1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

80 644 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 683,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những thực trạng đã nêu trên và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi lựa chọn đề tài: “ Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thành phố Yên Bái, tỉnh

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ NHUNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ NHUNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ PHÚ HẢI

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Phú Hải

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Lê Thị Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 11

1.1 Các khái niệm công cụ 11

1.2 Các hình thức của bạo lực gia đình 12

1.3 Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đình 13

1.4 Nhu cầu công tác xã hội của phụ nữ bị bạo lực gia đình 13

1.5 Quan điểm và mục tiêu phòng chống bạo lực gia đình 14

1.6 Chính sách, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình 14

1.7 Một số mô hình hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình 17

1.8 Công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình 19

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI 27

2.1 Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại địa bàn 27

2.2 Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Yên Bái 35

2.3 Trường hợp điển cứu 41

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI 69

3.1 Hoàn thiện chính sách pháp luật 69

3.2 Nâng cao thông tin tuyên truyền 70

3.3 Áp dụng các hoạt động tư vấn, chăm sóc tại địa phương 71

3.4 Phát triển kinh tế 72

3.5 Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước 73

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bạo lực gia đình là một vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm.Đây không còn là đề tài mới, nhưng vẫn rất thời sự.Nạn bạo lực gia đình vẫn xảy ra đâu đó một cách khá thường xuyên, để lại sự tổn hại xã hội nghiêm trọng.Bạo lực gia đình có ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thể chất của nạn nhân, có những trường hợp dẫn đến thương tật suốt đời, thậm chí tử vong

Xã hộingày càng phát triển, vị trí của mỗi người trong gia đình cũng thay đổi và hướng tới sự bình đẳng, bình đẳng giữa vợ - chồng, giữa cha mẹ và con cái Xu hướng phát triển này đang được cả xã hội khuyến khích Song, bên cạnh những gia đình được xem là tổ ấm thực sự thì tình trạng bạo lực mà nạn nhân chủ yếu là người phụ nữ - người vợ trong gia đình vẫn xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc đến mức báo động Điều này gây ảnh hưởng lớn tới nền tảng gia đình và xã hội Ngày nay, bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới và được nhiều tổ chức cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm Bạo lực gia đình không còn được xem là chuyện nội bộ của mỗi gia đình, nó đã trở thành một vấn đề xã hội gây nhiều nhức nhối mà người được cho là chịu nhiều ảnh hưởng nhất chính là phụ nữ - những người vợ trong gia đình

Có thể nói bạo lực trong gia đình nhằm chống lại phụ nữ là một vấn đề tồn tại trong các chế độ xã hội, nó có ở tất cả các nước có trình độ văn minh khác nhau và Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng này

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua tại kì họp thứ 2 ngày 21 tháng 11 năm 2007), bạo lực gia đình (BLGĐ) là hành

vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình Phòng,

Trang 6

chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan tổ chức PCBLGĐphải kết hợp phòng ngừa, ngăn chặn với xử lý hành vi

và giải quyết hậu quả của hành vi bạo lực gia đình trong đó lấy phòng ngừa, ngăn chặn là chính

Bạo lực gia đình đã có từ rất lâu trong đời sống gia đình, nhưng hiện nay đang trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối khiến dư luận phải đặc biệt quan tâm Bạo lực gia đình làm xói mòn các giá trị, chuẩn mực, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phá vỡ sự bền vững của gia đình, đồng thời tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế – xã hội ở địa phương, thậm chí ở một quốc gia, các báo cáo nghiên cứu đều khẳng định nguyên nhân sâu xa của bạo lực gia đình là: nhận thức về vấn đề bình đẳng giới rất hạn chế, bất bình đẳng giới là gốc rễ của bạo lực gia đình Quan niệm về bất bình đẳng giới đã có từ rất lâu trong xã hội, chủ yếu là sự phân biệt của nam giới đối với phụ nữ, đẩy chị em vào vị trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới trong tất cả các hoạt động: kinh tế, văn hoá, giáo dục, chính trị và cả trong gia đình Vì vậy nạn nhân chủ yếu của bạo lực gia đình là phụ nữ, trẻ em (chiếm khoảng trên 75%) Trong đó có những vụ gây bất bình dư luận xã hội về việc thể hiện bạo lực như: vụ chồng nhốt vợ vào cũi nuôi chó ở Song Khê - Yên Dũng, đuổi vợ ra khỏi nhà vào đêm giáp Tết Nguyên đán ở Hương Vĩ - Yên Thế, nhốt vợ dùng điếu cày đập vào đầu dẫn đến tử vong ở Mi Điền - Việt Yên, bắt vợ phải quan hệ tình dục theo sở thích điên dại ở Quý Sơn - Lục Ngạn và nhiều vụ việc khác liên quan đến bất bình đẳng không cho vợ tham gia các hoạt động xã hội, chính trị tại địa phương Từ những vụ việc trên

có thể khái quát về một số định kiến giới thường gặp hiện nay như sau:

- Phụ nữ phải phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, nam giới là độc lập, mạnh

mẽ có năng lực và là người ra quyết định

- Chồng có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng

Trang 7

- Nam là trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn quan trọng trong gia đình, nữ có trách nhiệm nuôi dạy con cái, nội trợ trong nhà

- Nam giỏi việc xã hội, nữ phải giỏi việc nhà

Định kiến như trên, đã gây nhiều tác động tiêu cực đến cơ hội, khả năng phát triển của chị em phụ nữ trong công việc xã hội và nhất là trong đời sống gia đình Ở những gia đình có sự phân biệt, coi trong nam giới hơn nữ giới thì gia đình đó dành nhiều sự quan tâm, chăm sóc về mọi mặt cho các trẻ em trai, nhiều hơn cho trẻ em gái Do đó khi trưởng thành, các em trai thường có điều kiện tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tốt hơn các em gái, mặc dù năng lực của các em gái không thua kém các em trai Những suy nghĩ, cách hành xử,

sự dạy dỗ có liên quan đến phân biệt, định kiến giới của ông, bà, cha, mẹ, anh, chị chính là những yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành quan niệm về giới của mỗi thành viên trong gia đình Do đó, nếu trong gia đình có những định kiến giới thì những định kiến này sẽ được lặp lại ở các thế hệ tiếp theo Chính vì vậy, để đảm bảo sự bình đẳng giới trong xã hội, rất cần thực hiện tốt việc bình đẳng giới ngay trong mỗi gia đình Và muốn xoá bỏ, hạn chế bạo lực gia đình thì phải loại trừ những nguyên nhân gốc rễ gây ra nó - đó chính là quan niệm về bất bình đẳng giới trong gia đình và trong xã hội hiện nay

Trên địa bàn tỉnh Yên Bái cũng đã diễn ra nhiều vụ bạo hành gia đình, tuy nhiên số vụ được công khai trên báo chí, truyền thông còn hạn chế vì nguyên nhân do chính nạn nhân của những vụ bạo hành đó còn e ngại không muốn chia

sẻ câu chuyện gia đình mình

Với những thực trạng đã nêu trên và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôi lựa

chọn đề tài: “ Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt

nghiệp

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những nghiên cứu tiêu biểu về bạo lực gia đình đối với phụ nữ được thực hiện từ trước đến nay có thể kể đến đó là:

Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Phối hợp

chung giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam về Bình đẳng Giới, do Tổng Cục Thống kê tiến hành với trợ giúp kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

và sự tham gia của các chuyên gia tư vấn trong nước từ Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP), Bộ Y tế, và một chuyên gia tư vấn quốc tế Nghiên cứu được tài trợ từ nguồn ngân sách của Quỹ Thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGF) và Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID)

“Nghiên cứu các giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” của Ths Trần Tuyết Ánh, Vụ trưởng Vụ Gia đình, Bộ VHTT&DL

Nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt Nam của TS.Hoàng Bà Thịnh

(Trường Đại học KHXH&NV)

Bạo hành "câm" - Nỗi kinh hoàng trong phòng ngủ Thống kê của Viện

Trang 9

- Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thành phố Yên Bái Đồng thời đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này

- Thông qua sự trợ giúp của công tác xã hội những phụ nữ bị bạo lực gia đình nói chung và phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa phương tôi nói riêng sẽ tự giải quyết được vấn đề khó khăn, có niềm tin vào khả năng và sức mạnh của bản thân, xây dựng gia đình hạnh phúc, ổn định cuộc sống

- Đánh giá hoạt động của công tác xã hội trong việc hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thành phố Yên Bái Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác xã hội

- Nghiên cứu trường hợp cụ thể về phụ nữ bị bạo lực gia đình và đưa ra biện pháp hỗ trợ hợp lý trong tiến trình trị liệu cho thân chủ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm ứng dụng vào đề tài

- Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thành phố Yên Bái

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thành phố Yên Bái

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thành phố Yên Bái

4.2 Phạm vi nghiên cứu

 Nội dung nghiên cứu:

Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thành phố Yên Bái

 Khách thể nghiên cứu:

