1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện ba vì, thành phố hà nội

87 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm nay, Ba Vì đã tập trung khai thác lợi thế về đất đai trong sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm mà chăn nuôi bò sữa được huyện xác định

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ NỘI, Năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng từ thực tiễn trong công tác, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trang 3

và tiêu thụ sản phẩm bò sữa tại huyện Ba Vì 34

2.4 Tác động của liên kết đến các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba

Vì 53 2.5 Đánh giá những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong liên kết các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì 59 Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI SẢN PHẨM BÒ SỮA Ở HUYỆN BA VÌ 64 3.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế 64 3.2 Một số quan điểm về vấn đề tăng cường liên kết các chủ trong chuỗi bò sữa huyện Ba Vì 66 3.3 Một số giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa huyện Ba Vì 67 KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện 32

Bảng 2.2 Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 42

Bảng 2.3 Lợi ích của hộ chăn nuôi khi tham gia liên kết 54

Bảng 2.4 Lợi ích của doanh nghiệp khi tham gia liên kết 56

Bảng 2.5 Lợi ích của cán bộ khoa học khi tham gia liên kết 57

Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước đến năm 2025 65

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ Hình 2.1: Sơ đồ các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa 33 Hình 2.2 Sơ đồ liên kết cung ứng thức ăn chăn nuôi 37 Hình 2.3 Sơ đồ liên kết cung ứng thuốc thú y và phòng trừ dịch bệnh cho bò sữa 39 Hình 2.4 Sơ đồ liên kết cung ứng vốn 41 Hình 2.5 Sơ đồ tổ chức liên kết với hộ chăn nuôi của công ty CP sữa Quốc tế IDP 47 Hình 2.6 Sơ đồ liên kết với Hộ chăn nuôi của công ty Cổ phần sữa Ba Vì 48 Hình 2.7 Sơ đồ liên kết tập huấn kỹ thuật cho hộ chăn nuôi bò sữa của Công ty chế biến sữa 51 Hình 2.8: Sơ đồ khối lượng dòng sản phẩm trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba

Vì, Thành phố Hà Nội 58 Hình 2.9: Sơ đồ chi phí, lợi nhuận trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội 58

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau 30 năm thực hiện đường lối Đổi mới, ngành nông nghiệp nước ta đã đạt được thành tựu to lớn và khá toàn diện; tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng; nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp Với những gì đã và đang diễn ra trong ngành nông nghiệp, nhu cầu liên kết ngày càng trở nên cấp bách hơn, không chỉ có nông dân có nhu cầu liên kết mà ngay cả các doanh nghiệp, các chủ thể khác trong chuỗi sản xuất hàng hóa nông nghiệp cũng có nhu cầu này Liên kết chuỗi nông sản là xu thế phát triển tất yếu của nông nghiệp hiện đại, nhưng làm thể nào để thúc đẩy các chuỗi liên kết phát triển bền vững là câu hỏi đặt ra cần phải có lời giải

Ba Vì là một huyện có địa bàn rộng với tổng diện tích tự nhiên là 42.402 ha, trong đó đất nông nghiệp 29.183 ha (chiếm trên 68% diện tích tự nhiên), dân số trên

280 ngàn người, cách trung tâm Thành phố Hà Nội khoảng 60 km Trong nhiều năm nay, Ba Vì đã tập trung khai thác lợi thế về đất đai trong sản xuất nông nghiệp theo

hướng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm mà chăn nuôi bò sữa được huyện xác định

là một hướng đi mới, giúp các hộ nông dân xoá đói, giảm nghèo và có thể vươn lên làm giàu, kết hợp với phát triển du lịch tạo sự chuyển dịch tích cực trong phát triển kinh

tế của huyện

Trên địa bàn huyện Ba Vì, năm 2011, có khoảng 1.500 hộ chăn nuôi bò sữa với tổng đàn bò là 5.500 con Đến hết năm 2015, tăng lên là 1.800 hộ chăn nuôi bò sữa với tổng đàn bò là 10.000 con (chiếm 65% tổng đàn bò sữa toàn Thành phố Hà Nội) Sữa Ba Vì đã được cấp nhãn hiệu hàng hóa năm 2010, UBND huyện Ba Vì đã ban hành quy chế sử dụng nhãn hiệu Đến nay, thương hiệu sữa Ba Vì đã và đang

có chỗ đứng trên thị trường Tuy nhiên, cũng còn có những hạn chế như: sức cạnh tranh của sữa Ba Vì chưa cao, nhiều các nhà hàng, khách sạn ở Ba Vì cũng như người dân ở ngay Ba Vì thay vì chọn sữa Ba Vì là chọn các sản phẩm sữa khác như Vinamilk, Cô gái Hà Lan, TH true milk ; giá thu mua sữa cho nông dân chăn nuôi

Trang 8

của các công ty chế biến sữa trên địa bàn huyện cũng bấp bênh, lúc cao, lúc thấp, ép giá đối với người nông dân (có khi điều chỉnh giá sữa 2 lần trong 01 tháng hoặc cắt giảm 2.000đ/kg sữa trong 6 tháng đối với hộ nuôi mới), do vậy nhiều hộ nông dân không an tâm đầu tư vào chăn nuôi bò sữa; việc chăn nuôi chủ yếu vẫn theo mô hình nhỏ lẻ (gia trại), bình quân mỗi hộ nuôi 5-7 con, chưa có nhiều mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn kiểu trang trại Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên như: việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi bò sữa còn hạn chế, chưa có nhà máy sản xuất thức ăn trên địa bàn huyện nên chưa chủ động được nguồn thức ăn và chất lượng thức ăn cho chăn nuôi dẫn đến giá thành sản phẩm chăn nuôi còn cao, xử lý môi trường trong chăn nuôi chưa đảm bảo tốt, chăm sóc y tế, phòng chống dịch bệnh cho đàn bò chưa được thường xuyên Song nguyên nhân chủ yếu là việc liên kết giữa nông dân và các DN chế biến sữa (công ty

Cổ phần Sữa Quốc tế IDP chi nhánh Ba Vì, Công ty Cổ phần Sữa Ba Vì, Neslté ) trên địa bàn huyện Ba Vì trong việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm thiếu tính bền vững, chưa có giải pháp phù hợp để ràng buộc hai bên; liên kết giữa nông dân với các doanh nghiêp, nhà khoa học, Nhà nước trong việc cung ứng vốn sản xuất, thức

ăn chăn nuôi, thuốc thú ý và phòng trừ dịch bệnh cho bò sữa còn hạn chế, thiếu các

cơ chế rõ ràng Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài "Liên kết các chủ thể

tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội" làm

luận văn thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các nghiên cứu về nội dung liên kết

Nghiên cứu nền nông nghiệp hợp đồng, thiết lập cơ sở pháp lý đảm bảo cho lợi ích của nông dân trong liên kết nông nghiệp với công nghiệp chế biến, cụ thể hơn là nhà DN chế biến với người nông dân, Humphrey, J and Schmitz (2000) đã nhấn mạnh các liên kết giữa hộ nông dân với DN chế biến, thường dẫn đến thua thiệt cho hộ nông dân Nông nghiệp hợp đồng là một hệ giải pháp để có thể giúp giảm thiểu những rủi ro

đó Song, nếu nhà nước không có những giải pháp kiểm soát sẽ rất khó có thể đảm bảo được lợi ích thực thụ của nông dân tham gia chuỗi sản phẩm Ở các vùng có lợi thế so

Trang 9

sánh sản xuất quy mô lớn nguyên liệu cho DN chế biến thì sự liên kết nông nghiệp và công nghiệp chế biến lại có ý nghĩa quyết định đến lợi ích gia tăng của DN và nông nghiệp Ở cấp độ nhà nước địa phương, liên kết trong thực thi các giải pháp giám sát, theo dõi và đánh giá các quy hoạch mà nhà nước đã xây dựng mang tính thực tiễn cao cho vùng Phối hợp liên ngành là hết sức cần thiết để thực thi các giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn

Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng trong nông nghiệp đưa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua việc phân bổ thật rõ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro, và quyền quyết định Thực hiện nông nghiệp hợp đồng là hệ giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn là nông dân thiết thòi trong quan hệ với DN chế biến và DN thu mua Hệ giải pháp thực hiện nông nghiệp hợp đồng mang tính đồng thuận giữa nông dân, DN và những người quản lý ở các địa phương có các vùng chuyên canh

Các nghiên cứu tiếp cận liên kết chuỗi

Tiếp cận nghiên cứu liên kết theo chuỗi được sử dụng nhiều trong nghiên cứu liên kết kinh tế theo cụm ngành và liên kết theo lãnh thổ kinh tế theo sự phân bố không gian địa kinh tế của chuỗi Somuah và các cộng sự (2013) đã phân tích liên kết ở cấp

độ vĩ mô trong thực thi chính sách nông nghiệp và phát triển cụm ngành công nghiệp chế biến dựa trên bản đồ hóa các chuỗi giá trị và cho rằng, sự gắn kết giữa các lãnh thổ

để hỗ trợ cho chuỗi sản xuất lúa gạo chưa được thiết lập Sự cắt xẻ giữa các vùng nông nghiệp với các doanh nghiệp chế biến cũng làm cho việc giảm sút mức độ tiếp cận dinh dưỡng từ những sản phẩm chế biến đa dạng khác và nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất nông nghiệp của Ghana

