Trước thực tế như vậy, việc phân tích đầy đủ hơn về thực trạng và triển vọng già hóa dân số ở Việt Nam cùng với những vấn đề nảy sinh là rất cần thiết để cung cấp thêm bằng chứng và đưa
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐỨC VINH
Phản biện 1: GS.TS.Nguyễn Đình Tuấn
Phản biện 2: TS Trần Thị Minh Thi
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
Vào hồi 9 giờ ngày 14 tháng 4 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3Phần : Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Già hoá dân số là hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hoá và tỷ lệ NCT trên toàn thế giới
sẽ tăng lên 14,9% (2025) [49] Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới
đã và đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề già hoá dân số
Đã có rất nhiều nghiên cứu về người cao tuổi tại Việt Nam, tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chỉ nêu được một số khía cạnh về chính sách và mô hình can thiệp ở quy mô nhỏ, mang tính thử nghiệm Thêm vào đó, kết quả từ các nghiên cứu cũng cho thấy những giải pháp can thiệp hay các mô hình đã triển khai vẫn chưa được đánh giá là có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả mọi địa phương, hay trên phạm vi toàn quốc hay không Vì vậy vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những khuyến nghị phù hợp làm cơ sở xây dựng hệ thống chính sách cũng như các chương trình, mô hình can thiệp thích ứng kịp thời, chủ động với vấn đề già hóa sẽ diễn ra trong những thập kỷ tiếp theo Trước thực tế như vậy,
việc phân tích đầy đủ hơn về thực trạng và triển vọng già hóa dân số
ở Việt Nam cùng với những vấn đề nảy sinh là rất cần thiết để cung cấp thêm bằng chứng và đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách thích ứng phù hợp và hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Một số nghiên cứu gần đây có thể kể tới:
+ “Điều tra Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2011, các kết quả chủ yếu”, do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp
Trang 42
với Tổng cục Thống kê, Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam thực hiện Điều tra cung cấp thông tin về đặc điểm kinh tế xã hội, tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế, hiểu biết về quyền lợi pháp lý, đóng góp của người cao tuổi cho gia đình và xã hội
+ Già hóa dân số và người cao tuổi tại Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách (2011) do Quỹ Dân
số LHQ tài trợ đã mô tả được thực trạng về già hóa và một số điều kiện sống, sức khỏe và thu nhập thông qua số liệu Điều tra mức sống
hộ gia đình năm 2007, 2008
+ Luận án “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống người cao tuổi và thử nghiệm giải pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương” của Dương Huy Lương (2010) nhằm đánh giá thực trang chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống NCT tại 4 xã ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng như thử nghiệm và đánh giá một số biện pháp can thiệp cải thiện chất lượng cuộc sống tại 2 xã ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
+ Luận án “Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam” của Phạm Vũ Hoàng (2013) nhằm đánh giá thực trạng chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam và đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích thực trạng về già hóa dân số ở Việt Nam
- Các chính sách, chương trình dành cho người cao tuổi đang triển khai; các mô hình chăm sóc sức khỏe NCT
Trang 5- Những vấn đề hiện nay trong chăm sóc và phát huy vai trò NCT ở Việt Nam
- Một số khuyến nghị giải pháp nhằm thích ứng với già hóa dân số ở Việt Nam trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực trạng và xu hướng già hóa dân số
ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Theo không gian: già hóa dân số trên phạm vi cả nước
- Theo thời gian: Dân số Việt Nam qua các thời kỳ, dự báo giai đoạn 2009-2049
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mang tính mô tả, sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp có sẵn, vì vậy tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp thống kê phân tích
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá
- Phương pháp chuyên gia:
5.3 Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn tiếp cận xu hướng già hóa dân số hiện nay theo khía cạnh nhân khẩu học; một số chính sách, chương trình dành cho người cao tuổi đang triển khai; cuộc sống gia đình và các dịch vụ
Trang 64
chăm sóc, chất lượng chăm sóc sức khỏe NCT, để chứng minh các giả thuyết nghiên cứu sau:
(1) Già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra rất nhanh và là một
xu hướng tất yếu của dân số Việt Nam
(2) Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, vì vậy cần có những giải pháp đồng bộ nhằm thích ứng kịp với xu hướng già hóa dân số hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Đề tài đóng góp một phần lý luận trong nghiên cứu các đặc điểm của già hóa dân số, tác động của già hóa dân số lên toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Kết quả nghiên cứu góp phần chứng minh sự cần thiết phải có những nghiên cứu xã hội học về già hóa dân số, đề tài nghiên cứu này chỉ ra khả năng vận dụng các lý thuyết
xã hội học như lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết quá độ dân số, luận thuyết phát triển bền vững trong tìm hiểu khả năng thích ứng với già hóa dân số trong hoạt động phát triển kinh tế-xã hội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu nhân diện rõ các biểu hiện của già hóa dân số hiện nay trên phạm vi cả nước Nghiên cứu cung cấp những bằng chứng thực nghiệm có giá trị cho các nhà quản lý xã hội trong việc thiết kế chính sách và xây dựng chương trình hành động phù hợp để ứng phó với già hóa dân số
Trang 77 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài được chia làm 5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thực trạng và xu thế già hóa dân số ở Việt Nam; Chương 3: Một số chính sách và chương trình dành cho
người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Những vấn đề trong chăm sóc và phát huy vai trò
NCT ở ở Việt Nam hiện nay
Chương 5: Các khuyến nghị giải pháp nhằm thích ứng với
già hóa dân số ở Việt Nam
Trang 86
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Người cao tuổi:
Người cao tuổi (NCT) hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định Tại Việt Nam, Luật Người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 cao hiệu lực ngày 1/7/2010) quy định
“Người cao tuổi là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [11]
1.1.2 Già hoá dân số:
Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người NCT tăng lên
trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị của dân số Già hoá dân số là kết quả của quá độ nhân khẩu học trong đó mức chết và mức sinh đều giảm, tuổi thọ bình quân tăng lên Theo Liên Hợp Quốc, một quốc gia
có tỷ lệ người cao tuổi (60+) từ 10% trở lên thì quốc gia đó được coi là dân số già [49] Tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng khuyến cáo: một đất nước có trên 10% người cao tuổi (60+) được coi là một đất nước dân số già [88] Như vậy, già hóa dân số phản ánh sự phát triển kinh
tế, xã hội, “Xem xét một cách toàn diện, già hóa hoàn toàn không phải
là một vấn đề Đó chỉ là cách nhìn bi quan đối với chiến thắng vĩ đại của nền văn minh nhân loại” (Frank Notestein, 1954)
