Phạm vi nghiên cứu Thứ nhất, về nội dung: Luận án không đi sâu phân tích và đánh giá tác động của tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC tới thương mại quốc tế của Việt Nam nói chung, m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CỦA VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
Hà Nội, 12 2016
Trang 2THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
LUẬN ÁN TIẾN SỸ
2 TS NGUYỄN ANH THU
Hà Nội, 12 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận án tiến sĩ “Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và tác đ ộng tới thương mại quốc tế của Viê ̣t Nam ” là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các kết quả
trình bày trong luận án là trung thực, chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên./
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2016
Nghiên cứu sinh
Bùi Hồng Cường
Trang 4Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Lãnh đạo Khoa KT&KDQT, cùng cán bộ, giảng viên và chuyên viên Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận án
Xin trân trọng cám ơn các chuyên gia nghiên cứu, các cán bộ, chuyên viên Bộ Công thương, viện Kinh tế và Chính trị thế giới, viện nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu thương mại, cùng các nhà khoa học ngoài Trường đã có những góp ý quý báu để tôi hoàn thiện luận án
Tất cả sự giúp đỡ nêu trên, tôi sẽ ghi nhớ và luôn trân trọng mang theo trong suốt quá trình học tập, công tác và nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Nghiên cứu sinh
Bùi Hồng Cường
Trang 5MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 8
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Nội dung tổng quan 8
1.1.1 Các nghiên cứu về đ ặc điểm, vai trò và xu hướng của tự do hóa thương mại 8
1.1.2 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại 11
1.1.3 Các nghiên cứu về tự hóa thương mại trong ASEAN/AEC 18
1.1.4 Các nghiên cứu về quan điểm , chính sách tự do hóa thương mại của Viê ̣t Nam trong quá trình tham gia AEC 24
1.2 Nhâ ̣n xét, đánh giá về các công trình nghiên cứu đã được tổng quan 28
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TH ỰC TIẾN CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) VÀ TÁC ĐỘNG TỚI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 30
2.1 Khái niệm và bản chất của tự do hóa thương mại 30
2.1.1 Khái niệm tự do hóa thương mại 30
2.1.2 Bản chất của tự do hóa thương mại 33
2.2 Một số lý thuyết về tự do hóa thương mại 34
2.2.1 Lý thuyết cổ điển về tự do hóa thương mại 35
2.2.2 Các lý thuyết hiện đại về tự do hóa thương mại 41
2.3 Tính tất yếu và xu hướng của tự do hóa thương mại 49
2.3.1 Tính tất yếu của tự do hóa thương mại 49
2.3.2 Các xu hướng của tự do hóa thương mại 52
2.4 Nội dung, lộ trình và công cụ pháp lý thực hiện tự do hoá thương mại 56 2.4.1 Nội dung của tự do hóa thương mại 56
Trang 62.4.2 Lộ trình thực hiện tự do hoá thương mại 59
2.4.3 Các công cụ pháp lý thực hiện tự do hóa thương mại 60
2.5 Tác động của tự do hoá thương mại tới hoạt động xuất khẩu 61
2.5.1 Tác động tới kim ngạch xuất khẩu 61
2.5.2 Tác động tới cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 63
2.5.3 Tác động tới thị trường xuất khẩu 64
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 66
3.1 Phương pháp nghiên cứu đi ̣nh tính 66
3.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp 66
3.1.2 Phương pháp thống kê 67
3.1.3 Phương pháp so sánh 67
3.1.4 Phương pháp kế thừa 68
3.2 Phương pháp nghiên cứu đi ̣nh lượng 68
3.2.1 Một số mô hình định lượng được sử dụng trong nghiên cứu về thương mại quốc tế 68
3.2.2 Lựa chọn mô hình phân tích 78
CHƯƠNG 4 TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) VÀ NHỮNG CAM KẾT CỦA VIỆT NAM 80
4.1 Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) 80
4.1.1.Sơ lược quá trình hình thành AEC 80
4.1.2 Một số đặc trưng cơ bản của AEC 81
4.2 Nội dung tự do hóa thương mại trong AEC 85
4.2.1 Tự do hóa thương mại hàng hóa trong AEC 85
4.2.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ trong AEC 95
4.3 So sánh phạm vi và mức độ tự do hóa của AEC và WTO 96
4.3.1 Điểm giống nhau 96
4.3.2 Điểm khác nhau 98
4.4 Thực hiện cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa của Việt Nam 101 4.4.1 Về nội dung tự do hóa thương mại 101
4.4.2 Về lộ trình thực hiện 102
4.4.3 Về các văn bản pháp lý triển khai tự do hóa thương mại 102
Trang 7CHƯƠNG 5 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN TỚI XUẤT KHẨU HÀNG
HÓA CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 104
5.1 Khái quát tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN 104 5.1.1 Về kim ngạch xuất khẩu 104
5.1.2 Về cán cân thương mại 106
5.1.3 Về thứ hạng và tỷ trọng 107
5.1.4 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 108
5.2 Đánh giá tác động của tự do hóa thương mại trong ASEAN tới xuất khẩu của Việt Nam 109
5.2.1 Phân tích định lượng 109
5.2.2 Phân tích định tính 140
5.3 Một số hàm ý đối với Việt Nam khi thực hiện tự do hóa thương mại của ASEAN/AEC 148
5.3.1 Về phía Nhà nước 148
5.3.2 Về phía các doanh nghiệp Việt Nam 152
PHẦN KẾT LUẬN 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
I Tài liê ̣u tiếng Viê ̣t 161
II Tài liê ̣u tiếng Anh 164
Trang 8BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
AEC ASEAN Economic
ASEAN Association of South East
Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATIGA Asean trade in goods
agreement
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
AFTA Asean Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean
AFAS ASEAN Framework
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN
AIA Agreement on the ASEAN
Investment Area
Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN
ACIA Asean Comprehensive
Investment Agreement Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN ASW Asean single window Một cửa ASEAN
ATR Asean trade repository Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
CEPT
Agreement preferential tariff programs Common Effective
Hiệp định chương trình thuế quan
ưu đãi có hiệu lực chung
Trang 9EU European Union Liên minh châu âu
NAFTA North American Free Trade
Agreement Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GATS General Agreement on
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10từ ngũ cốc, bột, tinh bột hoặc sữa; các loại bánh trong AEC 118 Bảng 5.6 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA) của nhiên liệu khoáng sản, dầu & sản phẩm từ khoáng sản và hóa dầu trong AEC 121 Bảng 5.7 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA)của nhựa và các sản phẩm
từ nhựa trong AEC 123 Bảng 5.8 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA)của sắt, thép trong AEC 126 Bảng 5.9 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA)của nồi hơi, máy và trang thiết bị cơ khí trong AEC 129 Bảng 5.10 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA) của các thiết bị điện và điện tử trong AEC 132 Bảng 5.11 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA) của các phương tiện cơ giới ngoài tàu, tàu điện trong AEC 135 Bảng 5.12 Chỉ số lợi thế cạnh tranh hiện hữu (RCA) của đồ nội thất; đèn; biển hiệu; các cấu kiện nhà lắp ghép trong AEC 138
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 5.1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam – ASEAN giai đoạn 2010-2015 (tỷ USD) 106 Biểu đồ 5.2: Cơ cấu giá trị xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2015 theo thị trường, khối thị trường (%) 108 Biểu đồ 5.3 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN (2010 - 2015) 143
