1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân

129 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, nghiên cứu đã chỉ ra một cách rất chi tiết những khó khăn của cộng đồng người LGBT gặp phải trong giai đoạn hiện nay của đất nước, cùng với đó là sự kêu gọi xã hội hãy bảo vệ th

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỀN THỊ KIỀU TRANG

KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN (NGHIÊN

CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TIẾN SĨ: ĐỖ THỊ VÂN ANH

Hà Nội - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Những khó khăn của người đồng tính

nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân” (Nghiên cứu

trường hợp tại quận Hà Đông - thành phố Hà Nội) là công trình nghiên cứu của

riêng tôi Các biên bản phỏng vấn sâu, số liệu tổng hợp từ phiếu khảo sát mà tôi dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực địa từ tháng 06 đến tháng 11 năm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Đỗ Thị Vân Anh đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này

Tôi cũng xin cảm ơn Học viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong suốt quá trình theo học ở đây

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo - những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng bổ ích trong quá trình học tập

Tôi xin cảm ơn các thầy giáo tham gia Hội đồng xét duyệt đề cương luận văn

đã có những ý kiến hết sức quý báu để tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo và nhân dân thành phố Hà Nội vì đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu tại địa bàn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình và những người thân yêu của tôi

đã ủng hộ, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Học viên

Nguyễn Thị Kiều Trang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC HỘP viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 18

7 Cơ cấu của luận văn 19

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 20

1.1 Khái niệm làm việc 20

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài 23

1.3 Nhận diện về người đồng tính nữ tại Việt Nam 28

Chương 2 KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN: TIẾP CẬN TỪ HƯỚNG NHÌN CỘNG ĐỒNG VÀ GIA ĐÌNH 31

2.1 Những khó khăn mang lại từ phía cộng đồng sinh sống (bạn bè/ thầy cô/ hàng xóm/ đồng nghiệp) 31

2.2 Thái độ, hành vi của cộng đồng đối với người đồng tính nữ 35

2.3 Khó khăn từ dư luận xã hội, truyền thông, báo chí với quá trình công khai xu hướng tính dục của người đồng tính nữ 38

2.4 Những khó khăn người đồng tính nữ gặp phải từ phía gia đình 41

Trang 5

Chương 3 KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN: TIẾP

CẬN TỪ HƯỚNG NHÌN BẢN THÂN NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ 59

3.1 Những khó khăn khi tự bản thân người đồng tính nữ nhận diện xu hướng tính dục của mình 59

3.2 Những khó khăn của người đồng tính nữ trong việc tìm kiếm người yêu, bạn đời 69

3.3 Những khó khăn khi comeout (công khai) của người đồng tính nữ 74

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

1 Kết luận 83

2 Khuyến nghị 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 Comeout

Nghĩa tương đương với “Công khai”, có nghĩa là quá trình

nhận diện, thừa nhận xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của mình và thể hiện, chia sẻ cho người khác biết

2 ICS Trung tâm Truyền thông Sáng tạo, Dịch vụ và Nghiên cứu về

Tính dục

3 ISEE Viện Nghiên cứu Xã hội Kinh tế và Môi trường

Lesbians Gays Bisexuals Transgender

4 LGBT Chỉ nhóm người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và

chuyển giới tính

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Quan điểm cộng đồng về việc ai có thể là đồng tính nữ 32Bảng 2.2: Nhận thức của cộng đồng người đồng tính nữ 34Bảng 2.3 Thái độ của gia đình đối với người đồng tính nữ 42Bảng 2.4 Phản ứng của gia đình đối với người đồng tính nữ (20 người tiết lộ) 48Bảng 3.1: Quan điểm người đồng tính nữ về xu hướng tính dục của bản thân 68Bảng 3.2: Các vấn đề gặp phải trong lĩnh vực tình yêu của người đồng tính nữ 69Bảng3.3: Lý do người đồng tính nữ không hối hận khi tiết lộ xu hướng tính dục của người đồng tính nữ 75Bảng 3.4 Lý do người đồng tính nữ cảm thấy hối hận vì để người khác biết được xu hướng tính dục của bản thân 76Bảng 3.5: Lý do người đồng tính nữ chưa lộ diện bản thân 79

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

(Sơ đồ 2.1: Mô hình nhận diện của Cass) 27

(Sơ đồ 2.2: Mô hình nhận diện rút gọn 3 giai đoạn) 28

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ người dân nhận biết về thuật ngữ đồng tính nữ 31

Biểu đồ 2.2: Thái độ của cộng đồng với người đồng tính nữ 36

Biểu đồ 2.3: Nhận thức của cộng đồng về việc người đồng tính nữ công khai xu hướng tính dục 37

Biểu đồ 2.4: Lý do người đồng tính nữ lo sợ tiết lộ xu hướng tính dục cho gia đình biết 44

Biểu đồ 3.1: Tâm trạng của người đồng tính nữ tại thời điểm lần đầu tiên nhận diện bản thân là người đồng tính 60

Biểu đồ 3.2: Độ tuổi phát hiện xu hướng tính dục của đồng tính nữ 63

Biểu đồ 3.3: Thời gian chấp nhận xu hướng tính dục của người đồng tính nữ 64

Biểu đồ 3.4: Đặc điểm người đồng tính nữ tham gia nghiên cứu về việc comeout 74 Biểu đồ 3.5: Lý do muốn comeout của người đồng tính nữ 77

Trang 9

DANH MỤC HỘP

Hộp 2.1 Sự phản ánh đa chiều từ các kênh truyền thông giúp cộng đồng biết và hiểu hơn về người đồng tính nữ 40Hộp 2.2: Phản ứng của gia đình khi người đồng tính nữ công khai xu hướng tính dục của bản thân 43Hộp 2.3 Áp lực từ phía gia đình đối với người đồng tính nữ khi công khai xu hướng tính dục của bản thân 45

Hộp 2.4 Người đồng tính nữ phủ nhận thông tin với các thành viên trong gia đình 46

Hộp 2.5 Bố mẹ từ chối tham gia phỏng vấn vì không muốn tin con mình là đồng tính nữ 47Hộp 2.6 Nỗ lực từ gia đình kỳ vọng hôn nhân với người khác giới 50Hộp 2.7 Quá trình phát hiện và chấp nhận con là đồng tính nữ từ phía gia đình 52Hộp 2.8 Người đồng tính nữ phải trải qua những khắc nghiệt tâm lý trước khi được gia đình chấp nhận 53Hộp 2.9 Những trăn trở mà gia đình gặp phải từ áp lực của cộng đồng khi có con

là người đồng tính nữ 55Hộp 3.1 Người đồng tính nữ gặp khó khăn trong chuyện tình cảm khi chính bản thân chưa chấp nhận xu hướng tính dục của bản thân 62Hộp 3.2: Bản thân người đồng tính chưa xác định chính xác xu hướng tính dục của mình 66

Hộp 3.3 Người đồng tính nữ cảm thấy đơn độc trong chuyện chia sẻ 73

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đồng tính, song tính, chuyển giới được xem như một xu hướng tính dục độc lập bên cạnh xu hướng di tính Tuy không thể thống kê một cách chính xác nhưng các nhà khoa học ước tính cộng đồng người này chiếm khoảng 3% dân số một nước Tỷ lệ này gần như không thay đổi giữa các quốc gia, thời đại hoặc nền văn hóa

Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập, xã hội ngày càng phát triển, cách nhìn nhận của con người về cuộc sống ngày càng thay đổi.Theo báo cáo của Trung tâm Bảo vệ và Thúc đẩy Quyền của người Đồng tính, Song tính và Chuyển giới (ICS) tổ chức nhân ngày Thế giới chống kỳ thị người Đồng tính, Song tính và Chuyển giới đưa ra: Tính theo “tỷ lệ an toàn” đã được nhiều nhà khoa học thừa nhận với mức 3%, Việt Nam hiện có khoảng 1,65 triệu người đồng tính và lưỡng tính trong độ tuổi 15-59; đa phần trong số họ đang phải chịu kỳ thị, định kiến, kể cả bạo lực Họ cũng phải chịu những thiệt thòi về cơ hội học tập, công việc, hôn nhân

và chăm sóc sức khỏe.Đặc biệt, đối với một nhóm người thiểu số song tính, đồng tính, chuyển giới cộng đồng người Việt Nam chưa thực sự có cái nhìn cởi mở và coi

họ là những người bình thường Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế

và Môi trường (iSEE), trước năm 1994 trên Thế giới vẫn quan niệm rằng, đồng tính

là một căn bệnh thuộc nhóm bệnh lệch lạc giới tính và có liên quan đến các biểu hiện suy đồi đạo đức Thậm chí một số quốc gia còn liệt đồng tính thuộc bệnh tâm thần và cần theo dõi đặc biệt.Tại những nước theo đạo Hồi, đồng tính là vấn đề không thể khoan dung Người đồng tính luyến ái thường bị lăng mạ, bị cấm đoán, bị trừng phạt, thậm chí bị tử hình chỉ vì có xu hướng tình dục khác biệt Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử với người đồng tính không chỉ xảy ra ở những quốc gia Hồi giáo Trung Đông mà ngay cả ở những xã hội cởi mở như Hoa Kỳ, định kiến và phân biệt đối xử với người đồng tính luyến ái vẫn còn tồn tại Theo điều tra của Viện nghiên cứu dư luận xã hội Mỹ, 41% dân số Mỹ cho rằng nếp sống của người đồng tính luyến ái mâu thuẫn với nếp sống của những cư dân còn lại Sự miệt thị và ghê sợ

Trang 11

người đồng tính luôn đi kèm với nhau mà hậu quả là hàng năm ở Mỹ có hàng chục người đồng tính luyến ái bị sát hại Người ta nhận thấy tất cả những trường hợp trên đều chứa đựng chung một yếu tố là thành kiến chống lại sự bất thường về giới và xu hướng tình dục của những người đồng tính