Khi phân tích quản trị trong Global Value Chains, Humphrey và Schmitz (2001)

đã làm rõ vai trò hoạch định chính sách phát triển các cụm ngành kết nối chuỗi cung cứng toàn cầu Trong một quốc gia, việc phân bố các chuỗi giá trị để có thể liên kết được chuỗi cung ứng toàn cầu phải được các địa phương phối hợp với nhau thực thi chính sách hỗ trợ chuỗi, hỗ trợ marketting; tạo sự minh bạch trong tiếp cận thông tin thị trường nội địa và toàn cầu, liên kết chuyển giao công nghệ trong các cụm ngành của

Trang 10

chuỗi cung ứng; phân tích những thay đổi trong chuỗi cung ứng nhằm ứng phó với những thách thức khủng hoảng kinh tế

Michael E Porter (1990), đã phân tích các liên kết bên trong và khu vực địa lý của chuỗi và nhấn mạnh “các liên kết tạo ra cơ hội giảm chi phí thông qua hai cơ chế: điều phối và tối ưu hóa” Ông đã xem xét vấn đề vị trí địa lý hoạt động CGT có ảnh hưởng đến các chi phí hoạt động của chuỗi Ông nhấn mạnh, vị trí địa lý phản ánh lựa chọn chính sách, và một số khía cạnh văn hóa truyền thống, hoặc do tính chuyên môn hóa đầu vào

Những nghiên cứu về liên kết kinh tế của hộ nông dân

Liên kết nông dân – doanh nghiệp cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong đó Hồ Quế Hậu đã đưa ra khá đầy đủ về nội dung, các tiêu chí và các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết này đồng thời phân tích tổng quát về thực trạng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến nông sản Việt Nam trong thời gian qua Mối liên kết này còn được đề cập đến dưới một tên gọi khác là nông nghiệp hợp đồng trong

Cho đến nay đa số các tác giả nghiên cứu về vấn đề liên kết kinh tế của hộ nông dân trên từng lĩnh vực nhỏ khác nhau như nghiên cứu về quan hệ kinh tế với hộ nông dân thông qua các hợp đồng sản xuất tại các vùng chè và mía ở Sơn La của tác giả Nguyễn Thị Hà (2010), Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của

hộ nông dân ở tỉnh Thái Bình của tác giả Vũ Đức Hạnh (2015), Nghiên cứu các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ sản phẩm thịt lợn trên địa bàn tỉnh Nghệ An của tác giả

Phạm Thị Tân, Phạm Văn Hùng (2013)

Có thể khẳng định, các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp theo hình thức hộ sản xuất hàng hóa đã xuất hiện và phát triển ở nhiều nơi Tuy nhiên, những hạn chế trong việc liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vẫn là phổ biến, nằm ở vấn đề liên kết trong cung ứng vốn, cung ứng vật tư nông nghiệp, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khả năng kết nối và khả năng chống chịu rủi ro Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa trên phạm vi địa bàn huyện Ba Vì trong sản xuất, thu gom,

Trang 11

bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; cung ứng vốn, tiếp cận và áp dụng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất Những kết quả của luận văn hy vọng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định phát triển chăn nuôi bò sữa và thương hiệu sữa Ba Vì của huyện Ba Vì, góp phần mang lại lợi ích cho người nông dân, nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp của huyện một cách bền vững và ổn định; từng bước đưa thương hiệu sữa Ba Vì có thể cạnh tranh với các thương hiệu sữa khác và xuất khẩu ra thị trường nước ngoài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ về cơ sở lý luận và thực trạng liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết của các chủ thể tham

gia chuỗi sản phẩm nông nghiệp;

- Làm rõ thực trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, qua đó đánh giá được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa huyện Ba Vì;

- Đề xuất quan điểm và giải pháp đẩy mạnh liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba

Trang 12

hộ nông dân chăn nuôi bò sữa với các doanh nghiệp chế biến sữa, các nhà cung cấp đầu vào trên địa bàn huyện Ba Vì trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm sữa, các chủ thể khác ngoài huyện hoặc nước ngoài được đề cập ở mức độ nhất định

Thời gian nghiên cứu đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì từ năm 2011 đến 2016 và các giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể giai đoạn 2017 - 2025

4.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực tế có tồn tại và phát triển các hình thức liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa của huyện Ba Vì?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự liên kết của các chủ thể?

- Những tồn tại, hạn chế trong liên kết các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa của huyện Ba Vì?

- Cần phải có những giải pháp chính sách đột phá nào để thúc đẩy liên kết giữa các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa của huyện Ba Vì?

4.4 Giả thuyết nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm

bò sữa Ba Vì của các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm đã được hình thành, mang lại những lợi ích nhất định cho nông dân, doanh nghiệp và kinh tế của huyện Ba Vì Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn những rào cản và hạn chế nhất định trong việc kết nối các chủ thể trong chuỗi sản phẩm cả về chiều ngang lẫn chiều dọc Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình vận hành chuỗi sản phẩm và tạo ra giá trị gia tăng từ chăn nuôi bò sữa của huyện Ba Vì thời gian qua

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn số liệu luận văn thu thập gồm có nguồn số liệu thứ cấp và số liệu điều tra

5.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu, tài liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu, báo cáo của UBND huyên Ba Vì, UBND các xã khảo sát, các phòng ban có liên quan của huyện Ba Vì như Phòng kinh

Trang 13

tế, Phòng Tài nguyên và môi trường, Trạm khuyến nông, Trạm bảo vệ thực vật, Hội Nông dân, Hội phụ nữ…; tài liệu, báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ

Ba Vì, Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Môn Ca Đa

5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Để thu thập số liệu mới luận văn tiến hành điều tra thực địa tại một số xã và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì Trong đợt điều tra thực địa, luận văn sử dụng hai phương pháp chính: phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Với phương pháp phỏng vấn, và điều tra bằng bảng hỏi, tác giả đưa ra các câu hỏi chủ yếu để nắm bắt ý kiến chủ quan của các hộ chăn nuôi, các cán bộ khoa học, các cán bộ lãnh đạo xã, huyện và lãnh đạo doanh nghiệp chế biến về mối liên kết kinh

tế đang diễn ra giữa họ với các chủ thể khác Từ đó tìm hiểu thực trạng, tác động của liên kết kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi sản phẩm bò sữa trên địa bàn huyện Ba Vì

* Chọn điểm nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi chọn địa điểm nghiên cứu là các xã trọng điểm phát triển chăn nuôi bò sữa gồm Ba Vì, Ba Trại,Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài… của huyện Ba Vì, cũng là đại diện cho vùng nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội, môi trường, văn hóa

Để thu thập số liệu mới tôi sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi đối với các cán bộ chủ chốt ở huyện, xã, các chủ doanh nghiệp, người buôn bán, chủ trang trại, các cán bộ khoa học…ở những điểm nghiên cứu Cụ thể điều tra các nhóm:

- Đối với nhóm cán bộ huyện, xã, thị trấn: điều tra bảng hỏi đối với 16 cán bộ hiện

là phó chủ tịch huyện, chủ tịch các xã, chủ tịch hội nông dân, hội phụ nữ các xã phát triển chăn nuôi bò sữa

- Đối với các hộ nông dân: điều tra bằng bảng hỏi với 200 chủ hộ chăn nuôi bò

sữa ở 5 xã Ba Trại, Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài, Ba Vì Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên: Khối hộ chăn nuôi bò sữa mục tiêu là 1.200 hộ ở 5 xã được chọn điều tra; Khối hộ chăn nuôi bò sữa lấy mẫu là 200 hộ; Khung lấy mẫu được phân

Trang 14

thành 3 tầng, trong từng tầng sử dụng phương pháp lẫu mẫu ngẫu nhiên đủ 200 hộ

Phân tầng Khung lấy mẫu Khối hộ mục tiêu Khối hộ chọn mẫu

- Đối với các cán bộ làm khoa học trên địa bàn nghiên cứu: điều tra bằng bảng

hỏi đối với 20 người là kỹ sư của Trung tâm nghiên cứu Bò và đồng cỏ Ba Vì

* Phương pháp phỏng vấn sâu

Đề tài phỏng vấn trực tiếp 02 Giám đốc doanh nghiệp chế biến sữa có quy mô lớn nhất trên địa bàn huyện Ba Vì là Công ty cổ phần sữa Ba Vì và Công ty cổ phần sữa quốc tế IDP, chi nhánh Ba Vì

5.2 Phương pháp phân tích số liệu

Phương pháp xử lý số liệu: Luận văn sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu Phương pháp thống kê so sánh : Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để mô

tả, phân tích và so sánh kết quả thực hiện liên kết giữa các chủ thể thông qua các chỉ tiêu định tính (các hình thức liên kết, trách nhiệm và lợi ích của các bên ) và định lượng (thời gian tham gia liên kết, tỷ lệ tham gia liên kết )

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 15

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết các chủ thể

trong chuỗi nông sản

Chương 2: Thực trạng liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa tại huyện Ba Vì, Hà Nội

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì, Hà Nội

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT CÁC

CHỦ THỂ TRONG CHUỖI NÔNG SẢN 1.1 Liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản

1.1.1 Khái niệm liên kết

Liên kết nói chung, liên kết trong nông nghiệp và liên kết trong sản xuất nông nghiệp nói riêng đều có bản chất chung là liên kết

Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hóa và gần đây mới gọi là liên kết

Theo David (1999) “Liên kết kinh tế chỉ các tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững”

Điều 1 quyết định số 38/1989/QĐ-HĐBT ngày10/04/1989 của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong SX lưu thông và dịch vụ: “Liên kết kinh tế là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và

đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc SX kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy SX theo hướng có lợi nhất”

Theo Hồ Quế Hậu (2010): Liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung

Qua đó, tôi cho rằng: Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông sản, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thị trường mới Mục tiêu của

Trang 17

liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của mình từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho các bên

Khác với các ngành sản xuất – kinh doanh khác, sản xuất – kinh doanh nông nghiệp có những đặc thù riêng, chẳng hạn như các sản phẩm nông nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh rất khác nhau (kể cả trong cùng một sản phẩm cũng có những điểm đặc thù như: có cây trồng chu kỳ thay giống mới kéo dài vài năm mới thay giống một lần; có cây trồng sau mỗi vụ phải thay giống…, khác nhau kỹ thuật, chăm sóc, tiêu thụ… lại diễn ra thường xuyên); các tác nhân (tổ chức, cá nhân) tham gia sản xuất – kinh doanh cũng rất đa dạng, đặc biệt là các hộ cá thể… Do vậy, liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp cũng có những điểm khác biệt, và có thể được định nghĩa như sau:

Liên kết sản xuất – kinh doanh nông nghiệp là hình thức phối hợp, hợp tác thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành, để cùng nhau đề

ra và thực hiện các công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế được xây dựng

trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia dưới hai hình thức chủ yếu là hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng chính thống) trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và thỏa thuận miệng (hợp đồng phi chính thống) Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định, hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi chủ thể tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng chủ thể thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau và cùng có lợi Trong liên kết các chủ thể thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ và không đầy đủ, không phân biệt hình thức

sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, ngành kinh tế - kỹ thuật hay lãnh thổ Trong khi tham gia liên kết, không một chủ thể thành viên nào bị mất quyền tự chủ của mình, không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với Nhà nước theo pháp luật

hoặc nghĩa vụ hợp đồng đã ký với các chủ thể khác

Trang 18

1.1.2 Khái niệm về chuỗi nông sản

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi sản phẩm nói chung, chuỗi nông sản nói riêng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả trích lược một số quan điểm về chuỗi sản phẩm của các tác giả trên thế giới

Theo Filière (2005), khái niệm chuỗi sản phẩm được nhận thức chủ yếu bằng kinh nghiệm thực tế và được sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hóa

và xác định những người tham gia vào các hoạt động

Theo GTZ Eschborn (2007), chuỗi sản phẩm là một loạt các hoạt động kinh

doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó; đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng, hay chuỗi sản phẩm là một loạt quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng chủ yếu của mình để sản xuất, chế biến và phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch sản xuất và kinh doanh, trong đó sản phẩm

được chuyển từ tay nhà sản xuất, sơ chế ban đầu đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Ganeshan và cộng sự cho rằng chuỗi sản phẩm là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến người tiêu dùng

Tác giả Christopher cho rằng chuỗi sản phẩm là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng, bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng

Như vậy, theo các quan điểm đã trích dẫn, về cơ bản chuỗi sản phẩm nói chung hay chuỗi nông sản nói riêng hình thành trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể;

do đó, có thể nói chuỗi nông sản là chuỗi liên kết, chính sự liên kết các chủ thể tạo

Trang 19

nên chuỗi nông sản Chuỗi nông sản bao gồm một hành trình liên kết giữa các chủ thể trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm:

- Cung cấp: tập trung vào các hoạt động cung cấp đầu vào cho sản xuất nông sản ra sao? chủ thể chế biến hoặc chuyển đổi trong chuỗi mua nông sản như thế nào? mua từ đâu và khi nào nông sản được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất?

- Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nông sản thành sản phẩm cuối cùng

- Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả

Như vậy, liên kết chuỗi nông sản bao gồm tất cả các khâu từ cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ sản phẩm đến tay người tiêu dùng; các chủ thể trong chuỗi nông sản không chỉ bao gồm nhà cung cấp đầu vào, nhà sản xuất, nhà chế biến, mà còn liên quan đến hoạt động thương mại, kinh doanh, bán hàng và người tiêu dùng

1.1.3 Tính tất yếu liên kết các chủ thể trong chuỗi nông sản

Liên kết kinh tế là sự hợp tác cùng phát triển của hai hay nhiều bên không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mối quan hệ liên kết chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh tế Do đó các bên tất yếu sẽ liên kết với nhau nhằm đảm bảo, nâng cao lợi ích của mình Điều đó được thể hiện:

- Chủ thể sản xuất, kinh doanh các ngành, lĩnh vực (các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, trang trại ) có quy mô nhỏ và vừa thường bị các chủ thể lớn cạnh tranh và mang lại bất lợi về lợi ích cho các chủ thể vừa và nhỏ Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi chủ thể đều có một hoặc vài lĩnh vực chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt, hoặc có những sản phẩm đặc thù riêng; bên cạnh đó, là một loạt các hoạt động phụ mà bản thân chủ thể không thể tự mình sản xuất ra thành phẩm, hoặc tự thực hiện tiêu thụ được mà phải nhờ đến các chủ thể khác mới đảm bảo sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm ấy Muốn vậy, phải có sự hợp tác giữa các chủ thể với doanh nghiệp khác để tạo ra sản phẩm với quy mô lớn hơn và tiêu

Trang 20

thụ được trên thị trường; giảm thiểu được bất lợi trong hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh

- Liên kết kinh tế còn giúp cho các chủ thể phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, tạo cơ hội đứng vững khi thị trường có những biến đổi bất lợi Điều đó thể hiện trong những trường hợp sau:

+ Nhu cầu của thị trường là luôn thay đổi, điều đó buộc các chủ thể sản xuất vừa phải luôn thay đổi các mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách đa dạng hóa sản phẩm Chính sự liên kết kinh tế mới có thể giúp cho các chủ thể đạt được điều mong muốn là thích ứng với thị trường

+ Liên kết kinh tế giúp cho các chủ thể sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm của mình được nhanh hơn Trong xu thế toàn cầu hóa các hình thức liên kết được thực hiện với quy mô “xuyên quốc gia”; những sản phẩm hàng hóa do bản thân từng doanh nghiệp khó tiêu thụ, nhưng nếu đặt trong vị trí liên kết thì dễ tiêu thụ được, từ đó thúc sản xuất phát triển

+ Liên kết kinh tế còn giúp các chủ thể có thể tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhờ có sự phối hợp với các nhà nghiên cứu ở các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước

+ Liên kết kinh tế còn thúc đẩy liên kết, hỗ trợ nhau về vốn trước những thay đổi của thị trường mà vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của doanhh nghiệp, buộc các chủ thể ấy phải tìm cách liên kết, hỗ trợ về vốn và công nghệ để hoàn thành ra sản phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường

- Liên kết kinh tế giúp các chủ thể giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm Để tránh được rủi ro, nhiều nhà sản xuất đã biết phân tán sự rủi ro bằng cách mời gọi các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện và triển khai dự án Thậm chí mỗi chủ thể phải đảm bảo một phần công việc tùy theo năng lực của từng chủ thể Như vậy, mỗi chủ thể tham gia dự án sẽ chịu một phần rủi ro (nếu có xảy ra)

đến hiệu quả đạt được của chuỗi giá trị hàng nông sản đối với từng chủ thể tham gia

Trang 21

chuỗi và đối với nền kinh tế quốc dân Việc hình thành được chuỗi liên kết để kiểm soát chặt từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, trên cơ sở tổng thể quy hoạch phát triển nông nghiệp, với sự tham gia tích cực của các chủ thể Điều cần quan tâm trước tiên của liên kết các chủ thể là sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất Phân công và chuyên môn hóa càng sâu thì nhu cầu liên kết nói chung, hợp tác nói riêng càng lớn Cũng cần lưu ý là lợi ích là cơ sở quan trọng của các mối quan hệ liên kết nhưng các ràng buộc kinh tế- kỹ thuật là cơ sở quyết định cho mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể

1.1.4 Các hình thức, phương thức liên kết

1.1.4.1 Các hình thức liên kết

Các hình thức liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các tác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng, chủ yếu bao gồm các hình thức với các nội dung cơ bản sau:

Hợp đồng bằng văn bản

Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm Hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với giá đặt trước” Đây là hình thức kinh tế hợp tác trực tiếp, quan hệ giữa hai bên bị ràng buộc bởi hợp đồng, do đó có tính ổn định hơn

Thỏa thuận miệng

Thỏa thuận miệng không phải là hợp đồng kinh tế, nó không giống như hợp đồng văn bản nhưng thực tế thỏa thuận miệng lại tồn tại khá phổ biến Các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một

số hoạt động, công việc nào đó Thỏa thuận miệng cũng được các bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của thỏa thuận miệng là niềm tin, độ tín nhiệm, trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các chủ thể tham gia hợp đồng Thỏa thuận miệng thường được thực hiện giữa những người có quan hệ thân thiết (họ hàng, bàn bè, anh em ruột, ) hoặc giữa các chủ thể đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất - kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể

Trang 22

hiện được nguồn lực tài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên, thỏa thuận miệng trong thực tế thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa

1.1.4.2 Các phương thức liên kết

Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo các phương thức chiều dọc (liên kết dọc) hoặc chiều ngang (liên kết ngang), trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế Cụ thể:

Một là, liên kết dọc: Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá

trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọc là toàn diện nhất bao gồm từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian

Hai là, liên kết ngang: Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá

nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của tổ chức liên kết Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợp tác xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định

1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế của các chủ thể

1.1.5.1 Nhân tố về thị trường

Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển càng mạnh thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động Trên thực tế sản xuất, ở mỗi vùng, mỗi địa bàn có những điều kiện khác nhau Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất của mình, điều đó quyết định có nên sản xuất sản phẩm hay không và bán được giá cao hay thấp Nơi nào thị trường hàng hóa phát triển thấp thì giá bán càng bất lợi cho nhà sản xuất; ngược lại

Trang 23

thị trường sôi động, nông sản hàng hóa giao dịch nhiều thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường Để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong điều kiện của người nông dân còn khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố đầu vào, đầu ra của sản xuất, khi

ấy buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà có điều kiện cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra Càng nhiều hộ có nhu cầu cung cấp dịch vụ thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động

1.1.5.2 Nhân tố cơ chế chính sách

Chính sách của Nhà nước đóng vai trò định hướng cho phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển nền nông nghiệp và mối liên kết giữa các chủ thể nói riêng Yếu tố này càng được quan tâm đúng ñắn, kịp thời thì hiệu quả liên kết càng cao

Có thể kể đến một số chính sách sau đây:

Chính sách kinh tế nhiều thành phần: Trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay nhiều thành phần kinh tế có thể tham gia như: kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác, kinh tế hộ nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân… Việc quy định vị trí vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế là quan trọng nhằm đảm bảo tính ổn định của sản xuất

Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp Đầu tư trước hết vào việc xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao thông và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa

Chính sách giá cả, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: khi cần thiết Nhà nước có những chính sách tác động đến giá cả, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể và hỗ trợ cho các chủ thể một phần khi gặp khó khăn trong quá trình sản xuất

Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng và các chính sách hỗ trợ kèm theo Chính sách này trực tiếp tác động vào mối liên kết

ba nhà và tạo điều kiện cho cả ba chủ thể tham gia vào liên kết có hiệu quả

1.1.5.3 Năng lực liên kết của các chủ thể

Thứ nhất, năng lực liên kết của hộ nông dân: năng lực liên kết của hộ nông

dân được đánh giá thông qua 3 yếu tố đó là nhận thức của hộ về liên kết (trình độ

Trang 24

của hộ/chủ hộ), khả năng kinh tế của hộ để tham gia liên kết và quy mô sản xuất của

hộ

Về quy mô sản xuất của hộ: quy mô sản xuất của hộ được thể hiện thông qua diện tích và sản lượng nông sản sản xuất ra Theo kết quả của một số nghiên cứu thì quy mô sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng đến liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ Thông thường khi quy mô sản xuất của hộ càng lớn thì nhu cầu tham gia liên kết tiêu thụ sản phẩm của hộ càng lớn bởi vì thông qua mối quan hệ liên kết, hộ nông dân sẽ hạn chế được rủi ro về giá cả sản phẩm Trong khi hộ nông dân sản xuất quy

mô nhỏ có thể trực tiếp vận chuyển sản phẩm của mình đi tiêu thụ ở chợ địa phương hay các đại lý nhỏ trong khu vực thì những hộ có quy mô sản xuất lớn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt trong điều kiện thị trường không ổn định và giá cả thường xuyên biến động Chính vì thế hộ có quy mô sản xuất lớn có nhu cầu liên kết trong tiêu thụ sản phẩm để ổn định giá cả, yên tâm đầu

tư sản xuất và có thể nhận được hỗ trợ sản xuất từ các doanh nghiệp hay đơn vị liên kết thu mua sản phẩm Các đơn vị, doanh nghiêpj chế biến cũng mong muốn liên kết với hộ sản xuất có quy mô lớn hơn so với hộ có quy mô nhỏ vì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí theo dõi, giám sát thực hiện liên kết

Về nhận thức của nông dân về liên kết tiêu thụ sản phẩm: nhận thức của con người được cấu thành bởi nhiều yếu tố như trình độ văn hóa, khả năng hiểu biết, kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh Trình độ văn hóa của chủ hộ (một trong những yếu tố cấu thành nhận thức của chủ hộ) là một yếu tố có ảnh hưởng đến việc tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản (Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, 2005) Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới dưới nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ thì liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ Trước kia, các hộ nông dân có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo cách truyền thống đó là sản xuất mà không cần biết trước họ sẽ bán sản phẩm cho ai, vào khi nào và với giá cả bao nhiêu Hiện nay thói quen đó đang dần được thay thế bởi phương thức sản xuất kinh doanh mang

Trang 25

tính công nghiệp, trong đó có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa hộ sản xuất với doanh nghiệp chế biến, người bán buôn, bán lẻ trong chuỗi cung ứng Sản xuất của hộ nông dân ngày nay phải đáp ứng nhu cầu của đơn vị thu mua sản phẩm chứ không đơn thuần chỉ bán sản phẩm tùy ý ra thị trường tự do như trước kia Mặc dù vậy, nhận thức của nông dân về vấn đề liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn nhiều bất cập Nhiều hộ nông dân chưa hiểu rõ được lợi ích của liên kết nên không tham gia liên kết Trong khi đó nhiều hộ nông dân lại chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt nên sẵn sàng vi phạm thỏa thuận hay hợp đồng liên kết bằng cách bán sản phẩm ra thị trường chứ không bán cho đơn vị liên kết thu mua sản phẩm khi giá sản phẩm trên thị trường cao hơn so với mức giá thỏa thuận, ký kết trong hợp đồng Đây là vấn đề xảy ra khá phổ biến ở các nước đang phát triển, với quy mô sản xuất

Về điều kiện kinh tế của hộ nông dân: điều kiện kinh tế của hộ nông dân có thể ảnh hưởng đến vấn đề liên kết trong tiêu thụ sản phẩm của hộ Hộ nông dân nghèo thường thiếu vật tư, tiền vốn, gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận thị trường nên có thể có nhu cầu liên kết với các đơn vị chế biến thu gom cao hơn, đặc biệt khi các đơn vị chế biến, thu gom đó cam kết hỗ trợ vật tư, giống, vốn, kỹ thuật cho quá trình sản xuất của hộ Mặc dù vậy, hộ nghèo thường cũng có nhận thức không đầy

đủ về lợi ích của liên kết hoặc chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt nên tỷ lệ hộ nghèo

vi phạm các điều khoản trong hợp đồng, thỏa thuận liên kết với đơn vị thu gom, chế biến cũng chiếm tỷ lệ cao hơn

Thứ hai, năng lực liên kết của DN: Các DN tham gia liên kết bao gồm chủ

yếu các DN hoạt động về: cung ứng giống, cung ứng vật tư và DN chế biến tiêu thụ Năng lực liên kết của DN phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô DN, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và nhu cầu của thị trường về sản phẩm của DN

Về quy mô DN: Các DN sẽ căn cứ vào quy mô sản xuất, kinh doanh của mình để xác định vùng nguyên liệu, lượng nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của

DN Những DN có quy mô sản xuất lớn, vốn đầu tư lớn thì nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất lớn hơn, để đảm bảo có nguồn nguyên liệu thường xuyên, đáp ứng

Trang 26

nhu cầu sản xuất buộc các doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽ hơn với đối tượng sản xuất nguyên liệu đầu vào (hộ nông dân, chủ trang trại…)

Về khả năng cạnh tranh của sản phẩm: Những DN sản xuất, kinh doanh các sản phẩm mà có nhiều sản phẩm thay thế trên thị trường, các DN phải nâng cao về chất lượng sản phẩm và đảm bảo về mặt giá thành không bị cao hơn các sản phẩm khác cùng loại của công ty khác Để thực hiện được điều đó, các DN ngoài việc cải tiến về công nghệ sản xuất thì việc quan tâm đến chất lượng nguyên liệu đầu vào cũng phải chặt chẽ hơn Khi đã liên kết với vùng nguyên liệu, đối tượng cung cấp nguyên liệu, DN phải sẽ phải liên kết với các nhà khoa học để hướng dẫn người sản xuất sản xuất theo tiêu chí của DN, hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất; đồng thời gắn kết quyền lợi của người sản xuất với DN để đảm bảo tính bền vững và chất lượng của nguyên liệu đầu vào

Về nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm của DN: Những DN sản xuất các mặt hàng phục vụ nhu cầu thiết yếu của thị trường hoặc nhu cầu của thị trường về mặt hàng đó được đánh gia là có xu hướng tăng thì DN cần có sự liên kết càng phải chặt chẽ hơn với người sản xuất nguyên liệu đầu vào, với các nhà khoa học trong việc nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào theo tiêu chuẩn sản xuất, và đặc biệt phải liên kết với chính quyền địa phương sở tại để nắm bắt các chính sách xã hội, định hướng phát triển của huyện, tỉnh…để biết được tương lai của ngành hàng