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á được thành lập vào ngày 8/8/1967, hiện tại gồm 10 quốc gia, trong đó có Việt Nam với mục tiêu nhằm thiết lập một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các nước trong khu vực Sau gần 50 năm tồn tại và phát triển, trải qua nhiều bối cảnh thăng trầm của thế giới và khu vực, ASEAN đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trở thành một tổ chức hợp tác khu vực trên tất cả các lĩnh vực; trong đó lĩnh vực kinh tế luôn được chú trọng và đặt lên hàng đầu Bước vào những năm 90, trước xu thế hình thành mạnh mẽ các khu vực thương mại tự do trên thế giới cùng những ảnh hưởng nội tại của khu vực ASEAN như hạn chế về năng lực cạnh tranh và quá trình công nghiệp hóa khiến quy mô sản xuất và sản phẩm hàng hóa tăng nhanh…là động lực để các quốc gia nâng cấp tiến trình tự do hóa thương mại nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các nước
thành viên Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) ra đời năm 1992 trên
cơ sở Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) được coi như một động thái tích cực của khu vực trước tình hình trên khi việc thực hiện PTA tỏ
ra chậm chạp, kém hiệu quả (ngay cả khi có những sửa đổi bổ sung vào cuối thập kỷ 80) Một trong các mục tiêu hàng đầu khi khởi xướng ý tưởng thành lập AFTA chính là thúc đẩy hơn nữa tự do hóa thương mại, tăng cường trao đổi buôn bán nội khối thông qua các quy định về loại bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan theo một lộ trình đã cam kết AFTA có thể coi là chương trình hợp tác kinh tế có ý nghĩa nhất, khả thi sớm nhất và toàn diện nhất ở ASEAN trong giai đoạn này để đáp ứng những yêu cầu phát triển của khu vực và thế giới
Trang 13Nét mới nổi bật trong hợp tác kinh tế nói chung, tự do hóa thương mại nói riêng trong khuôn khổ ASEAN ở những năm sau đó được đánh dấu bằng
sự ra đời của khái niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) trong Tuyên bố Bali II năm 2003 AEC được xây dựng dựa trên những tiền đề lý luận, thực tiễn cũng như pháp lý vững chắc là cơ sở để các quốc gia ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế cả về chiều rộng lẫn bề sâu, trong đó bao gồm cả quyết tâm của các quốc gia hướng tới việc nhất thể hóa thị trường và cơ sở sản xuất của các nền kinh tế thành viên thông qua tự do hóa các yếu tố sản xuất, hướng tới giúp ASEAN có thể hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu Với mục tiêu
đó, các thành viên AEC từng bước dỡ bỏ hàng rào thương mại phi thuế quan, đẩy mạnh dòng chu chuyển tự do hàng hóa và dịch vụ trong khu vực cũng như giữa các quốc gia thành viên ASEAN Như vậy, với việc hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào 31/12/2015 vừa qua đã hòa trộn nền kinh tế của 10 quốc gia thành viên thành một khối sản xuất, thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và tổng sản lượng (GDP) hàng năm khoảng 2.000 tỉ đô la Mỹ AEC cũng là nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới với quy mô GDP gần 3 nghìn tỷ USD AEC được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thương mại nội khối với việc hình thành thị trường chung, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, và lao động có kỹ năng sẽ được dịch chuyển tự do hơn, giống như trong thị trường nội địa, đồng thời dòng vốn trong khu vực cũng được dịch chuyển tự do hơn Với việc hình thành thị trường chung như vậy, AEC cũng hướng tới tạo lập một cơ sở sản xuất thống nhất khu vực ASEAN để nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh hơn xuất khẩu ra thị trường toàn cầu
Việc gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích đối với Việt Nam về thúc đẩy thương mại, thu hút đầu tư dựa trên lợi thế không gian của một thị trường mở và nâng cao tính cạnh tranh trên nền tảng
Trang 14một cơ sở sản xuất thống nhất Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp giảm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu Hiện nay, ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu - EU) Tính đến tháng 12/2015, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN đạt 41,99 tỷ USD (tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước) Các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu hàng hoá sang ASEAN đạt 18,16 tỷ USD, chiếm 11,26% kim ngạch xuất khẩu của cả nước AEC cũng là khu vực giao thoa của nhiều thoả thuận thương mại song phương và đa phương Do vậy, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận các thị trường lớn, phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand hay Ấn Độ, thông qua các hiệp định thương mại
đã có giữa ASEAN và các nước trên Như vậy, lợi ích kinh tế của hội nhập ASEAN đối với nhiều lĩnh vực kinh tế của Việt Nam, trong đó có lĩnh vực thương mại quốc tế là rõ ràng nhưng mức độ hưởng lợi sẽ không đồng đều Nhưng bên cạnh những lợi ích đạt được khi tham gia AEC, lĩnh vực thương mại quốc tế nói chung và xuất khẩu hàng hóa nói riêng của Việt Nam còn phải đối mặt với những thách thức không nhỏ Do đó, việc đánh giá tác động của AEC đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, từ đó có các biện pháp phát huy những tác động tích cực, khắc phục những tác động cản trở, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào AEC, nâng vị thế của Việt Nam thành một trong những quốc gia xuất khẩu uy tín, tin cậy, có năng lực, bền vững….là yêu cầu rất quan trọng Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực thực hiện chiến lược phát triển kinh tế theo hướng bền vững
Từ bối cảnh nêu trên , Nghiên cứu sinh đã lựa cho ̣n đề tài “ Tự do hóa
thương mại trong khuôn khổ cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và tác động tới thương mại quốc tế của Viê ̣t Nam ” để triển khai Luận án tiến sỹ chuyên
ngành Kinh tế quốc tế
Trang 152 Giả thuyết nghiên cứu:
Luâ ̣n án sẽ chứng minh giả thuyết sau đây: Tự do hóa thương mại trong
khuôn khổ AEC có tác động hai chi ều (tích cực và tiêu cực ) tới xuất khẩu của Viê ̣t Nam sang ASEAN
Để chứng minh giả thuyết nghiên cứu nêu trên, các vấn đề đặt ra cần giải quyết là:
i) Phải chăng tự do hóa thương mại là xu hướng tất yếu của kinh tế thế giới hiện đại?
ii) AEC thực hiện tự do hóa thương mại theo những nội dung và phương thức nào?
iii) Việt Nam đã và đang thực hiện cam kết tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC như thế nào?
iv) Tự do hóa thương mại trong ASEAN /AEC tác động như thế nào tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam?
v) Chính phủ và doanh nghiệp Viê ̣t Nam cần làm gì đ ể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong quá trình triển khai thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu nô ̣i dung , lô ̣ trình tự do hóa thương ma ̣i trong AEC, Luâ ̣n án phân tích, đánh giá tác động của quá trình tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách đối với Việt Nam nhằm tối ưu hóa những tác động tích cực và giảm thiểu những tác động tiêu cực từ việc tham gia AEC, góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thương mại quốc tế của Việt Nam
3.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu
Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, nhiê ̣m vu ̣ của Luâ ̣n án là:
Trang 16i) Nghiên cứu , làm rõ tính tất yếu của tự do hóa thương mại trong ASEAN kể từ khi có ý tưởng hình thành đến khi AEC chính thức tuyên bố thành lập cuối năm 2015
ii) Làm rõ nội dung và lộ trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ AEC và những cam kết của Việt Nam
iii) Đánh giá những tác đ ộng tích cực và tiêu cực của tự do hóa thương mại trong AEC tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
iv) Đưa ra một số hàm ý về chính sách để Việt Nam có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong quá trình thực hiện các cam kết tự do hóa thương ma ̣i trong AEC
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luâ ̣n án là n ội dung, phương thức tự do hóa thương mại trong AEC và tác động của nó tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, về nội dung: Luận án không đi sâu phân tích và đánh giá tác