Trang 91.1.3 Chỉ số già hóa:
Là tỷ số giữa số người từ 60 tuổi trở lên trên 100 người dưới
15 tuổi Chỉ số này phản ánh cấu trúc của dân số phụ thuộc, phản ánh mối tương quan giữa số người 60 tuổi trở lên so với số người dưới 15 tuổi của một dân số
1.1.4 Tỷ lệ phụ thuộc (Dependency Ratio):
Tỷ lệ phụ thuộc được tính bằng tổng số nhóm đối tượng bị phụ thuộc do không lao động được (bao gồm trẻ em dưới 15 tuổi và
số NCT từ 60 tuổi trở lên) trên tổng số người lao động ở độ tuổi từ
15 đến 59, được thể hiện bằng đơn vị tỷ lệ phần trăm [6],[7]
1.2 Già hóa dân số trên thế giới
1.2.1 Già hóa dân số trên thế giới
Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của thế kỷ 21 Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi Già hóa dân số là hệ quả của ba xu hướng nhân khẩu học, đó là
tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng nhanh Dự báo dân số của Liên hợp quốc (2008) cho thấy, dân số cao tuổi sẽ tăng từ
697 triệu người (hay 11% tổng dân số thế giới) năm 2009 lên gần 2
tỷ người (hay 22% tổng dân số thế giới) vào năm 2050 [50]
1.2.2 Già hoá dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Do dân số khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm trên 60% dân số toàn cầu và mức sinh đang giảm nhanh chóng, nên quy
mô dân số cao tuổi hiện là một quan tâm chủ yếu Theo dự báo của LHQ, đến năm 2025, ở Châu Á-Thái Bình Dương sẽ có 703 triệu
Trang 108
người cao tuổi và sẽ tăng lên 1,2 tỷ vào năm 2050 Đây là một vấn đề trọng tâm về mặt chính sách công tại khu vực trong thế kỷ 21 Đến năm 2050, các nước trong khu vực Đông á, Đông Bắc á và Đông Nam á sẽ có tỷ lệ người 60 tuổi trở lên cao hơn: Trung quốc 29,9%, Hồng Kông 35,4%, Nhật Bản 42,3%, Hàn Quốc 33,2%, Sin-ga-po 35%, Thái Lan 27,1% và Việt Nam 23,5% [49], [52]
1.2.3 Sự khác nhau giữa các khu vực về NCT
Giữa các khu vực có sự chênh lệch rõ rệt về số lượng và tỷ lệ NCT Tỷ lệ NCT cao nhất ở các nước đã phát triển, chẳng hạn Thụy Điển (22%) gấp hơn 3 lần Ấn Độ (7,2%) nhưng số lượng NCT nhiều nhất lại ở các nước đang phát triển Năm 2012, trong số 1.120 triệu NCT, có tới 805 triệu cụ sống ở các nước nghèo, tức là các nước nghèo chiếm đến 80% NCT của Thế giới
1.2.4 Tác động về mặt kinh tế - xã hội của già hoá dân số
Già hóa dân số trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế và xã hội còn thấp là một thách thức vô cùng to lớn vì dân số già đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hưu trí, trợ cấp… Nói cách khác, nếu không chuẩn bị một cách kỹ lưỡng ngay từ bây giờ thì dân số già không khỏe mạnh và không có thu nhập đảm bảo cuộc sống sẽ buộc chính phủ phải có những khoản chi tiêu rất lớn và những khoản chi tiêu này sẽ tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước cũng như sự bền vững tài chính dài hạn của toàn bộ nền kinh tế
Trang 111.3 Các đặc điểm của người cao tuổi
1.3.1 Các đặc điểm chung của người cao tuổi
1.3.1.1 Về nhân khẩu học
Đặc điểm 1 Quy mô NCT trên thế giới ngày càng lớn, tốc
độ gia tăng dân số cao tuổi ngày càng mạnh và nhanh hơn các nhóm tuổi khác và số NCT tại các nước nghèo tăng nhanh
Thực tế cho thấy để tăng dân số NCT từ 65+ tuổi từ 7% đến 14% trong tổng dân số, đa phần các nước phát triển (Pháp và Thụy Điển) đã phải mất trên dưới một thế kỷ, trong khi đó theo dự đoán trong thời gian tới ở các nước đang phát triển (Brazil, Thái Lan, Sri Lanka) chỉ diễn ra trong vòng hai thập kỷ
Đặc điểm 2 Trên thế giới, già hóa dân số còn đang tiến triển
ngay trong bản thân nhóm dân số cao tuổi
