đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp xã trong giai tới;

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo, cung cấp thêm các luận cứ khoa học giúp cho các cơ quan, lãnh đạo huyện, các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lương Tài áp dụng, chỉ đạo vào thực tiễn và lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nhằm đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn cách mạng mới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cán bộ, công chức cấp xã trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

- Chương 2: Thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC

CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cán bộ, công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm cơ bản về cán bộ công chức cấp xã

1.1.1.1 Khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã và hệ thống đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở Việt Nam

* Khái niệm về cán bộ, công chức:

Theo quy định tại khoản 1, 2 điều 4 Luật cán bộ Công chức 22/2008/QH12 của Quốc hội banh hành quy định:

“Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản

lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”

* Khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã:

Theo quy định tại khoản 3 điều 4 Luật cán bộ Công chức 22/2008/QH12 của Quốc hội ban hành quy định:

“Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng

Trang 14

giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”

CBCC cấp xã được quy định tại Luật CBCC năm 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, như sau:

Cán bộ cấp xã gồm có:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức cấp xã gồm có:

- Trưởng Công an;

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn hóa - Xã hội

1.1.1.2 Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã

Trang 15

- Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội, có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương;

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tụy với dân Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;

- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao

* Số lượng cán bộ, công chức cấp xã:

Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí phân theo loại đơn vị hành chính

xã, phường, thị trấn như sau:

- Đối với xã, phường, thị trấn loại 1: không quá 25 người

- Đối với xã, phường, thị trấn loại 2: không quá 23 người

- Đối với xã, phường, thị trấn loại 3: không quá 21 người

1.1.1.3 Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã

Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là đội ngũ cán bộ, công chức Cán

bộ, công chức là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" và "Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động ở địa phương, cơ sở; đề ra những nhiệm vụ, biện pháp để cụ thể hóa đường lối, chính sách và tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo quyền lợi chính đáng của công dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

Cán bộ, công chức cấp xã là những người quản lý, điều hành, chỉ đạo, tổ chức và phát động phong trào Đồng thời, là người theo dõi, kiểm tra và nhân rộng phong trào của quần chúng, khai thác tối đa các nguồn lực cả về vật chất, tinh thần, cả nội lực, ngoại lực ở cơ sở vì mục tiêu phát triển địa phương vững mạnh Qua đó phát hiện, nhân rộng

Trang 16

những nhân tố mới, những cách làm hiệu quả Với ý nghĩa đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định thúc đẩy các cuộc vận động cách mạng ở địa phương, cơ sở

1.1.2 Chức năng kinh tế của chính quyền cấp xã và đặc điểm, sự khác biệt của cán bộ, công chức cấp xã

1.1.2.1 Chức năng kinh tế của chính quyền cấp xã

- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và tổ chức thực hiện kế hoạch đó;

- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết và lập quyết toán ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp;

- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn xã, thị trấn và báo cáo về ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

- Quản lý và sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại phục vụ các nhu cầu công ích ở địa phương; xây dựng và quản lý các công trình công cộng, đường giao thông, trụ sở, trường học, trạm y tế, công trình điện, nước theo quy định của pháp luật;

- Huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, thị trấn trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật

- Tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khuyến khích phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển sản xuất và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi trong sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chung và phòng trừ các bệnh dịch đối với cây trồng và vật nuôi;

- Tổ chức việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ; thực hiện việc tu bổ, bảo vệ

đê điều, bảo vệ rừng; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều, bảo vệ rừng tại địa phương;

- Quản lý, kiểm tra, bảo vệ việc sử dụng nguồn nước trên địa bàn theo quy định

Trang 17

của pháp luật;

- Tổ chức, hướng dẫn việc khai thác và phát triển các ngành, nghề truyền thống ở địa phương và tổ chức ứng dụng tiến bộ về khoa học, công nghệ để phát triển các ngành, nghề mới

- Tổ chức thực hiện việc xây dựng, tu sửa đường giao thông trong xã theo phân cấp;

- Quản lý việc xây dựng, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ ở điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về xây dựng và

xử lý vi phạm pháp luật theo thẩm quyền do pháp luật quy định;

- Tổ chức việc bảo vệ, kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm đường giao thông và các công trình cơ sở hạ tầng khác ở địa phương theo quy định của pháp luật;

- Huy động sự đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng đường giao thông, cầu, cống trong xã theo quy định của pháp luật

1.1.2.2 Đặc điểm của cán bộ công chức cấp xã

- Thuộc cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp của nhà nước

ta, chịu sự quản lý trực tiếp của cấp Huyện

- Đội ngũ CBCC cấp xã là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao

- Đội ngũ CBCC cấp xã hầu hết đều là người địa phương, sinh sống tại địa phương,

có quan hệ dòng tộc với người dân CBCC chính quyền cấp xã có tính ổn định thấp so với CBCC nhà nước cấp trên, có tính chuyên môn hoá thấp, kiêm nghiệm nhiều

- Đội ngũ CBCC cấp xã hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có bề dày kinh nghiệm và hiểu biết

- Đội ngũ CBCC cấp xã là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng CBCC chính quyền cấp xã là người đại diện cho quần chúng nhân dân lao động ở cơ sở Vì vậy CBCC luôn bám sát dân, gần dân, lắng nghe ý kiện nguyện vọng của nhân dân từ đó có những cách thức tiến hành công việc phù hợp và đảm bảo cho lợi ích chính đáng của nhân dân CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng từ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

Trang 18

- CBCC cấp xã cả nước hiện nay rất đông Tuy nhiên về chất lượng lại rất yếu, độ tuổi tương đối già, chính vì vậy nó là những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc không cao

1.1.2.3 Sự khác biệt đặc trưng cơ bản về chức năng, nhiệm vụ giữa cán bộ quản

lý kinh tế với công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế

- Cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ tiêu chuẩn chung của cán bộ, công chức mà được tuyển dụng thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức danh theo nhiệm kỳ tì được xác định là cán bộ Cán bộ luôn gắn với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân

- Công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh Những người đủ các tiêu chí chug của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm trong các cơ quan đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiêm trước cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao

1.1.3 Khái niệm về năng lực cán bộ, công chức cấp xã

- Theo Từ điển tiếng Việt “năng lực” là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó;

- Theo GS.VS.TS khoa học Phạm Minh Hạc thì cho rằng: “năng lực chính là một

tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một nhân cách), tổ hợp đặc điểm này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả một hoạt động nào đấy”;

- Theo các nghiên cứu về lao động xã hội hiện nay thì năng lực của cá nhân phải hội đủ hai phẩm chất cơ bản sau: Thứ nhất, có năng lực tư duy; có tri thức khoa học và kiến thức chuyên môn Thứ hai, có năng lực tổ chức thực hiện, kỹ năng thực hành để ứng dụng được tri thức, kiến thức chuyên môn Ngoài ra còn phải biết sử dụng hai công cụ bổ