Trang 10

- Phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thành phố Yên Bái

- Cán bộ chính quyền, đoàn thể: Hội phụ nữ, Đoàn Thanh Niên

- Gia đình của phụ nữ bị bạo lực gia đình

 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 11/2016 đến tháng 12/2016: Thu thập tài liệu và xây dựng cơ

sở lý luận cho đề tài

- Từ tháng 1/2017 đến tháng 2/2017: Xây dựng bảng công cụ cho đề đài

và triển khai nghiên cứu thực tế

- Từ tháng 2/2017 đến tháng 3/2017: Xử lý phân tích kết quả và hoàn thiện báo cáo

 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu tại thành phố Yên Bái

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Lý thuyết nhu cầu

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ.Những nhu cầu cơ bản này đều

là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng,

an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không

Trang 11

quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng.Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như: người ta có thể hạn chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn Ngược lại, theo chủ thuyết cách mạng vô sản, của cải, sở hữu tài sản là nhu cầu số một bỏ qua các nhu cầu bậc cao khác

Tháp nhu cầu của Maslow:

Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" - thức ăn,

nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân

thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo

Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc- muốn

được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến - cần có cảm giác được

tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng

Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được

thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

- Lý thuyết về quyền con người

Tiếp cận dựa trên quyền con người là phương pháp tiếp cận lấy các tiêu chuẩn về quyền con người làm cơ sở để xác định kết quả mong đợi và lấy các nguyên tắc về quyền con người làm điều kiện, khuôn khổ cho quá trình đạt được kết quả đó

Sử dụng các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người làm cơ sở và mục tiêu cho hoạt động là đích mà cách tiếp cận dựa trên quyền con người hướng tới Khác với cách tiếp cận khác, tiếp cận dựa trên quyền con người không chỉ quan tâm tới việc đạt được mục tiêu mà còn quan tâm thích đáng tới

Trang 12

quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó với mục đích

hỗ trợ người dân tham gia tích cực vào phát triển, chứ không phải chỉ là người hưởng lợi thụ động từ các chính sách của nhà nước Tiếp cận dựa trên quyền con người có nội dung cơ bản sau:

Sử dụng những tiêu chuẩn và nguyên tắc cơ bản về quyền con người làm tiêu chí hướng dẫn quá trình hoạch định và thực thi chính sách cũng như các chương trình và dự án phát triển Bởi lẽ, các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người phản ánh những giá trị chung nhất được thừa nhận trong các điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người Do đó, các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người sẽ là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng các mục tiêu phát triển, cũng như cho hoạt động để đạt được các mục tiêu đó

Làm rõ mối quan hệ tương ứng giữa chủ thể của quyền và chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền.Về nguyên tắc, nhà nước có nghĩa vụ chính trong việc đảm bảo quyền con người cho tất cả mọi người Tuy nhiên trên thực tế, vì nhiều

lý do khác nhau, vẫn có những quyền của cá nhân hay nhóm xã hội nào đó chưa thể được thực hiện Do đó, tiếp cận dựa trên quyền nhấn mạnh đến việc xác định các quan hệ quyền và trách nhiệm giữa các chủ thể, xác định vai trò của các cá nhân, nhóm xã hội trong việc đòi hỏi được đáp ứng các quyền của họ; đồng thời nhấn mạnh vai trò của bên có trách nhiệm trong việc thực hiện các quyền của cá nhân, nhóm xã hội một cách công khai, minh bạch mà không có sự phân biệt đối xử

Phân tích và đánh giá năng lực của chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền Đối với chủ thể quyền, các năng lực quan trọng nhất gồm: năng lực nhận thức, năng lực hành vi và năng lực về vị thế xã hội, nếu thiếu một trong các năng lực trên sẽ là trở ngại để họ thực hiện các quyền của mình Đối với chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền, các năng lực quan trọng nhất gồm: năng lực nhận thức, năng lực tổ chức, năng lực con người (lãnh đạo, quản lý,

Trang 13

công chức, nhân viên), năng lực về tài chính Phân tích, đánh giá năng lực của các chủ thể là khâu quan trọng then chốt để xác định năng lực nào mà chủ thể quyền đang thiếu hụt; năng lực nào mà chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền đang thiếu hụt, từ đó xây dựng các chiến lược hành động cụ thể, đề xuất các biện pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện sự thiếu hụt đó để hỗ trợ họ hoàn thành tốt quyền và nghĩa vụ của mình

Chú ý quan tâm đến nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt nhóm người bị thiệt thòi nhất và bị loại ra khỏi quá trình phát triển.Mục tiêu của phương pháp tiếp cận dựa trên quyền là bảo đảm các quyền nhiều hơn cho mọi người.Đó cũng là yêu cầu của tiến bộ và công bằng xã hội.Vì vậy, lẽ tự nhiên nó phải hướng đến nhóm người dễ bị tổn thương và bị thiệt thòi nhiều nhất trong đời sống xã hội, như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS Do vậy, trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách phải “làm hết sức mình để đảm bảo các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa cho những người bị thiệt thòi nhất và đảm bảo sự tham gia của họ trong quá trình ra quyết định"

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu

Đọc, tìm hiểu, phân tích tài liệu có liên quan tới CTXH như: Nhập môn CTXH, CTXH cá nhân, CTXH nhóm, CTXH tổ chức và phát triển cộng đồng, CTXH với người LGBT ở một số quốc gia trên thế giới

Phân tích những công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình trên những tài liệu đã công bố, in ấn

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ của người ấy

- Phương pháp quan sát

Trang 14

Quan sát trực tiếp khi tham gia các buổi tập huấn, giao lưu, hoạt động xã hội và tiếp xúc với thân chủ.

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu như:

- Bạo lực gia đình với phụ nữ là gì?

- Các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình

- Phân tích ưu điểm, hạn chế của quá trình thực hiện

- Phát hiện các vấn đề trong thực tiễn thực hiện và từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung chính bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại thành phố Yên Bái

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn tại thành phố Yên Bái

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI

PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm gia đình

Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người

1.1.2 Bạo lực gia đình

Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa

“Bạo lực gia đình (BLGĐ) là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”

1.1.2 Bạo lực đối với phụ nữ

Theo định nghĩa của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì Bạo lực đối với phụ

nữ bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc

có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư

1.1.3 Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ bị bạo lực gia đình

Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ bị bạo hành gia đình là một phương pháp trong công tác xã hội để nhân viên xã hội tiến hành đánh giá mức độ tổn thương tâm lý, xác định phương pháp tham vấn và trị liệu, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý để phục hồi sang chấn cho nạn nhân bị bạo lực gia đình

Trang 16

1.2 Các hình thức của bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình được chia làm nhiều loại.Gồm có bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực xã hội

Bạo lực thể xác

Những hành vi như đá, đấm, tát tác động trực tiếp đến sức khỏe nạn nhân Kiểu hành vi này hay xảy ra khi hai bên chênh lệch về sức mạnh thể chất Những hành động này thường gây nên sự đau đớn về thể xác và cả tinh thần, nó thường để lại dấu vết trên cơ thể nạn nhân và đó là những bằng chứng vi phạm pháp luật và dễ bị phát hiện, người gây ra bạo lực thể xác có thể bị xử lý bởi pháp luật

Bạo lực tình dục

Tình dục là dựa trên sự đồng thuận, tôn trọng lẫn nhau, đảm bảo an toàn cho nhau, không cưỡng bức, không bạo lực Vì thế mà bất cứ hành vi quan hệ nào nằm ngoài những điều này đều dược gọi là bạo lực

Bạo lực tinh thần

Chửi bới, mắng nhiếc, im lặng không nói chuyện trong thời gian dài được coi là bạo lực tinh thần

Bạo lực xã hội

Bạo lực xã hội là các hành vi ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn

bè, bao vây kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng

Các dạng cơ bản của bạo lực xã hội:

Cô lập/cách ly: Là những hành động tường xuyên chỉ trích, nghi ngờ về gia đình và bạn bè của người vợ, không tin tưởng vào bạn bè của vợ đến nhà và thường xuyên đi lại xung quanh làm cho bạn bè của vợ cảm thấy không thoải mái, không cho phép vợ có bạn riêng và tìm cách cô lập vợ

Trang 17

Kiểm soát chặt chẽ vợ: Người chồng luôn kiểm soát chặt chẽ vợ mình, mọi thứ vợ làm, nói chuyện với ai, đi đâu, không để cho vợ có cuộc sống riêng của mình

Bao vây kinh tế: Người chồng luôn muốn vợ phải phụ thuộc kinh tế vào mình, tìm mọi cách không cho vợ đi làm, kiểm soát tiền, từ chối những ý kiến, quyết định của vợ liên quan đến tài chính

1.3 Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đình

1.3.1 Đặc điểm tâm lý

Phụ nữ bị bạo lực gia đình thường có các có các ảnh hưởng tâm lý như lo lắng, sợ hãi, hoảng loạn, xấu hổ và né tránh Họ cảm thấy nhân phẩm bị xúc phạm, có cảm giác bị cô lập, bị bỏ rơi, cảm thấy bị khống chế và kiểm soát, cuộc sống rất nặng nề, chán nản, căng thẳng, tuyệt vọng, mất ăn, mất ngủ, bị stress, những nạn nhân trong tình trạng nặng thì có các dấu hiệu ảnh hưởng về tâm thần như trầm cảm, rối loạn tâm thần, thậm chí có ý định tự tử

1.3.2 Đặc điểm thể chất

Về thể chất người phụ nữ thường phải chịu những thương tích trên cơ thể như những vết bầm, trầy, gãy tay chân, bị những chấn thương ở nhiều mức độ khác nhau phải cấp cứu bệnh viện Người bị bạo lực về tình dục thì vừa chịu những đau đớn về thể xác lẫn tinh thần khi bị chồng cưỡng ép quan hệ tình dục để thỏa mãn nhu cầu sinh lý cũng như thỏa những hình thức làm tình quái ác của chồng.Họ chịu những hậu quả nặng nề về sức khỏe tinh thần lẫn sức khỏe sinh sản Họ sa sút về sức khỏe thể chất, gặp khó khăn về đi lại hoặc thực hiện những hoạt động thường ngày, viêm nhiễm các bệnh phụ khoa, HIV, có thai ngoài ý muốn, phá thai, nạo thai, thai chết lưu…

1.4 Nhu cầu công tác xã hội của phụ nữ bị bạo lực gia đình

Nạn nhân bị bạo lực gia đình có nhu cầu rất lớn về hàng loạt các dịch vụ công tác xã hội như chăm sóc, bảo vệ, giải quyết việc làm, kết nối với các nguồn lực khác Đó là các nhu cầu thiết yếu để phục hồi các chức năng xã hội của họ

Trang 18

Nhân viên công tác xã hội có thể cung cấp một số dịch vụ xã hội để hỗ trợ nạn nhân Cụ thể:

- Lập kế hoạch trợ giúp cho nạn nhân và điều phối các dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân dựa trên nguyên tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của họ Đảm bảo giải quyết tất cả những vấn đề khó khăn mà thân chủ đang gặp phải

- Trong quá trình tìm hiều và phân tích vấn đề của nạn nhân, nhân viên xã hội sẽ là cầu nối giữa nạn nhân với Ngôi nhà bình yên; TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Các trung tâm bảo trợ xã hội, các nhà xã hội… để đảm bảo nạn nhân có được chỗ ở an toàn trong suốt thời gian can thiệp; giúp đỡ nạn nhân từ quá trình bắt đầu và sau khi tái hòa nhập cộng đồng, đảm bảo có chỗ ăn ở an toàn

- Nhân viên xã hội tiến hành đánh giá mức độ tổn thương tâm lý, xác định phương pháp tham vấn và trị liệu, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý để phục hồi sang chấn cho nạn nhân bị bạo lực gia đình Những trường hợp có vấn đề về tâm lý quá lớn, nhân viên xã hội không đủ khả năng giải quyết thì sẽ đựơc kết nối, chuyển giao đến các cơ quan và tổ chức có khả năng, đủ thẩm quyền

1.5 Quan điểm và mục tiêu phòng chống bạo lực gia đình

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc thực hiện bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình Năm 2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI đã chính thức thông qua Luật Bình đẳng giới, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007, tiếp đến ngày 21/11/2007, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008 Đây là hai bộ Luật thể hiện tính nhân văn sâu sắc của chế độ ta, cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về thực hiện bình đẳng giới, bảo đảm quyền con người, đề cao vai trò của gia đình đối với xã hội, khẳng định gia đình là nền tảng của xã hội phát triển bền vững

1.6 Chính sách, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình

Năm năm qua, công tác thông tin, tuyên truyền Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được các cơ quan báo chí địa phương, Cổng thông tin điện tử tỉnh, phòng Văn hóa - Thông tin, Đài Truyền thanh – Truyền hình cấp huyện và hệ thống Đài

Trang 19

truyền thanh cơ sở chú trọng triển khai bằng nhiều hình thức và phương thức khác nhau đã góp phần thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và tạo sự chuyển biến về nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái

Với chức năng quản lý nhà nước về báo chí – xuất bản, Sở thông tin và truyền thông đã thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát trên báo chí,

hệ thống phát thanh - truyền hình, Cổng thông tin điện tử tỉnh, các trang thông tin điện tử, các bản tin, xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh về công tác tuyên truyền, trong

đó có hoạt động phổ biến chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới Bên cạnh đó, Sở Thông tin và Truyền thông đã định hướng công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng tập trung vào các nội dung: Chỉ thị 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa

IX) về "Xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"; Luật

Phòng chống BLGĐ; Luật Bình đẳng giới; Nghị định số110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; Thông tư số: 23/2011/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm

2011 Quy định thu thập, xử lý thông tin về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình; Đề án “Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2010 - 2015”; Kế hoạch số 57/KH-UBND ngày 05

tháng 7 năm 2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái về tổ chức cuộc thi viết tìm

hiểu Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Đề án “Phát triển gia đình tỉnh Yên Bái”, giai đoạn 2012- 2020, tầm nhìn 2030

Từ năm 2009 đến nay, các cơ quan báo chí địa phương đã tăng thời lượng, tần suất và diện tích tuyên truyền rộng rãi các chính sách, pháp luật, các hoạt động của Trung ương và của tỉnh liên quan đến thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, chính sách Dân Số - Kế Hoạch Hóa Gia Đình (DS-KHHGĐ), bình đẳng giới Báo Yên Bái, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, Tạp chí Văn nghệ, Cổng thông tin điện tử tỉnh đã đăng tải trên2.000 tin, bài, ảnh, video truyền hình có nội dung tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình Cùng với đăng tải, phát sóng

Trang 20

bằng tiếng Việt, các cơ quan báo chí địa phương đã lựa chọn nhiều tác phẩm về đề tài phòng, chống bạo lực gia đình biên dịch ra tiếng dân tộc đăng trên Báo Yên Bái vùng cao; chương trình phát thanh tiếng Thái, Mông, Dao; chương trình truyền hình tiếng Mông, Dao phát sóng tại các huyện có đông đồng bào dân tộc sinh sống

và cộng tác với kênh VTV5 của Đài Truyền hình Việt Nam

Bên cạnh đó, Sở Thông tin và Truyền thông hàng tháng đều ban hành văn bản hướng dẫn hệ thống Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện, chỉ đạo Phòng Văn hóa – Thông tin chỉ đạo hệ thống Đài truyền thanh cơ sở tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình trên các chương trình phát thanh, truyền thanh của địa phương Đồng thời Sở cũng đã thường xuyên hướng dẫn các cơ sở phát hành thực hiện tốt các quy định của Luật Xuất bản, các quy định của Nhà nước về kinh doanh xuất bản phẩm, đặc biệt là tài liệu về thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ); Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; bình đẳng giới Trong 5 năm, Sở Thông tin và Truyền thông đã cấp phép 15 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh có nội dung tuyên truyền về công tác phòng, chống bạo lực gia đình với tổng số trên 15.000 bản

Ngoài ra, Sở còn tích cực tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trên website Sở Thông tin và Truyền thông; tổ chức hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ trong đó có nội dung phòng, chống bạo lực gia đình tại Sở Thông tin và Truyền thông; tuyên truyềnlồng ghép trong các Hội nghị của cơ quan, các cuộc họp của Chi bộ và các tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên Từ đó, nhận thức của cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan đã có những chuyển biến rõ rệt Kết quả, từ năm 2009 đến nay, 100% cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan thực thực hiện nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân gia đình, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới cũng như chính sách DS-KHHGĐ

Qua 5 năm triển khai, công tác thông tin, tuyên truyền Luật Phòng, chống bạo lực gia đình trên các phương tiện thông tin đại chúng tỉnh Yên Bái được chú trọng triển khai bằng nhiều hình thức và phương thức khác nhau đã góp phần thay

Trang 21

đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và tạo

sự chuyển biến về nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh, góp phần không nhỏ vào giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình, giảm thiểu các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương

1.7 Một số mô hình hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình

1.7.1 Mô hình nhóm phòng, chống bạo lực gia đình

Mô hình phòng, chống bạo lực gia đình được thành lập ở cấp thôn, ấp, buôn, bản, tổ dân phố Ủy ban nhân dân xã ra Quyết định thành lập và tổ chức các hoạt động của từng Mô hình PCBLGĐ Mô hình lấy Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững để tập hợp các gia đình trong cộng đồng tham gia sinh hoạt, cùng chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức về đời sống gia đình; phòng, chống bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình, xây dựng gia đình đạt chuẩn văn hóa Ở mỗi CLB có 01 nhóm PCBLGĐ thực hiện nhiệm vụ can thiệp, xử lý các vụ việc bạo lực gia đình xảy ra trên địa bàn theo quy định Để hỗ trợ và chỉ đạo hoạt động của

Mô hình, ở mỗi cấp nên có Ban chỉ đạo PCBLGĐ Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Ban chỉ đạo có thể được lồng ghép trong Ban chỉ đạo Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hoặc thành lập Ban chỉ đạo riêng ở cấp tỉnh, huyện, xã

- Ban chỉ đạo có từ 7- 9 thành viên do lãnh đạo UBND làm Trưởng ban Phó Trưởng ban và thành viên được lựa chọn trong các ban, ngành: Văn hóa, Thể thao

và Du lịch, Công an, Tư pháp, Y tế, Lao động, Thương và xã hội, Giáo dục - Đào tạo, Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

- Ban chỉ đạo được thành lập bằng Quyết định của Chủ tịch của UBND cùng cấp kèm theo quy chế hoạt động

Ban chỉ đạo cấp xã có từ 7 đến 9 thành viên gồm: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch phụ trách Văn hóa- Xã hội làm trưởng ban Phó ban và thành viên được lựa chọn trong số: Công chức văn hóa-Xã hội, Tư pháp, Y tế, Lao động, Thương binh và xã

Trang 22

hội, Công an xã, cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Trưởng thôn Tại địa bàn có đồng bào dân tộc ít người, vùng đồng bào có đạo, có thể mời đại diện Hội đồng già làng, trưởng bản, đại diện chức sắc tôn giáo tham gia Thành phần Ban chỉ đạo có thể thay đổi, bổ sung

Ban chỉ đạo hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm, có quy chế hoạt động và phân công trách nhiệm cho từng thành viên tham gia Ít nhất 3 tháng 1 lần, Ban chỉ đạo họp đánh giá kết quả hoạt động và đề xuất phương hướng tiếp theo

Mục đích hoạt động: Tập hợp các gia đình có nhu cầu tham gia sinh hoạt để giao lưu, học hỏi, chia sẻ những kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình

- Câu lạc bộ được thành lập ở cấp thôn Mỗi thôn có thể có nhiều Câu lạc bộ

- Số lượng thành viên từ 20 đến không quá 40 gia đình

- Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ: có từ 3 đến 5 thành

- Địa điểm sinh hoạt: linh hoạt tuỳ theo thực tế từng địa bàn triển khai, có thể tại trụ sở nhà văn hoá xã/phường, nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà thành viên Ban chủ nhiệm hoặc nhà các thành viên Câu lạc bộ

1.7.2 Mô hình “ Ngôi nhà bình yên”

“Ngôi nhà bình yên” là ý tưởng được mở ra từ tháng 3/2007, nhằm tạo một nơi trú ẩn an toàn cho những nạn nhân trốn thoát khỏi bọn buôn người Thông thường, những đối tượng này khi trở về đến biên giới Việt Nam sẽ được các cơ quan chức năng đón nhận và đưa về “Ngôi nhà bình yên”.Tại đây, họ được bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ, tâm lý cũng như phục hồi các tổn thương cả thể xác lẫn tâm lý

do bị buôn bán, hành hạ bạo lực Khi được bình ổn tâm lý sức khoẻ, cán bộ làm việc tại ngôi nhà này sẽ định hướng giúp họ có những quyết định về kỹ năng nghề nghiệp, tạo cơ hội cho họ tham gia các lớp học nghề như: nghề phục vụ khách sạn, nấu ăn, trang điểm

Tại Ngôi nhà bình yên, những người là nạn nhân bị buôn bán sẽ được hỗ trợ

về nơi ăn, ở, chăm sóc y tế, hỗ trợ tâm lý và pháp lý, đào tạo nghề, hướng dẫn kỹ năng sống trong tối đa 18 tháng

Trang 23

Đối với các trường hợp là nạn nhân của bạo hành gia đình họ cũng được hưởng những sự trợ giúp tương tự, từ vài ngày đến vài tuần Ở đây còn có nhà trẻ chuyên chăm sóc trẻ 3 - 6 tuổi là nạn nhân Các cháu được chăm sóc ăn uống và hưởng chế độ giáo dục toàn diện theo chương trình phù hợp do giáo viên chuyên ngành Giáo dục đặc biệt đảm trách

“Ngôi nhà Bình yên” là mô hình nhà tạm lánh đầu tiên của Việt Nam cung cấp gói dịch vụ hỗ trợ toàn diện cho phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của bạo lực gia đình và mua bán người trở về Từ khi thành lập (năm 2007) đến nay, “Ngôi nhà Bình yên” đã hỗ trợ 619 lượt nạn nhân, trong đó có 378 lượt bị bạo lực gia đình và

241 người bị buôn bán 72% nạn nhân bị buôn bán trở về có trình độ học vấn thấp (cấp 1 và 2) và hầu hết họ dưới 25 tuổi; gần 50% các nạn nhân bị bạo lực làm nghề

tự do; 71% nạn nhân bị cả 3 hình thức bạo lực: bạo lực tinh thần, bạo lực thể chất

và bạo lực tình dục

1.8 Công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình

1.8.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình

* Vai trò của người kết nối

Nhân viên xã hội (NVXH) thực hiện vai trò này bằng việc là người kết nối đối tượng với các dịch vụ và nguồn lực phù hợp

- Đánh giá tình hình đối tượng: đánh giá chính xác nhu cầu và khả năng của đối tượng

- Đánh giá nguồn lực: tìm kiếm và đáng giá các nguồn lực sẵn có liên quan đến những nhu cầu của đối tượng

- Chuyển giao/kết nối: liên lạc, chắp nối nguồn lực tìm kiếm được với nhu cầu của đối tượng

* Vai trò của người biện hộ

Nhân viên xã hội đứng trên quan điểm của đối tượng đảm bảo quyền lợi của đối tượng tiếp cận với nguồn lực và dịch vụ do chính sách xã hội quy định

Trang 24

- Cung cấp cho đối tượng thông tin, sự ủng hộ, sự tham khảo trong việc lựa chọn những dịch vụ thích hợp

- Đại diện cho đối tượng trước các nhà cung cấp dịch vụ

- Thực hiện các vấn đề của đối tượng liên quan đến các cơ quan và các quan chức chính phủ

- Thúc đẩy các cam kết, thúc đẩy sự bình đẳng và công bằng của hệ thống các cơ quan liên quan đến việc bảo vệ đối tượng

- Đại diện giải quyết các vấn đề của đối tượng khi liên quan đến các cơ quan pháp luật và điều tra

- Thực hiện tất cả các quan tâm khác với tư cách là người đại diện của thân chủ

1.8.2 Các nguyên tắc cơ bản trong quá trình thực hành công tác xã hội

Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của công tác

xã hội người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVXH trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành động tương tác của NVXH với thân chủ trong quá trình trợ giúp Sau đây là những nguyên tắc ứng xử của NVXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp

 Chấp nhận thân chủ

Khái niệm chấp nhận thân chủ là một khái niệm khá trừu tượng, nhưng có thể biến thành hành động cụ thể qua việc sử dụng các kỹ thuật Chấp nhận đòi hỏi việc tiếp nhận thân chủ, theo nghĩa bóng và nghĩa đen, không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của anh ta Nguyên tắc chấp nhận thân chủ dựa trên nến tảng của giả định triết học mỗi cá nhân đều có giá trị bẩm sinh, bất kể địa vị xã hội hay hành vi của anh ta Thân chủ được chú ý và nhìn nhận là một con người dù anh ta có thể phạm tội Thân chủ phục vụ của ngànhcông tác xã hội là con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh

và nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng Mỗi con người, dù là bình thường hay bất bình thường họ đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn trọng, bình đẳng Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, NVXH cần có thái độ tôn trọng

Trang 25

phẩm giá con người và chấp nhận họ Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm hay giá trị của thân chủ không có nghĩa là đồng tình với những hành vi, suy nghĩ của họ Sự tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi nhận sự tồn tại và không phán xét những hành vi hay suy nghĩ của họ

Chấp nhận thân chủ với tất cả những phẩm chất tốt hoặc xấu, điểm mạnh hay điểm yếu, không xem xét đến hành vi của anh ta Thái độ này có ý nghĩa rất gần với câu dạy của hầu hết các tôn giáo “Yêu người phạm lỗi, ghét hành vi tội” Nguyên tắc này diễn đạt thái độ thân thiên đối với thân chủ một sự rộng lượng và mong muốn giúp đỡ

Sự thực hiện nguyên tắc này giúp cho NVXH tạo được lòng tin từ thân chủ, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ của họ, đó là nền tảng cho thiết lập mối quan

hệ tương tác trong quá trình giúp đỡ

 Tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề

Nguyên tắc để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của NVXH Vấn đề là của thân chủ, họ hiểu hoàn cảnh

và khả năng của mình hơn ai hết nếu được sự trợ giúp Và vì vậy họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề tới ra quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó Việc để thân chủ tham gia vào hoạt động giải quyết vấn đề sẽ giúp cho họ học hỏi cách thức từ đó họ tăng cường khả năng đối phó với tình huống có vấn đề Người NVXH chỉ đóng vai trò xúc tác, vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp thân chủ thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ mà không làm thay, làm hộ chủ yếu khích lệ họ có niềm tin để tự giải quyết vấn đề

 Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ

Mỗi cá nhân có quyền quyết định về các vấn đề thuộc về cuộc đời, những quyết định của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt trên họ Trong các tình huống, NVXH không nên quyết định, chọn lựa hay lên kế hoạch cho thân chủ, ngược lại thân chủ có thể được hướng dẫn và họ có khả năng tự quyết định về mình

Trang 26

Trong một số trường hợp đặc biệt thân chủ không tự quyết định được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, người có rối loạn tâm thần NVXH cần lấy ý kiến từ người bảo trợ của họ Trong trường hợp quyết định của thân chủ có nguy cơ tổn hại tới tính mạng của bản thân thân chủ hay của người khác thì NVCTXHcũng không cần phải chấp thuận quyết định của thân chủ mà cần thông báo cho thân chủ về quy định của luật pháp

Nguyên tắc Tự quyết định, giống như sự tự do, cũng có những giới hạn của

nó, nó không mang nghĩa tuyệt đối Quyết định của thân chủ được đặt trong mốt số những qui định như hậu quả của quyết định đó không được gây tác hại đến người khác và hại đến chính thân chủ Hơn nữa hành vi tự quyết phải nằm trong những chuẩn mực hành vi mà xã hội có thể chấp nhận Mỗi hành vi tự quyết còn có nghĩa

là thân chủ lãnh trách nhiệm thực thi quyết định đó và đón nhận hoặc gánh các lấy kết quả theo sau quyết định

Thực hiện nguyên tắc này cũng là cách mà NVXH giúp cho thân chủ trở nên

tự tin, nâng cao khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc sống

 Đảm bảo tính cá nhân hóa

Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau Mỗi người lại có những tính cách khác nhau và những mong muốn nguyện vọng không giống nhau Mỗi gia đình cũng có những đặc điểm riêng với nếp sống, truyền thống gia đình Người ta thường có câu "mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh" Từng cộng đồng có những vấn đề riêng của họ, có nhu cầu riêng của cộng đồng Mỗi cộng đồng cũng có đặc điểm văn hoá vùng miền, đặc điểm địa

lý, kinh tế xã hội khác nhau Việc cá biệt hoá trường hợp của thân chủ (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) giúp NVXH đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể

Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp thân chủ thể hiện ở việc tìm hiểu

và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho mỗi

Trang 27

trường hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực

mà họ có

Thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động của mình sẽ cho phép NVXH đảm bảo lợi ích thiết thực của các nhóm thân chủ, đáp ứng đúng nhu cầu của thân chủ và rèn luyện khả năng ứng phó linh hoạt trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự bảo thủ, quan liêu, cứng nhắc trong quá trình trợ giúp

 Đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của thân chủ Kín đáo hay giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản không chỉ ngành công tác xã hội sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng như: ngành luật, tài chính, y tế Nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của thân chủ và không được chia sẻ những thông tin của thân chủ với người khác khi chưa

có sự đồng ý của thân chủ Nếu NVXH quán triệt tốt nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện để thân chủ chân thành cởi mở, bộc lộ những cảm xúc, tâm trạng và những khó khăn của họ NVXH chỉ chia sẻ thông tin khi được thân chủ đồng ý Đảm bảo tính riêng tư của trường hợp còn thể hiện ở việc bảo mật lưu trữ hồ sơ NVXH cần lưu trữ hồ sơ của thân chủ cẩn thận, có khoá tủ hay có mật khẩu trong máy tính Khi tham vấn hay phỏng vấn cần đảm bảo không gian yên tĩnh và riêng tư cho cuộc trò chuyện, NVXH tránh trao đổi hay hỏi chuyện về những vấn đề mang tính tế nhị của thân chủ ở những chỗ đông người Trong hoạt động đào tạo hay trao đổi thảo luận ca cần đảm bảo sự khuyết danh khi bàn luận về trường hợp cụ thể NVXH tránh quay phim chụp ảnh khi thân chủ không đồng ý, cũng không nên sử dụng băng hình hay ghi âm trong khi trò chuyện với thân chủ nếu họ không chấp nhận

Tuy nhiên trong một số trường hợp sẽ có ngoại lệ với nguyên tắc này nếu như những hành vi của thân chủ đe doạ tính mạng của bản thân họ hay của những người khác thì NVXH có quyền trao đổi thông tin với những người có thẩm quyền Trong một số trường hợp khi cơ quan thẩm quyền như toà án, người quản lý có thẩm quyền yêu cầu người NVXH có thể cung cấp thông tin mà không cần có sự chấp thuận ý kiến của thân chủ

Trang 28

Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho thân chủ tin tưởng vào nhân viên xã hội, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác Bên cạnh đó việc đảm bảo bí mật của thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con người và quan hệ nghề nghiệp

 Tự ý thức về bản thân

Trong khi thực thi nhiệm vụ, với tư cách là người đại diện của cơ quan xã hội NVXH cần ý thức rằng vai trò của mình là hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề Phục vụ thân chủ là trách nhiệm của nhân viên xã hội, vì vậy cần tránh lạm dụng quyền lực, vị trí công việc để mưu lợi cá nhân Đồng thời NVXH cũng cần phải ý thức được khả năng trình độ chuyên môn của bản thân có đáp ứng yêu cầu của công việc được giao hay không (tức là cần nhận biết được trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của mình tới đâu) Khi gặp trường hợp quá phức tạp và vượt quá giới hạn khả năng cá nhân thì NVXH chuyển giao trường hợp đang thụ lý cho NVXH khác giúp đỡ

Tự nhận thức về bản thân là một trong những nguyên tắc không thể thiếu được đối với NVXH Nó giúp NVXH biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý thức hoàn thiện bản thân để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó Việc nhận thức

về bản thân NVXH còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của thân chủ trong trường hợp vấn đề vượt quá khả năng của NVXH và cần chuyển tuyến Việc ý thức được yếu tố này giúp cho NVXH trung thực trong công việc, trung thực với khả năng của bản thân

Đồng thời, NVXH phải có khả năng nắm bắt suy nghĩ của mình, cảm xúc của thân chủ, mà không để cho các cảm xúc này chi phối quá trình suy nghĩ của mình Vì thế, nếu có thể, NVXH nên duy trì một mức độ khoảng cách nhất định, bên cạnh sự đồng cảm và mức độ cảm xúc nào đó để có thể giúp thân chủ giải quyết vấn đề một cách khách quan và lập kế hoạch một cách thực tế

 Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp

Công cụ chính trong các hoạt động công tác xã hội là mối quan hệ giữa NVXHvà thân chủ Do thân chủ tác động của NVXH là con người, NVXH cần có

Trang 29

phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp Những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp của NVXH như tôn trọng quan điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp; không lợi dụng cương vị công tác của mình để đòi hỏi sự hàm ơn của thân chủ, không nên có quan hệ nam nữ trong khi thực hiện sự trợ giúp Mối quan hệ giữa NVXH và thân chủ cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn

Nguyên tắc này giúp cho NVXH đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự công bằng trong giúp đỡ mọi thân chủ

Để có thể giúp các thân chủ của mình theo các nguyên tắc và đạo đức nghề nghiệp, NVXH là người cần có các yếu tố : thiện chí, quyết tâm, kiến thức và các kỹ năng nghề nghiệp

- Kỹ năng trong mối quan hệ giúp đỡ chuyên nghiệp: Trong khi thực hành công tác xã hội, NVXH luôn luôn phải nhận thức rằng mối quan hệ giữa NVXH và thân chủ là mối quan hệ giúp đỡ chuyên nghiệp , khác với mối quan hệ xã hội bình thường

- Kỹ năng giao tiếp cơ bản: Nhu cầu của thân chủ là cần được giúp đỡ và họ trông cậy vào khả năng giải quyết vấn đề của nhân viên xã hội Nhưng, điều mà thân chủ rất quan tâm đầu tiên khi tiếp cận với NVXH là chính sự quan tâm của NVXH đối với họ.và cũng chính NVXH là người chủ động thiết lập mối quan hệ tốt giữa hai con người vì mối quan hệ này là cơ sở để chấp nhận, thay đổi, và trưởng thành

- Kỹ năng truyền thông: NVXH phải là người biết truyền đạt rõ ràng các thông điệp bằng lời và không lời, biết quan sát và cảm nhận ý nghĩa bên trong từ các thông điệp bằng lời và không lời, phát ra từ thân chủ và biết cách phản hồi để thân chủ nhận thức về vấn đề và bản thân họ rõ hơn

- Kỹ năng bảo vệ lợi ích của thân chủ: Vai trò bảo vệ quyền lợi của thân chủ

là một trong những vai trò quan trọng của nhân viên xã hội Biện hộ là làm việc đứng trên tư cách của thân chủ, chúng ta đứng về phía thân chủ, nhưng cũng không

Trang 30

hẳn là chống đối với một tổ chức nào đó chúng ta là đối tác với thân chủ, có thể tìm một cái gì đó cho thân chủ mà người khác không làm được

- Kỹ năng tham vấn: Tham vấn là một phương cách hỗ trợ thông qua sự tương tác giữa hai bên, NVXH giúp thân chủ lấy lại niềm tin và hy vọng, từ đó biết nhận lấy trách nhiệm giải quyết vấn đề của chính họ.khi thân chủ có vấn đề khó khăn và đang bế tắc trong giải quyết vấn đề thì thường họ thụ động, cảm thấy bất lực, thiếu khả năng hoặc chưa tận dụng hết khả năng của họ hoặc họ có cái nhìn lệch lạc vềchính họ, về người khác và về môi trường sống

Trang 31

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA

ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ YÊN BÁI 2.1 Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại địa bàn

2.1.1 Bạo lực thể xác

Những hành vi như đá, đấm, tát tác động trực tiếp đến sức khỏe nạn nhân Kiểu hành vi này hay xảy ra khi hai bên chênh lệch về sức mạnh thể chất Những hành động này thường gây nên sự đau đớn về thể xác và cả tinh thần, nó thường để lại dấu vết trên cơ thể nạn nhân và đó là những bằng chứng vi phạm pháp luật và dễ

bị phát hiện, người gây ra bạo lực thể xác có thể bị xử lý bởi pháp luật Một số ví

dụ sau có thể cho ta hình dung được bạo lực thể xác đang diễn ra hàng ngày trong cuộc sống như thế nào

N.T.L ở phường Yên Ninh: "Tôi tưởng cánh tay của chồng tôi chỉ dùng để chăm sóc con cái và nắm tay tôi vượt qua khó khăn Nhưng không, cánh tay ấy thường tát bật máu mồm tôi, thậm chí tát tôi cả những lúc tôi đang ngồi cho con bú Khi con ốm đau, sốt cao co giật, tôi một mình bế con chạy đến bệnh viện, còn chồng tôi vẫn nằm ngủ "

Chị P.M.N có câu chuyện về "Những mảnh vỡ": "Những mảnh bát đĩa, ấm chén này chỉ là một phần tôi gom lại khi chồng tôi đã nhiều lần ném tôi rồi bị vỡ Trong những bữa ăn vì những lời nọ, lời kia, khi anh đuối lý hơn không làm gì được, anh ta chỉ biết lấy bát, đĩa ném vào mặt tôi”

Nỗi đau của chị Y.N sống trong bạo lực gia đình mới thật khủng khiếp: "Khi tôi đã tâm sự và nói ra những lời tâm sự này, thì cuộc đời của tôi đã là chặng đường dài 22 năm đầy bạo lực và nước mắt Nếu như để mà kể hết và nói ra những trận đòn của chồng tôi đánh tôi thì không thể đếm hết được Tôi nhớ nhất lần anh ấy lấy búa để đập tôi, may mà có bố mẹ chồng chạy sang kịp, chứ không giờ này chắc tôi không còn sống để viết lên những lời tâm sự đầy nước mắt và máu "

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã có hiệu lực từ ngày 1.7.2008, nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều phụ nữ đang phải chịu đựng những nỗi đau do chồng, gia

Trang 32

đình chồng hành hạ Họ bị đẩy vào tình cảnh khốn khổ, hoàn toàn bị cô lập Nhiều trường hợp bị đánh đập dã man, tính mạng bị đe doạ cần đến sự giúp đỡ của chính quyền, thì nhiều cơ quan chức năng vẫn cho là chuyện riêng của mỗi gia đình, không quan tâm, giải quyết

Chị Thuý - cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về giới, gia đình, phụ nữ và vị thành niên (CSAGA), người trực tiếp nhận các cuộc điện thoại kêu cứu của những phụ nữ bị BLGĐ - kể: Một chị ở xã Minh Bảo bị chồng đánh rất dã man, đã cầu cứu chúng tôi; để giúp chị, chúng tôi đã gọi điện đến công

an xã, song nhận được câu trả lời là: "Việc của gia đình ấy không giải quyết được, không có trách nhiệm giải quyết!”

2.1.2 Bạo lực tình dục

Tình dục là dựa trên sự đồng thuận, tôn trọng lẫn nhau, đảm bảo an toàn cho nhau, không cưỡng bức, không bạo lực Vì thế mà bất cứ hành vi quan hệ nào nằm ngoài những điều này đều dược gọi là bạo lực

Trong quan niệm của nhiều người, chỉ những trường hợp bị thương tích nặng, bị đánh đập, bị ép quan hệ cho đến khi kiệt sức mà chết mới được xem là hành vi bạo lực Thực tế là có nhiều phụ nữ khi được hỏi cho biết mình không hề

có khoái cảm khi quan hệ mà việc ân ái chỉ là "phục vụ" chồng Họ không hề biết rằng đây cũng được xem là hành vi bạo lực tình dục

Về vấn đề này, bà Nguyễn Vân Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học về giới, gia đình, phụ nữ và trẻ em cũng cho biết, việc nhiều chị em chấp nhận hành vi bạo lực còn là do quan niệm phong kiến vẫn còn ăn sâu trong tâm trí Đó là quan niệm chồng là chủ gia đình, có quyền trong chuyện tình dục và phụ nữ thường bị động Vì thế nam giới thường cho mình cái quyền được đòi hỏi quan hệ với vợ theo nhu cầu của mình, không quan tâm đến cảm xúc, sức khỏe của

vợ

Bên cạnh đó phụ nữ gặp khó khăn hơn khi tiết lộ những trải nghiệm bạo lực tình dục so với những trải nghiệm bạo lực thể xác Tương tự như vậy việc nói về bạo lực tình dục trong hôn nhân được xem như một chủ đề không phù hợp

Trang 33

Trường hợp của chị Hà (26 tuổi, TP Yên Bái) là một điển hình Chồng chị vốn bị bệnh tim và hen, quanh năm phải uống thuốc nên rất yếu, vì thế việc quan hệ với vợ cũng không mấy khi thành công Mỗi lần như thế, chị lại là người hứng chịu

sự tức giận của chồng: đánh vào mặt, thậm chí vào cả bộ phận sinh dục, có lần còn

đá văng chị ra khỏi giường Mỗi lần "bại trận", anh ta lại đổ tất cả mọi tội lỗi lên đầu vợ vì không kích thích được mình

Chị NTL đã chia sẻ trường hợp của mình: “Bọn chị đi gặt phải 1 tuần mới xong, mà trong 1 tuần ngày nào anh cũng đòi hỏi, hôm nay không được thì mai anh lại đòi, liên tục như vậy Thôi thì mình phải nhắm mắt mà chiều anh ấy vì là vợ chồng rồi Đấy mình biết tính chồng mình, không đáp ứng mà ngày mai vẫn vui vẻ thì có khả năng mình vẫn từ chối được, nhưng hôm nay mình không đáp ứng được

mà ngày mai công việc đình trệ hoặc là ăn uống không vui vẻ thì tốt nhất là ta cứ làm cho nó xong”

2.1.3 Bạo lực tinh thần

Chửi bới, mắng nhiếc, im lặng không nói chuyện trong thời gian dài được coi là bạo lực tinh thần.Với phụ nữ, bạo hành tinh thần do người chồng thương yêu gây ra còn dữ dội hơn cả nỗi đau thể xác

Ví dụ như trường hợp của Tú Lam Tú Lam xinh đẹp, khéo léo Chồng cô cũng là giám đốc một công ty liên doanh, thu nhập ngất trời Cứ tưởng hạnh phúc tràn ngập trong ngôi biệt thự của hai vợ chồng và hai cậu con trai Thế nhưng gần tám năm chung sống, điều Lam đau khổ nhất là mối quan hệ với chồng Bình thường chồng Lam rất thương vợ, thương con Nhưng mỗi khi không vừa lòng vợ hoặc có xung đột, chồng Lam thành một con người khác: không nói chuyện, không

ăn cơm chung, không nhìn mặt vợ con! Mỗi lần giận là "tịnh khẩu" từ một tuần đến một tháng "Mình ủi quần áo đi làm cho anh ấy thì anh ấy đem vứt vào sọt rác Con mừng bố thì bị bố quát mắng, đánh đập… Cả ba mẹ con cứ như kẻ thù không đội trời chung dưới một mái nhà với anh ấy", Lam kể trong nước mắt

Không đối thoại được với chồng, Lam như muốn điên Càng kéo dài Lam càng rơi vào trầm uất "Chẳng thà anh ấy mắng chửi, giận quá thì cho mình một bạt

Trang 34

tai cũng được Miễn là đừng tra tấn mình bằng cách đó, mình ngột ngạt trong chính

tổ ấm của mình", Lam tâm sự

Hay như trường hợp của chị P cũng cho chúng ta thấy tình trạng bạo lực tinh thần dẫn đến những điều đáng tiếc nào Kết hôn với một doanh nhân, ai cũng bảo P

"chuột sa hũ nếp" Mấy ai biết suốt gần 10 năm chung sống, P ngày càng rơi vào trầm cảm vì bị chồng "khủng bố" tinh thần Không chỉ đầy thủ đoạn trên thương trường, chồng P đem cả những thủ đoạn ấy về nhà để bằng mọi cách ly dị P mà không phải chia khối tài sản kếch sù cho vợ Không chỉ liên tục khoe về các cô bồ, chồng P còn tấn công vợ bằng những bài "võ miệng" kiểu: "Mày chả là cái gì Không lấy tao chỉ có chết đói, bán thân mà ăn" Chịu đựng những đối xử đay nghiến, những thủ đoạn của chồng, từ lo âu, trầm cảm P dần rơi vào rối loạn tinh thần và phải dùng thuốc an thần!

2.1.4 Bạo lực xã hội

Bạo lực xã hội là các hành vi ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, bao vây kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng

Các dạng cơ bản của bạo lực xã hội:

Cô lập/cách ly: Là những hành động tường xuyên chỉ trích, nghi ngờ về gia đình và bạn bè của người vợ, không tin tưởng vào bạn bè của vợ đến nhà và thường xuyên đi lại xung quanh làm cho bạn bè của vợ cảm thấy không thoải mái, không cho phép vợ có bạn riêng và tìm cách cô lập vợ

Kiểm soát chặt chẽ vợ: Người chồng luôn kiểm soát chặt chẽ vợ mình, mọi thứ vợ làm, nói chuyện với ai, đi đâu không để cho vợ có cuộc sống riêng của mình

Bao vây kinh tế: Người chồng luôn muốn vợ phải phụ thuộc kinh tế vào mình, tìm mọi cách không cho vợ đi làm, kiểm soát tiền, từ chối những ý kiến, quyết định của vợ liên quan đến tài chính

Ví dụ của chị N.T.Trúc ở Minh Bảo là một hình thức bạo lực xã hội mà có đầy đủ cả ba dạng cơ bản của loại hình bạo lực này

Trang 35

Trước khi cưới, Lâm tỏ ra chiều chuộng và thoải mái với Trúc bao nhiêu thì sau ngày cưới lại khó khăn bấy nhiêu Lâm bắt Trúc nghỉ việc, ở nhà… chơi, vì mọi việc có người giúp việc lo cả Lý do của Lâm là: “Em cứ ăn mặc đẹp rồi ra đường thì gã nào cũng thèm thuồng hết Mà dân công sở anh còn lạ gì, thời nay

“tình một đêm” nhan nhản, em khù khờ thế này dễ bị dụ lắm” Trúc năn nỉ hết lời cũng không thay đổi được chồng, mà khổ nhất là bố mẹ cô cũng về phe với Lâm Ông bà cho rằng được vào làm dâu một gia đình giàu có, không phải bươn chải kiếm tiền là sung sướng quá rồi, còn đòi hỏi gì nữa Không dừng lại ở đó, Lâm còn ngăn cản Trúc ra ngoài gặp gỡ bạn bè với lý do “tốn thời gian vô bổ”, đi mua sắm hay giải trí gì thì luôn phải có Lâm đi cùng để thanh toán Lâm cũng giữ chặt hầu bao với lý do: Trúc không ra ngoài thì cần gì có nhiều tiền trong người

2.1.5 Hậu quả của bạo lực gia đình

Hậu quả đối với nạn nhân

Họ bị xâm phạm nghiêm trọng các quyền về con người, bị xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và xâm hại về thân thể Họ bị ảnh hưởng đến sức khỏe, gây đau đớn, thương tích dẫn đến suy giảm khả năng lao động và có thể dẫn tới cái chết Các chị em bị bạo hành sẽ luôn bị ảnh hưởng tới tinh thần như bi quan, chán nản, thất vọng trong cuộc sống, hay quẫn chí, dễ nóng giận, thần kinh không ổn định và

có thể bị phát điên Những đứa trẻ của gia đình có bạo lực hoặc là nạn nhân của bạo lực trong gia đình có nguy cơ trở thành người sử dụng bạo lực trong tương lai

Hậu quả đối với gia đình

Bạo lực gia đình sẽ làm tan vỡ hạnh phúc của mọi gia đình, cuộc sống của

họ luôn bất hòa, mất ổn định, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trẻ em, nó có tác động rất xấu tới sự phát triển cả về thể chất, tinh thần, đạo đức và trí tuệ của trẻ Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bạo lực gia đình khiến trẻ em khủng hoảng, sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng, rối nhiễu tâm lý, trầm cảm Bạo lực gia đình cũng ảnh hưởng xấu tới kết quả học tập, kỹ năng sống, sự hòa nhập xã hội, năng lực giải quyết vấn đề của trẻ em Theo UNICEF, hiện có khoảng 275 triệu trẻ em đang sống trong cảnh bạo lực gia đình,

Trang 36

phải chịu đựng sự bóc lột về thể chất, tinh thần và cả tình dục củacha mẹ cũng như người giám hộ Không những thế gia đình họ còn bị thệt hại về kinh tế như chi phí điều trị thương tích do bạo lực, thu nhập giảm do không có người lao động Cuối cùng là danh dự, uy tín của dòng họ hoặc của các thành viên khác trong gia đình bị giảm sút đáng kể

Hậu quả đối với cộng đồng và xã hội

Bạo lực gia đình làm giảm sự đóng góp của nạn nhân cho xã hội Nó là mầm mống phát sinh tội phạm (hành vi hành chính dễ dẫn tới hành vi hình sự) Bạo lực gia đình làm tăng áp lực lên hệ thống y tế và làm mất ổn định, trật tự trong xã hội

Bạo lực gia đình đặt ra yêu cầu trợ giúp và bảo vệ những nạn nhân là phụ nữ

và trẻ em với hệ thống bảo trợ xã hội của quốc gia Ví dụ, để bảo vệ các phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực trong gia đình, cần thiết phải xây dựng

hệ thống các cơ sở tạm lánh cho họ Do bạo lực gia đình thường gắn liền với sự tan

vỡ gia đình; việc bỏ đi của trẻ em; tình trạng trẻ em thiếu người chăm sóc, nuôi dưỡng; tình trạng trẻ em có thai; nạn nhân bị lây nhiễm HIV và các loại bệnh tình dục, trẻ em mồ côi nên gánh nặng với hệ thống bảo trợ xã hội không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những nơi tạm lánh mà về lâu dài còn bao gồm việc xây dựng các cơ

sở nuôi dưỡng, phục hồi thể chất, tinh thần cho các nạn nhân cũng như các chính sách, cơ chế khác để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh Tất cả tạo sức ép lên hệ thống bảo trợ xã hội của các quốc gia mà thông thường luôn ở trong tình trạng đã bị quá tải

Bạo lực gia đình có thể gây ra cho học sinh – những nạn nhân trực tiếp hoặc phải chứng kiến cảnh người mẹ là nạn nhân của bạo lực gia đình – những rối loạn tâm lý và sự sa sút trong học tập Các nghiên cứu về vấn đề này cho thấy, tỷ lệ học sinh bỏ học vì lý do bạo lực gia đình thường rất cao Trong trường hợp không bỏ học, việc học hành sa sút và những rối loạn nhân cách của các học sinh là nạn nhân (trầm cảm, và trong một số trường hợp là quấy phá hay có hành vi bạo lực với giáo viên và các học sinh khác) gây cho nhà trường những rắc rối không nhỏ, tạo gánh nặng cho ngành giáo dục

Trang 37

2.1.6 Nguyên nhân phụ nữ bị bạo lực gia đình

Nhận thức về giới và sự bình đẳng giới còn hạn chế

Đa phần nạn nhân và kẻ gây ra bạo lực gia đình có nhận thức kém, trình độ học vấn thấp nên không nhận thức được đầy đủ hành vi bạo lực gia đình Nhiều người đàn ông cho rằng nếu chỉ thỉnh thoảng tát hay đánh vợ thì đó không phải là bạo lực gia đình Họ không hiểu rằng như vậy là bất bình đẳng giới Những bà vợ

bị đánh như vậy cũng chỉ coi như là mâu thuẫn trong gia đình, nhịn chồng đi là nhà cửa được êm ấm, họ mang tư tưởng: “xấu chàng hổ ai”, họ sợ: “vạch áo cho người xem lưng”, hay sợ hàng xóm, bạn bè chê cười nên thường giấu kín chuyện bị chồng đánh

Quan niệm phong kiến “trọng nam khinh nữ”, tư tưởng gia trưởng, gia quyền còn nặng “Trọng nam khi nữ” trong các bối cảnh văn hóa mà nền tảng tôn

giáo là bình phong để giúp cho nhiều đấng mày râu dựa trên, từ đó cho mình quyền hành hạ vợ con, cho rằng vợ phải theo chồng và con là sản phẩm của mình nên phải theo cha Như vậy, nhân quyền không được tôn trọng, nhân phẩm bị chà đạp, hạnh phúc sẽ biến mất và gia đình tan nát