động của tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC tới thương mại quốc tế
của Việt Nam nói chung, mà chỉ giới hạn trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa,
với lý do sau:
Trong hoạt động thương mại quốc tế (bao gồm các hoạt động như: xuất, nhập khẩu hàng hoá (thương mại hàng hóa), xuất nhập khẩu dịch vụ (thương mại dịch vụ); Thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ; Thương mại đầu tư; Các vấn đề về bán phá giá; Tài trợ xuất khẩu…), hoạt động xuất,
nhập khẩu hàng hóa là lĩnh vực chủ chốt và quan trọng nhất Đối với Việt Nam, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa hàng năm đều chiếm tỷ trọng lớn Chỉ tính riêng năm 2015, xuất nhập khẩu hàng hóa chiếm 92,47% trong tổng kim ngạch XNK hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam [58] Đồng thời, trong
Trang 17hoạt động xuất, nhập khẩu thì từ năm 1991 đến nay, Việt Nam thường nhập siêu (cả hàng hóa và dịch vụ) Đối với thị trường ASEAN, Việt Nam cũng
đang trong tình trạng nhập siêu (năm 2015, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam – ASEAN lần lượt là 18,16 tỷ USD và 23,83 tỷ USD) [58] Để cải
thiện tình trạng nhập siêu, trong cuộc họp thường kỳ của Chính phủ tháng 9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Công thương thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu, góp phần phát triển kinh tế bền vững
Chính vì vậy, Luận án tập trung phân tích, đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của tự do hóa thương ma ̣i trong AEC tới xu ất khẩu hàng hóa của Việt Nam, từ đó đưa ra một số hàm ý về chính sách để Việt Nam có thể phát huy những tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu trong quá trình thực hiện các cam kết tự
do hóa thương ma ̣i trong AEC và điều này cũng phù hợp với định hướng chiến lược trong hoạt động Thương mại quốc tế của Việt Nam
Thứ hai, về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về tự do hóa
thương mại trong khuôn khổ cộng đồng kinh tế AEC, đồng thời có mở rộng sang các Hiệp định thương mại đã ký kết giữa ASEAN với một số đối tác như
Ấn Độ, Hàn Quốc,Úc, Nhật Bản và Hồng Kông (chuẩn bị ký kết) để có sự so sánh, cũng như làm rõ hơn tác động lan tỏa của việc mở rộng tự do hóa thương mại ra ngoài khối tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Thứ ba, về thời gian: Luận văn nghiên cứu tiến trình tự do hóa thương
mại của các nước ASEAN từ đầu những năm 2000 đến nay mà cụ thể là từ năm 2003, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu tiên tuyên bố mục tiêu hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Mục tiêu này cũng phù hợp với Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua vào năm 1997 với mục tiêu phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN
Trang 185 Những đóng góp mới của Luận án
Luận án có một số đóng góp mới như sau:
Làm rõ thêm các lý thuyết cổ điển và hiện đại về tự do hóa thương
mại, gắn với quá trình liên kết kinh tế quốc tế và hội nhập kinh tế khu vực
Khẳng định tính tất yếu và xu hướng của tự do hóa thương mại trong bối cảnh toàn cầu hóa
Làm sáng tỏ nội dung, lộ trình cũng như phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC kể từ khi có ý tưởng hình thành AEC đến khi AEC chính thức ra đời vào cuối năm 2015
Chỉ rõ những tác động của tự do hóa thương mại trong khuôn khổ ASEAN/AEC tới thương mại quốc tế của Việt Nam
Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp chủ yếu để Việt Nam có thể phát huy những tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực khi triển khai thực hiện các cam kết tự do hóa thương ma ̣i trong ASEAN/AEC
6 Kết cấu của luâ ̣n án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luâ ̣n án gồm 5 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luâ ̣n án
Chương 2 Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn của tự do hóa thương mại trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và tác động tới thương mại quốc tế
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 Tự do hóa thương mại trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và những cam kết của Việt Nam
Chương 5 Đánh giá tác động của tự do hóa thương mại trong ASEAN/AEC tới xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và một số hàm ý chính sách
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Xu thế tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế phát triển và dẫn đến những thay đổi to lớn trên bình điện kinh tế thế giới và sẽ tác động mạnh đến hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Kể từ khi các thỏa thuận về tự do hóa thương mại được ghi nhận trong các Hiệp định song phương và đa phương, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề này
1.1 Nội dung tổng quan
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm, vai trò và xu hướng của tự do hóa thương mại
Tự hóa thương mại được biểu hiện cụ thể trong các FTA song phương
và đa phương Chính vì vậy, khi nghiên cứu về đặc điểm cũng như nội dung của tự do hóa thương mại, các công trình nghiên cứu đều thông qua việc phân
tích các Hiệp định thương mại tự do Trong bài: Hiệp định thương mại tự do (FTA): Cơ hội, thách thức đối với thương mại quốc tế Việt Nam [13], Hà Văn
Hội đã chỉ ra rằng: mỗi FTA có những phạm vi và nội dung khác nhau, nhưng chúng đều có những đặc điểm là phạm vi điều chỉnh rộng, mức độ tự do hoá cao và hình thành trên cơ sở liên kết giữa các đối tác thuộc các khu vực địa lý khác nhau và bất cứ một FTA nào được hình thành đều mang động cơ chính trị của các bên tham gia và các FTA này thường được dựa trên nền tảng là một mối quan hệ chính trị, ngoại giao tốt đẹp Tuy nhiên, động cơ kinh tế đóng vai trò quyết định trong việc xác lập nội dung và hình thức các liên kết FTA Khi xu thế tự do hóa thương mại phát triển đã có những tác động to lớn tới phát triển kinh tế Để minh chứng cho điều này, các tác giả Ashok Parikh
& Corneliu Stirbu trong cuốn sách “Relationship between Trade Liberalisation, Economic Growth and Trade Balance: An Econometric
Trang 20Investigatio” [38] đã nghiên cứu 42 nước đang phát triển của châu Á, châu
Phi và Mỹ Latin, trong đó đầu tiên các tác giả xem xét các tác động của tự do hóa thương mại đối với tăng trưởng kinh tế, cán cân thương mại và tài khoản vãng lai (như tỷ lệ phần trăm của GDP) Cả hai bảng dữ liệu và dữ liệu quốc gia của nước được sử dụng để đo lường tác động của tự do hóa đối với tăng trưởng kinh tế trong nước tính đến các khoản PPP từ các dữ liệu có sẵn trong Heston, Summers và Aten (2001) nghiên cứu Tăng trưởng kinh tế trong nước thường có tác động tích cực đến tự do hóa đối với nhiều nước trong mẫu của nghiên cứu Các tác giả cũng phân tích tác động của tăng trưởng đối với cán cân thương mại và tài khoản vãng lai để xem xét liệu tăng trưởng kinh tế cao hơn nhờ tự do hóa dẫn đến ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại hay không Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng cho phép kiểm soát các biến trong
cả hai bộ hồi quy như các điều khoản của thương mại Đồng thời mô hình được sử dụng trong nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã cho thấy tự do hóa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao hơn so với thời gian trước khi thực hiện tự do hóa Nghiên cứu này cũng sử dụng các dữ liệu mới nhất hiện
có trên GDP thực tế để đánh giá mối quan hệ giữa tự do hóa và tăng trưởng,
tự do hóa và cán cân thương mại và cũng tác động của tỷ giá hối đoái hoặc các điều khoản thương mại chính sách đối với cán cân thương mại
Về xu hướng phát triển của tự do hóa thương mại tác giả Võ Đại Lược
trong bài: Tự do hóa thương mại và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề
an ninh (2004), Tạp chí Những vấn đề Kinh tế & Chính trị thế giới chỉ rõ[26]:
từ thập kỷ 1990 đến nay tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế đã