Trang 19

trợ mà nhiều ngành nghề đều cần là tin học và ngoại ngữ thông dụng ngoài tiếng mẹ đẻ

Cụ thể năng lực của cán bộ, công chức bao gồm:

+ Năng lực chuyên môn: Được thể hiện trong công tác quản lý nhân sự, quản lý công nghệ thông tin, tư vấn pháp lý, thực thi công vụ, mối quan hệ với quần chúng Trong đó cốt lõi là kiểm soát thực thi mục tiêu công vụ và phương tiện để đạt được mục đích làm chủ kiến thức và quản lý được thực tiễn Năng lực chuyên môn được đánh giá qua trình độ văn hóa

Năng lực có điểm khác biệt với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ đề cập những kiến thức chuyên môn và kỹ thuật cơ bản cần có để đảm nhiệm một vị trí hoặc một tập hợp các vị trí việc làm không liên quan trực tiếp đến hoàn cảnh lao động thực tế Năng lực cán bộ, công chức luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của cơ quan, đơn vị và luôn gắn liền với thực tiễn thực thi công vụ của cán bộ, công chức và quyết định hiệu quả công việc của họ

Người có năng lực trong chiến đấu không có nghĩa là có năng lực trong tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch vụ, giỏi trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa thị trường

và cũng không có nghĩa là người đó trở thành cán bộ hay giáo viên ngay được

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người không chỉ đề cao đạo đức cách mạng mà yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải luôn học tập, rèn luyện nâng cao trình độ năng lực Người phê phán bệnh lười biếng, lười học: “Đó là một khuyết điểm rất to Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa bệnh cho người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa” [15, tr.231] và “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông" [15, tr.235]

Nhưng đồng thời lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nếu không thì đó cũng chỉ là lý luận suông mà thôi Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có

Năng lực theo Người, là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người, không phải tự nhiên mà có; năng lực được phát triển trong quá trình

Trang 20

hoạt động thực tiễn Người lười biếng, trốn tránh lao động thì năng lực không thể phát triển được

Đối với cán bộ, công chức cấp xã, ngoài những yêu cầu như cán bộ, công chức nói chung như phẩm chất đạo đức lối sống, bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn có những yêu cầu khác:

+ Có trách nhiệm lớn với nhân dân địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, vận động nhân dân tham gia hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;

+ Là đại diện cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn Mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội diễn ra trên địa bàn với nhiều tình huống nảy sinh đòi hỏi người cán bộ, công chức xã phải có trình độ chuyên môn, hiểu biết nhất định để giải quyết cho thỏa đáng

Vì vậy, năng lực của cán bộ, công chức cấp xã còn được đánh giá qua các mặt: năng lực quản lý, điều hành các hoạt động trên địa bàn; khả năng tiếp nhận và lựa chọn thông tin để ra các quyết định quản lý bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý; năng lực vận dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể và khả năng có những phản ứng, những phương án linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý; khả năng vận động quần chúng nhân dân trong quá trình tổ chức triển khai các văn bản pháp luật của Nhà nước Năng lực của cán bộ, công chức còn được đánh giá qua tác phong làm việc, phương pháp quản lý điều hành nhằm đạt hiệu quả cao nhất, kỹ năng giao tiếp với nhân dân để có những ứng xử phù hợp với nhiều đối tượng; kỹ năng tuyên truyền để giải thích thuyết phục nhân dân thực hiện chính sách của Nhà nước, kỹ năng hòa giải,

1.1.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực của cán bộ, công chức cấp xã

1.1.4.1 Về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị

- Trình độ văn hóa: không phải là yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả hoạt động

của đội ngũ cán bộ, công chức nhưng đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý của đội ngũ này Nó là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn

Trang 21

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: được hiểu là trình độ được đào tạo ở các lĩnh

vực khác nhau theo cấp độ: sơ cấp, trung cấp, đại học Đó là những kiến thức mà nhà trường trang bị cho người học theo các chuyên ngành nhất định được thể hiện qua hệ thống bằng cấp

- Trình độ lý luận chính trị: lý luận chính trị là cơ sở xác định lập trường quan

điểm của cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng Có trình độ lý luận chính trị giúp xây dựng được lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc đối với tổ chức và nhân dân theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang hình thành ở nước ta với sự tác động không nhỏ của nó (cả tích cực và không tích cực) tới cuộc sống của mỗi người trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức thì việc giữ vững tác phong, lối sống của người cán bộ là vấn đề rất quan trọng Thực tế đã có không ít cán bộ

bị sa ngã trước những cám dỗ vật chất, lối sống thực dụng, vị kỷ làm giảm uy tín của người cán bộ "là công bộc của dân", làm mất lòng tin của nhân dân Vì vậy, trình độ lý luận chính trị là một yếu tố phản ánh năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức;

- Trình độ quản lý hành chính nhà nước: Quản lý hành chính nhà nước là sự tác

động mang tính tổ chức lên các quan hệ xã hội Đó là những thủ pháp mà nhà quản lý sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra Hoạt động quản lý vừa được coi là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Để thực hiện được hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức cần phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý nhà nước thì mới có được kỹ năng, phương pháp quản

lý Thực tế cho thấy, có những cán bộ có nhiệt tình, có sức khỏe, có hiểu biết nhưng thiếu kiến thức quản lý thì năng lực hoạt động của họ cũng sẽ bị hạn chế Vì thế những kiến thức quản lý hành chính nhà nước cũng là yếu tố quan trọng trong năng lực của cán bộ

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cán bộ, công chức cấp xã còn phải có trình

độ về tin học, biết sử dụng thành thạo các thiết bị tin học phục vụ công tác chuyên môn, biết ngoại ngữ và phải có kiến thức trong nhiều lĩnh vực khác về quản lý kinh tế, quản lý

xã hội

1.1.4.2 Về sức khoẻ thể lực và trí lực

Trang 22

Sức khoẻ của mỗi con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí, song tiêu chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực Trí lực được đánh giá thông qua sự minh mẫn linh hoạt trong phản ứng xử lý công việc Nếu chỉ có trình độ chuyên môn mà không có một sức khỏe dẻo dai, bền bỉ thì cũng không thể biến năng lực chuyên môn ấy thành hoạt động thực tiễn được Sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý trong một cơ thể khoẻ mạnh cũng là một tiêu chí quan trọng của năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã;

1.1.4.3 Về thái độ làm việc

Ngoài các kiến thức về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ

và kỹ năng thực nhiệm nhiệm vụ theo chức trách đã được trang bị, đối với mỗi CBCC cấp

xã, năng lực còn bao gồm khả năng quan hệ giữa cán bộ, công chức với nhau; quan hệ với lãnh đạo cấp trên; quan hệ với các tổ chức bên ngoài và nhân dân trên cơ sở thái độ và những kỹ năng giao tiếp cần thiết