1.2 Kinh nghiệm liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm nông nghiệp

ở một số địa phương

1.2.1 Mô hình liên kết tại tỉnh Vĩnh Long trong sản xuất lúa hàng hóa

Vĩnh Long là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích nông nghiệp hơn 116 ngàn ha, chiếm 78% diện tích đất tự nhiên với dân số hơn 1.031 ngàn người Hàng năm, Vĩnh Long sản xuất trên 1 triệu tấn lúa, trong đó lúa hàng hóa cung cấp cho thị trường trên 700.000 tấn, góp phần ổn định an ninh lương thực trong nước và xuất khẩu, mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước Ngoài ra, Vĩnh Long còn có một số sản phẩm có thế mạnh của vùng như cây ăn trái, nuôi trồng

Trang 27

thủy sản (cá tra)… Nhờ đó, đời sống của người nông dân đã từng bước được nâng lên, song chưa tương xứng với tiềm năng của Tỉnh

Để khắc phục tình trạng trên, ngày 15/9/2011, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long đã ký Quyết định số 1749/ QĐ-UBND phê duyệt dự án xây dựng mô hình và

hỗ trợ nông dân trồng lúa theo hướng cơ giới hóa và chứng nhận VietGAP, phấn đấu đến năm 2015 xây dựng được các cánh đồng mẫu lớn đạt diện tích 2.500 – 3.000 ha, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tăng thu nhập; tổ chức chứng nhận VietGAP và tái chứng nhận VietGAP tiến tới xây dựng mối liên kết “4 nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Trong đó, vận động doanh nghiệp bán trả chậm phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vận động doanh nghiệp thu mua lúa tại một số mô hình trọng điểm của doanh nghiệp chọn điểm hàng năm để tiêu thụ lúa Vụ Đông Xuân năm 2013-2014, tỉnh Vĩnh Long đã mở rộng dự án cánh đồng mẫu lớn với 3.183ha và vận động được một số doanh nghiệp thực hiện liên kết trong sản xuất, tiêu thu lúa trong vùng dự án cánh đồng mẫu lớn Theo đó, các doanh nghiệp đầu tư thuốc bảo vệ thực vật theo hình thức trả chậm (trả cuối vụ không tính lãi), diện tích liên kết đầu tư thuốc là 300ha; các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm lúa gạo như: Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vĩnh Long, Công ty Lương thực Vĩnh Long, Công

ty cổ phần Lương thực – Thực phẩm Vĩnh Long đã phối hợp với chính quyền địa phương, ký hợp đồng với bà con nông dân tham gia cánh đồng mẫu lớn tiêu thụ hàng hóa cho nông dân

1.2.2 Mô hình liên kết kinh tế hộ chăn nuôi bò với các chủ thể khác tại tỉnh Hà Giang

Dự án “Ứng dụng đổi mới công nghệ phát triển bò cao nguyên đá Đồng Văn thành hàng hóa theo chuỗi giá trị” được hình thành trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh

tế- xã hội thực tiễn của tỉnh Hà Giang, nhất là các huyện thuộc cao nguyên đá, cực bắc của đất nước, đặc biệt khó khăn Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước bò vàng vùng cao là một nguồn gen quý (đã được FAO công nhận), là con bò “siêu thịt” của Việt Nam với tỷ lệ thịt xẻ lên đến 52% so với bò cóc 33-43%, chất lượng thịt thơm, ngon, mỡ giắt nhiều, độ dai đạt đạt 6,5 kg sau 24 giờ giết mổ Đây là yếu tố thuận lợi

Trang 28

để phát triển sản phẩm có thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh với các sản phẩm bò thịt nhập ngoại tại thị trường trong nước, hơn thế việc xây dựng sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn và thương hiệu cho vùng cao nguyên đá còn là niềm tự hào của người Việt Nam đối với du khách và bạn bè quốc tế đến Việt Nam

Để thực hiện được tầm nhìn đó phải tổ chức được chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa có tiêu chuẩn và thương hiệu mang tầm quốc tế và khu vực Muốn có được con giống tiêu chuẩn, phải xây dựng cơ sở nghiên cứu, lai tạo, nhân giống từ giống bản địa

và các giống nhập ngoại để từng bước cải tạo đàn, tạo đàn cái sinh sản nền chất lượng cao, giải quyết tính trạng suy giảm thể trạng do lai tạo cận huyết, giống đực kém chất lượng Để xây dựng được tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa cần phải xây dựng khu vỗ béo, giết mổ, chế biến tập trung để kiểm soát chất lượng trước khi giết mổ, xây dựng cơ

sở chế biến thức ăn hoàn chỉnh tổng hợp (TMR) Cùng với việc xây dựng tiêu chuẩn

hàng hóa, phải tiến hành xây dựng thương hiệu “Bò vàng cao nguyên đá” và hệ thống

tiêu thụ, quảng bá, giới thiệu sản phẩm nhằm khép kín các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa Bên cạnh đó các hoạt động phát triển thương hiệu, xây dựng hệ thống tiêu thụ quảng bá sản phẩm được tổ chức chặt chẽ nhằm mục đích đảm bảo chất lượng sản phẩm cho thị trường Để thực hiện được các mục tiêu trên cần tạo được liên kết

người dân (hộ gia đình, trang trại) - doanh nghiệp (nhà đầu tư, doanh nghiệp, tổ chức KH&CN) - tổ chức tín dụng, trong mối quan hệ đối tác công tư để thực hiện chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa “Bò vàng cao nguyên đá” Trong đó vai trò và trách nhiệm của

từng bên phải được làm cụ thể trong từng khâu của chuỗi giá trị, cụ thể là:

Các nhà khoa học tiến hành các hoạt động nghiên cứu lai tạo, bảo tồn và phát triển nguồn gen, phát triển giống, chuyển giao các công nghệ ứng dụng vào sản xuất của dự án

Các tổ chức tín dụng phối hợp xây dựng, ban hành tổ chức thực hiện cơ chế chính sách để hỗ trợ người dân mua, giao con giống, thức ăn, xây dựng chuồng trại, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào và các cơ sở hạ tầng thiết yếu khác cho dự án

Trang 29

Một trong những vấn đề quan trọng để triển khai dự án thành công và giảm thiểu các tổn thất nếu có cho người dân và DN, nhất là ở giai đoạn đầu thực hiện dự án, là vấn

đề bảo hiểm Đối tượng vừa là con bò nuôi tại các hộ dân, DN, cũng như bảo hiểm cho toàn bộ các hoạt động trong chuỗi giá trị từ con giống đến sản phẩm chế biến, với các mức phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích của DN bảo hiểm, nhưng cũng đảm bảo cho người dân tham gia dự án tiếp cận và được gói hỗ trợ bảo hiểm Một trong những mô hình bảo hiểm có thể áp dụng đối với dự án là “Bảo hiểm tương hỗ” (mantual insurence) hay còn gọi hình thức bảo hiểm tự bảo hiểm Nếu mô hình này được áp dụng, nguồn kinh phí hỗ trợ mua bảo hiểm của nhà nước sẽ được cấp cho đối tượng vay tín dụng mua bò giống,

mở rộng diện tích trồng cỏ, xây dựng chuồng trại, hỗ trợ thành lập, cấp vốn pháp định cho tổ chức bảo hiểm tương hỗ sẽ được thành lập trong dự án Việc chia sẻ rủi ro, lợi ích của bảo hiểm tương hỗ của dự án sẽ được chia sẻ dưới hình thức tái bảo hiểm với DN bảo hiểm được nhà nước ủy quyền (Bảo Việt, Bảo Minh) Đây có thể là một giải pháp bảo hiểm phù hợp với điều kiện thực tiễn của bốn huyện vùng cao đặc biệt khó khăn trong việc bảo hiểm vật nuôi là con bò, cũng như cả chuỗi giá trị của dự án

1.3 Bài học kinh nghiệm có khả năng áp dụng cho huyện Ba Vì

Thông qua nghiên cứu thực trạng liên kết trong sản xuất kinh doanh một số mặt hàng nông sản chính ở Việt Nam thời gian qua, từ kinh nghiệm của một số địa phương,

có thể rút ra một số bài học sau:

Một là: Trong liên kết kinh tế giữa các chủ thể trong chuỗi sản phẩm hàng nông

sản, DN đóng vai trò hạt nhân quyết định sự thành công của hình thức sản xuất theo hợp đồng với người nông dân DN chính là người kết nối các mối quan hệ với các tổ chức khác như Nhà nước, nhà khoa học, ngân hàng, cơ quan thông tin đại chúng để tạo ra cơ sở cho việc thiết lập quan hệ liên kết bền vững với nông dân

Hai là: Vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng, không chỉ ở việc động

viên khuyến khích mà còn tạo ra môi trường chính sách thuận lợi để các chủ thể liên kết với nhau Nhà nước có thể dùng luật pháp để tạo ra các cơ chế quản lý sản xuất, quản lý giá cả để điều phối sản xuất và điều hòa quan hệ lợi ích giữa các chủ thể Nhà nước còn tạo điều kiện về khoa học công nghệ để quá trình sản xuất và liên kết