Từ sau năm 1994, các nhà khoa học đã nhận ra sai lầm của mình nên từ đó đồng tính luyến ái không bị coi là bệnh Họ nhận ra rằng đây là một hiện tượng, một thiên hướng tình dục bình thường Sự thay đổi về nhận thức tại các quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là những nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức đã góp phần tạo nên cách nhìn đúng đắn hơn về những người đồng tính nói riêng và cộng đồng LGBT nói chung Mặc dù vậy, một thực tế vẫn đang tồn tại ở Việt Nam là chúng ta vẫn chưa thực sự hiểu rõ về thế nào là đồng tính, song tính, chuyển giới Theo kết quả thống kê năm 2010 tại Việt Nam của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), 67,25% trong tổng số 3.231 người đồng tính trả lời hoàn toàn bí mật hoặc gần như bí mật về bản dạng giới của mình Hai lý do chính để người đồng tính muốn giữ bí mật xu hướng tình dục là lo sợ bị xã hội kỳ thị (41%) và gia đình không chấp nhận (39%) Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh

tế, xu hướng hội nhập và giao lưu với văn hóa phương Tây, Đặc biệt, việc kết hôn giữa người cùng giới tính trong Luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam đã được sửa đổi kể từ ngày 1/1/2015, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng có quy định cụ thể: “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8) Đây là động lực rất lớn dẫn tới sự biến đổi mạnh mẽ trong thái độ, hành vi của nhiều người dân đối với nhiều vấn đề của xã hội, đặc biệt bản thân những người đồng tính, song tính, chuyển giới đã mạnh mẽ đứng lên đòi quyền con người và quyền được đối xử bình đẳng trong xã hội Mặc dù vậy, họ vẫn chịu nhiều áp lực, khó khăn

Khác với người đồng tính nam, được biết đến và nhận hỗ trợ nhiều hơn trong

xã hội, người nữ yêu nữ dám đối mặt và tiết lộ về bản thân không nhiều Các nghiên cứu, bài viết về người đồng tính nói chung, nữ đồng tính nói riêng đã chỉ ra những

áp lực, định kiến từ phía xã hội dành cho nhóm người này vẫn còn không ít Thành

Trang 12

phố Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ phát triển nhanh,văn minh và hiện đại nhất Nơi tập hợp rất nhiều những người đồng tính nữ đã và đang mong muốn được khẳng định xu hướng tính dục của bản thân với cộng đồng và xã hội Đề tài chọn nghiên cứu trường hợp tại địa bàn này với mong muốn tập trung nhìn nhận những khó khăn mang lại đối với người nữ đồng tính Với mục tiêu nhằm làm rõ câu hỏi: Theo cách nhìn nhận của những người nữ đồng tính hiện nay, họ phải đối mặt với những khó khăn nào? Những nhóm người khác nhau trong xã hội nhìn nhận sao về những khó khăn của họ? Khó khăn nào ảnh hưởng tới cuộc sống của người đồng tính nữ? Trong những khó khăn gặp phải, trở ngại nào khiến họ có cảm giác khó vượt qua nhất? Sự kỳ thị nguy hiểm ở chỗ, nó không chỉ biến một nhóm người thành nạn nhân mà nó biến cả xã hội thành thủ phạm, khi người ta phân tách nhóm, tạo ra đặc quyền của đa số và đong đếm phẩm giá từng người dựa trên việc người đó khác biệt so với số đông như thế nào, và bình thường hóa, biến nó thành

sự hiển nhiên, tiêu chuẩn Với mong muốn được góp phần giảm bớt sự kỳ thị từ xã

hội với người đồng tính nữ, tác giả đi đến thực hiện đề tài “Khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân” (Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hà Đông - Thành phố Hà Nội)

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài

Trên thế giới, hiện tượng đồng tính luyến ái đã xuất hiện từ lâu cùng với sự phát triển của loài người Ở châu Âu và Hoa Kỳ, những năm 60 của thế kỷ XX là thời kỳ phong trào “giải phóng” của người đồng tính luyến ái, đấu tranh đòi quyền bình đẳng trong xã hội cũng như vượt qua những chỉ trích của cộng đồng Đây cũng

là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của phong trào nữ quyền Và dường như cũng có

sự thay đổi trong mức độ cởi mở khi bàn luận về đồng tính luyến ái, cũng như sự đồng cảm tăng lên với những người thuộc “thế giới thứ ba”

Mặc dù các nhà thơ, các nhà triết học đã quan tâm tới tình yêu và sự ân ái của con người từ lâu nhưng việc nghiên cứu một cách nghiêm túc hoạt động tình dục trên

cơ sở khoa học lại được tiến hành gần đây Năm 1886, tác giả Kraphata Ebionzo (Áo)

đã xuất bản cuốn “Những rối loạn tình dục” được coi là cuốn sách nghiên cứu về tình

Trang 13

dục đầu tiên Đây là cuốn sách liệt kê lại những biểu hiện tình dục đa dạng, chủ yếu là những hiện tượng rối loạn tình dục Nhờ đó mà hiểu được những trạng thái như: rối loạn tình dục, hiếp dâm, tình dục bạo lực, Những khái niệm như khiêu dâm, kích dục thị giác, tình dục kiềm chế, ức chế tình dục đã được ông đưa ra cách đây một trăm ba mươi năm

Sau K.Ebionzo có rất nhiều công trình nghiên cứu hiện tượng tình dục đồng giới theo quan điểm tiến bộ Nhiều nhà nghiên cứu coi tình dục đồng giới (hay còn gọi là “đồng tính luyến ái” như một hiện tượng bẩm sinh Từ thời Cơ đốc giáo, tình dục đồng giới đã bị xem như một hiện tượng phóng đãng, quái đản, một sự suy sụp

về nhân cách hay là một biến chứng của bệnh ngứa Từ sau nghiên cứu của K.Ebionzo, nhiều nhà khoa học đã có cách nhìn khác và không lên án nhu cầu của người đồng tính luyến ái

Người có công thúc đẩy tình dục học phát triển là nhà tâm lý S.Freud, người sáng lập ra ngành phân tâm học Ngay từ đầu thế kỷ này ông đã xem xét những nhân tố xã hội trên cơ sở môi trường con người sinh sống, lý giải những hành vi con người bằng những vận động thầm kín của đời sống tâm lý Năm 1905, ông xuất bản tác phẩm “Ba bài thảo luận về tình dục” Một số quan điểm của ông cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học Tuy nhiên, do chỉ dựa vào quan sát y học, ông đã

đã đưa ra nhiều quan điểm cực đoan, không đủ sức đứng vững trước sự phát triển của khoa học hiện nay

Một bước nhảy vọt của nữa của khoa học nghiên cứu về tình dục là những nghiên cứu của A.C.Kinsey và cộng sự của ông Tuy là giáo sư động vật học nhưng Kinsey là người đầu tiên nghiên cứu tình dục từ góc độ xã hội học Năm 1948, ông

đã xuất bản cuốn sách “Ứng xử tình dục của đàn ông” với số lượng 200.000 nghìn

cuốn và tiêu thụ hết trong vòng 2 tháng Lý do hấp dẫn của cuốn sách rất đơn giản: Lần đầu tiên công bố số liệu cụ thể về đời sống tình dục nghiêm túc và ðýợc lý giải một cách khoa học

Trước cuốn sách đó, không ai biết chuyện thủ dâm phổ biến tới mức độ nào, bao nhiêu phụ nữ, đàn ông nếm trải tình dục đồng giới, bao nhiêu phần trăm phụ nữ biết từ 5 bạn tình trở nên Một điều đáng ngạc nhiên nữa là cuốn sách còn công bố

Trang 14

bao nhiêu phần trăm các cặp bạn tình kích thích tình dục bằng miệng, trong khi thời

ấy người ta vẫn coi phương pháp kích thích này là sự đồi bại Dưới tác động của những số liệu điều tra, xã hội học buộc phải thay đổi một số quan niệm

Sau khi xuất bản, cuốn sách đã phân chia dư luận thành hai khối: tán thành

và phản đối việc công bố các số liệu khách quan đó Giới thầy tu, chính khách phản đối việc lưu hành cuốn sách Họ tuyên bố rằng, Kensey đã phá vỡ nền tảng luân lý

Mỹ, rằng những hoạt động tương tự như vậy sẽ làm suy sụp xã hội Mỹ, thực ra ông đang phê phán xã hội Mỹ Tuy nhiên, những con số công bố chỉ có ý nghĩa lịch sử

vì nó chỉ phản đời sống thực trạng Mỹ những năm 40 của thế kỷ XX

Năm 1968, hai nhà nghiên cứu Phordo và Bach (Tiệp Khắc) công bố cuốn

sách nổi tiếng “Những hình thái tình dục” Hai ông đã tiến hành so sánh hoạt động

tình dục của từng dân tộc và chủng tộc khác nhau, bổ sung thêm những thông tin mới

về dịch học và sinh lý học Hai ông đã khẳng định rằng, các hình thức hoạt động tình dục không đơn thuần nảy sinh từ trạng thái hooc môn của cơ thể mà còn từ những yếu tố tâm lý xã hội

Từ những nghiên cứu rất nghiêm túc của khoa học về đời sống tình dục của các nhà khoa học, đặc biệt là những nghiên cứu theo góc độ xã hội học về vấn đề này đã giúp các cặp đồng tính luyến ái có cơ hội dần được khẳng định xu hướng tính dục của bản thân trước dư luận xã hội Đặc biệt là đối với nữ giới vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, liệu họ có được cộng đồng chấp nhận khi gia đình vẫn thực sự

là một nền tảng của xã hội

2.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực đề tài

Dù có được chấp nhận hay không thì người đồng tính nữ nói riêng và cộng đồng LGBT vẫn tồn tại trên toàn thế giới và Việt Nam Trong khi thế giới tiếp cận với cộng đồng người này từ khá sớm thì ở Việt Nam, đây vẫn là một vấn đề nghiên cứu khá mới mẻ và mới được tiếp cận nghiên cứu trong những năm gần đây

Những nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính thống về LGBT cũng như được sự quan tâm đặc biệt của những nhà hoạch định chính sách Mặc dù có khá nhiều tài liệu liên quan đến giới tính thứ ba, nhưng

Trang 15

trong phạm vi này, nghiên cứu sẽ chú trọng đến những tài liệu liên quan trực tiếp về mặt nội dung, phương pháp, cách tiếp cận và đặc biệt là tính giá trị khoa học của tài liệu