1.1.4.4 Về phẩm chất đạo đức và phẩn chất chính trị

- Phẩm chất chính trị là tiêu chuẩn đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi người cán bộ, công chức Phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức được biểu hiện trước hết là sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương;

- Phẩm chất đạo đức là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ cán bộ công chức, nó là cái "gốc" của người cán bộ Người cán bộ phải có đầy đủ đạo đức cách mạng thì mới có đủ điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng Nếu thiếu hoặc yếu kém đạo đức cách mạng sẽ không thể làm tốt công việc được giao và nó

là nguyên nhân của tệ quan liêu, tham nhũng tạo nên nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, sự sống còn của chế độ Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng Người viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [16, tr.252 - 253]

Trang 23

Người cán bộ, công chức có tinh thần đạo đức cách mạng phải là người cán bộ hội tụ đủ 5 đức tính, đó là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm Những đức tính tốt đẹp đó phải thể hiện ra bên ngoài trong công việc hàng ngày của người cán bộ Luôn luôn gương mẫu, có lối sống lành mạnh, thực hiện cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; không tham nhũng, vụ lợi cá nhân, sinh hoạt bê tha, có tinh thần đấu tranh chống tham nhũng, quan

hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, sâu sát với công việc, không quan liêu cửa quyền, gây phiền hà cho dân, tác phong làm việc khoa học, dân chủ, không chạy theo vụ lợi, nói

đi đôi với làm, làm nhiều hơn nói - Đó là những tiêu chí đánh giá đạo đức của người cán

bộ Người cán bộ phải luôn có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tập thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống văn minh, nêu gương cho quần chúng Như vậy mới tạo được lòng tin từ phía nhân dân, thuyết phục được nhân dân tin vào sự lãnh đạo của Đảng, trung thành với sự nghiệp cách mạng

1.1.4.5 Về kỹ năng giải quyết công việc

Kỹ năng làm việc của cán bộ, công chức là khả năng vận dụng những kiến thức

thu nhận được (kiến thức qua học tập, tìm tòi qua kinh nghiệm thực tiễn) trong lĩnh vực

hoạt động của mình để áp dụng vào thực tế công việc Người có kỹ năng làm việc sẽ giải quyết công việc một cách thành thạo, nhanh chóng, đầy đủ và hiệu quả nhất Thiếu kỹ năng làm việc, không hiểu quy trình làm việc hoặc hiểu nhưng lại hay “làm tắt”, cắt xén quy trình thì dẫn đến sự chậm trễ trong công việc, hay xảy ra tình trạng nhầm sót, sai lệch kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao

Như vậy, năng lực hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được xác định bởi rất nhiều tiêu chí Các tiêu chí đó là những yếu tố cơ bản có tính quyết định đến năng lực của người cán bộ, công chức cơ sở Nghiên cứu nội dung này có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

1.1.5 Mục đích và nội dung nâng cao năng lực của cán bộ, công chức cấp xã

1.1.5.1 Nâng cao trình độ của cán bộ, công chức cấp xã

Một cán bộ, công chức cấp xã có thể hoàn thành tốt được công việc của mình thì điều đầu tiên cần phải có đó chính là trình độ đào tạo; bao gồn trình đọ văn hóa,trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị…

Trang 24

- Trình độ văn hóa

Trình độ văn hóa được hiểu là đã học qua hoặc tốt nghiệp lớp mấy ở bậc học phổ thông Nó là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách trong thực tiễn

Trình độ văn hóa không phải là yếu tố quyết định năng lực của đội ngũ cán bộ, nhưng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ và năng lực của cán bộ

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện mọi hoạt động quản lý, giải quyết đa dạng tình huống phát sinh trên thực tế, nếu đội ngũ CBCC không có chuyên môn nghiệp vụ, chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết mang tính chắp vá, tùy tiện chắc chắn chất lượng, hiệu quả công việc sẽ không cao, thậm chí còn mắc sai phạm nghiêm trọng

- Trình độ tin học, ngoại ngữ của CBCC cấp xã

Khâu yếu nhất của phần lớn cán bộ công chức cấp xã ở Việt Nam là trình độ tin học, ngoại ngữ, thậm chí nhiều cán bộ công chức cấp xã chưa biết sử dụng máy vi tính, ngoại ngữ, ngại giap tiếp Do đó việc nâng cao năng lực về trình độ tin học, ngoại ngữ là quan trọng, đáp ứng yêu cầu với công việc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Trình độ lý luận chính trị của CBCC cấp xã

Lý luận chính trị là cơ sở xác định lập trường quan điểm của CBCC nhà nước nói chung và đội ngũ CBCC cấp xã nói riêng Có trình độ lý luận chính trị giúp họ xây dựng được lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc đối với tổ chức và nhân dân theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang hình thành ở nước ta với sự tác động không nhỏ của nó (cả tích cực và không tích cực) tới cuộc sống của mỗi người trong đó có đội ngũ CBCC,

do đó việc giữ vững tác phong, lối sống của người cán bộ là vấn đề rất quan trọng lòng tin của nhân dân

Quyết định 874/TTG của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/11/1996 về công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước ngay tại điểm 4 điều 1 đã ghi rõ "Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là đội ngũ CBCC nhà nước, trước mắt tập trung vào các đối

Trang 25

tượng chủ yếu là CBCC hành chính nhà nước và cán bộ chính quyền ở cơ sở cấp xã, phường" Và điểm 7 điều 2 của quyết định này đã cho biết "Đối với cán bộ chính quyền

cơ sở cấp xã, phường, thị trấn nội dung đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu là: đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, cập nhật đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; những kiến thức cơ bản về công vụ, pháp luật và hành chính"

- Trình độ quản lý nhà nước nhà nước của CBCC cấp xã:

Quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học về quản lý xã hội mang tính

quyền lực Nhà nước Đó là những kiến thức đòi hỏi các nhà quản lý phải có để giải quyết các vụ việc cụ thể đặt ra trong quá trình quản lý điều hành Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, tức là hoạt động quản lý vừa phải tuân theo các quy luật khách quan dưới ánh sáng của các khoa học trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đồng thời vừa phải linh hoạt, uyển chuyển, hợp lý hợp tình người để đạt được các mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất, mang lại lợi ích cao nhất cho Nhà nước và nhân dân trong điều kiện nguồn lực có hạn