Trang 30

giữa nông dân với DN hiệu quả hơn

Ba là: Thực tiễn cho thấy không có ở đâu phương thức nông nghiệp theo hợp

đồng có thể thành công với mọi loại nông sản và trong mọi trường hợp Điều đó đòi hỏi liên kết kinh tế giữa DN chế biến với nông dân phải trên cơ sở đảm bảo các điều kiện cần thiết thì mới thành công

Bốn là: Các mô hình thành công cho thấy chính cơ chế tự thực thi là cơ sở

quyết định nhất cho mối quan hệ liên kết các chủ thể trong chuỗi giá trị hàng nông sản Tính bức thiết của đầu ra của nông dân, đầu vào của DN; tiến bộ kỹ thuật làm gia tăng chất lượng và giá trị nông sản; đặc biệt là vai trò của việc khuyến khích nông dân đầu tư vào tài sản chuyên biệt là hết sức quan trọng vì nó sẽ kết dính được nông dân với sản xuất loại nông sản đã hợp đồng với DN

Năm là: Trong mối quan hệ lợi ích giữa các bên cần phải xử lý hài hòa Tuy

nhiên lợi ích của nông dân phải được chú ý thì mới thu hút được nông dân, mới có động lực để phát triển

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG LIÊN KẾT CÁC CHỦ THỂ TRONG CHUỖI SẢN PHẨM

BÒ SỮA TẠI HUYỆN BA VÌ, HÀ NỘI 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Ba Vì là huyện ở phía Tây của thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 60 km; phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc Huyện Ba Vì có tổng diện tích tự nhiên 42.804 ha, trong đó đất nông nghiệp 29.183 ha (chiếm trên 68% diện tích tự nhiên), dân số khoảng 280 ngàn người, hơn 70% tổng dân số làm nông nghiệp Toàn huyện có 31 xã, thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi, một xã giữa sông Hồng Địa hình của huyện vừa có núi cao, vừa có trung du, đồi gò và khu vực đồng bằng, bãi ven Sông Đà, Sông Hồng Đặc điểm riêng của Ba Vì là địa hình trải dài từ cao xuống thấp không phải theo hướng Tây Bắc- Đông Nam như các khu vực, địa phương miền núi khác mà được hạ thấp từ Tây Nam lên Đông Bắc do ngọn núi Ba

Vì nằm ở phía nam của huyện và Sông Đà có đoạn chảy ngược lên phía Bắc (đoạn

từ Hòa Bình về Việt Trì, qua địa phận của huyện Ba Vì) Đặc điểm tự nhiên này có ảnh hưởng đến khí hậu, thời tiết của huyện, nhất là các xã miền núi và trung du, cũng như phân bổ dân cư trên địa bàn huyện Do địa hình trên mà tạo nên những vùng đồi thấp, thoai thoải kiểu bình nguyện, thảo nguyên quanh chân núi Ba Vì rất thuận lợi cho chăn nuôi gia súc, gia cầm Đây cũng là một trong những tiềm năng thế mạnh của huyện trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó có chuyển đổi cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi Tuy điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò sữa, song sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Đất nông nghiệp 29.183 ha (chiếm trên 68% diện tích tự nhiên) tuy nhiên diện tích chưa tập trung, còn manh mún, phân tán và khó canh tác

Do vậy nông dân có nhu cầu liên kết với nhau trong việc dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất tạo điều kiện phát triển các mô hình

Trang 32

chăn nuôi bò sữa với quy mô lớn, theo hướng sản xuất sữa hàng hóa; khi sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, người nông dân có nhu cầu liên kết với các doanh nghiệp trong việc đầu tư vào sản xuất, liên kết để tiêu thụ sữa tươi đầu ra trong sản xuất Cũng từ đó mối liên kết các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa được hình thành và phát triển

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ phát triển giống bò cũng ảnh hưởng đến liên kết chuỗi sản phẩm bò sữa Tại Nghị quyết 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại, Nghị quyết 09/2000/NQ-CP và Quyết định 167/2000/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển chăn nuôi bò sữa giai đoạn 2001-2010, theo quyết định này, Chính phủ sẽ đầu tư ngân sách cho cho các tỉnh/thành phố để cải thiện giống bò sữa tạo ra bò sữa lai, Ba Vì cũng được triển khai đầu tư ví dụ, ngân sách nhà nước sẽ trả lãi suất của các khoản vay được sử dụng để mua bò sữa lai trong 3 năm Ngoài ra, theo quyết định cũng quy định UBND các tỉnh liên quan phải quy hoạch quỹ đất để trồng cỏ đảm bảo thức ăn thô, xanh cho đàn bò sữa Có thể nói rằng, Chính sách của Chính phủ đã góp phần thúc đẩy nghề chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 2001-2006 trong cả nước, thúc đẩy nông dân tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại quy mô lớn

Quyết định số 22/2005/QĐ-BCN ngày 26/4/2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt dự án phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam đến năm 2010

Trang 33

và định hướng đến năm 2020, đã thúc đẩy các công ty sữa phát triển trên phạm vi cả nước, trong đó có Ba Vì, trước đây chưa có công ty sữa nào thì trong giai đoạn này (2009 đến 2012), huyện đã có một số công ty sữa lớn xây dựng nhà máy chế biến trên địa bàn là Công ty cổ phần sữa quốc tề IDP, Công ty Dozzi, Công ty Cổ phần

hình thành như công ty TNHH Bánh sữa Ba Vì, Công ty TNHH Vinh Nga…

Như vậy, thể chế, chính sách phát triển của Chính phủ, của các Bộ, ngành đã tác động tích cực đến phát triển chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì, kéo theo đó là nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từ chăn nuôi bò sữa, tất yếu có tác động đên liên kết của các chủ thể trong chuỗi sản phẩm bò sữa huyện Ba Vì

Triển khai thực hiện Quyết định số 167/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Hà Tây (trước đây) ban hành Quyết định số 1093/QĐ-UB ngày 18/7/2001 hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì vốn được coi là cái nôi của chăn nuôi bò sữa trên địa bàn tỉnh Bên cạnh các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ từ công ty sữa Nestle cho nông dân vay vốn không lãi suất 3 năm để mua bò sữa

và tổ chức các khóa đào tạo khác nhau về chăn nuôi bò sữa Chính quyền huyện Ba

Vì đã quyết định để phát triển chăn nuôi bò sữa chủ yếu trong tại các xã Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài, Ba Trại, Phú Châu, Minh Châu, Chu Minh

Năm 2008, thực hiện Thông báo số 180/TB-UBND năm 2008 của UBND tỉnh Hà Tây, kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây về tiếp tục thực hiện chương trình phát triển chăn nuôi bò thịt, bò sữa của huyện Ba Vì đến năm 2010; huyện ủy

Ba Vì ban hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-HU về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi đến năm 2010 tiếp tục xác định chăn nuôi bò sữa là một trong những hướng đi để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chính của huyện

Năm 2011, UBND huyện Ba Vì xây dựng chương trình phát triển đàn bò giai đoạn 2011-2015, định hướng 2020 Năm 2015, UBND huyện tiếp tục xây dựng Chương trình phát triển đàn bò giai đoạn 2015-2020, định hướng 2030 theo quy hoạch phát triển nông nghiệp, quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Ba Vì

Trang 34

Kết hợp thực hiện chương trình xây dựng NTM, thực hiện kế hoạch của UBND Thành phố về dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội, UBND huyện Ba Vì đã triển khai đồng bộ kế hoạch dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn huyện gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới Đến nay cơ bản đất nông nghiệp của các hộ nông dân đã được dồn đổi còn từ 1-2 thửa, thuận lợi hơn cho việc sản xuất nông nghiệp, mặt khác, qua dồn điền đổi thửa, gắn với xây dựng nông thôn mới, đã tạo điều kiện cho các xã trong huyện quy hoạch lại đồng ruộng, quy hoạch lại các vùng sản xuất, trong đó có quy hoạch những vùng chuyển đổi mô hình từ trồng lúa sang trồng cỏ chăn nuôi bò sữa, quy hoạch các vùng sản xuất tập trung xa khu dân cư, tạo điều kiện cho người dân trong vùng quy hoạch được chuyển đổi mô hình sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Từ chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện Ba Vì, đã tác động đến việc hình thành chuỗi sản phẩm bò sữa và hình thành mối liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi

2.1.3 Nhân tố thị trường và sự phát triển của các công ty chế biến sữa trên địa bàn huyện Ba Vì

Ba Vì được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cả bức tranh sơn thuỷ hữu tình, với

hệ sinh thái phong phú, thảm thực vật đa dạng, được coi là “lá phổi xanh” phía Tây thủ đô Hà Nội Nơi đây có rất nhiều điểm du lịch tự nhiên và văn hóa hấp dẫn du khách như: Khu du lịch thể thao Đồng Mô- Ngải Sơn, Vườn quốc gia Ba Vì, Ao Vua, Khoang Xanh – Suối Tiên Cùng với lợi thế về vị trí địa lý của Ba Vì có một

hệ thống đường giao thông thuỷ, bộ rất thuận lợi nối liền các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc, với toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có thủ đô Hà Nội – Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước như sông Đà; sông Hồng, Quốc lộ 32, Tỉnh lộ như 411A,B,C; 412, 413, 414, 415 Với những lợi thế trên, Ba Vì là điểm đến của khách

du lịch trong và ngoài nước, tổng lượt khách du lịch đến năm 2015 đạt 2,6 triệu lượt khách, đây là thị trường đầu ra tiềm năng cho các sản phẩm sữa Ba Vì, do đó mà nhu cầu hợp tác trong việc cung ứng sản phẩm ra thị trường cũng diễn ra sôi động