Sự nhìn nhận, đấu tranh của người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình còn hạn chế, thiếu thẳng thắn, thiếu tự tin, còn cam chịu Hầu hết phụ nữ nhẫn nhịn chồng, thậm chí còn chấp nhận bị bạo hành nếu cảm thấy mình có lỗi, tìm mọi cách che giấu bộ mặt thật sự của hôn nhân.Theo điều tra thì phần lớn những phụ nữ bị bạo hành đêù thiếu hiểu biết về pháp luật và thiếu quyền lực trong gia đình.Chính

vì vậy không dễ gì họ tự nói ra vấn đề của mình, cũng không dễ dàng chia sẻ với bất cứ ai nếu họ không có nhu cầu bức bách và cảm thấy đáng tin cậy

Nghiện rượu và ma túy

Thống kê cho thấy 60% nạn bạo hành gia đình xảy ra sau khi người chồng uống rượu.Rượu làm giảm sự kiềm chế cũng như nhận thức của bản thân để phán đoán đâu là đúng sai từ đó dẫn đến trạng thái dễ nóng nảy, cau có khó chịu Biểu hiện khi say rượu là nói lải nhải, chửi bới, quậy phá ảnh hưởng đến gia đình và những người xung quanh Trong tình huống này, nếu người vợ nhường nhịn thì anh

Trang 38

chồng lại càng lấn lướt Còn nếu người vợ đối mặt, phân tích đúng sai và khuyên can chồng thì lại bị chồng nghĩ là đang dạy đời Người chồng có tính bạo hành lúc nào cũng tỏ ra gia trưởng, tự cho mình quyền quyết định mọi việc trong nhà, bao gồm quyền giáo dục vợ con Vì vậy khi được khuyên can, anh ta cảm giác bị thương tổn nên sẽ tìm cách trút giận

Khó khăn về kinh tế

Bao gồm ba tình huống như làm ăn thất bại, nạn cờ bạc, và nghèo khó Thất bại trong công cuộc mưu sinh ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, vốn có thể làm cho tâm lý, hành động của con người thay đổi.Những bất hòa nho nhỏ thường ngày trở nên càng nghiêm trọng trong bối cảnh kinh tế khó khăn Thống

kê xã hội học cho thấy 60 đến 65% bạo hành gia đình do sức ép của kinh tế gây

ra Điều kiện kinh tế khó khăn nói chung làm cho con người không còn bình tĩnh

để ứng xử một cách khôn ngoan, tình trạng bắt nạt thường xảy ra Chẳng hạn, người chồng phải làm lụng vất vả, đôi lúc buồn chán, đi giao du cùng bạn bè và trở về nhà muộn Người vợ mặc dù thương yêu và quan tâm đến chồng nhưng thay vì chăm sóc, hỏi han thì lại xét nét chồng xem có dấu hiệu gì để ghen tuông Điều đó khiến người chồng cảm thấy không còn hạnh phúc dẫn đến tình trạnh quát tháo, đánh đập

Ảnh hưởng từ người thân

Từ nhỏ, khi con người đã thường xuyên chứng kiến cảnh bạo lực gia đình

từ cha mẹ.Nỗi ám ảnh đó không được ai khác giúp tháo gỡ thì về sau khi gặp hoàn cảnh tương tự, người đó sẽ trở thành bản sao của cha hoặc mẹ mình trong quá khứ Trẻ em hay bắt chước cha mẹ trong các hành động cả tốt lẫn xấu Những người con nhiều lần nhìn thấy nạn bạo hành từ cha mẹ mình sẽ ứng xử đối với vợ hoặc con em mình, và cứ lẩn quẩn như vậy

Ứng xử thiếu khôn ngoan

Trang 39

Ngoài những nguyên nhân của bạo lực xuất phát từ người chồng, thỉnh thoảng còn có một số nguyên nhân xuất phát từ người vợ do thái độ và cách ứng

xử thiếu khôn ngoan Chẳng hạn tật nói nhiều, nói lải nhải đến mức khiến người chồng cau có, khó chịu Thay vì chuyển hóa những thói quen đó thì nhiều người chồng thẳng tay đánh đập vợ mình Hoặc do những người vợ có thói quen ăn thua đủ, chồng nói một thì mình nói lại hai ba, lúc nào cũng chứng tỏ mình thắng Đặc biệt đối với người chồng vốn đã thua thiệt trong xã hội, về nhà muốn được hơn vợ thì lại gặp vợ không biết nhường nhịn Chịu không nổi, anh ta có thể dùng vũ lực

2.2 Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Yên Bái

Ở bất kỳ giai đoạn nào, gia đình đều giữ vai trò là nền tảng của xã hội, là một trong những nhân tố quyết định sự hưng thịnh của một Quốc gia Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã từng khẳng định “Gia đình là tế bào của xã hội, nhiều gia đình cộng lại thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, hạt nhân của xã hội là gia đình” Chính vì vậy, gia đình và công tác gia đình luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta.Đảng ta khẳng định “Gia đình là vấn đề lớn, hết sức hệ trọng của dân tộc và của cả thời đại” Gia đình là môi trường quan trọng trong việc hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách của mỗi cá nhân, là nơi bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Tỉnh Yên Bái hiện nay có 203.948 hộ gia đình Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực gia đình, với sự cố gắng chung của các cấp, các ngành công tác tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển bền vững đã đạt được những kết quả quan trọng Ngành văn hóa thông tin du lịch đã

Trang 40

tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo thực hiện công tác gia đình trên địa bàn tỉnh như: Kế hoạch hành động thực hiện

“Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Kế hoạch Phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020”;

Kế hoạch Triển khai thực hiện Đề án phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Yên Bái Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo công tác gia đình các cấp Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức các hoạt động tuyên truyền hưởng ứng Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3); tổ chức các hoạt động nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28/6), Ngày thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ

nữ (25/11) Tổ chức các giải thể thao gia đình toàn tỉnh và tham gia giải thể thao gia đình toàn quốc đạt nhiều thành tích cao

Thực hiện Bình đẳng giới đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nam và nữ trong các lĩnh vực, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào công việc của

xã hội Công tác tuyên truyền phòng, chống bạo lực gia đình, xây dựng và nhân rộng mô hình câu lạc bộ "Gia đình hạnh phúc và nhóm phòng, chống bạo lực gia đình phát triển bền vững" được quan tâm chú trọng Các quy ước, hương ước làng, thôn, bản, tổ dân phố được thường xuyên rà soát và bổ sung thêm nội dung

về bình đẳng giới Xây dựng đường dây nóng để hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình, đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được 253 mô hình phòng, chống bạo lực gia đình Các mô hình này đã phát huy được hiệu quả và làm giảm thiểu các vụ bạo lực gia đình, tăng cường sự hiểu biết pháp luật về gia đình trong nhân dân Trong thực hiện Đề án "Tuyên truyền giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình", đã hướng dẫn cơ sở tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc họp thôn, làng, bản, tổ dân phố để phổ biến tuyên truyền những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp trong gia đình, gìn giữ, phát huy bảo tồn văn hoá dân tộc; những vấn đề như: “Thời gian cha mẹ dành cho con cái”, khoảng cách cha mẹ với con cái; làm thế nào để sách, báo trở thành món ăn tinh thần

Ngày đăng: 17/05/2017, 15:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. ThS. Nguyễn Thị Thái Lan và TS. Bùi Thị Xuân Mai (2011),Giáo trình Công Tác Xã Hội Cá Nhân và Gia Đình, Nhà Xuất Bản Lao Động – Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công Tác Xã Hội Cá Nhân và Gia Đình
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Thái Lan và TS. Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Lao Động – Xã Hội
Năm: 2011
11. TS.Hoàng Bà Thịnh, Nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt Nam (Trường Đại học KHXH&NV) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt Nam
13. Phòng văn hóa thành phố Yên Bái, Báo cáo tổng kết thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng văn hóa thành phố Yên Bái
14. Lê Thị Quý – Đặng Vũ Cảnh Linh (2007), Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị
Tác giả: Lê Thị Quý – Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2007
15. Thống kê của Viện Xã hội học, Viện KH-XH VN, Bạo hành "câm" - Nỗi kinh hoàng trong phòng ngủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: câm
8. Đại Học Lao Động- Xã Hội (2009),Giáo trình Giới và phát triển Khác
9. Trung tâm phụ nữ và phát triển Ngôi nhà bình yên Khác
10. BS. Nguyễn Minh Tiến, Làm việc với thân chủ có vấn đề bạo hành trong gia đình Khác
12. Ủy ban nhân dân thành phố Yên Bái, Chung tay ngăn chặn bạo lực gia đình Khác
16. RFA( 8.3.2006), Bạo lực gia đình, nguyên nhân của nhiều vụ ly hôn tại Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w