Nghiên cứu : “Có phải vì tôi là LGBT”-Phân biệt đối xử dựa trên xu hướng

tính dục và bản dạng giới tại Việt Nam (Lương Thế Huy ,Phạm Quỳnh Phương,

ISEE,2015) Trong nghiên cứu này, 2363 người trên 63 tỉnh thành Việt Nam đã trả lời hoàn thiện bảng hỏi trực tuyến, cùng với 10 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, hai cuộc thảo luận nhóm với tổng cộng tám người lựa chọn ngẫu nhiên từ những người

đã trả lời bảng hỏi trực tuyến về những trải nghiệm phân biệt đối xử, quấy rối và bạo lực bởi vì xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ Gia đình, trường học, nơi làm việc lần lượt là ba môi trường xảy ra nhiều sự phân biệt đối xử với người LGBT nhất [tr14]

Ép buộc thay đổi ngoại hình, cử chỉ (62.9%) và la mắng, gây áp lực (60.2%)

là các hành vi phổ biến nhất mà người LGBT gặp phải trong gia đình của mình Các hành vi bạo lực như bị nhốt, cầm giữ, ép buộc hay gợi ý rời khỏi gia đình, bị đánh đập chiếm khoảng 13-14% tổng số người tham gia khảo sát Gần 30% người từng bị

từ chối việc làm vì là người LGBT Đặc biệt, tỷ lệ người chuyển giới bị từ chối khi xin việc (59.0%) cao gấp ba lần so với nhóm đồng tính và song tính (19.6%) Người chuyển giới cũng bị phân biệt đối xử trong việc trả lương hay thăng tiến, khiến họ thường chỉ giữ các vị trí cấp thấp, cơ bản mà khó giữ các vị trí quản lý hoặc cao hơn, [tr14] Cứ bốn người LGBT thì có một người từng nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động tiêu cực từ các nhân viên y tế Sự phân biệt đối xử của môi trường y

tế tập trung vào việc phớt lờ các quy trình y tế chuẩn mực như tò mò quá mức về chuyện cá nhân, nhận lời khuyên không liên quan tới việc khám, điều trị và xúc phạm bằng lời nói Các nhu cầu đặc thù của người chuyển giới cũng chưa được lưu

ý, là lý do khiến tỷ lệ người chuyển giới tìm đến hỗ trợ y tế thấp hơn so với các nhóm còn lại Người LGBT cũng trải qua sự từ chối hay gây khó khăn khi điều trị bởi nhân viên lễ tân, y tế trong hai trường hợp là điều trị cấp cứu (5.4%) và khám chữa bệnh thông thường (7.9%), đây là những hành vi có khả năng gây ảnh hưởng

Trang 16

nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác,[tr16] Kết quả cho thấy ở những không gian công cộng càng phổ biến thì lại càng có tỷ lệ người LGBT trải qua phân biệt đối xử cao hơn: nhà vệ sinh (28.7%), phòng thay đồ, phòng tắm (25.0%), địa điểm giải trí (24.4%), nơi mua sắm (23.9%) hay nhà hàng, quán cà phê (21.9%) Một nửa người LGBT từng có người yêu tránh nắm tay hay thể hiện tình cảm nơi công cộng

vì lo sự bị xúc phạm, đe dọa Đây là con số trung bình so với nhiều nước trên thế giới, ,[tr17]

Tóm lại, nghiên cứu đã chỉ ra một cách rất chi tiết những khó khăn của cộng đồng người LGBT gặp phải trong giai đoạn hiện nay của đất nước, cùng với đó là

sự kêu gọi xã hội hãy bảo vệ thay vì kỳ thị phe thiểu số là người LGBT, bởi “Việc

người chuyển giới được sống đúng với giới tính mình mong muốn, giải phóng xã hội khỏi định kiến ép mình vào những chiếc hộp về giới, rằng một ngày sống được

là chính mình ý nghĩa hơn nhiều cả một đời luôn sống theo ý người khác Việc người song tính, đồng tính được kết hôn với người họ yêu, gửi thông điệp đến xã hội rằng tình yêu quan trọng như thế nào để hai con người có thể sống với nhau, cái gì

sẽ thật sự khởi tạo, duy trì và chấm dứt tình yêu”, [tr91]

Nghiên cứu Khát vọng được là chính mình - Người chuyển giới ở Việt Nam,

những vấn đề thực tiễn và pháp lý (Phạm quỳnh Phương, Lê Quang Bình, Mai

Thanh Tú, ISEE.2012) Nghiên cứu này tập trung vào tìm hiểu nhóm chuyển giới (những người cảm thấy bản dạng giới không hoàn toàn trùng khớp với giới tính sinh học của họ, bao gồm cả người đã hoặc chưa phẫu thuật chuyển đổi giới tính) ở Việt Nam, tìm hiểu đặc thù của cả hai nhóm chuyển giới từ nam sang nữ (MTF) và từ nữ sang nam (FTM), cũng như những vấn đề mà họ đang phải đối mặt Báo cáo đồng thời cũng đưa ra các khuyến nghị về mặt xã hội và pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của người chuyển giới và thay đổi nhận thức xã hội về nhóm chuyển giới nói riêng, LGBT nói chung,[tr6]

Người chuyển giới thường trải qua quá trình bối rối trong việc nhận diện bản dạng giới của chính mình cũng như đối mặt với những quyết định chuyển đổi (transition) khó khăn liên quan đến sử dụng hooc-môn, phẫu thuật và công khai thể

Trang 17

hiện giới Xu hướng thích người dị tính khiến tình yêu của người chuyển giới thường rơi vào tình huống bi kịch, tổn thương khi họ bị từ chối, hoặc bị lợi dụng về vật chất và tình dục Điều nghịch lý là tình yêu của họ vẫn bị xã hội xem là tình yêu đồng giới nên không được thừa nhận và không có tương lai Người chuyển giới đã

và đang phải chịu sự kỳ thị, nạn bạo hành và phân biệt đối xử chỉ vì khao khát của

họ được là chính mình Chỉ vì muốn được sống thật với bản dạng giới của mình mà

sự kỳ thị đeo đuổi họ từ trong gia đình, ngoài lối xóm, trong trường học, cơ sở khám chữa bệnh, cho đến ra ngoài xã hội, các không gian công cộng, nơi làm việc vv Sự bất công này khiến người chuyển giới - rất nhiều người có tài năng và nghị lực - bị ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe tâm thần, bị rủi ro cao về sức khỏe, không có cơ hội tìm kiếm việc làm và đóng góp hữu ích cho xã hội Những người đã trải qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoàn toàn cũng phải sống khép mình, xa lánh cộng đồng vì sợ bị phát hiện quá khứ của mình là người chuyển giới Thân phận yếu thế bội phần của người chuyển giới càng thêm nặng nề khi họ bị định kiến từ ngay trong các nhóm LGB khác, những người có cùng cảnh ngộ với họ trong sự đối mặt với định kiến xã hội để được là chính mình, nhưng lại thiếu sự hiểu biết, tương trợ

và thông cảm lẫn nhau Sự thiếu kết nối và tương tác đó khiến người chuyển giới càng thêm cô lập và do đó, càng phải đối diện với nhiều bất công và bất bình đẳng [tr81,82]

Nghiên cứu đã chỉ ra rất chi tiết những khó khăn của người chuyển giới trong quá trình tìm lại giới tính thật của họ Tuy nhiên khách thể nghiên cứu mới chỉ gói gọn trong phạm vi của người chuyển giới Nghiên cứu này sẽ góp phần mở rộng khách thể với người đồng tính nữ, để nhận diện những khó khăn từ phía khách quan lẫn chủ quan trong của họ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân

Nghiên cứu: Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và

báo mạng” (ISEE, 2011 ) Được thực hiện trên cơ sở tập hợp 502 bài báo về người

đồng tính và các vấn đề liên quan đăng trên 4 báo in gồm Thanh Niên, Tuổi trẻ, Tiền Phong, Công An Nhân Dân và 6 báo mạng.Đây là những bài báo được đăng

Trang 18

trên các báo vào 3 năm: 2004,2006 và 2 quý đầu năm 2008 Nghiên cứu chỉ ra góc nhìn về người đồng tính dưới con mắt của truyền thông Cụ thể, là hình ảnh được phác họa của người đồng tính dưới cách nhìn của truyền thông với hầu hết những cách nhìn méo mó, không chính xác ngay từ việc sử dụng các khái nhiệm liên quan tới người đồng tính Cụ thể, theo thống kê của nghiên cứu trong số 312 bài viết có

đề cập tới vấn đề tâm lý - xã hội của nhóm đồng tính thì có tới 23% đề cập tới bản năng tình dục của cộng đồng người này Về vấn đề tình dục, bên cạnh việc nhấn mạnh quá mức nhu cầu tình dục của người đồng tính, các nhà truyền thông thiên về quan niệm hành vi tình dục đồng giới và cả xu hướng tình dục đồng tính là đáng lên

án, đáng ghê tởm, không an toàn, là lối sống trụy lạc Mặt khác, nhà truyền thông bằng cách phản ánh của mình đã truyền thông điệp mà người đọc nhận được là người đồng tính dường như không có gì khác ngoài tình dục - họ có nhiều bạn tình với đời sống tình dục nhiều hiểm hoạ, còn tình yêu lâu dài thì không tồn tại Những thông điệp nhưvậy đã góp phần tạo ra và củng cố hình ảnh tiêu cực của người đồng tính trong mắt công chúng Tiếp đó, nhận định về nhân cách - đạo đức của người đồng tính, những người làm truyền thông cũng thiên lệch khi định hướng dư luận theo suy nghĩ đồng tính có nhân cách - đạo đức phần nhiều không tốt Theo nghiên cứu chỉ ra: Những nhu cầu chủ yếu của người đồng tính lại được phản ánh mang tính chất khá chủ quan như khi nhắc tới nhu cầu về con cái, dường như ít được nhắc tới, nếu nhắc tới không coi đây là quyền lợi mà coi như là một kết thúc bi lụy của mối tình đồng tính Thực tế, nhu cầu về con cái theo như khảo sát của Viện nghiên cứu xã hội , Kinh tế và Môi trường thì đây lại chính là nhu cầu chính Nghiên cứu