có bước phát triển đột biến mạnh mẽ thể hiện trên các mặt: sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) bao gồm gần như tất cả các nền kinh tế thế giới; các khu thương mại tự do phát triển mạnh mẽ từ EU, NAFTA, AFTA đến các khối kinh tế khác ở hầu khắp các châu lục; các Hiệp nghị thương mại
Trang 21tự do song phương phát triển chưa từng có giữa các quốc gia với nhau như
Mỹ - Singapore, Mỹ - Thái Lan…đến các Hiệp nghị thương mại tự do giữa các khối thương mại tự do với các quốc gia như: ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản…Hàng rào thuế quan giữa các nước phát triển với nhau
đã giảm xuống còn 3%, mức thuế quan quân bình của các nước đang phát triển cũng đã được hạ thấp xuống còn khoảng 14% Những cam kết giảm bỏ hàng rào bảo hộ đang là nội dung chủ yếu của các cuộc đàm phán đa phương
và song phương hiện nay Sự tiến triển của tự do hoá thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay có thể cho phép dự báo những xu hướng chính trong thời gian từ nay đến năm 2030 như: Tổ chức thương mại thế giới sẽ trở thành
tổ chức kinh tế toàn cầu; sẽ hình thành ngày càng đầy đủ một hệ thống thể chế kinh tế toàn cầu, hệ thống thể chế này sẽ quy định hệ thống thể chế kinh tế của các quốc gia; sẽ hình thành một hệ thống cơ sở hạ tầng toàn cầu phục vụ cho nền kinh tế toàn cầu như: các đường cao tốc xuyên lục địa, các tuyến hàng hải cao tốc xuyên đại dương, các tuyến hàng không cao tốc, các hành lang thông tin toàn cầu; hệ thống giáo dục, đào tạo toàn cầu sẽ hình thành với những trung tâm giáo đục toàn cầu, có chương trình giáo đục chung, hệ thống bằng cấp chung - đủ sức đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu; các công ty xuyên quốc gia sẽ hoạt động mạnh mẽ và sẽ
là hình thức kinh doanh phổ biến ở mọi quốc gia; các nền kinh tế quốc gia vẫn
sẽ tồn tại thích ứng với tình hình mới, các khối kinh tế khu vực có thể vẫn sẽ tồn tại, nhưng với mức độ hội nhập cao hơn mức hội nhập toàn cầu Những
xu thế trên đang trở nên hiện thực: APEC đã chấp nhận tự do hoá thương mại
và đầu tư vào năm 2020 34 nền kinh tế của Tây bán cầu đã nhất trí thành lập một vùng thương mại tự do ban đầu năm 2005 EU đã nhất trí với 12 nước Địa Trung hải thành lập khu vực tự do thương mại vào năm 2010 Các quốc gia đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia, Nga, Braxin đã thức tỉnh và
Trang 22có chiến lược hội nhập kinh tế sâu rộng; Các nền kinh tế OECD đã có tiến triển to lớn về cơ cấu kinh tế, về tự do hoá thương mại và đầu tư Có thể vào năm 2030 nền kinh tế toàn cầu sẽ hình thành về cơ bản với những xu thế trên
1.1.2 Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại
a) Các nghiên cứu định tính về tác động của tự do hóa thương mại
Về những tác động tích cực của tự do hóa thương mại, trong bài: Trấn
an mối quan ngại của người lao động về tự do hóa thương mại, của David H
Feldman đăng trên Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Giáo sư kinh
tế trường Đại học William và Mary tại Williamsburg, bang Virginia (2007) đã nhấn mạnh đến ưu điểm của tự do hóa thương mại[6] Ông cho rằng: Ưu điểm của mở cửa thương mại là mức giá thế giới thường cung cấp thông tin chính xác về mức độ khan hiếm hơn là các mức giá đã bị bóp méo dưới áp lực của một nhóm lợi ích Giá cả toàn cầu khích lệ người tiêu dùng trong nước và các công ty sử dụng các nguồn lực nhằm tối đa hóa giá trị thu nhập quốc dân Các công ty và người tiêu dùng trong các nền kinh tế mở thường có nhiều lựa chọn hơn để tiêu dùng các hàng hóa chất lượng cao với mức giá rẻ Những nền kinh tế này thường có tốc độ phổ biến công nghệ nhanh hơn nếu công nghệ đi kèm với các đầu vào nhập khẩu hoặc với đầu tư nước ngoài Bên cạnh
đó, mở cửa thương mại còn có ưu điểm là nó làm giảm quyền lực thị trường
mà các ngành công nghiệp nội địa tập trung có trong tay và có quyền tự tung
tự tác trên thị trường nội địa Mở cửa thương mại là một chính sách cạnh tranh rất có hiệu quả Điều này đặc biệt đúng với các nền kinh tế nhỏ đang phát triển, trong đó, nhiều ngành công nghiệp nội địa chỉ có một hoặc hai công ty lớn
Về cơ hội và lợi ích của tự do hóa thương mại, tác giả Nguyễn Trần
Bạt, trong cuốn sách “Cải cách và sự phát triển” (2005) [3] cũng cho rằng: tự
do thương mại mang lại những lợi ích chung, tạo ra sự tiến bộ và phát triển
Trang 23của toàn nhân loại Tuy nhiên, do đặc điểm và hoàn cảnh riêng của mình, các nước thế giới thứ ba còn nhận được nhiều lợi ích cụ thể to lớn khác
Trước hết, tự do thương mại tạo cơ hội cho các nước nghèo tiếp nhận thêm nguồn lực phát triển kinh tế Tự do thương mại thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình cải cách chính trị - xã hội Cuối cùng, tự do thương mại khuyến khích phát triển một nền văn hóa mới Tự do thương mại thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa về văn hoá, góp phần khắc phục những yếu tố lạc hậu trong văn hóa của thế giới thứ ba
Lợi ích của tự do hóa không những được thể hiện trong lĩnh vực thương mại hàng hóa mà còn được biểu hiện trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, điều này đã được Atthias Lucke và Dean Spinanger phân tích trong trong bài
“Liberalizing international trade in service: Challenges and Opportunities for Developing countries.”, đăng trên tạp chí của Viện Kiel (Đức, 7/2004) cho thấy việc kết thúc vòng Uruguay về đàm phán thương mại vào tháng 4/1994 nhưng việc tự do hóa nhập khẩu dịch vụ đã trở nên phổ biến trong hệ thống thương mại thế giới trước đó [50] Trong khi vòng Uruguay chủ yếu thành công trong việc xây dựng một cơ sở khái niệm và tổ chức đối với lĩnh vực đàm phán dịch
vụ và ít mang lại việc tự do hóa thực sự, việc phân tích kể từ cuối những năm
1990 đã mang lại nhiều lợi ích tiềm năng về tự do hóa tiếp cận thị trường đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, đặc biệt là trong dịch vụ kinh doanh Điều này dẫn tới việc các nước ĐPT cần khẳng định vị trí của mình trong vòng đàm phán Doha đang diễn ra về dịch vụ khi tiến tới giai đoạn đàm phán chi tiết
Bên cạnh, những ưu điểm của tự do hóa thương mại, mặt trái của tự do
hóa thương mại cũng được, tác giả Joseph E Stiglitz của cuốn sách: Toàn cầu hóa và những mặt trái (2008) xem xét đến [21] Ông có một cái nhìn rất nghiêm khắc về quá trình này Ông cho rằng toàn cầu hóa - sự dỡ bỏ các hàng
rào dẫn đến tự do thương mại và sự hội nhập mạnh mẽ hơn của các nền kinh
Trang 24tế quốc gia -có thể là một sức mạnh thúc đẩy có khả năng nâng cao mức sống của mọi người trên thế giới, đặc biệt là người nghèo Do đó, để được như thế, cách thức tiến hành toàn cầu hóa, bao gồm cả các hiệp định thương mại quốc
tế đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc dỡ bỏ những hàng rào thương mại và những chính sách đã được áp đặt lên các nước đang phát triển trong
quá trình toàn cầu hóa cần phải được suy xét lại một cách triệt để Những
phân tích sắc sảo của Stiglitz về những xu hướng tất yếu: Tư nhân hóa, Tự do hóa vv cùng những thách thức của quá trình này (ông đưa ra ví dụ ở Indonesia, Bostwana, Ethiopia) cũng là cảnh báo mà những nước đang phát triển phải chú ý (đặc biệt là về khả năng độc lập trong hoạch định chính sách, giảm thiểu việc phụ thuộc thái quá vào các tổ chức quốc tế để rồi buộc chân mình vào những điều khoản bất lợi, càng cải cách càng rối rắm, trường hợp xấu còn có thể dẫn đến suy thoái kinh tế nặng nề hơn)
Cũng theo tác giả Nguyễn Trần Bạt [3], Tự do thương mại đem lại những cơ hội và lợi ích nhưng rủi ro không phải là không có Rủi ro gõ cửa từng quốc gia bất kể lớn, bé, giàu, nghèo Nghiêm trọng hơn, tự do hóa thương mại có thể làm đảo lộn nhiều lĩnh vực, thậm chí dẫn đến những nhiễu loạn xã hội tại nhiều nước nghèo Đó là những phản ứng phụ, phản ứng không mong muốn của quá trình tự do hóa thương mại Do hoàn cảnh kinh tế xã hội của mình, các nước đang phát triển thường có nhược điểm chung là kém phát triển về kinh tế và khoa học công nghệ, lạc hậu về thể chế chính trị và văn hoá Chính do những nhược điểm này, các quốc gia đang phát triển sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cả về kinh tế và chính trị