Ngoài thị trường thành phố Hà Nội, các công ty chế biến sữa cũng không ngừng mở rộng quy mô sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình

Trang 35

ra hầu hết các tỉnh trong cả nước và đang từng bước tính đến xuất khẩu chính ngạch Do vậy, nhu cầu nguyên liệu sữa tươi đầu vào cho sản xuất cũng tăng lên, dẫn đến nhu cầu liên kết để phát triển nguồn nguyên liệu cũng tăng theo

Nắm bắt được nhu cầu của các công ty chế biến sữa, nhiều hộ nông dân đầu

tư chăn nuôi bò sữa Số lượng hộ nông dân đầu tư chăn nuôi bò sữa có xu hướng tăng (từ 5.500 con năm 2011 tăng lên gần 10.000 con năm 2015, từ 1.500 hộ năm

2011 tăng lên 1.800 hộ năm 2015) Đây là yếu tố dẫn đến người nông dân và Công

ty chế biến sữa liên kết với nhau trong việc đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sữa Công ty chế biến sữa còn liên kết với cán bộ kỹ thuật, các trung tâm

về giống, Công ty sản xuất thức ăn để hỗ trợ hộ chăn nuôi trong sản xuất, đảm bảo chất lượng nguyên liệu đầu vào Hộ nông dân có nhu cầu liên kết với cán bộ thú ý, với doanh nghiệp cung cấp giống, thức ăn chăn nuôi trong việc đảm bảo đầu vào cho chăn nuôi bò sữa Để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong điều kiện của người nông dân còn gặp khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm, buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà cung cấp các dịch vụ đầu vào, đầu ra Càng nhiều hộ có nhu cầu cung cấp dịch vụ thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động

Hộp 1

Trong sản xuất, kinh doanh ”thương trường là chiến trường”, liên kết giữa các Công ty chế biến sữa với nhau còn nhiều hạn chế Trong bối cảnh hiện nay, Công ty Cổ phần sữa Ba Vì luôn phải cạnh tranh với Công ty Cổ phần sữa Quốc tế IDP trong việc giành thị phần bán hàng, giới thiệu và tiêu thụ các sản phẩm sữa; nhiều khi công ty phải chấp nhận hòa vốn hoặc lỗ để bán sản phẩm của mình vì sản phẩm cùng loại của các công ty khác giảm giá thành hoặc liên tục có chính sách khuyến mãi trong bán hàng

Nguồn: Phỏng vấn ông Lê Hoàng Vinh- Giám đốc Công ty cổ phần sữa Ba Vì, tháng 10/2016

Trang 36

2.1.4 Khoa học công nghệ

Dự án Jica giai đoạn 2001-2012 đã giúp cho năng lực quản lý, chữa trị bệnh,

kỹ thuật chăn nuôi được thay đổi một cách rõ rệt cho vùng Ba Vì, Hà Nội Ngoài ra, huyện Ba Vì cũng đã áp dụng các quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của bê, bò sữa; sử dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 100% cho bò sữa; sử dụng công nghệ sinh sản để tăng năng suất sinh sản cho đàn bò (Công nghệ cấy truyền phôi, sử dụng hormone); sử dụng tinh phân ly giới tính để tăng đàn bò cái; sử dụng các tiến bộ kỹ thuật để chế biến thức ăn nâng cao giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần của bò sữa

Công tác thú y: làm tốt công tác tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng và lở mồm long móng hàng nằm Có những giải pháp khống chế và điều trị có hiệu quả trong các bệnh: Viêm vú, sinh sản, bệnh lệch dạ múi khế, bệnh về chân móng

Nhờ áp dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ vào sản xuất, chăn nuôi bò sữa ở huyện Ba Vì mà số lượng, năng suất, chất lượng sữa cũng được tăng lên tác động đến liên kết các chủ thể trong việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

Hộp 2

Trung tâm đã được Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ định là cơ sở

đủ điều kiện đào tạo tập huấn về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho trâu, bò theo thông

tư 50 của Chính phủ, Quyết định số 486/QĐ-CN-GSL, ngày 08/07/2015 kèm theo là một bộ giáo trình hoàn chỉnh với 15 nội dung: lý thuyết về thụ tinh nhân tạo, sinh lý sinh sản, thời điểm phối giống thích hợp, tinh phân ly giới tính và thời điểm phối giống thích hợp, hormone và ứng dụng hormone trong sinh sản trâu bò, giống thức ăn…, được hội đồng đánh giá rất cao về chất lượng bộ giáo trình cũng như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên

Nguồn: Phỏng vấn ông Tăng Xuân Lưu, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Bò

và Đồng cỏ Ba Vì, tháng 10/2016

2.1.5 Nhận thức của các chủ thể

Đối với hộ chăn nuôi: Trình độ còn hạn chế, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, hơn nữa đặc thù của sản phẩm sữa tươi yêu cầu cao, nghiêm ngặt trong

Trang 37

khâu bảo quản, thời gian bảo quản do vậy nhu cầu liên kết với các đơn vị chế biến thu gom cao hơn Trong khi trình độ sản xuất còn lạc hậu, quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún nên nhận thức của nông hộ về vấn đề liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn nhiều bất cập

Đối với doanh nghiệp: Các DN tham gia liên kết bao gồm các DN hoạt động cung ứng giống, cung ứng vật tư và DN chế biến tiêu thụ song chủ yếu là các DN vừa và nhỏ, nên năng lực liên kết của DN cũng có những hạn chế Ví dụ, các thương lái cung ứng giống bò, tuy thấy được lợi ích của việc liên kết, song năng lực chuyên môn, tài chính, quy mô sản xuất,… còn hạn chế nên cũng còn chưa mạnh dạn để hình thành mô hình cung ứng lớn tham gia liên kết sâu hơn vào chuỗi Hoặc các doanh nghiệp (Trạm thu gom) tham gia vào chuỗi sản phẩm được hưởng hoa hồng trên/kg sữa là 500đ đến 600đ/kg, trừ chi phí khấu hao, quản lý và nhân công thì mỗi tháng các Trạm thu gom cũng thu về lãi tương đối lớn, song kinh phí đầu tư

mở Trạm thu gom là khá lớn, nên các nhà đầu tư cũng chỉ đầu tư được ở mức quy

mô nhỏ, do vậy khả năng chứa và bảo quản của các Trạm cũng còn hạn chế Công

ty Cổ phần sữa Ba Vì rất muốn đầu tư mở rộng quy mô nhà máy sản xuất tăng lên gấp đôi, góp phần thu mua sữa tươi cho các hộ nuôi bò, nhưng gặp khó khăn về mặt bằng thuê đất, tiếp cận các nguồn vốn Các DN chủ yếu là DN vừa và nhỏ tham gia trong chuỗi thì năng lực liên kết cũng có những hạn chế

2.2 Liên kết các chủ thể

2.2.1 Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa tại huyện Ba Vì

Sản xuất chăn nuôi đã được quan tâm và đầu tư nhiều hơn từ khi chính sách đổi mới được triển khai rộng rãi Nông dân Ba Vì có truyền thống nuôi gia súc lớn như trâu, bò với mục đích lấy sữa, sức kéo và sản xuất phân bón cho trồng trọt Ba

Vì là một trong những cái nôi đầu tiên hình thành cho ngành bò sữa Việt Nam Trước năm 1954 người Pháp đã nuôi bò lấy sữa Năm 1960 với 200 con bò sữa lang trắng đen (HF) có nguồn gốc từ Trung Quốc được đưa về nhân nuôi sau một thời gian tính thích nghi kém nên được chuyển lên Mộc Châu (Sơn La) năm 1964 Cũng

Trang 38

từ đó con bò sữa lai HF trên nền bò cái lai Zebu (chủ yếu là dòng Sind) được bắt đầu và đã thành bò sữa lai cho cả nước ngày nay

UBND huyện Ba Vì cũng đã triển khai xây dựng quy hoạch vùng phát triển chăn nuôi bò sữa và chỉ đạo thực hiện phát triển chăn nuôi theo quy hoạch đã được thành phố phê duyệt, từng bước thực hiện phát triển chăn nuôi ra xa khu dân cư Có

cơ chế, chính sách khuyến khích các hộ nông dân trong vùng quy hoạch, tích tụ ruộng đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ

để chăn nuôi bò sữa (Ba Trại, Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài); mở rộng phát triển đàn

bò sữa của huyện ra các xã có tiềm năng, lợi thế như Khánh Thượng, Minh Quang,

Ba Vì, Tòng Bạt ; triển khai thực hiện đồng bộ chính sách dồn điền đổi thửa của các xã trong huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất trên ô thửa lớn, khuyến khích tích tụ ruộng đất để có quỹ đất lớn cho phát triển các trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa, nhất là khuyến khích phát triển chăn nuôi bò sữa theo hướng trang trại Từ đó đã góp phần định hướng phát triển chăn nuôi bò sữa cho bà con nhân dân

Ngoài ra, chính quyền huyện, xã cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thủ tục hành chính, thuê đất, đấu giá đất cho các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến các sản phẩm sữa phát triển trên địa bàn, nhằm tăng cường củng cố đầu ra cho bà con chăn nuôi Kết quả phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện qua các giai đoạn thể hiện ở Bảng 2.1

Bảng 2.1 Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện

Nguồn: UBND huyện Ba Vì

Giai đoạn

(từ năm,

đến năm)

Số hộ nuôi (hộ)

Số lượng bò sữa (con)

Trung bình (con/

hộ)

Sản lượng sữa BQ (kg/chu kỳ/con)

Giá sữa trung bình (đ/kg)

Trang 39

Trong những năm gần đây, nhờ phát triển chăn nuôi bò sữa,thu nhập của người dân tăng lên, từ 22 triệu đồng/người/năm năm 2010 lên 35 triệu đồng/người/năm năm 2015, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 24,3 triệu đồng/người/năm Giá trị thu nhập/ha canh tác đạt 85 triệu đồng Tổng giá trị tăng thêm của nhóm ngành nông, lâm, thủy sản từ 2.091 tỷ đồng năm 2011 lên 3.101 tỷ đồng năm 2015, tốc độ tăng trưởng của ngành năm 2015 là 10% Trên địa bàn huyện có 277 trang trại, với 1.210 lao động, với diện tích 275 ha, giá trị sản phẩm hàng hóa đạt 625 tỷ đồng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nội

bộ ngành nông nghiệp (trồng trọt chiếm 42% và chăn nuôi chiếm 58%) đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội huyện

2.2.2 Chuỗi sản phẩm bò sữa ở huyện Ba Vì

Hình 2.1: Sơ đồ các chủ thể tham gia chuỗi sản phẩm bò sữa

Chuỗi sản phẩm bò sữa huyện Ba Vì gồm 6 chức năng cơ bản sau: (1) Chức năng đầu vào chăn nuôi bò sữa gồm bò sữa giống, thức ăn (xanh- cỏ tự trồng và thức ăn tinh- chế biến công nghiệp hoặc tự chế), thuốc thú y, công cụ chăn nuôi (2) Chức năng sản xuất bao gồm các hoạt động nuôi bò sữa từ bò sữa giống đến bò mẹ vắt sữa (3) Chức năng thu gom là chức năng trung gian thu gom sữa tươi từ hộ chăn nuôi bò để nhập cho các công ty chế biến sữa, các cửa hàng tư nhân bán lẻ (4) Chức năng chế biến bao gồm các hoạt động chế biến sữa tươi nguyên liệu thành

Trang 40

các loại sản phẩm sữa khác nhau như sữa tươi tiệt trùng, sữa chua, bánh sữa (5) Chức năng thương mại gồm các hoạt động mua, bán sữa ở các cửa hàng, đại lý, các siêu thị trong nước hoặc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài (6) Chức năng tiêu dùng gồm các hoạt động mua và tiêu dùng sữa của người tiêu dùng cuối cùng

Tương ứng với 6 chức năng cơ bản nêu trên, chuỗi sản phẩm bò sữa huyện

Ba Vì có 7 chủ thể chính tham gia (Hình 2.1) bao gồm (1) Nhà cung cấp bò sữa giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và công cụ chăn nuôi, (2) Hộ nông dân chăn nuôi bò sữa, (3) Trạm thu gom sữa tươi, (4) Công ty chế biến sữa, (5) Các cơ sở chế biến sữa tư nhân nhỏ, (6) Cửa hàng/ đại lý/ siêu thị/ nhà hàng, và (7) Người tiêu dùng và các nhà hỗ trợ chuỗi như các cơ quan, ban, ngành địa phương, ngân hàng

2.3 Thực trạng liên kết các chủ thể trong chuỗi sản xuất, thu gom, bảo

quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm bò sữa tại huyện Ba Vì

2.3.1 Liên kết các chủ thể cung cấp đầu vào

Chủ thể cung cấp đầu vào là các tổ chức, cá nhân cung cấp đầu vào cho chuỗi

bò sữa gồm giống bò, thức ăn, thuốc, dịch vụ thú y, công cụ chăn nuôi

Các nhà cung cấp đầu vào chủ yếu vẫn kinh doanh theo hình thức tự phát, mạnh ai nấy làm chưa có sự liên kết chặt chẽ trong từng lĩnh vực cũng như giữa các lĩnh vực với nhau, liên kết với chủ thể hộ chăn nuôi trong chuỗi chủ yếu là thỏa thuận miệng

2.3.1.1 Liên kết cung cấp giống bò sữa

Tham gia liên kết này gồm có Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Môn Ca Đa, các thương lái buôn bò giống

Trung tâm nghiên cứu bò và Đồng cỏ Ba Vì: là đơn vị sự nghiệp khoa học công lập trực thuộc Viện chăn nuôi, hoạt động theo Quyết định số 3069/QĐ-BNN-TCCB ngày 15/10/2007 của Bộ NN và PTNT, có trụ sở tại xã Vân Hòa, huyện Ba

Vì, Thành phố Hà Nội Trung tâm đã có hơn 50 năm xây dựng và phát triển với nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đào tạo tập huấn trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa, bò thịt, cây thức ăn cho gia

Ngày đăng: 17/05/2017, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Kinh tế hộ - lịch sử và triển vọng phát triển, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ - lịch sử và triển vọng phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1997
6. Bách khoa thư Việt Nam, Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam
9. Vũ Thị Chanh (2016), Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết phát triển chuỗi cung ứng rau ở Lâm Đồng
Tác giả: Vũ Thị Chanh
Năm: 2016
10. Cục Chăn nuôi (2012), Báo cáo tổng kết 10 năm chăn nuôi bò sữa Việt Nam từ 2001-2011- Cục. Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm chăn nuôi bò sữa Việt Nam từ 2001-2011- Cục
Tác giả: Cục Chăn nuôi
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Hà (2010), Quan hệ kinh tế với hộ nông dân thông qua các hợp đồng sản xuất tại các vùng chè và mía ở Sơn La, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế với hộ nông dân thông qua các hợp đồng sản xuất tại các vùng chè và mía ở Sơn La
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2010
12. Vũ Đức Hạnh (2015), Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân ở tỉnh Thái Bình, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân ở tỉnh Thái Bình
Tác giả: Vũ Đức Hạnh
Năm: 2015
13. Hồ Quế Hậu (2008), Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân, Tạp chí Công nghiệp, kỳ 1, tháng 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân
Tác giả: Hồ Quế Hậu
Năm: 2008
14. Hồ Quế Hậu (2010), Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Quế Hậu
Năm: 2010
16. Nguyễn Thị Bích Hồng (2008), Lợi ích của mối liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng, Hội thảo: Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng trường hợp điển hình, Trung tâm tư vấn chính sách Nông nghiệp Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp-nông thôn- Ngân hàng phát triển Châu Á, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích của mối liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hồng
Năm: 2008
17. Nguyễn Văn Huân (1999), Kinh tế hộ - Vị trí - vai trò trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam, Luận án Phó tiến sỹ khoa học kinh tế, Đại học kinh tế Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ - Vị trí - vai trò trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huân
Năm: 1999
20. Tăng Xuân Lưu (2014), Báo cáo tham luận tại hội thảo ngành sữa Việt Nam- Jica về bò sữa vùng Ba Vì- Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng Cỏ Ba Vì, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận tại hội thảo ngành sữa Việt Nam- Jica về bò sữa vùng Ba Vì- Hà Nội
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 2014
21. Tăng Xuân Lưu (2015), Một số giải pháp để ngành chăn nuôi bò Việt Nam phát triển bền vững trước thềm hội nhập TTP, Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng Cỏ Ba Vì, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp để ngành chăn nuôi bò Việt Nam phát triển bền vững trước thềm hội nhập TTP
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 2015
22. Tăng Xuân Lưu (2016), Thực trạng về giống và định hướng nghiên cứu về giống bò trong thời gian tới, Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng Cỏ Ba Vì, Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về giống và định hướng nghiên cứu về giống bò trong thời gian tới
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 2016
24. Nguyễn Đình Phan (1992), Phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt động, các hình thức liên kết kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất-kinh doanh công nghiệp, đề tài khoa học cấp bộ, Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt động, các hình thức liên kết kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất-kinh doanh công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Năm: 1992
25. Trần Việt Phương (2004), Bài giới thiệu sách Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho Việt Nam của Đặng Kim Sơn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giới thiệu sách Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho Việt Nam của Đặng Kim Sơn
Tác giả: Trần Việt Phương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
26. Dương Bá Phượng (1995), Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
Tác giả: Dương Bá Phượng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
27. Lê Anh Vũ và Nnk (2016), Liên kết nội vùng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, Đề tài cấp Nhà nước, mã số TN3/X16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết nội vùng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
Tác giả: Lê Anh Vũ và Nnk
Năm: 2016
29. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, trang 1019.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 1999
1. Trâm Anh, Phát huy vai trò của hợp tác xã trong liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản, Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Giang, http://www.bacgiang.gov.vn/...hop-tac-xa-trong-lien-ket-san-xuat-va-tieu-thu-nong-san, 10/11/2016 Link
7. Cẩm nang phương pháp phân tích chuỗi giá trị hàng nông sản, http://www.academia.edu/...Cẩm_nang_phương_pháp_phân_tích_chuỗi_giá_trị_hàng_nông_sản, 04/7/2016 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w