đã thống kê trên các kênh truyền thông: nhu cầu của người đồng tính được đề cập tới nhiều nhất là nhu cầu tình dục, kế tới là kết hôn, nhu cầu thể hiện bản thân, nhu cầu được tôn trọng các nhu cầu về con cái, lao động, giao tiếp ít được nhắc tới

Nghiên cứu cũng chỉ ra, giới truyền thông trong quá trình phản ánh hình ảnh của người đồng tính đã sử dụng những cách thức đưa tin tạo hình ảnh sai lệch về người đồng tính như sử dụng ngôn ngữ làm tăng định kiến đối với nhóm đồng tính,

cố gắng giải thích nguyên nhân của đồng tính mà thực chất, đồng tính không phải là

Trang 19

bệnh, vốn tự nhiên như những người dị tính khác trong xã hội Nhìn chung, số lượng bài viết mang mức độ kỳ thị khá cao trong thời điểm mà nhóm nghiên cứu thực hiện vào năm 2011

Như vậy có thể thấy, thông qua nghiên cứu này, đã phần nào thấy được áp lực và sự định hướng dư luận thiếu thiện cảm từ phía những nhà truyền thông dành cho người đồng tính, phần nào thấy được sự khó khăn trong việc đối mặt với cộng đồng chung sống của những người đồng tính Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, mới chỉ tập trung nhìn nhận dưới góc độ truyền thông về người đồng tính, đây mới chỉ là một phần, một khía cạnh trong việc nhìn nhận, tìm hiểu góp phần vào những nghiên cứu về cộng đồng LGBT nói chung và nữ đồng tính nói riêng

Nghiên cứu Sống trong một xã hội dị tính - Câu chuyện của 40 người nữ yêu

nữ (ISEE,2009 ).Phần Quan hệ với cha mẹ được công bố ngày 26/7/2009 cho thấy

Đa số những người "nữ yêu nữ" đều cố gắng giấu cha mẹ về tình trạng của mình để tránh cho cha mẹ khỏi buồn, sốc Lo sợ những phản ứng tiêu cực từ cha mẹ, gia đình mình nên họ thường che giấu tình yêu của mình bằng "bình phong" là người yêu nam giới song song với tình yêu nữ giới, bằng ngoại hình nữ tính, giấu các mối quan hệ trong xã hội Rất ít người chủ động nói về việc mình yêu một cô gái khác vì điều này rất khó khăn, cần có sự quyết định táo bạo của cả hai cô gái mặc dù họ mong muốn được sống thật Điều này vô tình tạo cho những người "nữ yêu nữ" một gánh nặng tâm lý khá lớn Ở một số gia đình, tuy các bậc sinh thành đã biết về tình yêu nữ giới của con nhưng họ cũng giấu điều này với những người xung quanh mặc

dù đã chấp nhận người yêu của con gái là một cô gái khác Tuy vậy, phần lớn các bậc phụ huynh khi biết con gái mình yêu nữ giới đều có những phản ứng mạnh mẽ

và cố gắng hướng con đến cuộc sống bình thường như những cô gái khác bằng việc khuyên nhủ hoặc thúc giục con từ bỏ cô gái kia, tìm kiếm người nam giới cho con kết bạn, tiến tới hôn nhân Nhiều bậc phụ huynh coi việc con gái bị đồng tính còn kinh khủng hơn nghiện ma túy hoặc mại dâm Cũng có người trong số 40 đối tượng

nữ yêu nữ tham gia nghiên cứu đã kết hôn với nam giới để thuận theo ý muốn của cha mẹ và đã có con, nhưng cuộc sống không hạnh phúc Nghiên cứu đã hướng tới

Trang 20

đối tượng là người nữ yêu nữ, tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ nhấn mạnh vào mối quan hệ của người nữ yêu nữ với cha mẹ và cách thức họ vượt qua gia đình khi bị phát hiện (chủ yếu là cố gắng làm người dị tính để che dấu xu hướng tình dục thật của bản thân), chưa đi vào tìm hiểu những khó khăn từ những phía khác mà người đồng tính gặp phải trong cuộc sống

Báo cáo quốc gia Là người đồng tính,song tính, chuyển giới ở châu Á

(UNDP,USAID.2014) Báo cáo cho thấy mặc dù cộng đồng LGBT tại Việt Nam đã lớn mạnh trong những năm gần đây, nhiều người LGBT vẫn gặp phải sự kỳ thị và phân biệt đối xử đáng kể trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, việc làm, chăm sóc y tế, truyền thông và trong gia đình Trong đó, những gia đình có con là người đồng tính ở Việt Nam nói chung và Châu Á nói riêng vẫn có quan điểm rất cực đoan, bảo thủ và phong kiến Vì vậy họ rất khó chấp nhận khi con mình có xu hướng tính dục và những biểu hiện lệch lạc so với chuẩn mực xã hội, từ đó dẫn đến những phản ứng và hành động phản đối gay gắt, quyết liệt,[tr48] Gia đình và xã hội nói chung thường tiếp nhận những thông tin từ người đồng tính từ các phương tiện truyền thông đại chúng, trong khi đó, như đã phân tích ở trên, rất nhiều báo đưa tin sai lệch về cộng đồng giới tính thứ ba, dẫn tới những hiểu biết lệch lạc Vì thế, họ sẽ không có được nhận thức đúng đắn và toàn diện về thế giới này, không hiểu về xu hướng tính dục và bản dạng giới nên khó để đồng cảm và chấp nhận

Tính tới thời điểm hiện tại, cái nhìn về đồng tính nữ cũng có những thay đổi, bản thân người đồng tính nữ trong cộng đồng cũng có những đổi thay hơn trước Đề tài nghiên cứu này muốn dựa trên những trăn trở, những mong ước bình dị còn để ngỏ của người đồng tính nữ, góp thêm một cái nhìn về những rào cản mà họ phải gánh trên đôi vai trong cuộc đời

Nhóm tài liệu đặc điểm và khó khăn của người đồng tính từ nhiều góc độ khác nhau đã bổ sung thêm hướng nhìn cho bản thân người nghiên cứu khi thực hiện đề tài Mỗi một nghiên cứu của các tác giả đã tạo nên một cách tiếp cận, phác họa những rào cản mà người đồng tính nói riêng và cộng đồng người LGBT nói chung gặp phải trong cuộc sống Từ đó đã tạo tiền đề cho tôi có cái nhìn tổng quát

Trang 21

về những khó khăn của những xu hướng tính dục tự nhiên trong xã hội, và tập trung vào dạng tính dục đồng tính nữ

Tóm lại, những nghiên cứu khoa học của các tổ chức, cá nhân đa số tập trung vào đối tượng là đồng tính nam hoặc nghiên cứu tổng thể về người nữ yêu nữ Mỗi một đề tài, nghiên cứu đưa ra một hướng nhìn, một cơ sở nhìn nhận về cuộc sống và cộng đồng người song tính, đồng tính và chuyển giới Chính vì vậy, dựa vào những nền tảng trên, cùng với những câu hỏi, thắc mắc mang theo trong suốt quá trình tìm

hiểu, đọc, xem tài liệu, đề tài “Những khó khăn trong quá trình khẳng định xu

hướng tính dục của bản thân của người đồng tính nữ.” (Nghiên cứu trường hợp tại quận Hà Đông - thành phố Hà Nội) sẽ tiếp tục đi sâu vào khai thác, tìm hiểu và giải

đáp những thắc mắc về khó khăn của người đồng tính nữ đang gặp phải hiện nay là gì? Thực hiện đề tài muốn góp thêm một cái nhìn qua lăng kính khoa học về người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu này là nhận diện được những khó khăn của người đồng tính nữ từ hai phía: Thứ nhất nhìn nhận những khó khăn từ chính bản thân người đồng tính Thứ hai, nhìn nhận những khó khăn này từ cộng đồng xã hộitại thành phố

Hà Nội.Từ đó đưa ra những khuyến nghị cho cộng đồng và người đồng tính nữ nhằm giảm bớt những khó khăn trong quá trình công khai xu hướng tính dục của người đồng tính nữ nói riêng và người đồng tinh Việt Nam nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ nghiên cứu đề tài Tìm hiểu thực trạng khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân: Tiếp cận từ hướng nhìn cộng đồng, gia đình

Tìm hiểu thực trạng khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân: Tiếp cận từ hướng nhìn bản thân người đồng tính nữ

Trang 22

Đưa ra một số kiến nghị nhằm định hướng về việc giảm thiểu những khó khăn của người nữ yêu nữ trong xã hội khi họ muốn công khai về xu hướng tính dục của bản thân

3.3.Câu hỏi nghiên cứu

Theo cách tiếp cận từ hướng nhìn cộng đồng và gia đình, người đồng tính nữ gặp phải khó khăn gì trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân? Nhóm cộng đồng nào dễ dàng chấp nhận xu hướng tính dục của người đồng tính nữ?

Theo cách tiếp cận từ hướng nhìn bản thân người đồng tính nữ, quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân gặp phải những khó khăn gì? Trong những khó khăn gặp phải, trở ngại nào khiến họ có cảm giác khó vượt qua nhất?

3.4 Giả thuyết nghiên cứu

- Sự kỳ thị của cộng đồng là nguyên nhân chính dẫn tới việc người đồng tính

nữ giấu kín xu hướng tính dục của mình

- Sự định hướng thông tin của truyền thông Việt Nam về người đồng tính nữ chưa chính xác dẫn tới sự kỳ thị của cộng đồng về nhóm người này

- Gia đình của người đồng tính nữ không dễ dàng chấp nhận xu hướng tính dục của con em mình

- Chính bản thân người đồng tính vẫn còn tự kỳ thị giới tính thực của mình

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Những người nữ đồng tính sinh sống và làm việc/ học tập tại Hà Nội

- Bạn bè, đồng nghiệp của những người đồng tính nữ tại Thành phố Hà Nội

Gia đình của những người đồng tính nữ hiện đang sinh sống tại thành phố

Hà Nội

Trang 23

4.3 Phạm vi nghiên cứu

4.3.1 Không gian nghiên cứu:

Đề tài xin phép mở rộng địa bàn nghiên cứu từ Quận Hà Đông - Thành phố

Hà Nội ra toàn địa bàn thành phố Hà Nội để đảm bảo tính đầy đủ của mẫu nghiên cứu

4.3.2 Thời gian: Từ tháng 6/ 2015 - 11/2016

Nội dung nghiên cứu:

Thứ nhất: Khó khăn từ bản thân người đồng tính

- Giai đoạn nhận diện xu hướng tính dục của bản thân

- Khó khăn trong việc tìm kiếm người yêu, bạn đời

- Khi tiết lộ hoặc bị phát hiện xu hướng tính dục của bản

Thứ hai: Khó khăn từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

- Khó khăn từ phía gia đình

- Khó khăn từ quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, sự kỳ thị của xã hội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Nghiên cứu này tổng hợp, phân tích tài liệu và sử dụng những nghiên cứu có liên quan đến đồng tính luyến ái, là phương pháp được sử dụng để rút ra những thông tin có sẵn cần thiết trong tài liệu để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Dựa vào các nguồn tài liệu sơ cấp của các tổ chức như iSEE, ISC, PFLAG… để có những thông tin chính thức phục vụ cho quá trình nghiên cứu Đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu thống kê từ UBND Thành phố Hà Nội và các nguồi tài liệu khác

5.2 Thu thập thông tin sơ cấp

5.2.1 Phỏng vấn bán cấu trúc (phỏng vấn sâu)

Là phương pháp định tính, tiến hành phỏng vấn sâu 07 khách thể là người nữ đồng tính trên địa bàn Hà Nội với nội dung về những khó khăn và cách thức đối mặt, khắc phục khó khăn gặp phải trong cuộc sống của họ Mục đích khi tiến hành phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu rõ hơn về những cảm nhận, suy nghĩ của người đồng tính nữ xoay quanh vấn đề đang nghiên cứu

Trang 24

Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 3 gia đình có con là người đồng tính và 5 người bạn, đồng nghiệp trực tiếp làm việc với người đồng tính nữ với nội dung tìm hiểu là nhận thức, thái độ và hành vi của họ đối với người đồng tính nữ

Tên của người tham gia phỏng vấn sẽ được thay hoặc sử dụng tên dùng trong giới của họ, đảm bảo tính khuyết danh và bảo mật thông tin trong nghiên cứu

Nội dung cơ bản của phỏng vấn bán cấu trúc:

- Thời gian, cảm nhận khi mới biết mình là đồng tính nữ

- Mối quan hệ với gia đình như thế nào, những suy nghĩ của gia đình về người đồng tính nữ và ngược lại

- Những khó khăn khi tìm kiếm người yêu, bạn đời của người đồng tính nữ

- Cảm nhận khi lộ diện xu hướng tính dục của bản thân

5.2.2 Khảo sát bằng bảng hỏi (tự ghi)

Bảng hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập thông tin, chỉ báo, mức độ, các vấn đề nghiên cứu của đề tài Mục đích: Thu thập thông tin của cộng đồng xã hội về những khó khăn trong quá trình khẳng định xu hướng tình dục của người đồng tính nữ

5.2.3 Mẫu khảo sát:

Nghiên cứu thực hiện trên 300 khách thể không bao gồm người đồng tính nữ, gồm: sinh viên, phụ huynh, cán bộ công nhân viên chức và người đi làm tự do (buôn bán, xe ôm,…) tại địa bàn thành phố Hà Nội Đặc điểm mẫu được thiết kế sau quá trình nghiên cứu thử:

Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng 132 41

Trang 25

5.2.4 Phương pháp xử lý thông tin:

Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để xử lý thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát Các số liệu định lượng sử dụng trong luận văn được rút ra từ cuộc khảo sát này

5.2.5 Phương pháp chọn mẫu

Để có thể mời được những người trả lời đến từ những khu vực khác nhau, có thể cung cấp thông tin đa dạng và toàn cảnh hơn,cũng do nhóm khách thể nghiên cứu có đặc thù riêng không thể sử dụng cách chọn mẫu thuận tiên, đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, áp dụng phương pháp chọn mẫu “Quả bóng tuyết - Snowball-network sampling”

- Phỏng vấn sâu 7 người đồng tính nữ: Đề tài bắt đầu chọn mẫu có chủ đích

từ một cá thể không ngẫu nhiên - một người đồng tính nữ từ cộng đồng “câu lạc bộ đồng tính nữ” Sau đó được sự giới thiệu của cá thể đó tới những người tiếp theo

- Với nhóm bạn bè và gia đình của người đồng tính nữ, đề tài cũng sử dụng phương pháp chọn mẫu “Quả Bóng tuyết” với cá thể ban đầu là người đồng tính nữ

đã đồng ý phỏng vấn, từ đó liện hệ với gia đình và bạn bè của họ

Phương pháp trưng cầu ý kiến qua mạng Internet

Tiến hành trưng cầu ý kiến 50 người đồng tính nữ thông qua diễn đàn, fanpage hoặc gửi đường dẫn phiếu trưng cầu tới từng địa chỉ mail cụ thể dưới sự giúp đỡ của một vài thành viên trong nhóm “Động lực trẻ” Trong quá trình gửi đường dẫn khảo sát tới các khách thể, người viết đưa ra đề nghị người tham gia trả lời phải thỏa mãn hai điều kiện: là người Việt Nam và đang sinh sống, làm việc tại

Hà Nội Nếu thỏa mãn cả hai điều kiện cần đã nêu, người tham gia trả lời sẽ tiếp tục thực hiện các câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến

Diễn đàn tiến hành gửi đường dẫn trưng cầu ý kiến là bangaivn.net đây là

diễn đàn lâu năm và có tiếng nói dành cho người đồng tính nữ nhất tại Việt Nam hiện nay Diễn đàn thu hút đối tượng tham gia trong khoảng độ tuổi từ 20 đến 45 Ngoài ra, còn tiến hành gửi đường dẫn lên các hội nhóm, diễn đàn của:

Trang 26

- Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế & Môi trường ISEE

- Viện nghiên cứu Phát triển Xã hội - ISDS

- Cộng đồng “Đồng tính nữ - Lesbian”

- Cộng đồng “Câu lạc bộ đồng tính nữ

- Cộng đồng “Đồng tính”

- Cộng đồng “Thế giới thứ 3”

Những hội nhóm, diễn đàn và cộng đồng gửi đường dẫn phiếu trưng cầu ý kiến đều là những cộng đồng uy tín, có tổ chức minh bạch tại Việt Nam Đặc điểm mẫu như sau :

Đã tiết lộ xu hướng tính dục (28 người)

Chưa tiết lộ xu hướng tính dục (22 người)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trang 27

để hỗ trợ cũng như xóa bỏ rào cản sự khác biệt giữa cộng đồng người thiểu số này với cộng đồng chung sống vẫn còn nhiều khoảng trống Việc nghiên cứu này được tiến hành với sự vận dụng một số khái niệm, lý thuyết như lý thuyết lệch chuẩn, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý… để nhìn nhận và đánh giá những khó khăn trong cuộc sống của người đồng tính nữ, sẽ góp phần nhỏ vào việc kiểm định các lý thuyết trong một vấn đề nhất định

Đặc điểm Văn hóa – Kinh tế – Xã hội

Việt Nam hiện nay

Tình

cảm

Lộ diện, công khai

Khó khăn của người đồng tính

Trang 28

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đưa thêm một góc nhìn về cộng đồng người LGBT hiện nay, đóng góp một phần vào các nghiên cứu về cộng đồng người này

Nghiên cứu muốn đem lại cho cộng đồng cái nhìn khách quan về người đồng tính nói chung và người đồng tính nữ nói riêng Để xã hội có những hiểu biết chính xác và đúng đắn về cộng đồng người đồng tính, tránh sự kỳ thị, phân biệt đối xử hay thậm chí coi họ như những người mắc bệnh xã hội

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và Kết luận Phần mở đầu

Phần nội dung: Chia làm 3 chương

Chương I: Cơ sở lý luận Chương này trình bày các lý thuyết sử dụng trong luận văn, các khái niệm làm việc và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu

Chương II: Thực trạng khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân: Tiếp cận từ hướng nhìn cộng đồng, gia đình tại địa bàn khảo sát

Chương III: Thực trạng khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân: Tiếp cận từ hướng nhìn bản thân người đồng tính nữ thuộc địa bàn khảo sát Kết quả nghiên cứu thu được từ cuộc khảo sát

sẽ làm rõ những giả thuyết đã đặt ra ở Phần mở đầu

Ngoài ra, trong phần phụ lục đính kèm luận văn, tác giả giới thiệu bảng hỏi dùng cho cuộc khảo sát định lượng và một số biên bản rút ra từ cuộc khảo sát giúp minh họa hoặc bổ sung thêm cho những phân tích ở Phần nội dung

Trang 29

1.1.1 Đồng tính (homosexual)

Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) định nghĩa: Đồng tính

là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với người cùng giới

Với nghiên cứu này, đối tượng hướng đến là những người đồng tính nữ, không đề cập tới những đa dạng tính dục khác

1.1.2 Đồng tính nữ

Theo như Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) định nghĩa thì đồng tính nữ là: Người mang giới tính nữ chỉ bị hấp dẫn bởi tình cảm, cảm xúc hoặc tình dục với người cùng giới tính nữ

Tuy nhiên, người nữ có quan hệ tình dục với người nữ lại không thể khẳng định đây là người đồng tính nữ Bởi ngoài tình dục, nếu không bị hấp dẫn bởi mặt tình cảm, cảm xúc với người nữ, vì lý do nào đó mà phải quan hệ với người nữ thì đây không phải là xu hướng tính dục tự nhiên, không thể gọi họ là người đồng tính nữ

Với nghiên cứu này, không đề cập tới những trường hợp khác ngoài người có

xu hướng tính dục đồng tính tự nhiên

1.1.3 Khó khăn

Theo từ điển tiếng Việt [9,482], khó khăn là gặp trở ngại, cản trở hoặc thiếu thốn trong cuộc sống Với nghiên cứu này, khó khăn đặt ra đối với người nữ đồng tính được xác định là những cản trở, thiếu thốn hoặc trở ngại trong quá trình họ bộc

lộ cho người khác thấy được xu hướng tình dục dành cho nữ của bản thân

1.1.4 Tính dục

Trung tâm ICS - tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người đồng tính tại

Việt Nam đưa ra định nghĩa khái niệm Tính dục trong cuốn “Nói về mình, những

Trang 30

gợi ý về quá trình công khai của người đồng tính”, thì khái niệm Tính dục được

hiểu theo nghĩa phổ thông là: Một khái niệm bao gồm giới tính sinh học (có cơ thể

là nam hay nữ), bản dạng giới (cảm nhận mình là nam hay nữ), xu hướng tình dục (yêu người cùng giới hay khác giới) và thể hiện giới (thể hiện là nam tính hay nữ tính) Tính dục khác với tình dục Tính dục của một người được hình thành trong quá trình trưởng thành của người đó, nhấn mạnh vào mối quan hệ yêu đương của

họ Thông thường, một người sẽ xác định được xu hướng tính dục (sexual orientation) của mình ở giai đoạn dậy thì, khi bắt đầu có những cảm xúc yêu đương

hướng đến một người khác

Ngoài ra, khái niệm “Tính dục” cũng được định nghĩa theo Ủy ban giáo dục

và thông tin về tình dục ở Mỹ đưa ra những năm 1970: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Tính dục phản ánh tính cách con người, không chỉ là bản chất sinh dục Tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần

và văn hóa của đời sống Những yếu tố này ảnh hưởng tới nhân cách và mối quan

hệ giữa người với người, có tác động trở lại xã hội

Với nghiên cứu này, sẽ sử dụng nghĩa “Tính dục” theo định nghĩa của trung tâm ICS, tính dục sẽ bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới, xu hướng tình dục

và thể hiện giới

1.1.5 Xu hướng tính dục

Theo Trung tâm ICS - tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người đồng tính tại Việt Nam, hay Tổ chức PFLAG Việt Nam - cộng đồng dành cho ba mẹ, gia đình

và bạn bè của người đồng tính cũng có định nghĩa tương tự, thì Xu hướng tính dục

là Một yếu tố trong tính dục, thể hiện bằng sự hấp dẫn có tính bền vững về cảm xúc, tình dục hoặc tình cảm hướng tới người cùng giới, khác giới hay cả hai Từ đó có các xu hướng như đồng tính, dị tính hoặc song tính

Trong tài liệu dịch từ tài liệu chính thức của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological, APA) dành cho người đồng tính của Trung tâm ICS - tổ chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người đồng tính tại Việt Nam, có chỉ ra các nhà

Trang 31

khoa học vẫn chưa hiểu rõ xu hướng tính dục hình thành và phát triển ở mỗi cá nhân như thế nào Các giả thuyết khác nhau giải thích về nguồn gốc của xu hướng tính dục, từ các yếu tố về gien hay hoóc-môn hay những trải nghiệm từ thơ ấu Tuy nhiên, các nhà khoa học thống nhất với nhau rằng với nhiều người, xu hướng tính dục được hình thành từ rất sớm thông qua những tương tác phức tạp về sinh học, các yếu tố tâm lý và xã hội Nguyên nhân nào làm một người yêu người cùng giới thì cũng chính là nguyên nhân làm một người yêu người khác giới Điều quan trọng

là đồng tính, dị tính hay song tính đều là những xu hướng tính dục bình thường, tự nhiên của con người Các nhà khoa học đã không còn tập trung nghiên cứu nguyên nhân tạo nên xu hướng tính dục nữa mà chuyển sang nghiên cứu ảnh hưởng của việc kì thị đồng tính và xóa bỏ những định kiến về đồng tính

Theo tài liệu này, xu hướng tính dục không thể được lựa chọn hay tập nhiễm

Xu hướng tính dục bắt đầu hình thành từ giai đoạn đầu của thiếu niên, trước cả khi

có những trải nghiệm về tình dục Nhiều người cố gắng thay đổi xu hướng tính dục nhưng không thành công Các nhà khoa học không xem đồng tính hay song tính, chuyển giới là một lực chọn hoặc hành vi tập nhiễm

Định nghĩa về Xu hướng tính dục (sexual orientation) Hội Tâm lý học Hoa

Kỳ cho rằng, Xu hướng tính dục là sự hấp dẫn về tình cảm, tình yêu và tình dục có

tính bền vững của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới Nó khác với những cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới (cảm nhận tâm lý mình là nam hay nữ), và vai trò giới (sự tham gia vào quan niệm xã hội về hành vi nam tính hay nữ tính) Xu hướng tính dục trải dài liên tục từ hoàn toàn dị tính ái đến hoàn toàn đồng tính ái và nhiều dạng khác nhau của song tính ái Những người song tính ái có thể có bị hấp dẫn về tình dục, tình cảm, cảm xúc với cả người cùng giới tính của họ và giới tính đối lập Xu hướng tính dục khác với hành vi tình dục bởi vì nó đề cập tới cả cảm nhận và quan niệm cá nhân Từng cá nhân có thể thể hiện xu hướng tính dục của mình thông qua hành vi tình dục của họ, và cũng có thể không.”

Trang 32

Nói tóm lại, xu hướng tính dục bao gồm cả sự bị hấp dẫn về tình cảm và thể chất tới người khác Từ đó phân ra các loại xu hướng tính dục:

• Bị hấp dẫn bởi người khác giới: Dị tính (Heterosexual)

• Bị hấp dẫn bởi người cùng giới: Đồng tính (Homosexual)

• Bị hấp dẫn bởi cả hai giới: Song tính (Bisexual)

• Bị hấp dẫn bởi bất kì giới nào: Toàn tính (Pansexual)

• Không bị hấp dẫn bởi bất kì giới nào: Vô tính (Asexual)

Có thể tóm gọn lại, về cơ bản đề tài này sẽ sử dụng định nghĩa, Xu hướng

tính dục là sự hấp dẫn về tình cảm, tình yêu và tình dục có tính bền vững của một

người với người khác Xu hướng tính dục được phân ra làm các loại: Dị tính, Đồng tính, Song tính, Toàn tính và Vô tính Xu hướng tính dục không phải là sự lựa chọn hay tập nhiễm, mỗi cá nhân dù có cố gắng cũng không thể thay đổi được xu hướng tính dục của bản thân…

1.2 Các lý thuyết sử dụng trong đề tài

1.2.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý (thuyết lựa chọn duy lý) trong Xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX Thuyết này gắn với các tên tuổi của nhiều nhà Xã hội học tiêu biểu như: George Homans, Peter Blau, James Coleman…

Thuyết sự lựa chọn hợp lý cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn duy lý nhằm đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ “ lựa chọn” để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định đưa ra cách thức tối ưu nhất, phương tiện tốt nhất trong số những cách thức, phương tiện hiện có, để đạt được mục đích có lợi nhất Mục đích đạt được không chỉ là vật chất mà còn có thể là lợi ích xã hội hoặc các yếu tố tinh thần

Quan điểm của Georg Simmel đề cập tới nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng, mỗi cá nhân luôn cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi và thỏa mãn nhu cầu bản thân Simmel cho rằng, mối tương

Trang 33

tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế Cho - Nhận, tức là trao đổi ngang giá nhau Chính cơ chế này hình thành nên sự lựa chọn mang tính chất hợp lý đối với riêng cá nhân đó trong những hoàn cảnh khác nhau Bên cạnh đó mỗi cá nhân đều

có những lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh cũng như mong muốn đạt lợi ích tối đa từ lựa chọn đó Sự lựa chọn hợp lý ở đây được vận dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, do con người luôn biết cách để đạt được lợi ích một cách tốt nhất

Áp dụng lý giải cho đề tài nghiên cứu này, có thể thấy, trong cuộc sống, người đồng tính nữ gặp phải những vấn đề trở ngại, họ luôn phải đặt mình trong lựa chọn làm thế nào để có thể tốt nhất hoặc lựa chọn thái độ, cách cư xử của bản thân

để đạt được lợi ích tinh thần nhất định Ví dụ, trong số những người đồng tính nữ,

có những người đã tiết lộ cho một vài hoặc nhiều người không trong cộng đồng LGBT biết về xu hướng tính dục của bản thân, lại có những người không tiết lộ cho bất cứ ai, ngoài những người cũng trong cộng đồng LGBT Vậy, có thể thấy, việc tiết lộ hay không tiết lộ xu hướng tính dục cũng là một sự lựa chọn của người đồng tính để đạt được mục đích của mình Có những người đồng tính luôn cố gắng che dấu bản thân, điều này có nghĩa họ gặp trở ngại hoặc vấn đề gì đó, khiến họ không lựa chọn việc muốn công khai xu hướng tính dục của mình Còn với những người

đã tiết lộ, có nghĩa, họ đã có những lựa chọn điều kiện, phương thức để công khai

xu hướng tính dục của bản thân “có lợi” ở một khía cạnh nào đó

1.2.2 Lý thuyết lệch chuẩn.

Sai lệch xã hội hay lệch chuẩn là nói đến sự không chuẩn, không phù hợp của hành vi với các quy tắc, giá trị, chuẩn mực của xã hội, của nhóm hoặc của cộng đồng Thuyết này được đề cập khá nhiều trong các lý thuyết xã hội học và được nhắc đến với những cái tên như Durkhiem (cấu trúc chức năng), Robert Merton (lý thuyết xung đột)…Việc xác định hành vi là chuẩn hay lệch chuẩn, sai lệch phụ thuộc vào văn hóa, đặc điểm nhóm, cộng đồng xã hội Tùy thuộc vào từng cộng đồng khác nhau mà sẽ có những quan niệm về quy tắc, giá trị chuẩn mực khác nhau Bên cạnh đó, yếu tố thời gian cũng là tác nhân dẫn tới việc xác định hành vi có lệch chuẩn hay không Như vậy, có thể nói, ở từng thời điểm khác nhau, từng không gian

Trang 34

khác nhau, hệ giá trị chuẩn mực kéo theo đó là những quan niệm về lệch chuẩn là khác nhau

Không có hành vi nào mang tính lệch chuẩn bất biến Ví dụ, tại Đan Mạch màu đỏ có ý nghĩa tích cực nhưng tại một vài nước Châu Phi màu đỏ lại là biểu tượng của yêu thuật hay sự chết chóc Ở Campuchia, người dân không thích số 8, đặc biệt là doanh nhân vì nghĩ nó là hình ảnh của chiếc còng tay, nhưng ở Việt Nam hoặc Trung Quốc, thì số 8 lại là con số may mắn, phát tài phát lộc, doanh nhân đặc biệt ưa chuộng Điều này có thể thấy, ở mỗi tiểu văn hóa khác nhau, có những tiêu chuẩn, hệ giá trị khác nhau, có thể với vùng tiểu văn hóa này thì hành vi là chuẩn mực, nhưng vẫn hành vi đó, khi ở tiểu văn hóa khác lại trở thành lệch chuẩn

Một ví dụ khác về sự không bất biến của hành vi lệch chuẩn liên quan tới vấn đề thời gian: Tại Việt Nam, thời kỳ bao cấp, việc kinh doanh buôn bán tiểu tư sản bị cấm gần như triệt để, đây có thể nói là một hành vi lệch chuẩn, đi ngược lại tinh thần Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, việc phát triển kinh doanh buôn bán lại được nhà nước chú trọng quan tâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp

Trong xã hội học, mỗi trường phái có cách giải thích lệch chuẩn khác nhau E.Durkhiem với góc nhìn của trường phái cấu trúc chức năng, thì lệch chuẩn là một phần của sự vận động Xã hội Ông cho rằng lệch chuẩn là một bộ phận gắn liền với

sự phát triển của Xã hội, gồm bốn chức năng: Thứ nhất: sự lệch chuẩn khẳng định giá và tiêu chuẩn của văn hóa Thứ hai: sự lệch chuẩn làm sáng tỏ ranh giới của đạo đức thông qua các phản ứng với những sai lệch Thứ ba: thông qua sự phản ứng của cộng đồng với những lệch lạc xã hội làm tăng tính thống nhất của xã hội Thứ tư: sự lệch lạc khuyến khích sự thay đổi xã hội vì nó đưa ra các biện pháp thay đổi các giá trị và tiêu chuẩn đang tồn tại

Quay trở lại vấn đề đồng tính luyến ái có là lệch chuẩn hay không, điều này

sẽ thay đổi theo không gian và thời gian Tại một số nước phương Tây, việc kết hôn đồng giới được pháp luật thừa nhận, người đồng tính được thừa nhận công khai, nhưng tại Việt Nam, đây vẫn là vấn đề để ngỏ Tại Hi Lạp cổ xưa, có những đội

Trang 35

quân là người đồng tính, họ được chấp nhận sinh sống như những người dị tính khác Nhưng hiện nay, đặc biệt là tại Việt Nam, đồng tính có là lệch chuẩn hay không vẫn đang được đánh giá bởi nhiều suy nghĩ, con mắt khác nhau Khi sử dụng

lý thuyết lệch chuẩn trong nghiên cứu này nhằm lý giải những nhận định, hành vi của cộng đồng đối với người đồng tính nữ trong thời điểm hiện tại của Việt Nam

1.2.3 Lý thuyết “Mô hình nhận diện của Cass”

Lý thuyết “Mô hình Nhận diện của Cass”[4,tr.14,15] -lý thuyết do Vivienne

Cass đưa ra vào năm 1979 Đây là một trong những lý thuyết được các tổ chức hỗ trợ cộng đồng LGBT quan tâm chú ý và nhắc tới nhiều nhất Nội dung lý thuyết này thực chất là một mô hình gồm sáu giai đoạn Mô hình này mang tính chất tiên phong, nó được xây dựng trên cái nhìn bình đẳng về các xu hướng tính dục và đã xem xét đến cả yếu tố kỳ thị động tính Mô hình này lấy bối cảnh Xã hội còn xem đồng tính là bất thường và kỳ thị họ Cass mô tả một quá trình gồm 6 giai đoạn khi một người đồng tính nam hoặc nữ nhận diện mình là đồng tính và hòa nhập với xã hội xung quanh

Theo ICS, có thể các giai đoạn của Cass được trình bày theo dạng nối tiếp nhau, nhưng trên thực tế, tùy vào mỗi cá nhân, tùy vào hoàn cảnh riêng mà không nhất thiết các giai đoạn này phải trải qua lần lượt Có cá nhân sẽ bỏ qua, có cá nhân

sẽ quay ngược hoặc ở một giai đoạn nào đó nhiều lần trong đời Các giai đoạn mà Cass đưa ra mang tính chất tổng hợp nhất, không áp dụng riêng biệt cho một trường hợp cụ thể nào Mô hình nhận diện của Cass gồm 6 (sáu) giai đoạn như sơ đồ 2.1 Việc Cass chỉ ra sáu giai đoạn trong quá trình nhận diện của người đồng tính có ý nghĩa khá quan trọng đối với các nghiên cứu về LGBT nói chung và những tìm hiểu

về người đồng tính nói riêng Như đã nói, các giai đoạn có thể không được sắp xếp theo bất cứ thứ tự nào, nó phụ thuộc vào việc bản thân cá nhân đón nhận vấn đề ra sao, môi trường hoàn cảnh cá nhân đang tồn tại như thế nào…

Trang 36

(Sơ đồ 2.1: Mô hình nhận diện của Cass)

Trong mô hình nhận diện của Cass, giai đoạn được đưa lên đầu tiên là giai đoạn bối rối, sau đó là có những so sánh, rồi chấp nhận, thừa nhận, tự hào và hòa nhập Không phải cá nhân nào cũng trải qua hết các giai đoạn, nhưng để có thể tiến tới giai đoạn tự hào và hòa nhập đối với mỗi cá nhân cần những điều kiện hoàn cảnh, thời giann nhất định Ở đây, khi đề cập tới mô hình này, với dụng ý muốn khai thác từ phía bản thân người đồng tính nữ Mặc dù không thể tách rời cá nhân

và tập thể cộng đồng, tâm lý hay suy nghĩ của người đồng tính nữ cũng sẽ phải chịu

ít nhiều tác động từ môi trường, hoàn cảnh sống, từ phía điều kiện xã hội nói chung, nhưng với hướng nhìn này, sẽ chủ yếu đi sâu khai thác, nhìn nhận những khó khăn, rào cản mà người đồng tính nữ gặp phải từ chính trong suy nghĩ, tư tưởng, tâm lý chủ yếu tự thân mang lại

Sau mô hình nhận diện của Cass, các tổ chức và nhà nghiên cứu về LGBT thu gọn lại từ 6 giai đoạn xuống còn 3 giai đoạn như sơ đồ 2.2

Với mô hình rút gọn này, các giai đoạn được nhìn nhận một cách tổng quát hơn Tuy nhiên, những dấu hiện biểu hiện của chủ thể được nhắc đến không được

1 Giai đoạn bối rối: Tự hỏi có phải người đồng tính hay không, thường

sẽ thấy lúng túng, khó chấp nhận bản thân

2 Giai đoạn so sánh: Chấp nhận khả năng có thể mình là người đồng

tính Quan niệm tích cực về việc khác biệt hay thể hiện ra bên ngoài

3 Giai đoạn chấp nhận: Chấp nhận việc mình là người đồng tính, nhận

ra những nhu cầu tình cảm, giao tiếp xã hội

4 Giai đoạn thừa nhận: Thừa nhận bản thân là đồng tính, kết nối nhiều

hơn với người đồng tính, ít tiếp xúc dần với người dị tính

5 Giai đoạn tự hào: Tham gia nhiều cộng đồng đồng tính, ít tiếp xúc

với người dị tính, nhìn thế giới chỉ có “Đồng tính”/ “Không đồng tính”

6 Giai đoạn hòa nhập: Xem chuyện đồng tính là một khía cạnh trong

nhiều khía cạnh khác của bản thân

Trang 37

chỉ ra ở từng giai đoạn như Cass Các giai đoạn trong mô hình rút gọn này cũng sẽ không giữ nguyên vị trí đối với từng cá nhân Không mang tính chất cố định, bắt buộc phải trải qua hết các giai đoạn hay giới hạn số lần đi qua các giai đoạn Một cá nhân có thể bắt đầu từ giai đoạn bất kỳ, lặp lại một giai đoạn bất kỳ hoặc bỏ qua giai đoạn nào đó

(Sơ đồ 2.2: Mô hình nhận diện rút gọn 3 giai đoạn)

Với lý thuyết này sẽ vận dụng vào nghiên cứu để lý giải tâm lý thông qua các giai đoạn tiến tới công khai xu hướng tính dục của người đồng tính nữ

1.3 Nhận diện về người đồng tính nữ tại Việt Nam

Các nghiên cứu khoa học mới nhất cho thấy rằng: Đồng tính là những biến thể thông thường của đa dạng sinh học Theo Tiến sỹ Bruce Bagemihl - tác giả của cuốn “Biological Exuberance: Animal Homosexuality and Natural Disversity” thì khoa học đã ghi nhận đồng tính có trong hơn 1500 loại động vật có vú, chim, bò sát, côn trùng và các động vật khác trên toàn Thế giới Điều này khiến chúng ta không thể chối cãi sự tồn tại của đồng tính trong tự nhiên Đồng tính được chứng minh là một sự đa dạng sinh học của tính dục tự nhiên, không phải là bệnh, không lây lan Trải qua nhiều thập kỷ, dù có thời gian, loài người cố gắng sử dụng các loại thuốc, giải phẫu… mọi cách có thể nghĩ ra để tiến hành chữa cho người “bị” đồng tính, nhưng thực tế, đồng tính vẫn tồn tại, không bị chữa trị hay đào thải Trong những

Giai đoạn nhìn nhận bản thân: Đây là khoảng thời gian khởi đầu – khi bắt

đầu đặt những câu hỏi, tiến dần tới bước công nhận bản thân và cân nhắc xem

có nên nói cho những người xung quanh mình biết hay không

Giai đoạn công khai: Đây là khoảng thời gian lần đầu trò chuyện, chia sẻ

với mọi người về xu hướng tính dục hay bản dạng giới của mình Những

người đó có thể là gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, bạn học…

Giai đoạn sống cởi mở: Là khoảng thời gian từ sau lần đầu trò chuyện, chia sẻ

với mọi người Chủ động hơn trong việc tâm sự về cuộc sống đời thường của

Trang 38

báo cáo khoa học, chưa một ai có thể tìm ra nguyên nhân của đồng tính, những nhà khoa học uy tín và những tổ chức y tế có tiếng nói trên Thế giới đều đi tới công nhận, đồng tính không phải là bệnh Theo một tài liệu tổng hợp của tổ chức ICS dành cho cộng đồng người LGBT ( người đồng tính, song tính và chuyển giới), tỷ lệ người LGBT trên Thế giới từ 5 - 10 % dân số, không ít đi hay nhiều hơn qua các thời kỳ Tỷ lệ này khá ổn định và không chịu sự đào thải của tự nhiên Cộng đồng người đa số người dị tính không hiểu hết về họ, không có nghĩa họ là những người bất bình thường và là khiếm khuyết của Xã hội Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu Nam làm việc tại Viện Chiến lược và chính sách y tế là một trong những người có quan tâm

và nhiều nghiên cứu về đồng tính tại Việt Nam Theo bà tìm hiểu nghiên cứu, tỷ lệ người đồng tính nói riêng từ khoảng 1 - 5%, với Việt Nam, tỷ lệ an toàn mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là ở mức 3%

Tại Việt Nam, quan hệ đồng giới không bị tội phạm hóa, nhưng theo kết quả nghiên cứu của iSEE (Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường) thì việc kỳ thị đối với người đồng tính nói chung và với đồng tính nữ nói riêng còn phổ biến

Đa số mọi người cho rằng đồng tính là không bình thường Theo một nghiên cứu

mà iSEE đưa ra thì 20% khi bị phát hiện là người đồng tính mất bạn, 15% bị gia đình chửi mắng, đánh đập, 4.5% từng bị tấn công, 1.5% bị đuổi học và 4.1 % bị đuổi khỏi chỗ ở, 6.5% mất việc là với lý do là người đồng tính

Pháp luật Việt Nam vẫn chưa thừa nhận hôn nhân đồng giới, nhưng cũng đã

có cái nhìn cởi mở hơn với cộng đồng người tiểu số này Từ tháng 7/2013, dự thảo sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình trải qua nhiều kỳ họp thảo luận, lấy ý kiến, trong đó có vấn đề hôn nhân đồng tính Tháng 7/2013, ban soạn thảo dự luật bỏ điều

"cấm", có giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản, con cái của việc sống chung như vợ chồng giữa những người đồng tính Tháng 9/2013, dự luật chuyển "cấm" thành

"không thừa nhận", không đề cập đến hậu quả pháp lý, tài sản, con cái của việc sống chung giữa họ Đến tháng 5/2014, dự luật chuyển "cấm" thành "không thừa nhận",

và bỏ điều 16 trong dự thảo trước đó, tức không còn giải quyết hậu quả pháp lý về tài sản, nội trợ hoặc con cái giữa những người đồng tính Mặc dù cộng đồng người

Trang 39

đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam có cuộc vận động 16+ mong muốn giữ lại điều 16 trong bộ luật và thêm một số quyền dành cho người đồng tính Tuy nhiên, đến nay, mong muốn này vẫn là một sự chờ đợi Với riêng cộng đồng người đồng tính nữ, trong một cuộc điều tra của iSEE năm 2012, có 92% người được hỏi (mẫu 2.401 người) muốn pháp luật cho phép kết hôn đồng giới Về nhu cầu sinh con, 70% người đồng tính nữ muốn có con, 13% không muốn và 17% không rõ

Những con số, thống kê và quan điểm của các nhà nghiên cứu trên cho thấy phần nào bức tranh về người đồng tính tại Việt Nam Người đồng tính nói chung và người đồng tính nữ nói riêng dường như vẫn không được chính thức thừa nhận và còn nhiều những rào cản trong cuộc sống Theo như iSEE thì tại Việt Nam, không

có Hiệp hội hoặc cơ quan đại diện của người đồng tính và song tính Hiện chỉ có tổ chức phi chính phủ với những dự án hỗ trợ người đồng tính trong cuộc sống Tuy nhiên, những tổ chức này hoạt động khá sôi nổi và liên kết tạo được tiếng vang cũng như góp phần thay đổi nhận thức của cộng đồng về người đồng tính

Trang 40

Chương 2 KHÓ KHĂN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NỮ TRONG QUÁ TRÌNH KHẲNG ĐỊNH XU HƯỚNG TÍNH DỤC CỦA BẢN THÂN: TIẾP CẬN

TỪ HƯỚNG NHÌN CỘNG ĐỒNG VÀ GIA ĐÌNH 2.1 Những khó khăn mang lại từ phía cộng đồng sinh sống (bạn bè/ thầy cô/ hàng xóm/ đồng nghiệp)

2.1.1 Nhận thức của cộng đồng về đồng tính nữ

Đồng tính nữ là thuật ngữ đã được du nhập vào Việt Nam cách đây không lâu, trước sự xuất hiện của HIV/AIDS tại Việt Nam đầu thập niên 1990, có rất ít thông tin về người đồng tính Từ đầu những năm 2000, các diễn đàn tiếng Việt trên internet dành cho người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ bắt đầu xuất hiện và tăng dần về số lượng Từ năm 2008, sự xuất hiện của các tổ chức lớn hoạt động dành cho người đồng tính ở Việt Nam đã thu hút được rất nhiều người tham gia, đồng nghĩa với tỷ lệ người biết đến thuật ngữ này cũng ngày càng nhiều hơn Đặc biệt, những tranh cãi trong sửa đổi luật Hôn nhân và gia đình về kết hôn đồng tính cũng đã được

dư luận cả nước biết đến Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng có quy định cụ thể: “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8)

Dựa trên thực trạng nêu trên, đề tài tiến hành khảo sát trên 300 khách thể tại thành phố Hà Nội về những khái niệm, quan điểm cơ bản nhất về đồng tính nữ, kết quả thu về cho thấy:

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ người dân nhận biết về thuật ngữ đồng tính nữ

Chưa bao giờ nghe đến

Đã từng nghe đến nhưng chưa biết nội dung

Nắm sơ qua nội dung Nắm rõ nội dung

Ngày đăng: 17/05/2017, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aki Trần, Châu Loan, Thế Huy biên soạn, (2009), Những đứa con của chúng ta: Hỏi - Đáp dành cho Phụ huynh của Người Chuyển giới, Tổ chức PFLAG Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đứa con của chúng ta: Hỏi - Đáp dành cho Phụ huynh của Người Chuyển giới
Tác giả: Aki Trần, Châu Loan, Thế Huy biên soạn
Năm: 2009
2. Lê Quang Bình, Nguyễn Thị Thu Nam, Lê Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Quỳnh Trang, (2010), Sống trong một Xã hội dị tính, câu chuyện từ 40 người nữ yêu nữ Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống trong một Xã hội dị tính, câu chuyện từ 40 người nữ yêu nữ
Tác giả: Lê Quang Bình, Nguyễn Thị Thu Nam, Lê Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Quỳnh Trang
Năm: 2010
4. Thế Huy,Châu Loan, biên soạn, (2011), Nói về mình - Những gợi ý về quá trình công khai của người đồng tính, Trung tâm ISC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về mình - Những gợi ý về quá trình công khai của người đồng tính
Tác giả: Thế Huy,Châu Loan, biên soạn
Năm: 2011
5. Lương Thế Huy biên soạn, (9/2014), Quyền của tôi, Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Trung tâm ICS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của tôi
6. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, (2012), Trả lời các câu hỏi của bạn về đồng tính và xu hướng tình dục, Trả lời các câu hỏi của bạn về người chuyển giới, bản dạng giới và thể hiện, Trung tâm ICS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trả lời các câu hỏi của bạn về đồng tính và xu hướng tình dục, Trả lời các câu hỏi của bạn về người chuyển giới, bản dạng giới và thể hiện
Tác giả: Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ
Năm: 2012
7. Hùng Thắng, Thanh Hương, Bằng Cẩm, (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hùng Thắng, Thanh Hương, Bằng Cẩm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh Niên
Năm: 2002
8. Minh Thảo, Châu Loan biên soạn, (2013), Lời mẹ kể: Câu chuyện của những người mẹ có con là người đồng tính, PFLAG Việt Nam, ICS, iSEE, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời mẹ kể: Câu chuyện của những người mẹ có con là người đồng tính
Tác giả: Minh Thảo, Châu Loan biên soạn
Năm: 2013
9. Nguyễn Quý Thanh,(2011), Một số quan điểm xã hội học của Durkhiem, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm xã hội học của Durkhiem
Tác giả: Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2011
10. Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi Trường (iSEE), (2009), Đặc điểm kinh tế xã hội của người Nam giới có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam, Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi Trường (iSEE), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm kinh tế xã hội của người Nam giới có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam
Tác giả: Viện nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi Trường (iSEE)
Năm: 2009
11. Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền, (2011), Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng”, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng
Tác giả: Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế Giới
Năm: 2011
10. 15/05/2014. Tổng cục thống kê, Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo địa phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: 15/05/2014. Tổng cục thống kê

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Quan điểm cộng đồng về việc ai có thể là đồng tính nữ. - Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
Bảng 2.1 Quan điểm cộng đồng về việc ai có thể là đồng tính nữ (Trang 41)
Bảng 2.2: Nhận thức của cộng đồng người đồng tính nữ - Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
Bảng 2.2 Nhận thức của cộng đồng người đồng tính nữ (Trang 43)
Bảng 2.4 Phản ứng của gia đình đối với người đồng tính nữ (20 người tiết lộ) - Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
Bảng 2.4 Phản ứng của gia đình đối với người đồng tính nữ (20 người tiết lộ) (Trang 57)
Bảng 3.1: Quan điểm người đồng tính nữ về xu hướng tính dục của bản thân - Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
Bảng 3.1 Quan điểm người đồng tính nữ về xu hướng tính dục của bản thân (Trang 77)
Bảng 3.2: Các vấn đề gặp phải trong lĩnh vực tình yêu của người đồng tính nữ - Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
Bảng 3.2 Các vấn đề gặp phải trong lĩnh vực tình yêu của người đồng tính nữ (Trang 78)
Bảng 3.5: Lý do người đồng tính nữ chưa lộ diện bản thân - Những khó khăn của người đồng tính nữ trong quá trình khẳng định xu hướng tính dục của bản thân
Bảng 3.5 Lý do người đồng tính nữ chưa lộ diện bản thân (Trang 88)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w