Cũng bàn về quan hệ giữa tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế, hai tác giả Romain Wacziarg và Karen Horn Welch trong công trình nghiên cứu: Trade Liberalization and Growth: New Evidence [55], đã dựa trên các dữ liệu mới để thiết lập các chỉ số về mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và
Trang 25tăng trưởng kinh tế và đưa ra bằng chứng mới về những con đường đi đến tăng trưởng kinh tế Trong công trình này đầu tư vốn vật chất, và sự cởi mở của chính sách tự do hóa thương mại cũng được nghiên cứu Sự phân tích dựa trên tập dữ liệu mới cho thấy rằng trong giai đoạn 1950-1998, các nước thực hiện tự do hóa thương mại của họ đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn khoảng 1,5 lần so với trước tự do hóa
b) Các nghiên cứu định lượng về tác động của tự do hóa thương mại Trong Báo cáo Đánh giá tổng thể tác động của Tự do hóa thương mại tới nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO, các chuyên gia của Viện Chiến
lược Phát triển (DSI), Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với các chuyên gia của Trung tâm Thông tin và Dự báo Cộng hòa Pháp (CEPII) đã ứng dụng mô hình MIRAGE [28], một mô hình cân bằng tổng quát động đa ngành, đa quốc gia toàn cầu chuyên dùng để phân tích thương mại do CEPII xây dựng và phát triển từ năm 2002 So với các mô hình CGE động khác, mô hình MIRAGE có những ưu điểm nổi bật là (i) Mô hình có thể thể hiện tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhất quán cả về mặt lý thuyết (với hành vi của doanh nghiệp, và với đầu tư trong nước), và nhất quán với các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng tới FDI và mức độ quan trọng của chúng; (ii) Đưa ra khái niệm về sự khác biệt của sản phẩm theo chiều dọc thông qua việc phân biệt hai loại chất lượng theo xuất xứ địa lý của sản phẩm; (iii) Hàng rào thuế quan được thể hiện ở cơ sở dữ liệu MAcMap MAcMap cung cấp giá trị thuế tương đối (thuế theo tỷ lệ phần trăm) và các giá trị thuế tương đương thuế tương đương thuế suất phần trăm sử dụng trọng số ngoại thương cho 137 nước với 220 đối tác, mô tả chi tiết cho 5113 sản phẩm (theo danh mục phân loại HS cho từng nước) Các cam kết gia nhập WTO mới nhất của Việt Nam (mức thuế quan hợp nhất) cũng được đưa vào cơ sở dữ liệu thuế này Tuy vậy, trong nghiên cứu này mô hình MIRAGE mới chỉ được sử
Trang 26dụng để lượng hóa tác động của hàng rào thuế quan đối với sản phẩm (hàng hóa), các hàng rào phi thuế quan chưa được xem xét Nghiên cứu cũng chỉ tính đến rất ít tác động của các cam kết trong khu vực dịch vụ theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS 1995) (đánh giá bảo hộ trong những ngành này và mức độ bảo hộ thông qua thuế tương đương thuế suất phần trăm
có thể dùng trong một mô hình cân bằng chung vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề
về phương pháp luận) Báo cáo được trình bầy như sau: Mở đầu, phần 2 trình bày tình huống tham chiếu và các mô phỏng của mô hình Phần 3 giới thiệu
và phân tích kết quả mô phỏng Phần 4 kết luận và đưa ra một số gợi ý chính sách Phần giới thiệu về mô hình MIRAGE, các đặc điểm và những điểm ưu việt của mô hình, cũng như khả năng phân tích của mô hình, cơ sở dữ liệu và tham số dùng cho mô hình, nguyên tắc, và kết quả gộp ngành sản phẩm cũng như gộp các nước thành từng nhóm nước được đưa vào phần phụ lục
Khi nghiên cứu tác động của FTA, Baier và Bergstrand (2002) đã thêm vào mô hình các biến giả FTA và chỉ ra rằng các FTA đã làm cho dòng thương mại tăng lên gấp 4 lần Carrere (2003) đã áp dụng nghiên cứu của Baier và Bergstrand vào phân tích dữ liệu bảng, kết quả chỉ ra rằng các FTA
đã tạo ra sự gia tăng đáng kể trong thương mại so sánh với các kết quả trước đây Chen và Tsai (2005) thay đổi mô hình trọng lực và so sánh cá kết quả bằng việc sử dụng dữ liệu bảng Nghiên cứu cho thấy các giá trị ước lượng khác nhau giữa các FTA khác nhau
Urata và Okabe (2007), Gulhot (2010) cũng sử dụng mô hình trọng lực nghiên cứu tác động của FTA trong khu vực Đông Á Các biến được đưa vào
mô hình bao gồm GDP, thu nhập bình quan đầu người, khoảng cách địa lý và một số biến giả nhằm đánh giá mức độ tạo lập và chuyển hướng thương mại của các FTA trong khu vực Đông Á cũng như đánh giá tác động của những yếu tố riêng rẽ đến dòng thương mại của các nền kinh tế
Trang 27Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu sử dụng mô hình trong lực để đánh giá tác động của các FTA mà Việt Nam tham gia Đỗ Trí Thái (2006) phân tích thương mại giữa Việt Nam và 23 nước Châu Âu (EC23) thông qua
sử dụng mô hình trọng lực và dữ liệu bảng Các biến được đưa vào mô hình bao gồm GDP của Việt Nam và các nước đối tác, dân số, tỷ giá hối đoái, khoảng cách địa lý và biến giả lịch sẻ Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN+3 Mô hình được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến luồng thương mại như nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung (GDP và dân số của nước xuất khẩu) và nhóm yếu tố hay cản trở (khoảng cách địa lý)
Nguyễn Tiến Dũng (2011) sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá tác động của khu vực thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc tới dòng thương mại Việt Nam Nguyễn Anh Thu (2012) sử dụng mô hình trọng lực đánh giá tác động của hội nhập kinh tế Việt Nam theo AFTA và hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản Các biến phụ thuộc được đưa vào mô hình như GDP, khoảng cách giữa các quốc gia, thu nhập bình quân đầu người, tỷ giá hối đoái thực và các biến giả VJEPA, AFTA, AKFTA
Nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại, Phạm Lan Hương
và David Vanzetti (2006) đánh giá tác động của tự do hóa của Việt Nam sử dụng mô hình GTAP cho thấy rằng cả nhập khẩu và xuất khẩu tăng trong tất
cả các ngành, đặc biệt là trong dệt may; và mức phúc lợi khá cao, đặc biệt là
từ tự do hóa đơn phương Lao động phổ thông tăng 38% với đa số lao động làm việc trong các ngành dệt may, may mặc, sản phẩm gỗ và viễn thông Tuy nhiên, kết quả này có vẻ không thực tế với sự đánh đổi giữa việc sử dụng lao động và tiền lương, nên cần có một cách đóng mô hình thực tế hơn Bên cạnh
mô hình GTAP, đã có các mô hình CGE khác sử dụng để ước tính các tác
Trang 28động kinh tế của tự do hóa thương mại của Việt Nam Ví dụ, Nguyễn Chân và Trần Kim Dung (2001) đã xây dựng một mô hình CGE dựa vào bảng đầu vào-đầu ra của Việt Nam năm 1996, mô phỏng việc giảm tất cả thuế quan của Việt Nam xuống 5% và thay thế thuế doanh thu với thuế GTGT Kết quả của
họ cho thấy một số ngành (than, dầu, khí đốt, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và chế tác công nghệ thấp) mở rộng sản xuất; trong khi đó các ngành khác (nông nghiệp, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm) giảm sản lượng Với việc giảm thuế quan, xuất nhập khẩu tăng lên đáng kể (tương ứng là 7,8% và 5%), trong đó xuất khẩu của các ngành chế tác công nghệ thấp tăng trong khi lĩnh vực nông nghiệp, ngân hàng và tài chính sụt giảm
Đối với các mô hình CGE động, Roland-Holst và cộng sự (2002) mô phỏng một mô hình CGE động từ giai đoạn 2000 đến năm 2020 để phân tích các tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO Họ tập trung vào tầm quan trọng của cải cách trong nước cũng như tự do hóa thị trường vốn cùng với việc gia nhập WTO Các tác giả nhận thấy rằng nếu Việt Nam gia nhập WTO theo phong cách thụ động mà không có bất kỳ cải cách trong nước, điều này sẽ mang lại lợi ích không đáng kể cho nền kinh tế vì nếu không có cải cách trong nước, nền kinh tế Việt Nam sẽ chỉ tăng cường lợi thế so sánh trong các ngành lương thấp, dẫn đến xói mòn lợi ích chung của Việt Nam từ thương mại Ngoài