Đó là sự gia tăng số lượng của nhóm người già nhất (nhóm này thường được định nghĩa là những người trong độ tuổi từ 85 trở lên) trong số những NCT Hơn một nửa số người già nhất của thế giới sống tập trung ở 6 quốc gia: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Đức và Nga Người già nhất (85+) trong nhóm NCT trên toàn cầu chiếm khoảng 7% trong tổng số NCT (65+), trong đó 10% ở các nước phát triển và 5% ở các nước kém phát triển [9] [54]
Đặc điểm 3 Có sự khác biệt lớn về phân bố của dân số cao tuổi giữa các nước phát triển và đang phát triển
Trong khi phần lớn NCT ở các nước phát triển sống ở thành thị, thì phần lớn NCT ở các nước đang phát triển sống tại khu vực nông thôn Theo dự báo, đến năm 2025, 82% dân số ở các nước phát
Trang 1210
triển sẽ sống ở thành thị, trong khi đó ở các nước đang phát triển tỷ
lệ này chưa đến 50% [9]
1.3.1.2 Các đặc điểm về sức khỏe của người cao tuổi
Theo quy luật tự nhiên, sức khỏe về thể chất và tinh thần NCT giảm theo tuổi già Quá trình lão hóa của cơ thể diễn biến không đồng đều và không giống nhau ở mỗi người nhưng nhìn chung, NCT có sự đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh
và thích nghi cũng giảm dần theo độ tuổi
1.3.1.3 Các đặc điểm về kinh tế và xã hội của người cao tuổi Tại các nước phát triển, nhất là các nước phương tây, con cái thường độc lập với ông bà, cha mẹ Tuy nhiên, địa vị NCT tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của chính họ, một số ít NCT với đủ diều kiện kinh tế, họ có thể thuê mướn những nhân viên y tế để chăm sóc tại gia đình hoặc lựa chọn lối sống tập thể trong các cơ sở chuyên chăm sóc NCT (Viện dưỡng lão) với đầy đủ tiện nghi y tế, vật chất Tại đây họ không lo bị sống cô đơn và được chăm sóc chu đáo Còn phần lớn NCT với sự hạn hẹp về tài chính phải nhờ vả hoặc gia đình thân thích hoặc các cơ quan chính phủ, cơ sở cộng đồng, các tổ chức từ thiện
Tại các nước đang phát triển, một số lượng lớn NCT (60+) tiếp tục tham gia lực lượng lao động, họ tham gia hoạt động trong lĩnh vực làm việc không chính thức, mặc dù điều này thường không được công nhận khi thống kê thị trường lao động Và tham gia hoạt động kinh tế là con đường duy nhất để duy trì sự sống của NCT [22] [48]
Trang 131.3.2 Những đặc điểm của người cao tuổi Việt Nam
1.3.2.1 Qui mô và phân bố của người cao tuổi
Quy mô NCT: Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi
nhân khẩu học mạnh mẽ, quy mô NCT đang tăng nhanh, tỷ lệ NCT (60+) trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (1979) lên 7,2% (1989), lên 8,12% (1999) và lên 8,9% (2009) Theo kết quả Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2011, tỷ lệ NCT (60+) là 9,9% (8.655.324 người), đặc biệt tỷ lệ NCT (65+) là 7%
Phân bố: Do đặc điểm cư dân nước ta sống tập trung tại khu
vực nông thôn nên đại đa số NCT sống tại nông thôn Trong giai đoạn 1989-2011, số NCT ở nông thôn cao gần gấp 3 lần khu vực thành thị Tuy nhiên, do tác động của quá trình đô thị hoá, tỷ lệ dân
số già ở khu vực nông thôn có xu hướng giảm dần, từ 77,81% (1989) xuống 76,83% (1999), 72,11% (2009) và 70% (2011) Đồng nghĩa với việc số lượng NCT thành thị ngày càng tăng[25] [26] [27]
1.3.2.2 Cơ cấu giới tính và tình trạng hôn nhân của người cao tuổi
Cơ cấu giới tính: Cơ cấu giới tính của NCT nước ta có sự
chênh lệch lớn: tỷ số giới tính của NCT (nữ/nam) tăng nhanh theo nhóm tuổi, từ 120 (nhóm tuổi 60-64) đến 290 (nhóm tuổi 80+) Như vậy, Việt Nam cũng theo qui luật chung, tỷ số giới tính (nữ/nam) của dân số càng ở các nhóm tuổi cao càng tăng [26]
Tình trạng hôn nhân: Tình trạng sống không có vợ/chồng
của NCT chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là phụ nữ Giai đoạn 1999-2011,
số NCT nữ sống không chồng (chưa chồng/già góa/ly hôn/ly thân) luôn gấp 4 lần tỷ lệ này ở NCT nam giới Việc phải sống một mình là