1.1.5.2 Nâng cao sức khỏe của cán bộ, công chức cấp xã

Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người Có một sức khỏe tốt thì họ mới có thể làm được mọi công việc Sức khỏe của mỗi con người được đánh giá qua nhiều tiêu chí, song tiêu chí cơ bản nhất là thể lực và trí lực Trí lực được đánh giá thông qua sự minh mẫn, linh hoạt trong phản ứng, xử lý công việc Nếu chỉ có trình độ chuyên môn mà không có một sức khỏe dẻo dai, bền bỉ thì cũng không thể biến năng lực chuyên môn ấy thành hoạt động thực tiễn được Sự phát triển bình thường về thể chất và tâm lý trong một cơ thể khỏe mạnh cũng là một tiêu chí quan trọng của năng lực đội ngũ CBCC cấp xã;

1.1.5.3 Nâng cao phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức cấp xã

- Phẩm chất chính trị: Là tiêu chuẩn đầu tiên, là điều kiện đối với mỗi người cán

bộ, công chức Phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức được biểu hiện trước hết

là sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không dao động trước khó khăn thử thách Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó đi vào thực tiễn cuộc

Trang 26

sống của nhân dân địa phương

- Phẩm chất đạo đức: Là phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ cán bộ công

chức, nó là cái "gốc" của người cán bộ Người cán bộ phải có đầy đủ đạo đức cách mạng thì mới có đủ điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, phục vụ Đảng Nếu thiếu hoặc yếu kém đạo đức cách mạng sẽ không thể làm tốt công việc được giao và nó

là nguyên nhân của tệ quan liêu, tham nhũng tạo nên nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, sự sống còn của chế độ Chính vì vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng Người viết: "Cũng như sông thì có nguồn, mới có nước, không có nguồn thì cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"

Người cán bộ phải luôn có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tập thể, khiêm tốn, giản dị, trung thực, không cơ hội, có nếp sống văn minh, nêu gương cho quần chúng Như vậy mới tạo được lòng tin từ phía nhân dân, thuyết phục được nhân dân

1.1.5.4 Nâng cao kinh nghiệm, kỹ năng làm việc và hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã

- Kinh nghiệm: Là điều hiểu biết có được do tiếp xúc với thực tế, do từng trải

Kinh nghiệm giải quyết công việc của CBCC được rút ra từ thực tiễn công tác của CBCC

- Kỹ năng làm việc của CBCC: Là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận

được (kiến thức qua học tập, tìm tòi qua kinh nghiệm thực tiễn) trong lĩnh vực hoạt động của mình để áp dụng vào thực tế công việc Người có kỹ năng làm việc sẽ giải quyết công việc một cách thành thạo, nhanh chóng, đầy đủ và hiệu quả nhất

Trong thực thi công việc rất nhiều kỹ năng như: kỹ năng quản lý (thu thập và xử

lý thông tin, phân tích, hoạch định, ra quyết định, tổ chức, kiểm tra, đánh giá); kỹ năng giao tiếp; kỹ năng vận động quần chúng; kỹ năng sử dụng các thiết bị văn phòng; kỹ năng sử dụng các thiết bị nghiệp vụ; kỹ năng tác nghiệp Mỗi công việc, mỗi chức trách đòi hỏi CBCC phải có những kỹ năng khác nhau, ở những mức độ khác nhau

- Hiệu quả thực thi công vụ: thực chất là kết quả giải quyết công việc Hiệu quả

thực thi công vụ của CBCC phụ thuộc vào những điều kiện chủ quan thuộc về bản thân CBCC, những điều kiện khách quan bên ngoài và được đánh giá bởi hai phía, đó là từ

Trang 27

phía cơ quan nhà nước, và phía người dân Người dân là những người trực tiếp thụ hưởng các dịch vụ công từ việc thực thi nhiệm vụ của CBCC xã chính vì vậy họ sẽ là những người đánh giá khách quan và công bằng nhất Ở cấp xã, hiệu quả thực thi công

vụ của CBCC được biểu hiện rõ ràng nhất, dễ nhận thấy nhất so với các cấp quản lý nhà nước cấp trên do tính gần dân của nó Cấp xã là nơi giải quyết tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân nên phạm vi quản lý rộng, khối lượng công việc tương đối nhiều

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực của cán bộ, công chức cấp xã

1.1.6.1 Chế độ, chính sách

- Chế độ, chính sách và các quyết định liên quan đến CBCC cấp xã là công cụ điều tiết rất quan trọng trong quản lý xã hội Chế độ, chính sách tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chế độ, chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, tài năng, sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kìm hãm hoạt động của con người, làm thui chột tài năng, sáng tạo, nhiệt tình trách nhiệm của họ Vì vậy, chế độ, chính sách là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng lực đội ngũ CBCC Có thể nói trong tình hình hiện nay, việc đổi mới cơ chế sử dụng và chính sách đối với CBCC là khâu có tính đột phá

- Các chế độ, chính sách cơ bản đối với CBCC bao gồm: chế độ tiền lương, chế

độ hưu trí, bảo hiểm, trợ cấp, khen thưởng

1.1.6.2 Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm

Theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010:

Tuyển dụng là việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm việc trong cơ quan, đơn vị có nhu cầu nhân lực thông qua các phương thức khác nhau

Bổ nhiệm là việc người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cử cán bộ, công chức giữ một chức vụ lãnh đạo có thời hạn trong cơ quan, đơn vị

Tuyển dụng cán bộ, công chức là khâu đầu tiên có vai trò quyết định đến chất lượng đầu vào của đội ngũ cán bộ, công chức Làm tốt công tác tuyển dụng sẽ lựa chọn được người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung

Trang 28

Nói đến cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm tức là nói đến cách thức, phương pháp để lựa chọn và bố trí cán bộ, công chức cho đúng người, đúng việc nhằm phát huy năng lực

và sở trường của họ để đạt kết quả cao trong công tác

Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn

Đề cập về vấn đề bố trí sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một nguyên tắc khoa học, cách mạng và nhân văn: sử dụng người nào thì phải phát huy các hay của người đó và hạn chế cái dở của người đó Người thường căn dặn phải xuất phát

từ nhu cầu của công việc cách mạng mà bố trí cán bộ Cán bộ giỏi việc gì thì bố trí làm việc ấy Bố trí cán bộ phải đúng người, đúng việc, nếu không sẽ thất bại “Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao Thành thử hai người đều lúng túng Nếu biết tùy tài mà dùng người, thì hai người đều thành công” [15, tr.274]

1.1.6.3 Trang thiết bị và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật

Trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm như bàn ghế, tủ tài liệu, máy tính, hệ thống kết nối mạng, Đây là những điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức, là yếu tố vật chất hữu hình rất quan trọng phục vụ cho công tác quản lý chỉ đạo, phân tích thông tin và quá trình tác nghiệp của họ Cơ sở vật chất có vai trò giúp cho cán bộ, công chức đổi mới phương pháp làm việc; thúc đẩy, nâng cao chất lượng làm việc, đảm bảo giải quyết công việc chính xác, hiệu quả Việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đại sẽ đáp ứng tốt hơn cho hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức, qua đó năng lực cán bộ, công chức được nâng cao Bởi vậy, trang thiết bị và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác và năng lực của cán bộ, công chức nói chung và đối với cán bộ, công chức cấp xã nói riêng