ra, tự do hóa thị trường vốn sẽ thúc đẩy tăng trưởng nếu nó được thực hiện cùng với các cải cách trong nước và gia nhập WTO Toàn (2005) đã phát triển một mô hình CGE năng động cho nền kinh tế Việt Nam và mô phỏng cắt giảm 5% thuế quan theo cam kết WTO Những phát hiện chính của nghiên cứu này
là cắt giảm thuế quan sẽ dẫn đến việc mở rộng công nghiệp chế tác gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp và dịch vụ trong dài hạn Do đó, nhập khẩu nông sản và dịch vụ, và xuất khẩu sản phẩm sản phẩm chế tác sẽ tăng lên
Trang 29Đối với một ngành/lĩnh vực cụ thể, trong Báo cáo Đánh giá tác đ ộng tổng thể của tự do hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam
(2/2011) của nhóm chuyên gia : Joseph Francois; Miriam Manchin; Lương Văn Tự; Lê Triệu Dũng; Hoàng Mạnh Phương; Hoàng Minh Chiến, Mutrap III, các tác giả đã đánh giá tác động tổng thể của tự do hóa thương mại dịch
vụ đối với nền kinh tế Việt Nam[20] Việc đánh giá bao gồm xác định các rào cản đối với dịch vụ ở Việt Nam, sử dụng mô hình định lượng (mô hình cân bằng tổng thể khả tính - CGE) cho các tình huống chính sách Các tình huống được xem xét bao gồm tự do hóa đơn phương và khu vực
1.1.3 Các nghiên cứu về tự hóa thương mại trong ASEAN/AEC
Về lộ trình tự do hóa thương mại trong tiến trình hình thành Cộng đồng
kinh tế ASEAN (AEC), trong bài viết Tự do hóa thương mại trong ASEAN và hướng tới thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) (2013), tác giả Hà Văn Hội và Lương Thị Linh trong Kỷ yếu Hội thảo “Tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý đối với Việt Nam” [17] đã phân tích và
làm rõ các biện pháp tự do hóa thương mại trong AEC trên cả hai lĩnh vực: thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Bài viết cũng phân tích các phương thức tự do hóa thương mại trong AEC Qua đó so sánh về phạm vi và mức độ tự do hóa thương mại của AEC với WTO Bài viết cũng khẳng định
Lộ trình hình thành AEC, cũng chính là lộ trình thực thi những cam kết về tự
do hóa thương mại Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là một trong ba trụ cột
chính, bên cạnh Cộng đồng An ninh-Chính trị, Cộng đồng Văn hóa-Xã hội, hình thành nên Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Đây là mục tiêu lớn mà Lãnh đạo các nước ASEAN đã thống nhất tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 9, diễn ra tại Bali, Indonesia vào tháng 10 năm 2003 Để thực hiện mục tiêu này, các nước ASEAN đang nỗ lực triển khai các biện pháp đề ra một cách hiệu quả và đa dạng Tuy nhiên, quá trình này không phải chỉ mới được
Trang 30bắt đầu năm 2003 mà đó cũng là công việc xuyên suốt từ những giai đoạn đầu của hợp tác kinh tế khu vực ASEAN cho đến nay, mà các nước ASEAN đã kiên trì theo đuổi Cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại Thế giới WTO với mục đích chính là loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do thương mại, ASEAN cũng không thể nằm ngoài sự phát triển đó khi tiến hành tự do hóa thương mại trong một trụ cột quan trọng của mình - Cộng đồng kinh tế ASEAN
Cũng nghiên cứu về nội dung của tự do hóa thươn g ma ̣i trong AEC, Hà
Văn Hội (2014), trong bài: Nghiên cứu, so sánh ảnh hưởng của việc tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với thương mại quốc tế của Việt Nam, Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế số tháng 12/2014, cho rằng [19]: Mục tiêu mà AEC hướng tới tự
do hóa thương mại khu vực Mục tiêu của AEC là tạo dựng một thị trường và
cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên, thúc đẩy dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, và lao động có tay nghề trong khối Trên cơ sở đó, AEC thúc đẩy tự do hóa thương mại nội khối và đẩy nhanh quá trình gắn kết các thành viên trong một sân chơi chung, nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của từng thành viên Để đạt được mục tiêu này, các cam kết cụ thể bao gồm:
Về cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan Xét một cách tổng quát, hình thức tiến hành hoạt động tự do hóa Thương mại hàng hóa trong AEC được quy định tương đối linh hoạt và mở, thể hiện ưu đãi đối với quốc gia kém phát triển hơn trong khu vực như: kéo dài thời gian thực hiện lộ trình, được hỗ trợ nhiều hơn về kỹ thuật, giảm bớt một số nghĩa vụ…
Về các rào cản phi thuế quan, phương thức thực hiện hoạt động này cũng được CEPT, ATIGA quy định tương đối uyển chuyển với các bước tiến hành cụ thể, ưu tiên các quốc gia CLMV được kéo dài lộ trình xóa bỏ các rào
Trang 31cản phi thuế quan trong danh sách đã được xác định (thông qua việc Hội đồng AFTA chấp thuận bảng tự kê khai xóa bỏ của quốc gia thành viên hoặc Ủy ban điều phối thực hiện ATIGA rà soát và xác định)
Về thuận lợi hóa thương mại hàng hóa: Chương trình đàm phán Thuận lợi hóa thương mại tại ASEAN (ATFWP) năm 2008 đã kêu gọi các quốc gia thành viên đơn giản hóa quy tắc xuất xứ, thống nhất những tiêu chuẩn về sản phẩm và kĩ thuâ ̣t Thuận lợi hóa thương mại trong AEC còn thể hiện trong việc đẩy mạnh hợp tác hải quan ASEAN
Về tự do hoá thương mại dịch vụ, ASEAN đã hoàn tất Gói 9 cam kết dịch vụ theo Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ (AFAS) trong năm 2013, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển dịch vụ trong khu vực Tới nay, các cam kết về tự do hoá dịch vụ trong ASEAN đã bao trùm nhiều lĩnh vực như dịch
vụ kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, vận tải biển, viễn thông và du lịch
Trong bài viết: Philipines và tự do hóa thương mại trong AEC 2015 của
nhóm tác giả Th.S Vũ Thanh Hương, Đỗ Thị Mai Hiên, Nguyễn Hà Phương,
Trần Thị Khánh Phương (2013) tại Hội thảo : Hướng tới Cộng đồng Kinh tế
ASEAN (AEC) và một số gợi ý chính sách đối với Việt Nam [20] cho rằng :
Các quốc gia ASEAN đều đang nỗ lực thực hiện các hành động tiến tới hiện thực hóa Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015 Mỗi một quốc gia
có một lịch trình và các giải pháp thực hiện cụ thể riêng Cho đến thời điển hiệm nay, các đánh giá cho thấy tiến trình và mức độ thực hiện cam kết cũng như việc sẵn sàng cho AEC 2015 của các nước ASEAN không đồng đều Bài viết này trước hết sẽ xem xét tổng quan các cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa của Philippines nhằm thực hiện AEC 2015, sau đó phân tích tiến trình, mức độ thực hiện các cam kết của Philippines cũng như một số tác động của việc thực hiện cam kết đến nền kinh tế Philippines và dòng thương mại
Trang 32Philippines - ASEAN Các phân tích cho thấy Philippines đã thực hiện tốt các cam kết cắt giảm thuế quan nhưng chưa thật sự tận dụng được cơ hội giảm thuế trong nội bộ khối để khai thác lợi thế cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước ASEAN Ngược lại, các nước ASEAN khác tận dụng khá tốt
sự cắt giảm thuế của các Philippines Cuối cùng, bài viết sẽ rút ra một vài hàm
ý cho Philippines và Việt Nam nhằm thúc đẩy hơn nữa sự đóng góp của hai quốc gia này vào hiện thực hóa AEC đến năm 2015, đồng thời tận dụng tốt hơn các cơ hội về thương mại mà AEC mang lại
Trong bài: Hội nhập kinh tế khu vực ASEAN của Việt Nam: phân tích từ chỉ số thương mại nội khối hàng công nghiệp chế biến của Phạm Quỳnh Anh (2014) Bài viết tổng hợp các luận cứ, nhận thức về tác động của hội nhập kinh
tế khu vực ngày càng sâu rộng tới công nghiệp chế biến thông qua tự do hóa thương mại, đầu tư, hình thành cơ sở sản xuất, thị trường duy nhất [2] Một trong các chỉ tiêu tổng hợp của các tác động này là mức độ thương mại nội khối, do đó các chỉ số thương mại nội khối (intraindustry trade) giữa Việt Nam với các nước ASEAN và phương thức tổ chức sản xuất tương ứng được sử dụng để phân tích tác động của hội nhập kinh tế khu vực Kết quả cho thấy dù Việt Nam đã chính thức bước vào hành trình cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được 4 năm, ngoại thương hàng công nghiệp chế biến vẫn chủ yếu ngoại khối Tuy nhiên, xu hướng thương mại nội khối ASEAN của Việt Nam đã có xu hướng tăng lên rõ rệt trong 5 năm bắt đầu chuẩn bị thực hiện cộng đồng kinh tế ASEAN, thể hiện dấu hiệu ảnh hưởng của gia nhập AEC
Trong Báo cáo: Đánh giá tác động tổng thể của tự do hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam thuộc Dự án Mutrap III (2011), các tác
giả đã đánh giá tác động tổng thể của tự do hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam [20] Việc đánh giá bao gồm xác định các rào cản đối với dịch vụ ở Việt Nam, sử dụng mô hình định lượng (mô hình cân bằng tổng thể
Trang 33khả tính - CGE) cho các tình huống chính sách Các tình huống được xem xét bao gồm tự do hóa đơn phương và khu vực Các tác giả đã xem xét tác động của tự do hóa thương mại dịch vụ trong 4 khuôn khổ khác nhau Trước hết là tự
do hóa thương mại dịch vụ trong khuôn khổ cam kết gia nhập WTO Tiếp đó, Báo cáo phân tích tác động của 3 khuôn khổ tăng cường tự do hóa ở cấp độ khu vực là tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN, hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ và FTA với EU Báo cáo cũng rà soát xu hướng FDI và thảo luận về dòng FDI trong các lĩnh vực dịch vụ; thảo luận tầm quan trọng của dịch
vụ đối với các ngành khác trong nền kinh tế Việt Nam; xem xét các rào cản đối với thương mại dịch vụ và thảo luận chi tiết về kết quả ước tính định lượng trong các khuôn khổ tự do hóa thương mại dịch vụ
Cũng liên quan đến tự do hóa thương mại, theo Hà Văn Hội (2014),
trong bài: “Việt Nam với tiến trình tự do hóa thương mại, hướng tới thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN” (2014), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á[18] ,
cho rằng: Tự do hóa thương mại hàng hóa là một trong năm biện pháp cốt lõi
để hoàn thành mục tiêu nhất thể hóa thị trường và cơ sở sản xuất của các nền kinh tế thành viên, do đó tự do hóa Thương mại hàng hóa giữa các quốc gia thành viên không thể tách rời các văn kiện có ý nghĩa nền tảng cho việc xây dựng AEC Đồng thời, các hoạt động đó cũng được triển khai trên cơ sở các thiết chế pháp lý cơ bản mà AEC có trách nhiệm quản lý, điều hành, tư vấn trong lĩnh vực tự do hóa thương mại ở khu vực Trên thực tế, phương thức thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa trong AEC chính là tập hợp các cách thức và hình thức gỡ bỏ các rào cản thương mại hàng hóa giữa các nước thành viên và thực hiện các hoạt động thuận lợi hóa Thương mại hàng hóa Những nội dung trên được ghi nhận cụ thể, chi tiết trong các công cụ pháp lý
mà trong đó Hiệp định ATIGA là văn bản quan trọng
Trang 34Đối với lộ trình thực hiện tự do hóa thương mại, theo tác giả Võ Đại Lược trong nghiên cứu đã dẫn ở trên, cho rằng vấn đề đặt ra cho các quốc gia
là phải tìm kiếm những giải pháp gì để thúc đẩy tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế phát triển theo hướng có lợi cho sự tiến bộ và phát triển kinh tế -
xã hội toàn cầu, mang lại những lợi ích cho mọi quốc gia, dân tộc và các tầng lớp xã hội, hạn chế tới mức thấp nhất những cái giá phải trả, những tác động tiêu cực, những ảnh hưởng xấu tới an ninh và ổn định Các quốc gia, đặc biệt
là các cường quốc, các định chế quốc tế, nhiều tổ chức nghiên cứu và học giả
đã nêu ra khá nhiều giải pháp, từ việc cải tổ Liên hợp quốc và các định chế kinh tế quốc tế, đến việc gia tăng các Hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực, yêu cầu các nước phát triển mở cửa hơn nửa thị trường nông phẩm, gia tăng viện trợ phát triển cho xoá đói giảm nghèo Song có thể nói rằng, cho đến nay việc tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế phát triển vẫn đang là một vấn đề nóng bỏng và bức bách đối với cả thế giới cũng như đối với mỗi một quốc gia Xu hướng tự do hoá thương mại và hội nhập quốc tế vẫn đang tự mở lấy đường
đi, bất chấp mọi sự phản đối và chống lại Xu thế phát triển này sẽ làm cho thế giới an ninh và ổn định hơn, chứ không phải ngược lại
Bài viết của Nguyễn Anh Thu, Vũ Thanh Hương, Vũ Văn Trung, Lê Thị Thanh Xuân, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và kinh doanh, tập 31, số
4 (2015) đã sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động của các hoạt động hội nhập này đến luồng thương mại hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam Kết quả mô hình cho thấy hội nhập thương mại hàng hóa và thương mại dịch
vụ trong AEC đã có tác động tích cực tới cả xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam Do đó, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các hoạt động hợp tác
về thương mại trong AEC Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra rằng hội nhập thương mại với Hàn Quốc có tác động tích cực trong khi các hiệp định mới
Trang 35được ký kết như Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Australia-New Zealand, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản có tác động chưa rõ nét đến thương mại của Việt Nam
1.1.4 Các nghiên cứu về quan điểm , chính sách tự do hóa thương mại của Viê ̣t Nam trong quá trình tham gia AEC
Dự án : Đánh giá tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam
(2009), MUTRAP III, Báo cáo kỹ thuật, Mã hoạt động FTA - 9A, tháng 7 –
2009, đã đánh giá dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng, tác động của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN đối với kinh tế Việt Nam [6] Dự án cũng đã nêu rõ: Kể từ khi ý tưởng hình hành AEC được các quốc gia ASEAN đồng thuâ ̣n và triển khai kế hoa ̣ch hiê ̣n thực hóa sự ra đời của AEC Viê ̣t Nam là
mô ̣t thành viên đã rất tích cực tham gia công tác chuẩn bi ̣ cho sự ra đời của AEC vào 31.12.2015 Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến quan điểm, chính sách, cũng như giải pháp để Việt Nam thực hiện lộ trình tự do hóa thương ma ̣i, chuẩn bi ̣ cho sự ra đời của AEC Năm 1986, Việt Nam
đã bắt tay vào một cuộc cải cách kinh tế đã thành công khi đưa nền kinh tế đất nước từ hoạch định tập trung lên một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa gắn với đầu tư Trong suốt thời kỳ này, ASEAN đã trở thành một đối tác thương mại ngày càng quan trọng đối với Việt Nam Việt Nam tham gia CEPT, AFTA vào năm 1995 và đã cam kết tham gia vào quá trình hội nhập
kể từ khi gia nhập Cụ thể, Việt Nam đã tham gia Chương trình CEPT thông qua Nghị định thư về việc tham gia Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho Khu vực Thương mại Tự do ASEAN của nước CHXHCN Việt Nam Căn cứ nghĩa vụ của mình theo Hiệp định CEPT, Việt Nam cam kết loại bỏ tất cả thuế nhập khẩu các sản phẩm bao gồm trong IL của Việt Nam vào năm 2015, có thể linh hoạt cho đến năm 2018 Ngoài ra, Việt Nam cam kết thực hiện từng bước theo Chương trình CEPT "sản phẩm
Trang 36nhạy cảm" của Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 nhưng không quá ngày 1 tháng 1 năm 2006 và sẽ hoàn tất lộ trình ngày 1 tháng 1 năm 2013 Liên quan đến sản phẩm đường, Việt Nam cam kết hoàn thành việc loại bỏ dần trong ngày 1 tháng 1 năm 2010 Việc giảm dần thuế cho những "sản phẩm nhạy cảm" về nguyên tắc phải được hoàn tất vào ngày 1 tháng 1 năm
2010 Tuy nhiên, Việt Nam không bao gồm bất kỳ mục hàng nào trong HSL Việt Nam phải loại bỏ tất cả hạn chế định lượng và các hàng rào phi thuế quan khác về sản phẩm nhạy cảm vào ngày 1 tháng 1 năm 2013
Nguyễn Quốc Trường, Nguyễn Thế Cường (Viện Chiến lược phát
triển) trong bài nghiên cứu có tựa đề[27]: Cộng đồng kinh tế ASEAN – Cơ hội
và thách thức đối với Việt Nam cho thấy: Việt Nam đã và đang nỗ lực chuẩn