1.1.6.4 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Kiểm tra, giám sát và quản lý là hoạt động nhằm nắm chắc thông tin, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, công chức giúp cho cấp ủy và chính quyền phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và tác động, làm cho đội ngũ cán bộ, công chức luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc Qua đó để có thưởng phạt nghiêm minh, ngăn chặn cái xấu, cái tiêu cực, phát huy những nhân tố tích cực; đồng thời nắm vững thực trạng của đội ngũ cán bộ, công

Trang 29

chức và là cơ sở để làm tốt công tác cán bộ từ quy hoạch cho đến đào tạo và sử dụng bố trí cán

bộ, công chức

Trong vấn đề kiểm tra, giám sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Khi có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [16, tr.520] Nếu thấy cán bộ, công chức, nhất là cán bộ chủ chốt

có khuyết điểm thì tổ chức, người lãnh đạo giúp họ sửa chữa ngay, giúp họ thêm kinh nghiệm, làm cho cán bộ, công chức thêm cố gắng, thêm lòng hăng hái, tăng lòng tự tin,

tự trọng đối với bản thân và đối với công việc

Qua đây cho thấy công tác kiểm tra, giám sát, quản lý và bảo vệ cán bộ có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng

1.1.6.5 Công tác đào tạo, bồi dưỡng

- Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình

độ văn hóa, chuyên môn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao

- Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Nếu đào tạo là quá trình làm cho con người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định thì bồi dưỡng làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC là làm cho đội ngũ này có được năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định Năng lực ở đây bao gồm trình độ về kiến thức, năng lực về hiểu biết, nhận thức sự việc, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp để thực hiện đạt mục tiêu,…

Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hình thành và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố đào tạo, bồi dưỡng Tuy nhiên do chưa nhận thức

Trang 30

đúng vai trò, vị trí công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ ở cơ sở nên nhìn chung đội ngũ CBCC cơ sở chưa thực sự đảm đương được nhiệm vụ trong tình hình mới

1.1.6.6 Công tác tổ chức , sắp xếp cán bộ, công chức cấp xã

Trong công tác cán bộ, việc tổ chức, sắp xếp cán bộ có vai trò quan trọng Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạo điều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, khuyến khích ý thức học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn Muốn việc tổ chức tổ chức, sắp xếp CBCC được tốt thì khâu đánh giá cán bộ là tiền đề quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến chất lượng của các khâu khác

- Đánh giá cán bộ: Là khâu quan trọng đầu tiên của công tác cán bộ, đó là việc

làm khó, rất nhạy cảm vì có ảnh hưởng đến tất cả các khâu khác của công tác cán bộ, có

ý nghĩa quyết định trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng,

đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ cũng như giúp cán bộ phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, tiến bộ không ngừng trong việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ Đánh giá cán bộ đúng sẽ tạo điều kiện cho cán bộ phát huy được sở trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Đánh giá cán bộ không đúng thì không những bố trí,

sử dụng cán bộ không đúng mà quan trọng hơn là làm mai một dần động lực phát triển,

có khi thui chột những tài năng, làm cho chân lý bị lu mờ, vàng thau lẫn lộn, xói mòn niềm tin của đảng viên, quần chúng đối với cơ quan lãnh đạo, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị

- Quy hoạch cán bộ: Là nền tảng, cơ sở, căn cứ cho việc đào tạo, bồi dưỡng và

luân chuyển cán bộ Quy hoạch cán bộ là một trong những khâu quan trọng trong công tác cán bộ Làm quy hoạch cán bộ là tạo điều kiện để kiện toàn tổ chức và đổi mới cán

bộ một cách thường xuyên Có quy hoạch cán bộ mới bảo đảm được tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ cán bộ không để bị thiếu, bị hẫng hụt như lâu nay Có quy hoạch cán

bộ mới có thể xây dựng được kế hoạch cán bộ Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII của Đảng về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã khẳng định: “Quy hoạch cán bộ là một nội dung trọng yếu của công tác cán bộ, bảo đảm cho công tác cán

bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” Quy hoạch cán bộ được thực hiện đồng bộ từ chủ trương, biện pháp tạo nguồn cán bộ

Trang 31

đến việc dự kiến bố trí, sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp Mục tiêu của quy hoạch là lựa chọn được những cán bộ thực sự có đức,

có tài để đưa vào nguồn kế cận, dự bị; từng bước giao nhiệm vụ, thử thách, rèn luyện, có

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thông qua trường lớp và qua thực tiễn nhằm tạo nguồn bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có đủ phẩm chât, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ của thời kỳ mới

- Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý: Đây là khâu đột phá trong công tác cán

bộ Sở dĩ luân chuyển cán bộ là khâu đột phá bởi vì nếu làm tốt công tác luân chuyển cán bộ

sẽ thúc đẩy việc đánh giá cán bộ, quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

1.2.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về xây dựng và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

1.2.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc - Là nơi hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội quan trọng trong tiến trình CNH, HĐH đất nước Đặc biệt tỉnh Quảng Ninh có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vững mạnh, trong đó có gần 4000 cán bộ, công chức cấp xã với trình độ, năng lực ngày càng tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán, công chức nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng đồng thời đã góp phần đưa nền kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh ngày càng phát triển bền vững Cụ thể:

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp cơ sở xã, phường, thị trấn UBND tỉnh Quảng Ninh xây dựng Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” (Đề án 25) của tỉnh Quảng Ninh là một sáng kiến chính trị hành chính có tính đột phá Mặc dù chỉ đề cập đến phạm vi của một địa phương, nhưng nó lại đi trúng vấn đề xuyên suốt của hệ thống chính trị, là tổ chức bộ máy lãnh đạo,

bộ máy hành chính thế nào để hoạt động thực sự nâng cao hiệu lực, hiệu quả

Sau hơn một năm vừa xây dựng, vừa tổ chức thực hiện những giải pháp thuộc thẩm quyền, Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” của tỉnh (Đề án 25) đã hoàn thành và

Trang 32

được Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh thông qua cách đây không lâu với mục tiêu kép

Điểm đáng chú ý trong đề án này là việc nhất thể hóa một số tổ chức và chức danh lãnh đạo của một số cơ quan đảng và chính quyền Thực hiện thí điểm mô hình chính quyền một cấp ở huyện Cô Tô, nhất thể hoá một số chức danh (Bí thư Huyện uỷ kiêm Chủ tịch UBND huyện, Phó Bí thư Thường trực kiêm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND kiêm Trưởng Ban Tuyên giáo, Chủ nhiệm UBKT kiêm Chánh Thanh tra huyện, Trưởng Ban Tổ chức kiêm Trưởng Phòng Nội vụ huyện, Phó Ban Tuyên giáo kiêm Giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị), thực hiện kiêm nhiệm công tác một số chức danh khác… Tiếp tục sắp xếp, lựa chọn nhất thể hoá một số chức danh trực thuộc (bí thư đảng uỷ kiêm chủ tịch HĐND hoặc UBND cấp xã; bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, bản, khu phố…), đề xuất quy trình tuyển chọn cán bộ và giới thiệu cán bộ để thực hiện mở rộng dân chủ, bầu cử trực tiếp chức danh người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền một số địa phương, đơn vị trực thuộc.… Trước đó, có rất nhiều vấn đề được đặt ra như: phương thức hoạt động của bộ máy Đảng khác căn bản với bộ máy chính quyền, hợp nhất các cơ quan đảng và chính quyền thì ngoài câu chuyện cơ quan hợp nhất trực thuộc Đảng hay trực thuộc nhà nước nó còn liên quan đến câu chuyện tuân thủ pháp luật hay điều lệ, quy chế của Đảng

Chính vì vậy, trong quá trình lập đề án, Quảng Ninh đã xây dựng đề án từ cấp xã, cấp huyện đến cấp tỉnh, có sự tham gia, góp ý trực tiếp của nhân dân, các đối tượng chịu tác động và thông qua HĐND các cấp Tỉnh đã tổ chức các cuộc làm việc với các bộ, ngành, các viện nghiên cứu, cơ quan Trung ương; các cuộc hội thảo khoa học, tọa đàm với các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng, Nhà nước Thành lập Hội đồng thẩm định các cấp do Thường trực cấp ủy làm chủ tịch Tiến hành phê duyệt đề án theo quy trình từ cấp tỉnh đến cấp xã Tỉnh ủy Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết về nội dung đề án, đồng thời phê duyệt đề án của 14 huyện, thị, thành ủy; 15 đề án của các cơ quan thuộc khối Đảng; 26 đề án của các sở, ban, ngành và đơn vị sự nghiệp thuộc UBND tỉnh và tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị đối với những nội dung thuộc thẩm quyền

Cơ sở để Quảng Ninh tự tin và quyết tâm triển khai đề án 25 là tỉnh đã thực hiện triển khai thí điểm nhất thể hóa chức danh Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND đối với

Trang 33

huyện đảo Cô Tô và mở rộng tới 25% tổng số xã, phường Thực hiện mô hình Bí thư chi

bộ kiêm Trưởng thôn theo nguyên tắc: Chi bộ giới thiệu đảng viên đủ điều kiện, năng lực

ra tranh cử Trưởng thôn cùng với các ứng viên khác, có số dư ứng viên; nếu được nhân dân bầu thì tiến hành Đại hội Chi bộ để bầu Bí thư Chi bộ thôn

Kết quả, toàn tỉnh đã thực hiện tinh giản được 254 biên chế không hưởng lương trực tiếp từ ngân sách nhà nước, 305 hợp đồng lao động; đã thực hiện bố trí 03 chức danh ở thôn, khu; khoán số lượng và kinh phí hoạt động theo Nghị quyết 179-NQ/HĐND ngày 12/12/2014 của HĐND tỉnh; thôi thực hiện chi trả phụ cấp thường xuyên cho 17.697 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, bản, khu phố Tăng cường giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có 26 đơn vị đã tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp còn lại trong năm 2016 Tiết kiệm chi thường xuyên được khoảng 270 tỷ đồng/năm và hàng trăm tỷ đồng từ cơ sở vật chất Ngoài ra, riêng ngành y tế thực hiện đề án sắp xếp lại trạm y tế xã theo 3 mô hình mới,

đã tiết kiệm được 200 tỷ đồng năm 2015 cho đầu tư đạt tiêu chí quốc gia về y tế (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh)

1.2.1.2 Kinh nghiệm của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh

Gia Bình là một trong tám huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bắc Ninh được chia tách bởi huyện Gia Lương thành hai huyện Gia Bình Và Lương Tài Cùng một vị trí xuất phát với đặc điểm, điều kiện tự nhiên tương đối giống nhau Cụ thể về trong công tác cán

bộ, công chức cấp xã như sau:

Huyện Gia Bình có 13 xã và 01 thị trấn Đội ngũ CBCC xã có 291 người Huyện Gia Bình lấy công tác đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển làm trọng tâm: Công tác đào tạo, bồi dưỡng được huyện Gia Bình hết sức coi trọng nhằm từng bước khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ Việc đào tạo bồi dưỡng đi liền với quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn trên cơ sở điều chỉnh cơ cấu đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội gắn đào tạo với tuyển dụng

Trong giai đoạn 2005 - 2010, thực hiện nghị quyết Đại hội đảng bộ huyện lần thứ XXI, huyện mở được 45 lớp bồi dưỡng về công tác đảng, đoàn thể, nghiệp vụ quản lý nhà nước và các chuyên đề khác cho gần 3.000 lượt cán bộ; 189 đồng chí được đi học

Trang 34

trung cấp, cao cấp lý luận chính trị, cử nhân các chuyên ngành ở các trường của tỉnh và trung ương Qua nhiều năm việc đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng đã từng bước xây dựng được một đội ngũ CBCC giỏi về chuyên môn, vững vàng về chính trị với tỷ lệ CBCC có trình độ trung cấp, cao cấp lý luận chính trị chiếm 25,0%; cán bộ có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học chuyên môn chiếm 82,0% trên tổng số cán bộ công chức, viên chức toàn huyện (trong đó đã có 20 người có trình độ trên đại học)

Huyện đã ban hành quy chế, quy định về tiêu chuẩn CBCC, phương án quy hoạch cán bộ cấp huyện và cơ sở, đặc biệt đã thiết lập kế hoạch luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ giai đoạn 2010 - 2015 Công tác luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục được xem là khâu then chốt nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC

Kết quả sau một năm triển khai thực hiện huyện đã mở được 10 lớp đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị cho gần 1.000 lượt học viên là cán bộ cấp cơ sở Theo số liệu của Ban Tổ chức huyện uỷ Gia Bình (2010), Huyện đã cử 14 đồng chí bí thư, phó bí thư thường trực đảng ủy xã, thị trấn đi tập huấn bồi dưỡng cán bộ cấp

cơ sở, 64 cán bộ đi đào tạo cao đẳng, đại học chuyên môn các chuyên ngành, 5 đồng chí cán bộ lãnh đạo quản lý thuộc huyện đi bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước Luân chuyển 03 lãnh đạo các phòng chuyên môn của huyện về giữ chức danh Bí thư, Phó Bí thư đảng uỷ các xã; 01 Bí thư đảng uỷ, 01 Chủ tịch UBND và 02 Phó Bí thư đảng uỷ xã

về huyện công tác Nhìn chung các cán bộ được luân chuyển đều phát huy tốt khả năng của mình Hiện nay 100% số cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực lãnh đạo và kinh nghiệm thực tiễn

1.2.2 Bài học rút ra từ thực tiễn của các địa phương đối với huyện Lương Tài

về vấn đề nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Thứ nhất, cần nhận thức sâu sắc và đúng đắn về ý nghĩa, tầm quan trọng, các

nguyên tắc, nội dung, phương pháp, quy trình của công tác cán bộ; xây dựng được tiêu chuẩn cán bộ, công chức cho các chức danh phù hợp với thực tế và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương;

Thứ hai, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ cho cả giai đoạn trước mắt và lâu dài;

chỉ đưa vào quy hoạch những cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống tốt và đặc biệt là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thông qua kết quả đánh giá cán bộ một

Trang 35

cách nghiêm túc, thực chất; kiên quyết giữ vững nguyên tắc chỉ bổ nhiệm cán bộ trong diện quy hoạch đã được thử thách, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;

Thứ ba, đặc biệt quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức

để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao hiện nay Việc đào tạo cần kết hợp các loại hình đào tạo cho phù hợp; đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng theo hướng sát với thực tiễn cơ sở;

Thứ tư, cần nghiên cứu kỹ tình hình thực tiễn của địa phương, xem ngành nào,

lĩnh vực nào còn thiếu, còn yếu thì xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, điều động, luân chuyển nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới;

Thứ năm, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã trên cơ sở quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế của địa phương

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA HUYỆN LƯƠNG TÀI,

TỈNH BẮC NINH

2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên của huyện Lương Tài

2.1.1.1 Về vị trí địa lý

Huyện Lương Tài nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình huyện tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Tây Bắc xuống Đông Nam, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình tuy không lớn nhưng Lương Tài là một trong những huyện thấp nhất tỉnh Bắc Ninh Những vùng trũng ven sông Thái Bình đất thường xuyên bị úng ngập, giây hóa, khó thoát nước nên chỉ trồng được một vụ lúa, việc thâm canh tăng vụ gặp nhiều khó khăn

ở các xã Lai Hạ, Minh Tân và Trung Kênh;

Lương Tài (tên cũ là Lang Tài) là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng được thành lập tháng 8/1999 trên cơ sở tách từ một phần diện tích của huyện Gia Lương Huyện lỵ là Thị trấn Thứa

- Phía Bắc huyện Lương Tài giáp với huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh;

- Phía Nam huyện Lương Tài giáp với huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương;

- Phía Tây huyện Lương Tài giáp với huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;

- Phía Đông huyện Lương Tài giáp huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

Tổng diện tích: 10.615,6863 ha (2016)

Tổng số dân: 116.950 người (2016)

Lương Tài có vị trí thuận lợi trong giao lưu và phát triển kinh tế xã hội Trung tâm huyện cách thành phố Bắc Ninh 32km về phía bắc, cách Hà Nội 45km về phía tây, đây là hai thị trường rộng lớn, đồng thời là nơi cung cấp thông tin chuyển giao công nghệ và tạo cơ hội thuận lợi cho huyện tiếp thu, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, hòa nhập với nền kinh tế thị trường, phát triển thương mại, dịch vụ,… Huyện có

hệ thống các đường tỉnh lộ 280, 281, 284, 285 nối liền với quốc lộ 1A, quốc lộ 5, quốc lộ 38; cùng với các tuyến đường huyện và 10,5km đường thủy sông Thái Bình đã hình

Trang 37

phát triển kinh tế - xã hội Với vị trí địa lý như vậy, huyện Lương Tài có nhiều thuận lợi

để phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

2.1.1.2 Tình hình dân số - lao động

- Dân số: Lương Tài là một trong tám huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh,

tổng số dân theo số liệu thống kê tính đến năm T11/2016 là 116.950 người Trong đó dân

số sống ở khu vực thành thị là 9.085 người, chiếm 9,32%; dân số sống ở khu vực nông thôn là 88.428 người, chiếm 90,68% Dân số là nam 47.860 người, chiếm 49,08%, là nữ 49.653 người, chiếm 50,92% Dân số phân bố không đồng đều giữa các địa bàn trong huyện, tập trung nhiều nhất ở thị trấn Thứa (1.271 người/km2) và xã Trung Kênh (1.324 người/km2), thấp nhất ở xã Phú Hoà (689 người/km2);

Tình hình dân số của huyện Lương Tài trong 3 năm từ 2014 đến năm 2016 có sự biến động tăng với tỷ lệ tăng dân số bình quân là 0,89%/năm Nhìn chung mức tăng tương đối thấp và có xu hướng giảm trong những năm gần đây

- Lao động: theo số liệu thống kê năm 2016 toàn huyện có 56.771 người trong độ

tuổi lao động, chiếm 58,23% dân số Trong đó: lao động nông nghiệp khoảng 36.151 người, chiếm 63,68% tổng số lao động và có xu hướng giảm (năm 2014 chiếm tỷ lệ 65,67%, đến năm 2016 chiếm tỷ lệ 63,68%); lao động phi nông nghiệp khoảng 20.620 người, chiếm 36,32% tổng số lao động và có xu hướng tăng (năm 2014 chiếm tỷ lệ 34,33%, đến năm 2016 chiếm tỷ lệ 36,32%); tuy nhiên lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu và tập trung nhiều ở khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp thuần túy

- Hộ nghèo: theo số liệu thống kê năm 2016, toàn huyện có 34.913 hộ; trong đó

hộ nghèo là 1.039 hộ, chiếm tỷ lệ 3,36% Trong những năm qua, đảng bộ và chính quyền các cấp trong huyện đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh việc xóa đói, giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo trong các năm qua nhìn chung có xu hướng giảm dần

2.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế - xã hội huyện Lương Tài

Năm 2016 là năm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu quốc hội khóa XIV

và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của huyện có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn Song được sự lãnh đạo sát sao của tập thể Ban thường vụ, Ban chấp hành

Trang 38

tổ chức thực hiện của các Ngành, các địa phương; cùng với sự đồng tình ủng hộ tích cực của nhân dân trong huyện, toàn huyện đã đạt được những kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực:

Bảng 2.1 Tỷ trọng cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài

- Tổng sản lượng cây lương thực có hạt đạt: 64.537 tấn, tăng 0,9% so với năm 2015

- Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt: 1.013,439 tỷ đồng, đạt 100,5% KH, bằng 104,6% so với năm 2015 (theo giá so sánh năm 2010)

- Giá trị sản xuất Thủy sản ước đạt: 440,975 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), đạt 103,0% KH, tăng 9,6% so với năm 2015

- Giá trị sản xuất CN – TTCN ước đạt: 1.724,048 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), đạt 103,8% KH, bằng 113,1% năm 2015

- Giá trị sản xuất XDCB đạt 1.347,491 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010), đạt 93,1% KH, bằng 105,7% năm 2015

Tỷ lệ Tỷ lệ Tỷ lệ

Trang 39

- Ước thu ngân sách Nhà nước: 84.071 triệu đồng, đạt 110,7% KH năm, bằng 96,7% so với cùng kỳ năm 2015

- Ước tổng chi Ngân sách địa phương: 583.304 triệu đồng, đạt 185,8% KH năm, bằng 131,5% so với cùng kỳ năm 2015

- Ước tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,36% giảm 0,93% so với năm 2015

2.2 Thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực phát triển kinh tế của huyện Lương Tài

2.2.1 Giới thiệu chung về đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã của huyện Lương Tài

Hiện nay, huyện Lương Tài có 14 xã, thị trấn (trong đó có 13 xã và 01 thị trấn) Tổng số cán bộ, công chức ở các xã, thị trấn năm 2016 là 280 người Đội ngũ cán bộ, công chức xã đều là người tại địa phương, trong những năm qua đội ngũ này nhìn chung ổn định, việc quản lý, sử dụng đã chặt chẽ và có hiệu quả hơn, đảm bảo các chế

độ, chính sách và phát huy được khả năng của cán bộ, công chức; các xã, thị trấn bố trí cơ bản đủ số cán bộ, công chức theo quy định và đội ngũ này đã có nhiều cố gắng,

nỗ lực trong công tác, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn toàn huyện

Bảng 2.2: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lương Tài, giai

- Cán bộ, công chức huyện Lương Tài Người 160 135 169

- Số lượng cán bộ, công chức cấp xã Người 253 261 280

Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Lương Tài (2014 - 2016) Theo số liệu thu thập được qua các báo cáo về số lượng cán bộ, công chức cấp xã hàng năm của Phòng Nội vụ huyện Lương Tài, thu được kết quả số lượng cán bộ, công chức cấp xã của huyện qua 3 năm cho thấy số lượng cán bộ, công chức cấp xã ngày càng tăng về số lượng Qua 3 năm số lượng cán bộ, công chức cấp xã tăng 27 người, ngày càng đáp ứng yêu cầu hoàn thiện số lượng và chức danh cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của tỉnh Bắc Ninh

Trang 40

thu hút nhân tài, thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học về làm việc tại các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh Điều này tạo cơ hội nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức về phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ; Thu hút những người có đức, có tài, có trình độ chuyên môn và năng lực quản lý, điều hành về làm việc trong các cơ quan hành chính cấp xã góp phần từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng vững mạnh, chuyên nghiệp; nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

2.2.2 Khái quát thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong lĩnh vực kinh tế của huyện Lương Tài

2.2.2.1 Năng lực đội ngũ công chức Văn phòng - thống kê cấp xã huyện Lương Tài

Trên toàn huyện có 17 công chức Văn phòng - thống kê công tác trên 14 xã, thị trấn của huyện Lương Tài

- Nhìn chung, phẩm chất đạo đức và phẩm chất chính trị của công chức Văn phòng - thống kê là tốt Đội ngũ công chức ở bộ phận này có sức khỏe và giàu kinh nghiệm công tác,

100 % đạt yêu cầu

- Trình độ của công chức Văn phòng - thống kê

+ Trình độ văn hóa: từ năm 2014 đến năm 2016 trình độ văn hóa của công chức Văn phòng - thống kê đang từng bước cải thiện, 100% tốt nghiệp THPT

+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Tính đến năm 2016 số lượng công chức hầu hết có trình độ cao đẳng, đại học (84,21%), trình độ trung cấp (15,69%),

+ Trình độ lý luận chính trị: 42,10% công chức Văn phòng - thống kê có trình độ trung cấp lý luận chính trị, 47,36% công chức có trình độ sơ cấp, điều đó cho thấy trình độ lý luận chính trị của công chức Văn phòng - thống kê khá tốt

+ Trình độ quản lý nhà nước: 100% chưa qua đào tạo, trình độ còn thấp

+ Trình độ tiếng Anh, tin học văn phòng: Tính đến năm 2016 hầu hết công chức Văn phòng - thống kê có chứng chỉ tiếng Anh và tin học văn phòng loại A (94,73%), 5,27% chưa được đào tạo tiếng Anh và tin học văn phòng

- Sức khỏe và kinh nghiệm công tác

+ Về độ tuổi: công chức Văn phòng- thống kê chủ yếu là từ độ tuổi 30 trở lên (78,94%), độ tuổi dưới 30 chiếm số lượng ít 21,16 %

Ngày đăng: 17/05/2017, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2007). Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 04/7/2007 ban hành Quy định về phân cấp quản lý cán bộ, Hà Nội Khác
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2012). Kết luận số 24- KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo, Hà Nội Khác
3. Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2005). Hướng dẫn số 22- HD/TCTW ngày 21/10/2005 về thực hiện Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác
4. Bộ Chính trị (2010). Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về ban hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức, Hà Nội Khác
5. Bộ Nội vụ (2004). Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01 của Bộ Trưởng Bộ Nội vụ về ban hành tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Khác
7. Bộ Nội vụ, Thông tư số 26/2012/TT-BNV ngày 30/10 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn, Hà Nội Khác
8. Chính phủ (2003). Nghị định số 121/2003/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, Chính phủ ban hành ngày 21 tháng 10 năm 2003 Khác
9. Chính phủ (2009). Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 10 năm 2009 Khác
11. Chính phủ (2015). Nghị định số 26/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, Chính phủ ban hành ngày 09 tháng 3 năm 2015 Khác
12. Đảng bộ huyện Lương Tài (2010). Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX Khác
13. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh (2010). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII Khác
16. Lê Thị Lý (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trước yêu cầu đổi mới. Luận văn thạc sỹ Khác
17. Cao Thị Minh Nguyệt (2014). Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong quản lý kinh tế trên địa bàn thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Luận văn thạc sỹ Khác
18. Trần Quang Nam (2015). Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sỹ Khác
20. Phòng Nội vụ huyện Lương Tài, Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lương Tài (2014-2016) Khác
21. Quốc hội (2008). Luật cán bộ, công chức 2008. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
22. Quyết định số 1472/QĐ-UBND về việc ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2011 Khác
23. Quyết định số 09/2012/QĐ-UBND về việc ban hành Đề án thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại xã, phường, thị trấn, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh ban hành ngày 21 tháng 02 năm 2012 Khác
26. UBND huyện Lương Tài (2016). Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2016, mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w