bị gia nhập AEC Theo cam kết cắt giảm thuế của Việt Nam trong ATIGA, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế về 0% cho tất cả các mặt hàng trao đổi trong ASEAN (ngoại trừ các mặt hàng trong Danh mục loại trừ chung) với lộ trình cho hầu hết các dòng thuế là cho tới năm 2015 và 7% dòng thuế còn lại cho tới năm 2018 Hải quan điện tử là một nội dung quan trọng đang được thực hiện nhằm các mục tiêu trên Việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam về cơ bản đã đạt được các mục tiêu như rút ngắn thời gian thông quan, và giảm các yêu cầu về các giấy tờ kê khai Việt Nam cũng đang xây dựng chương trình Một cửa quốc gia (Vietnam's National Single Window - VNSW) nhằm tạo thuận lợi tối đa cho thương mại Bên cạnh các nội dung trên, Việt Nam cũng đang nỗ lực đơn giản hoá hệ thống các giấy phép, giấy chứng nhận bao gồm giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, giấy chứng nhận xuất
CEPT-xứ (C/O), giấy chứng nhận vệ sinh kiểm dịch, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm Các nỗ lực này thể hiện qua hệ thống eCoSys (hệ thống xin cấp C/O qua mạng) cũng như việc cấp phép nhập khẩu tự động Hướng tới tự do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số Luật liên quan như Luật đầu
Trang 37tư, Luật Thương mại, Luật doanh nghiệp và ban hành nhiều Nghị định, văn bản hướng dẫn các Luật này Để thực hiện trụ cột 2 của AEC, Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới các chính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông để phù hợp với các cam kết trong hiệp định khung ASEAN về dịch vụ(AFAS) cũng như GATS Đối với các ngành ưu tiên gồm y tế, du lịch, logistics, e-ASEAN và hàng không, Việt Nam cũng đã tuân thủ nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia vào các hiệp định liên quan Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có Luật cạnh tranh khá toàn diện áp dụng cho cả nền kinh tế và có các cơ quan giám sát thực hiện luật này cùng với Indonesia, Singapore và Thái Lan
Tác giả Vũ Thanh Hương & Trần Viê ̣t Dung (2015), trong bài : Việt Nam với quá trình tự do hoá thương mại dịch vụ hướng tới cộng đồng kinh tế ASEAN, đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển 2015, tập 13, số 3: 474-483
đã khẳng đi ̣nh [20]: Tự do hoá thương mại dịch vụ là một trong những nội dung cơ bản của lộ trình hướng tới hình thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015 Chính
vì vậy, trong thời quan qua, các quốc gia thành viên ASEAN đã có nhiều nỗ lực thúc đẩy tự do hoá thương mại dịch vụ trong nội bộ khối Bài viết phân tích những cam kết của Việt Nam về tự do hóa thương mại dịch vụ trong ASEAN, làm rõ kết quả của quá trình thực hiện những cam kết đó tính đến thời điểm hiện nay để từ đó đưa ra một vài hàm ý nhằm thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, hướng tới AEC 2015
Bên ca ̣nh đó, Nguyễn Thị Minh Phương (2014) trong bài: Tự do hóa đầu
tư trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), và sự tham gia của Việt Nam, tại Hội
thảo: Tham gia AEC và những vấn đề đă ̣t ra cho Viê ̣t Nam, Hà Nội 10.2014 Bài viết nghiên cứu sự tham gia của Việt Nam vào AEC trong lĩnh vực tự do hóa đầu
Trang 38tư thông qua phân tích: (i) các cam kết và việc thực hiện cam kết của Việt Nam trong Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA); (ii) thực trạng quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài của ASEAN và của Việt Nam;(iii) từ đó đưa ra một số cơ hội và thách thức mà AEC mang lại cho Việt Nam từ góc độ tự do hóa đầu tư Hiện nay, các hoạt động về đầu tư trong ASEAN được điều chỉnh bởi Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), có hiệu lực từ ngày 29/3/2012 ACIA là sự kế thừa và điều chỉnh từ Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN năm
1987 (AIGA) và Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) năm 1998 nhằm phù hợp với điều kiện mới và nhu cầu hội nhập trong tầm nhìn ASEAN
2020 Mục tiêu của ACIA là tạo ra một cơ chế đầu tư tự do, mở cửa trong ASEAN được thực hiện thông qua từng bước tự do hóa đầu tư; tăng cường bảo
vệ nhà đầu tư và các khoản đầu tư của họ; cải thiện tính minh bạch và khả năng
dự đoán của các quy tắc, quy định và thủ tục đầu tư; xúc tiến, hợp tác tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và thống nhất
Tác giả Nguyễn Tiến Minh (2014) trong bài viết : Tự do hóa thương mại trong AEC và cơ hội mới cho Thương mại điê ̣n tử ASEAN cho rằng [27]:
Về hội nhập khu vực của ngành thương mại điện tử, ngay từ cuối năm 2004, Việt Nam đã tiến hành một vòng các cuộc đàm phán ban đầu và hoàn thành lộ trình hội nhập toàn diện ngành thương mại điện tử trong ASEAN Các mục tiêu của việc hội nhập ngành e-ASEAN bao gồm: i) Tự do hoá thương mại các sản phẩm ICT, dịch vụ và đầu tư ICT; ii) Phát triển, tăng cường và củng
cố năng lực cạnh tranh của ngành ICT trong ASEAN; iii) Giảm cách biệt về
kỹ thuật số trong từng Quốc gia thành viên ASEAN và giữa các Quốc gia thành viên ASEAN; và iv) Thúc đẩy hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân tiến tới thực hiện mục tiêu e-ASEAN Trong nhấn mạnh đến các biện pháp cụ thể là các sáng kiện dựa trên những đề xuất đã được thực hiện (như xoá bỏ thuế quan đối với các sản phẩm thuộc danh mục ITA1 cho các nước ASEAN-6 vào 1/1/2005), và bổ sung các khuyến nghị mới nêu tại Tuyên bố
Trang 39Bali II, bản tổng hợp Lộ trình hội nhập e-ASEAN (RIA) và Tuyên bố Singapore - Chương trình hành động, được thông qua tại Hội nghị ASEAN TELMIN lần thứ 3, cũng như các sáng kiến khác tập hợp từ đại diện khu vực nhà nước và tư nhân của tất cả các nước ASEAN.Việc thực hiện đầy đủ các khuyến nghị này là yếu tố quan trọng giúp ASEAN đạt tới mục tiêu hội nhập ngành e-ASEAN vào năm 2010 Tuy nhiên, các khuyến nghị này chưa phải toàn bộ, ASEAN sẽ tiếp tục bổ sung các biện pháp cần thiết khác khi cần thiết Lộ trình này bao gồm các biện pháp cụ thể đối với ngành e-ASEAN, cũng như những biện pháp áp dụng chung cho tất cả các ngành
1.2 Nhâ ̣n xét, đánh giá về các công trình nghiên cứu đã được tổng quan
Trên cơ sở tổng quan các công tình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luâ ̣n án, có thể rút ra một số kết luận sau:
i) Hầu hết các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng , tự do hóa thương ma ̣i là
mô ̣t xu thế tất yếu khách quan, không thể đảo ngược Đồng thời, vai trò của tự
do hóa thương mại đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
là không thể phủ nhận
ii) Mô ̣t số công trình nghiên cứu đã sử du ̣ng phương pháp đi ̣nh tính như phương pháp quy na ̣p , diễn di ̣ch, phân tích, thống kê, so sánh…Mô ̣t số công trình nghiên cứu khác sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng như mô hình cân bằng tổng thể , mô hình cân bằng từng phần , mô hình lực hấp dẫn…Hoă ̣c mô ̣t số công trình la ̣i kết kết hợp cả hai phương pháp đi ̣nh tính và
đi ̣nh lượng, để phân tích tác động của tự do hóa thương mại tới phát triển kinh tế quốc gia nói chung và tác động tới thương mại quốc tế nói riêng trong đó
có Viê ̣t Nam Đây là những phương pháp nghiên cứu hiện đại phù hợp với lĩnh vực kinh tế quốc tế sẽ được Luận án kế thừa trong quá trình nghiên cứu
iii) Về tự do hóa thương ma ̣i trong ASEAN cũng như sự tác động của
nó tới nền kinh tế nói chung và thương mại quốc tế nói riêng của Viê ̣t Nam
Trang 40cũng đã có khá nhiều công trình trong và ngoà i nước nghiên cứu Tuy nhiên
nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại trong khuôn khổ AEC tới
các nhóm ngành xuất khẩu cụ thể, thì chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và sâu sắc Đây chính là “khoảng trống” cần tiếp tục nghiên cứu Do đó, Luâ ̣n án mô ̣t mă ̣t kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu nêu trên, mặt khác Luận án sử dụng mô hình tr ọng lực để nghiên cứu làm rõ tác động của tự do hóa thương mại t rong AEC tới hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam