Cho đến nay, đã có khá nhiều nghiên cứu về già hóa dân số ở Việt Nam như Đàm Viết Cương và cộng sự 2007 “Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Việt Nam”; Đào Thế Toàn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Đức Vinh, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi từ việc gợi mở ý tưởng nghiên cứu cho đến những nhận xét, góp ý quý báu giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Văn phòng Tổng cục Dân số-KHHGĐ đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tham gia khoá đào tạo cao học năm 2015-2017 tại Học viện Khoa học Xã hội
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng tới các thầy giáo, cô giáo của Học viện Khoa học Xã hội đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức và bài học bổ ích trong quá trình tôi học tập tại đây
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp - những người đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi học tập và làm việc trong thời gian qua
Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2017
Trần Thị Lan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chƣa từng đƣợc công bố ở các nghiên cứu khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 27 tháng 02 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Lan
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 Các khái niệm 9
1.2 Già hóa dân số trên thế giới 10
1.3 Các đặc điểm của người cao tuổi 13
1.4 Các lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ XU THẾ GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở VIỆT NAM 29
2 1 Dân số cao tuổi tăng nhanh, thời gian quá độ từ “già hóa dân số” sang “dân số già” ngắn hơn nhiều nước trên thế giới 29
2.2 Dân số cao tuổi tăng nhanh ở nhóm tuổi cao nhất 30
2.3 Phần lớn người cao tuổi sống ở nông thôn, chủ yếu làm nghề nông 31
2.4 Phụ nữ cao tuổi chiếm tỷ trọng cao trong nhóm dân số cao tuổi 32
2.5 Cấu trúc hộ gia đình của người cao tuổi có nhiều thay đổi 33
2.6 Người cao tuổi đang đối mặt với các vấn đề về sức khỏe 34
2.7 Nguồn sống và mức sống của người cao tuổi còn gặp nhiều khó khăn 35
2.8 Các mô hình chăm sóc sức khỏe đang triển khai tại cộng đồng 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 40
Chương 3: MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH DÀNH CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 41
3.1 Chính sách chăm sóc người cao tuổi trên thế giới 41
3.2 Chính sách dành cho người cao tuổi của Việt Nam 42
3.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề già hóa dân số của một số nước 50
Trang 6TIỂU KẾT CHƯƠNG 3: 55
Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG CHĂM SÓC VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 56
4.1 Về an sinh xã hội 56 4.2 Hệ thống chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người cao tuổi 63 TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 71
Chương 5: KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 72
1 Nhóm giải pháp về đẩy mạnh truyền thông nhằm chuyển đổi nhận thức, thái
độ thực hiện công tác người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi 72
2 Nhóm giải pháp vê hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách về người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi 73
3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 75
4 Nhóm giải pháp nâng cao đời sống vật chất người cao tuổi 77
5 Nhóm giải pháp nâng cao đời sống tinh thần và phát huy vai trò NCT 78
6 Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ hỗ trợ NCT, đẩy mạnh phát triển các mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng 79
7 Triển khai các nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu tác nghiệp về người cao tuổi ở Việt Nam 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LĐ-TB-XH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
VH-TT-DL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
UBDS-GĐ-TE Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
DS-KHHGĐ Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
HALE Tuổi thọ mong đợi sống khỏe mạnh khi sinh
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.2 Số lượng người cao tuổi trên thế giới chia theo giàu nghèo,
1950-2050 16
Bảng 1.3 Tỷ số giới tính NCT phân theo nhóm tuổi, 2011 19
Bảng 2.1 Tổng dân số, số lượng và tỷ lệ dân số 60+, 1989-2009-2014,
dự báo 2029-2049 29
Bảng 2.2 Tỷ trọng (%) dân số cao tuổi theo nhóm tuổi, 1989-2049 30
Bảng 2.3: Tỷ lệ NCT sống trong hộ nghèo (% theo nhóm) 31
Bảng 2.4: Tỷ số giới tính từ 50 tuổi ở Việt Nam 32
Bảng 2.5 Tỷ lệ (%) người cao tuổi sống cùng con, cháu, 1992-2008 33 Bảng 4.1 Số người hưởng lương hưu và lương hưu bình quân (2007 - 2013)57 Bảng 4.2 Mức bao phủ của lương hưu theo tuổi, giới tính, trình độ học vấn, vùng kinh tế 58
Bảng 4.3 Mức bao phủ của lương hưu theo nông thôn-thành thị, dân tộc thiểu số-dân tộc kinh; mức sống 2010-2012 58
Bảng 4.4.Số lượng người tham gia BHXH đến năm 2099 59
Bảng 4.5 Tỉ lệ tài chính khu vực nhà nước-tư nhân 60
Bảng 4.6 Số lượng NCT được hưởng trợ cấp xã hội 61
Bảng 4.7 Mức bao phủ của lương hưu, trợ cấp tiền mặt theo tuổi, giới tính, trình độ học vấn, vùng kinh tế 62
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ dân số 60+ trên thế giới 1950-2050 11
Biểu đồ 1.2 Số năm để nhóm dân số trên 65 tuổi tăng từ 7% lên 14% 14
Biểu đồ 1.3 Dự báo mức tăng NCT (60+) phân theo nhóm tuổi, 2005-2030 (%) 15
Biểu đồ 1.4 Số lượng và tỷ lệ dân số cao tuổi (60+), 1989 - 2049 18
Biểu đồ 1.5 Tỷ lệ 10 bệnh phổ biến nhất của bệnh nhân nội trú tại Viện lão khoa quốc gia (%), 2008 20
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên 30
Biểu đồ 2.2: Phân bố người cao tuổi theo khu vực 32
Biểu đồ 2.3: Đối tượng NCT sống cùng % 34
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ NCT đánh giá nguồn thu nhập quan trọng nhất dành cho chi tiêu hàng ngày 36
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ những người không được nhận hỗ trợ 63
Biểu đồ 4.2 Nhu cầu dịch vụ khám chữa bệnh của NCT, 2009 (%)…… Error! Bookmark not defined. Biểu đồ 4.3 Dịch vụ NCT sử dụng khi khám chữ bệnh, 2010 (%)…
…Error! Bookmark not defined. Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ người cao tuổi khám chữa bệnh có bảo hiểm y tế hoặc sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí, 2004-2010 67
Biểu đồ 4.5 Người cao tuổi đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh, 2004 67
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chia theo nhóm tuổi và giới tính, 1999-2009 69
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Già hoá dân số là hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra ở nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ già hoá
và tỷ lệ NCT trên toàn thế giới sẽ tăng lên 14,9% (2025) [49] Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề già hoá dân số
Tại Việt Nam, kết quả các cuộc Tổng điều tra dân số cho thấy, tỷ lệ người cao tuổi (60 tuổi trở lên) vốn tăng khá chậm: từ 6,9% vào năm 1979 lên 8,7% vào năm
2009 Tuy nhiên, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa từ năm 2011 Tỷ lệ người cao tuổi đã tăng mạnh trong mấy năm gần đây và theo dự báo thì sẽ còn tăng nhanh hơn nữa trong thời gian tới Theo kết quả dự báo đến năm 2049 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ NCT (60+) sẽ tăng từ 9,2% năm 2014 lên 26,0% năm 2049 theo phương án mức sinh trung bình Như vậy, tốc độ già hóa dân số của Việt Nam nhanh hàng đầu châu Á và cũng thuộc diện nhanh nhất thế giới [29, 30]
Già hóa dân số không chỉ dẫn đến thiếu hụt lực lượng lao động mà còn cần phát triển hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc NCT tương ứng Kinh nghiệm quốc
tế cho thấy, việc thích ứng với già hóa dân số đòi hỏi nhiều nguồn lực của toàn xã
hội cùng với những chuẩn bị và chính sách phù hợp Với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, già hóa dân số sẽ là thách thức lớn trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước Thực tế là Việt Nam đã có những chính sách quan tâm đến người cao tuổi, điển hình là Luật người cao tuổi ban hành năm 2009 Tuy nhiên, những chính sách như vậy chủ yếu là về công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT
mà chưa đủ để thích ứng với già hóa dân số
Việc xây dựng chính sách thích ứng với già hóa dân số một cách phù hợp và
hiệu quả cần phải dựa trên những luận cứ khoa học tin cậy và đầy đủ Cho đến nay,
đã có khá nhiều nghiên cứu về già hóa dân số ở Việt Nam như Đàm Viết Cương và
cộng sự (2007) “Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Việt Nam”; Đào Thế Toàn (2009) “Kết quả và những hạn chế trong việc thực hiện chính sách, chế
độ đối với người cao tuổi”; Nguyễn Đình Cử (2009) “Xu hướng già hóa trên thế giới
Trang 12và những đặc trưng của người cao tuổi ở Việt Nam”; “Nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già của người cao tuổi và vai trò của chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam”,(2014) Ủy ban Quốc gia người cao tuổi Việt Nam Tuy nhiên, phần lớn các
nghiên cứu chỉ nêu được một số khía cạnh về chính sách và mô hình can thiệp ở quy
mô nhỏ, mang tính thử nghiệm Thêm vào đó, kết quả từ các nghiên cứu cũng cho thấy những giải pháp can thiệp hay các mô hình đã triển khai vẫn chưa được đánh giá là có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả mọi địa phương, hay trên phạm vi toàn quốc hay không
Vì vậy, vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những khuyến nghị phù hợp làm cơ
sở xây dựng hệ thống chính sách cũng như các chương trình, mô hình can thiệp thích ứng kịp thời, chủ động với vấn đề già hóa sẽ diễn ra trong những thập kỷ tiếp theo
Trước thực tế như vậy, việc phân tích đầy đủ hơn về thực trạng và triển vọng già hóa
dân số ở Việt Nam cùng với những vấn đề nảy sinh là rất cần thiết để cung cấp thêm bằng chứng và đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách thích ứng phù hợp
và hiệu quả
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Một số nghiên cứu gần đây có thể kể tới:
+ “Điều tra Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam năm 2011, các kết quả chủ yếu”, do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Tổng cục Thống kê, Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam thực hiện Điều tra cung cấp thông tin về đặc điểm kinh tế xã hội, tình trạng sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế, hiểu biết về quyền lợi pháp lý, đóng góp của người cao tuổi cho gia đình và xã hội
+ “Nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già của người cao tuổi và vai trò của chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” ( 2014) do Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam và Viện Chính sách công và quản lý - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tiến hành Nghiên cứu này là khảo sát nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già của
cả nam giới và phụ nữ cao tuổi, gia đình và cộng đồng của họ cũng như mức độ đáp ứng của các chính sách hiện nay, đặc biệt là chính sách an sinh xã hội, để từ đó đề xuất các định hướng và chính sách phù hợp hơn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT, hướng tới „già hóa thành công‟
Trang 13+ Già hóa dân số và người cao tuổi tại Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một
số khuyến nghị chính sách (2011) do Quỹ Dân số LHQ tài trợ đã mô tả được thực trạng về già hóa và một số điều kiện sống, sức khỏe và thu nhập thông qua số liệu Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2007, 2008
+ Nghiên cứu tổng quan của Tổng cục DS-KHHGĐ về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu tuổi tại Việt Nam (2009)
+ Nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của NCT và đánh giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” năm 2005 của Ủy ban DS-GĐ-
TE Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Hệ thống hoá tình hình chung về NCT trong và ngoài nước, đánh giá thực trạng về NCT ở Việt Nam; Tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số mô hình chăm sóc sức khoẻ NCT đang áp dụng Trên cơ sở
đó đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng Nghiên cứu được tiến hành điều tra thực địa tại tại 2 huyện của tỉnh Thái Bình Mỗi huyện, thị chọn 2 xã, phường hoặc thị trấn để bổ trợ cho kết quả xử lý số liệu thứ cấp thuộc phạm vi điều tra cơ bản của Hội Người cao tuổi tiến hành
+ Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về NCT” năm 2007 do Bộ TB-XH phối hợp Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và đời sống NCT ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng việc thực hiện các chương trình/chính sách về NCT Trên cơ đó đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT
LĐ-+ Các nghiên cứu điều tra về thực trạng người cao tuổi Việt Nam (2004), người cao tuổi từ 80 tuổi (2009) do Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam (Thuộc Hội Người cao tuổi Việt Nam) thực hiện Các nghiên cứu, điều tra cơ bản nhằm phân tích kết quả thực trạng NCT Việt Nam đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy tài năng, trí tuệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Gần đây nhất là Nghiên cứu
“Nghiên cứu, điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe, bệnh tật của Người cao tuổi Việt Nam” năm 2009 do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam (Hội Người cao tuổi Việt Nam) thực hiện Nghiên cứu được tiến hành 2 huyện thị tại mỗi tỉnh: Sơn La,
Trang 14Quảng Nam, Đồng Nai, Cần Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình Nghiên cứu tập trung vào vào mục tiêu tổng quan sức khỏe và bệnh tật của NCT, thực trạng sức khỏe của NCT Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách
+ Luận án “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống người cao tuổi và thử nghiệm giải pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương” của Dương Huy Lương (2010) nhằm đánh giá thực trang chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống NCT tại 4 xã ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng như thử nghiệm và đánh giá một số biện pháp can thiệp cải thiện chất lượng cuộc sống tại 2 xã ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương
+ Nghiên cứu “Vai trò của gia đình trong chăm sóc người cao tuổi ở đô thị hiện nay” do Viện nghiên cứu Truyền thống và Phát triển thực hiện (2007) nhằm đánh giá thực trạng và những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi
ở đô thị trên các khía cạnh: Vật chất, sức khỏe và tinh thần
+ Luận án “Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam” của Phạm Vũ Hoàng (2013) nhằm đánh giá thực trạng chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam và đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam
Nhìn chung, các nghiên cứu đã mô tả được ảnh hưởng của xu hướng già hóa dân số hiện nay của Việt Nam tác động đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, cũng như mô tả một số chính sách cụ thể đáp ứng nhu cầu thích ứng già hóa của Chính phủ về thu nhập, chăm sóc y tế và chính sách an sinh xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, các vấn đề về thích ứng với già hóa dân số như nâng cao nhận thức, tạo môi trường xã hội đồng thuận; Người cao tuổi có được tiếp tục làm việc và cống hiến cho gia đình, xã hội phù hợp với sức khỏe, hoàn cảnh của mình phù hợp với nhóm người cao tuổi yếu thế hay không; chất lượng các mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi có phát huy được không; gia đình và cộng đồng phải làm gì để người già phát huy vai trò của mình vẫn chưa thực sự được quan tâm và hỗ trợ có hiệu quả, đặc biệt là thích ứng với xu hướng, tốc độ già hóa đang diễn ra nhanh chóng (tăng nhanh về tỷ trọng, số lượng người cao tuổi) hiện nay Với mong muốn sau khi phân
Trang 15tích, mô tả, tổng hợp, đánh giá thực trạng và xu hướng già hóa dân số hiện nay và từ các nghiên cứu trước đã thực hiện, tác giả đưa ra một số khuyến nghị giải pháp về nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, gia đình và cộng đồng về những thách thức của già hóa dân số; về giải quyết đồng bộ các chính sách phát triển kinh tế xã hội tận dụng “cơ hội dân số vàng”; về xây dựng mô hình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh cho Người cao tuổi tại đồng cộng đồng thích ứng với xu thế già hóa dân số nhanh hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu nhằm thực hiện một số mục tiêu cơ bản:
- Phân tích thực trạng về già hóa dân số ở Việt Nam
- Các chính sách, chương trình dành cho người cao tuổi đang triển khai; các mô hình chăm sóc sức khỏe NCT
- Những vấn đề hiện nay trong chăm sóc và phát huy vai trò NCT ở Việt Nam
- Một số khuyến nghị giải pháp nhằm thích ứng với già hóa dân số ở Việt Nam trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực trạng và xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Theo không gian: già hóa dân số trên phạm vi cả nước
- Theo thời gian: Dân số Việt Nam qua các thời kỳ, dự báo giai đoạn 2009-2049
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Những lý luận và phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin trong đó bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở xuyên suốt của đề tài nghiên cứu
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, cần phải nhận thức, giải quyết các hiện tượng xã hội trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Vì thế, khi nghiên cứu về xu hướng già hóa dân số của Việt Nam cần phải đặt trong một không gian, thời gian
Trang 16nhất định từ đó đưa ra giải pháp giải quyết phù hợp, khách quan chứ không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là xem xét và giải thích các quá trình, các hiện tượng xã hội trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau có tính chất qui luật giữa chúng Điều đó có nghĩa rằng khi nghiên cứu xu hướng già hóa dân số của Việt Nam phải được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố như điều kiện kinh
tế, xã hội; kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội Từ đó nhìn nhận già hóa dân số và thích ứng với vấn đề này là vấn đề hết sức cấp bách cần phải có sự chung tay góp sức của cả cộng đồng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mang tính mô tả, sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp có sẵn,
vì vậy tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp thống kê phân tích: Luận văn sử dụng nhiều các số liệu thống kê
của các ban ngành có liên quan: Số liệu dự báo già hoá của Liên hợp quốc năm 2002; Kết quả dự báo dân số Việt nam 2009-2049; Số liệu thống kê của các cuộc Tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999, 2009; Điều tra mức sống dân cư hàng năm; Điều tra biến động Dân số Kế hoạch hóa gia đình hàng năm; Niên giám thống kê hàng năm và Điều tra biến động dân số kế hoạch hóa gia đình 1/4 hàng năm; Số liệu báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội, số liệu của các cuộc điều tra và các nghiên cứu về NCT tại các cấp; Số liệu trong các báo cáo của Hội NCT Việt Nam
Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá: Nhiều tài liệu, báo cáo, sách,
tạp chí chuyên ngành trên tư liệu sách báo và Internet liên quan đến già hóa dân số được tác giả thu thập Các tài liệu này được tổng hợp, phân tích để làm rõ thực trạng già hóa dân
số hiện nay nhằm chỉ ra các hạn chế và phân tích nguyên nhân chính của các hạn chế
Phương pháp chuyên gia: Tác giả tham vấn ý kiến của các chuyên gia là các
nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định và thực hiện chính sách, các nhà quản lý và chuyên gia về già hóa dân số Họ là những người có hiểu biết sâu, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn trong lĩnh vực DS-KHHGĐ Các ý kiến của chuyên gia giúp
Trang 17làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu nhất là phần đề xuất các giải pháp thích ứng với xu hướng già hóa dân số nhanh trong thời gian tới
Nguồn thông tin thu thập: Tác giả thu thập thông tin từ các nguồn thông tin
như: Số liệu thống kê, số liệu dự báo của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Dân KHHGĐ và các bộ ngành; Số liệu của các cuộc điều tra và các nghiên cứu về NCT tại các cấp; Số liệu trong các báo cáo của Hội NCT Việt Nam; sách, báo, tạp chí trong và ngoài nước; thông tin từ mạng Internet; các văn bản và định hướng của Nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đến đề tài
số-5.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
5.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Những biểu hiện cụ thể của già hóa dân số trên thế giới, trong khu vực
và ở Việt Nam diễn ra như thế nào?
- Già hóa dân số tác động như thế nào đến phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam?
- Già hóa dân số sẽ gây ra những thách thức gì ở Việt Nam?
- Việt Nam đã và đang làm gì để thích ứng kịp thời với xu thế già hóa hiện nay?
5.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn tiếp cận xu hướng già hóa dân số hiện nay theo khía cạnh nhân khẩu học; một số chính sách, chương trình dành cho người cao tuổi đang triển khai; cuộc sống gia đình và các dịch vụ chăm sóc, chất lượng chăm sóc sức khỏe NCT, để chứng minh các giả thuyết nghiên cứu sau:
(1) Già hóa dân số ở Việt Nam đang diễn ra rất nhanh và có nhiều khác biệt so với xu hướng già hóa trên thế giới
(2) Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức thích ứng xu hướng già hóa dân
số hiện nay
(3) Già hóa dân số tác động mạnh mẽ đến hệ thống an sinh xã hội
(4) Chất lượng chăm sóc sức khỏe NCT Việt Nam chưa được đảm bảo
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận:
Đề tài đóng góp một phần lý luận trong nghiên cứu các đặc điểm của già hóa dân số, tác động của già hóa dân số lên toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Kết quả nghiên cứu góp phần chứng minh sự cần thiết phải có những nghiên cứu xã hội học về già hóa dân số, đề tài nghiên cứu này chỉ ra khả năng vận dụng các lý thuyết xã hội học như lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết quá độ dân số, luận thuyết phát triển bền vững trong tìm hiểu khả năng thích ứng với già hóa dân số trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Nghiên cứu nhân diện rõ các biểu hiện của già hóa dân số hiện nay trên phạm
vi cả nước Nghiên cứu cung cấp những bằng chứng thực nghiệm có giá trị cho các nhà quản lý xã hội trong việc thiết kế chính sách và xây dựng chương trình hành động phù hợp để ứng phó với già hóa dân số
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài được chia làm 5 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng và xu thế già hóa dân số ở Việt Nam
Chương 3: Một số chính sách và chương trình dành cho người cao tuổi ở
Việt Nam hiện nay
Chương 4: Những vấn đề trong chăm sóc và phát huy vai trò NCT ở ở Việt
Nam hiện nay
Chương 5: Các khuyến nghị giải pháp nhằm thích ứng với già hóa dân số ở
Việt Nam
Trang 19Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Người cao tuổi:
Người cao tuổi (NCT) hay còn gọi là người già/người cao niên là người
thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định Tại Việt Nam, Luật Người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 cao hiệu lực ngày 1/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [11]
Tại một số nước phát triển, luật quy định từ 65 tuổi trở lên được coi là người già/người cao niên/NCT Tuy nhiên ở các nước đang phát triển và kém phát triển quy định về độ tuổi của người già/người cao niên/NCT tùy theo luật của từng nước, một số nước quy định trong luật là 60 tuổi trở lên trong khi một số nước khác quy định mốc 65 tuổi trở lên Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, Liên Hợp Quốc chấp nhận từ 60 tuổi trở lên là mốc để xác định dân số già Trong người già/người cao niên/NCT phân loại người già nhất từ 85 trở lên [1]
1.1.2 Già hoá dân số:
Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người NCT tăng lên trong cơ cấu
dân số, trong khi tỷ lệ trẻ em và vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vị của dân số Già hoá dân số là kết quả của quá độ nhân khẩu học trong
đó mức chết và mức sinh đều giảm, tuổi thọ bình quân tăng lên Theo Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi (60+) từ 10% trở lên thì quốc gia đó được coi là dân số già [49] Tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng khuyến cáo: một đất nước có trên 10% người cao tuổi (60+) được coi là một đất nước dân số già [88] Như vậy, già hóa dân số phản ánh sự phát triển kinh tế, xã hội, “Xem xét một cách toàn diện, già hóa hoàn toàn không phải là một vấn đề Đó chỉ là cách nhìn bi quan đối với chiến thắng vĩ đại của nền văn minh nhân loại” (Frank Notestein, 1954)
Trang 20Tuy nhiên, dân số già hoá cũng gây những ảnh hưởng tiêu cực nhất Quá trình già hóa của một dân số thường theo các giai đoạn:
- Giai đoạn “già hóa dân số” (Aging population) hay còn gọi là giai đoạn
“dân số đang già”: khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% đến 19,9% tổng dân số hoặc khi dân số 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến 13,9% tổng dân số
- Giai đoạn “dân số già” (Aged population) còn gọi là giai đoạn “dân số đã
già”: khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 20% đến 29,9% hoặc khi dân số từ
65 tuổi trở lên chiếm từ 14% đến 20,9% tổng dân số
- Giai đoạn “Dân số siêu già” (Super aged population): khi tỷ lệ người từ 60
tuổi trở lên chiếm từ 30% trở lên hoặc khi dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 21% tổng dân số [23] [24]
1.1.3 Chỉ số già hóa:
Là tỷ số giữa số người từ 60 tuổi trở lên trên 100 người dưới 15 tuổi Chỉ số
này phản ánh cấu trúc của dân số phụ thuộc, phản ánh mối tương quan giữa số người 60 tuổi trở lên so với số người dưới 15 tuổi của một dân số
1.1.4 Tỷ lệ phụ thuộc (Dependency Ratio):
Tỷ lệ phụ thuộc được tính bằng tổng số nhóm đối tượng bị phụ thuộc do không lao động được (bao gồm trẻ em dưới 15 tuổi và số NCT từ 60 tuổi trở lên) trên tổng số người lao động ở độ tuổi từ 15 đến 59, được thể hiện bằng đơn vị tỷ lệ phần trăm [6],[7]
1.2 Già hóa dân số trên thế giới
1.2.1 Già hóa dân số trên thế giới
Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của thế kỷ 21 Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi Già hóa dân số là hệ quả của ba xu hướng nhân khẩu học, đó là tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng nhanh Dự báo dân số của Liên hợp quốc (2008) cho thấy, dân số cao tuổi sẽ tăng từ
697 triệu người (hay 11% tổng dân số thế giới) năm 2009 lên gần 2 tỷ người (hay 22% tổng dân số thế giới) vào năm 2050 [50]
Trang 21Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ dân số 60 + trên thế giới 1950-2050
Nguồn: http://www.census.gov/population/international/data/php
Nhìn biểu đồ 1.1 chúng ta thấy từ năm 2009 đến 2050, dân số NCT từ 60 tuổi trở lên tăng gấp đôi: 11% => 22% (60+) Trên toàn cầu, số người thọ trên 100 tuổi sẽ tăng từ 316.600 năm 2011 lên 3,2 triệu người vào năm 2050 Đến năm 2050,
sẽ có 64 quốc gia có số NCT chiếm hơn 30% tổng dân số quốc gia [50]
1.2.2 Già hoá dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trong một vài thập kỷ qua, mức sinh ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương
đã giảm nhanh chóng Tổng tỷ suất sinh giai đoạn 1950-1955 là 6 con/một phụ nữ
đã giảm xuống 2,7 con giai đoạn 1995-2000 Tỷ lệ tử vong giảm một cách bền vững
đã dẫn đến việc tăng dần tuổi thọ từ 40 tuổi giai đoạn 1950-1955 đến 66 tuổi giai đoạn 1995-2000, trong đó tuổi thọ của nữ cao hơn và tăng nhanh hơn nam giới [9]
Sự khác biệt chính trong tiến trình già hoá đó là tốc độ già hoá tại Châu Á- Thái Bình Dương diễn ra nhanh hơn so với phương Tây Chẳng hạn, để tăng gấp đôi tỷ lệ người 60 tuổi trở lên tại Thuỵ Điển, từ 7% lên 14% thì phải mất 114 năm Trong khi đó đối với Singapore thì chỉ cần 18 năm và đối với các nước đông dân số như Trung Quốc và Ấn Độ thì cần 25-28 năm Như trong bảng 2.3 có thể thấy sự thay đổi nhanh về tỷ lệ dân số trong các nhóm dân số trẻ và dân số già giữa năm
2000 và năm 2050 [1], [9]
Do dân số khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm trên 60% dân số toàn cầu và mức sinh đang giảm nhanh chóng, nên quy mô dân số cao tuổi hiện là một
0 5 10 15 20 25
Trang 22quan tâm chủ yếu Theo dự báo của LHQ, đến năm 2025, ở Châu Á-Thái Bình Dương sẽ có 703 triệu người cao tuổi và sẽ tăng lên 1,2 tỷ vào năm 2050 Đây là một vấn đề trọng tâm về mặt chính sách công tại khu vực trong thế kỷ 21 Đến năm
2050, các nước trong khu vực Đông á, Đông Bắc á và Đông Nam á sẽ có tỷ lệ người
60 tuổi trở lên cao hơn: Trung quốc 29,9%, Hồng Kông 35,4%, Nhật Bản 42,3%, Hàn Quốc 33,2%, Singapore 35%, Thái Lan 27,1% và Việt Nam 23,5% [49], [52]
1.2.3 Sự khác nhau giữa các khu vực về NCT
Giữa các khu vực có sự chênh lệch rõ rệt về số lượng và tỷ lệ NCT Tỷ lệ NCT cao nhất ở các nước đã phát triển, chẳng hạn Thụy Điển (22%) gấp hơn 3 lần
Ấn Độ (7,2%) nhưng số lượng NCT nhiều nhất lại ở các nước đang phát triển Năm
2012, trong số 1.120 triệu NCT, có tới 805 triệu cụ sống ở các nước nghèo, tức là các nước nghèo chiếm đến 80% NCT của Thế giới
Cuối năm 2000, dân số thế giới hơn 6 tỷ người trong đó có 590 triệu người già
Dự báo đến năm 2025, số lượng người già sẽ gần 1 tỷ người Trung bình mỗi tháng thế giới tăng 1, 2 triệu người già Trong 50 năm, trong khi dân số thế giới tăng 140% thì tỷ lệ người già tăng 180% Việc giảm tỷ lệ sinh và tăng tuổi thọ dẫn tới một thế giới “già cỗi” cho dù ở một số nước (do tình trạng nhiễm HIV) thực tế giảm 16,3 tuổi thọ [41]
1.2.4 Tác động về mặt kinh tế - xã hội của già hoá dân số
Trong 50 năm qua, Chính phủ các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương
đã rất quan tâm đến vấn đề gia tăng dân số, đặc biệt là vấn đề kiểm soát mức sinh cao, cải thiện tuổi thọ và giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh Do tuổi thọ tăng, các nước bắt đầu nhận thức được tác động về mặt kinh tế - xã hội của già hoá dân số và
đề ra các kế hoạch hưu trí hợp lý, hệ thống chăm sóc sức khoẻ và an sinh xã hội, tạo ra các cơ hội kinh tế cho người cao tuổi và tăng cường hệ thống hỗ trợ để xoá bỏ bạo lực
và phân biệt đối với người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ
Do tỷ lệ phụ thuộc tuổi già ngày càng tăng ở tất cả các nước trong khu vực, nên trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi sống phụ thuộc ngày càng
đè nặng lên vai dân số ở độ tuổi lao động (dưới hình thức thuế cao hơn và các đóng góp khác) Với sự hỗ trợ cần thiết của Chính phủ và xã hội, người cao tuổi vẫn có
Trang 23thể có những đóng góp tích cực về mặt kinh tế nếu kinh nghiệm và kỹ năng của họ được khai thác một cách có hiệu quả Ngoài ra, họ còn là yếu tố kết nối quan trọng trong gia đình khi cấu trúc gia đình đang bị xói mòn nhanh chóng Mặt khác, nếu người cao tuổi bị từ chối tiếp cận về mặt kinh tế khi họ còn đủ sức khoẻ thì nó sẽ có tác động ngược trở lại đến phúc lợi của chính họ và của gia đình họ ở góc độ xã hội, lực lượng lao động thu nhỏ và số lượng người cao tuổi phụ thuộc tăng lên sẽ có nghĩa là giảm sút về thu nhập tính theo đầu người, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư và năng suất cũng như việc tăng chi tiêu công cho an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi của người cao tuổi Những vấn đề này cần phải được xem xét trong chính sách và các kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia trong khu vực thời gian tới
Già hóa dân số trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế và xã hội còn thấp là một thách thức vô cùng to lớn vì dân số già đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe, hưu trí, trợ cấp… Nói cách khác, nếu không chuẩn bị một cách kỹ lưỡng ngay từ bây giờ thì dân số già không khỏe mạnh và không có thu nhập đảm bảo cuộc sống sẽ buộc chính phủ phải có những khoản chi tiêu rất lớn và những khoản chi tiêu này sẽ tác động tiêu cực đến ngân sách nhà nước cũng như sự bền vững tài chính dài hạn của toàn bộ nền kinh tế
1.3 Các đặc điểm của người cao tuổi
1.3.1 Các đặc điểm chung của người cao tuổi
1.3.1.1 Về nhân khẩu học
Đặc điểm 1 Quy mô NCT trên thế giới ngày càng lớn, tốc độ gia tăng dân số
cao tuổi ngày càng mạnh và nhanh hơn các nhóm tuổi khác và số NCT tại các nước nghèo tăng nhanh
Trong giai đoạn 1950-2000, mức sinh trên toàn cầu giảm 1/2, từ 5 trẻ giảm xuống 2,7 trẻ trên 1 phụ nữ, thêm vào đó tuổi thọ bình quân của thế giới đã tăng thêm 20 năm (dự kiến đạt mức 67 tuổi năm 2010 và 76 tuổi vào năm 2050) [49] Kết quả là dân số của nhiều quốc gia sẽ già đi nhanh chóng và số lượng quốc gia phải đối mặt với thực trạng này ngày càng tăng
Trang 24
Bảng 1.1: Số lượng và tỷ lệ người cao tuổi trên Thế giới
Đơn vị: triệu người
Biểu đồ 1.2 Số năm để nhóm dân số trên 65 tuổi tăng từ 7% lên 14%
Nguồn: Kinsella K, Gist Y (1995), Older Workers, Retirement, and Pensions,
A Comparative International Chartbook
Biểu đồ 1.2 cho thấy xu hướng gia tăng nhanh cả về số lượng và tỷ lệ phần trăm của dân số NCT tại nhiều nước kém phát triển Tại hầu hết các quốc gia phát triển hơn
đã phải mất nhiều thập kỷ để điều chỉnh sự thay đổi trong cơ cấu độ tuổi thì, thường chỉ trong vòng một thế hệ Thực tế cho thấy để tăng dân số NCT từ 65+ tuổi từ 7% đến 14% trong tổng dân số, đa phần các nước phát triển (Pháp và Thụy Điển) đã phải mất
Úc (1938- 2011)
Anh (1930- 1975)
Nhật (1970- 1996)
Azer Baijan (2000- 2041)
Jamaica (2008- 2033)
Sri Lanka (2004- 2027)
Thái Lan (2003- 2025)
Brazil (2011- 2032)
Trang 25trên dưới một thế kỷ, trong khi đó theo dự đoán trong thời gian tới ở các nước đang phát triển (Brazil, Thái Lan, Sri Lanka) chỉ diễn ra trong vòng hai thập kỷ
Đặc điểm 2 Trên thế giới, già hóa dân số còn đang tiến triển ngay trong bản
thân nhóm dân số cao tuổi
Đó là sự gia tăng số lượng của nhóm người già nhất (nhóm này thường được định nghĩa là những người trong độ tuổi từ 85 trở lên) trong số những NCT Hơn một nửa số người già nhất của thế giới sống tập trung ở 6 quốc gia: Trung Quốc,
Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Đức và Nga Người già nhất (85+) trong nhóm NCT trên toàn cầu chiếm khoảng 7% trong tổng số NCT (65+), trong đó 10% ở các nước phát triển và 5% ở các nước kém phát triển [9] [54]
Thời gian tới, trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2030, NCT nhóm 85+ dự kiến tăng 151% , tăng nhanh nhất trong nhóm NCT trên thế giới (so với tốc độ tăng 104% của NCT nhóm 0-64 tuổi và tốc độ tăng 21% của NCT nhóm 65+)
Biểu đồ 1.3 Dự báo mức tăng NCT (60 +) phân theo nhóm tuổi,
2005-2030 (%)
Nguồn: United Nations, Population Division/DESA, World Population
Prospects: The 2004 Revision
Đặc điểm 3 Có sự khác biệt lớn về phân bố của dân số cao tuổi giữa các nước
phát triển và đang phát triển
Trong khi phần lớn NCT ở các nước phát triển sống ở thành thị, thì phần lớn NCT ở các nước đang phát triển sống tại khu vực nông thôn Theo dự báo, đến năm
2025, 82% dân số ở các nước phát triển sẽ sống ở thành thị, trong khi đó ở các nước đang phát triển tỷ lệ này chưa đến 50% [9]
Trang 261.3.1.2 Các đặc điểm về sức khỏe của người cao tuổi
Theo quy luật tự nhiên, sức khỏe về thể chất và tinh thần NCT giảm theo tuổi già Quá trình lão hóa của cơ thể diễn biến không đồng đều và không giống nhau ở mỗi người nhưng nhìn chung, NCT có sự đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần theo độ tuổi
* Về tâm lý, khi bước vào tuổi già, NCT thường gặp những thay đổi như: Chuyển
từ trạng thái tích cực (lao động, tiếp xúc nhiều người) sang tiêu cực (nghỉ ngơi, rảnh rỗi) [7]
* Về sinh lý, thay đổi biểu hiện ra ngoài như: Tóc bạc, răng long, mắt mờ,
chân chậm, tính tình thay đổi, trí nhớ giảm, nhưng sự suy giảm chức năng trong cơ thể mới là điều cơ bản [7]
1.3.1.3 Các đặc điểm về kinh tế và xã hội của người cao tuổi
Tại các nước phát triển, nhất là các nước phương tây, con cái thường độc lập với ông bà, cha mẹ Do đó, đa số NCT thường sống cô đơn trong ngôi nhà mà họ
đã tạo lập từ thuở trung niên Tuy nhiên, địa vị NCT tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của chính họ, một số ít NCT với đủ diều kiện kinh tế, họ có thể thuê mướn những nhân viên y tế để chăm sóc tại gia đình hoặc lựa chọn lối sống tập thể trong các cơ sở chuyên chăm sóc NCT (Viện dưỡng lão) với đầy đủ tiện nghi y tế, vật chất Tại đây họ không lo bị sống cô đơn và được chăm sóc chu đáo Còn phần lớn NCT với sự hạn hẹp về tài chính phải nhờ vả hoặc gia đình thân thích hoặc các cơ quan chính phủ, cơ sở cộng đồng, các tổ chức từ thiện
Bảng 1.2 Số lượng người cao tuổi trên thế giới chia theo giàu nghèo, 1950-2050
Đơn vị: triệu người
1950 1975 2000 2025 2050
Nguồn: United Nations, Population Division/DESA (2008), World Population
Prospects: The 2008 Revision [online database]
http://esa.un.org/unpd/wpp/index.htm [Truy cập: 12/2009] [50]
Trang 27Số liệu Bảng 1.2 cho thấy số NCT tại nước nghèo là 119/214 triệu người (chiếm 55,6%) năm 1950 đã tăng lên 360/590 triệu người (chiếm 61%) năm 2000
và dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh lên 844 triệu người (70,7%) năm 2025 và 1.592 triệu người (79,3%) năm 2050 [50]
Tại các nước đang phát triển, NCT thuộc nhóm nghèo nhất trong các nhóm nghèo Khoảng 400 triệu NCT đang sống tại các quốc gia đang phát triển có cuộc sống dưới ngưỡng nghèo đói Nghèo là thách thức lớn nhất trong cuộc sống của người lớn tuổi ở các nước đang phát triển Nghèo ở tuổi già có liên quan đến chế độ
ăn uống, bệnh tật và điều kiện nhà ở cũng như với việc tiếp cận với các dịch vụ hiện
có của xã hội Tại các nước đang phát triển, một số lượng lớn NCT (60+) tiếp tục tham gia lực lượng lao động, họ tham gia hoạt động trong lĩnh vực làm việc không chính thức (Ví dụ: làm việc trong nước và quy mô nhỏ, kinh tế hộ gia đình….) mặc
dù điều này thường không được công nhận khi thống kê thị trường lao động Và tham gia hoạt động kinh tế là con đường duy nhất để duy trì sự sống của NCT Nghèo đói của NCT có liên quan đến trình độ học vấn thấp, đặc biệt của phụ nữ cũng như điều kiện về sức khoẻ nghèo nàn, thiếu nhận thức và tiếp cận với thông tin NCT đã xác định các nhu cầu ưu tiên của họ là an ninh lương thực, nước sạch, sức khoẻ tốt, tiện nghi sinh hoạt phù hợp và sự chăm sóc giúp đỡ của gia đình Bởi tác động của đại dịch HIV/AIDS, NCT đang phải chăm sóc những đứa con đã trưởng thành của họ cũng như những đứa cháu mồ côi [22] [48]
1.3.2 Những đặc điểm của người cao tuổi Việt Nam
1.3.2.1 Qui mô và phân bố của người cao tuổi
Quy mô NCT: Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học mạnh
mẽ, quy mô NCT đang tăng nhanh, tỷ lệ NCT (60+) trong tổng dân số đã tăng từ 6,9% (1979) lên 7,2% (1989), lên 8,12% (1999) và lên 8,9% (2009) Theo kết quả Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2011, tỷ lệ NCT (60+) là 9,9% (8.655.324 người), đặc biệt tỷ lệ NCT (65+) là 7% Như vậy, Việt Nam đã chuyển sang cơ cấu
“già hóa dân số”, sớm hơn 5 năm so với dự báo là năm 2017 cơ cấu dân số Việt Nam chuyển sang cơ cấu “già hóa dân số” [25] [26] [27]
Trang 28Biểu đồ 1.4 Số lượng và tỷ lệ dân số cao tuổi (60+), 1989 - 2049
Nguồn: Theo số liệu: TĐTDS 1979, 1989, 1999, 2009 của TCTK; Dự báo Dân
số Việt Nam 2009-2049
Lý do chủ yếu là do những thành tựu đạt được trong lĩnh vực y tế và kế hoạch hoá gia đình Mức sinh của nước ta đã giảm mạnh từ trung bình 4,8 con (1979) xuống 2,33 con (1999), 2,07 con (2007) và 2,01 con (2009) và nâng tuổi thọ bình quân của Việt Nam từ 68,6 tuổi (1999) lên 72,8 (2009), dự kiến sẽ là 75 tuổi vào năm 2020 [25] [26] [27].Trong khi tuổi thọ trung bình ngày càng tăng đã làm cho dân số nước ta có xu hướng lão hoá với tỷ trọng dân số trẻ giảm và tỷ trọng người già ngày càng tăng Kết quả là cơ cấu dân số Việt Nam biến động mạnh theo hướng dân số cao tuổi ngày càng tăng
Số liệu từ các cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1989-2009 và
dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009-2049 cho thấy số lượng NCT ở nhóm tuổi càng cao thì càng tăng nhanh, đặc biệt nhóm tuổi cao nhất (80+) tăng nhanh nhất trong nhóm dân số cao tuổi Giai đoạn 1989-2009, tỷ lệ NCT tăng 1,2 lần (8,9% năm 2009 so với 7,2% năm 1989) Trong đó, tỷ lệ nhóm 60-69 gần như giữ nguyên (4,2% năm 2009 so với 4,3% năm 1989), tỷ lệ nhóm 70-79 tăng 1,4 lần (3,1% năm
2009 so với 2,2% năm 1989), còn tỷ lệ nhóm dân số cao tuổi nhất (80 +) tăng hơn 2,3 lần (1,6% năm 2009 so với 0,7% năm 1989) Và theo dự báo đến năm 2049, tỷ trọng nhóm dân số 80 tuổi trở lên trong tổng dân số vẫn tăng khoảng 2,4 lần so với năm 2009, 3,8% năm 2049 so với 1,6% năm 2009, [25] [26] [27]
16.5 19.8
0 5 10 15 20 25 30
1989 1999 2009 2019*2029*2039*2049*
Tỷ lệ dân số 60+ (%)
Trang 29Phân bố: Do đặc điểm cư dân nước ta sống tập trung tại khu vực nông thôn
nên đại đa số NCT sống tại nông thôn Trong giai đoạn 1989-2011, số NCT ở nông thôn cao gần gấp 3 lần khu vực thành thị Tuy nhiên, do tác động của quá trình đô thị hoá, tỷ lệ dân số già ở khu vực nông thôn có xu hướng giảm dần, từ 77,81% (1989) xuống 76,83% (1999), 72,11% (2009) và 70% (2011) Đồng nghĩa với việc
số lượng NCT thành thị ngày càng tăng[25] [26] [27]
1.3.2.2 Cơ cấu giới tính và tình trạng hôn nhân của người cao tuổi
Cơ cấu giới tính: Cơ cấu giới tính của NCT nước ta có sự chênh lệch lớn
Bảng 1.3 Tỷ số giới tính NCT phân theo nhóm tuổi, 2011
(Số NCT nữ tương ứng với 100 NCT nam)
Đơn vị: %
Nguồn: Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2011 của TCTK
Số liệu bảng 1.3 cho thấy tỷ số giới tính của NCT (nữ/nam) tăng nhanh theo nhóm tuổi, từ 120 (nhóm tuổi 60-64) đến 290 (nhóm tuổi 80+) Như vậy, Việt Nam cũng theo qui luật chung, tỷ số giới tính (nữ/nam) của dân số càng ở các nhóm tuổi cao càng tăng [26]
Tình trạng hôn nhân: Tình trạng sống không có vợ/chồng của NCT chiếm
tỷ lệ cao, đặc biệt là phụ nữ Giai đoạn 1999-2011, số NCT nữ sống không chồng (chưa chồng/già góa/ly hôn/ly thân) luôn gấp 4 lần tỷ lệ này ở NCT nam giới Việc phải sống một mình là điều rất bất lợi đối với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa khi
về già Trong điều kiện yếu thế về mọi mặt của NCT nữ so với nam giới cùng độ tuổi thì tình trạng NCT sống không chồng và phân bố chủ yếu ở nông thôn đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách xã hội phải chú tâm hơn nữa trong việc đưa ra các chính sách phúc lợi xã hội có hiệu quả, [2] [3]
1.3.2.3 Các đặc điểm về sức khỏe của người cao tuổi Việt Nam
Hiện nay, tuổi thọ của người Việt Nam là 73 tuổi và có thể sánh ngang với tuổi thọ của NCT ở các nước có thu nhập cao hơn, nhưng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh khá thấp là 64 tuổi, xếp thứ 124/193 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Trang 30NCT Việt Nam đang mang gánh nặng bệnh tật kép do xu hướng bệnh chuyển từ lây nhiễm sang không lây nhiễm và các bệnh mãn tính, đồng thời các bệnh mới đang xuất hiện cùng với sự thay đổi trong cách sống đang ngày càng trở nên phổ biến như bệnh ung thư, căng thẳng và trầm cảm về tâm thần Những bệnh thường gặp nhất ở NCT là bệnh về xương khớp, huyết áp, các bệnh về mắt và bệnh suy giảm trí nhớ [21] [33]
Biểu đồ 1.5 Tỷ lệ 10 bệnh phổ biến nhất của bệnh nhân nội trú tại Viện lão khoa quốc gia (%), 2008
Nguồn: Theo số liệu Mô hình bệnh tật điều trị ở Viện Lão khoa Quốc gia năm 2008
Theo biểu đồ 1.5 cho thấy 10/10 bệnh NCT hay mắc là bệnh không lây nhiễm
và chủ yếu là các bệnh mãn tính như: Bệnh tai biến mạch máu lão, Tăng huyết áp, Đái tháo đường tuýp II, Bệnh phổi tắc nghẽ mạn tính, Suy tim, Hội chứng tiền đình, Bệnh Pakinson, Loãng xương Trong đó, tai biến mạch máu lão (21,9%), bệnh huyết
áp (7,7%) là các bệnh hay gặp nhất
Khi bị ốm chấn thương, với đặc điểm của tuổi già thì số ngày để NCT phục hồi dài hơn các nhóm tuổi khác Theo kết quả điều tra mức sống dân cư qua các năm cho thấy bình quân 1 NCT phải nghỉ khoảng 30 ngày do bị ốm/chấn thương trong 12 tháng, trung bình gấp 4 - 5 lần trẻ em và gấp 3 lần người trưởng thành Như vậy, mỗi NCT ở Việt nam phải chịu gánh nặng bệnh tật tới 14 năm trong tổng
số hơn 70 năm sống trong cuộc đời [21]
1.3.2.4 Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ của người cao tuổi
Trình độ học vấn: Tình trạng biết đọc biết viết của NCT Việt Nam đang dần
1.7 1.9 2.1 2.1 2.4 4.1 5.3 7.7 7.8
21.9
Viêm phế quản cấp Loãng xương Bệnh Pakinson Hội chứng tiền đình
Suy tim Bệnh phổi tắc nghẽ mạn tính
Đái tháo đường tuýp II
Tăng huyết áp Viêm phổi Bệnh tai biến mạch máu lão
Trang 31được cải thiện song còn nhiều hạn chế, một số lượng lớn NCT không biết đọc biết viết, trong số đó số lượng lớn là NCT nữ và chủ yếu là NCT ở nông thôn
Năm 1999, khoảng gần 2,5 triệu người (50+) không biết đọc biết viết Trong
đó chủ yếu là sống ở nông thôn (trên 80 %) và là nữ giới (trên 80%) [17], [29] Sau một thập kỷ, theo kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, tỷ lệ NCT không biết đọc biết viết còn khoảng 18,13% (hơn 1,35 triệu người) Trong đó, NCT là nữ không biết chữ gấp 3,6 lần (25,62% trên tổng số NCT nữ) tỷ lệ này ở NCT nam (7,05% trên tổng số NCT nam) [29],
Đây cũng là một đặc điểm của NCT Việt Nam trong giai đoạn này vì NCT đều là những con người thuộc các thế hệ trước đây nhiều chục năm, điều kiện học tập thời đó còn rất khó khăn thiếu thốn, lại bị hai cuộc chiến tranh làm gián đoạn nên đã hạn chế nhiều đến cơ hội nâng cao trình độ Tỷ lệ NCT nữ không biết chữ nhiều hơn là do hậu quả của bất bình đẳng giới trong giai đoạn trước gây ra
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của NCT
Việt Nam đang dần được cải thiện song còn nhiều hạn chế, còn chênh lệch lớn về trình
độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của NCT giữa giới nam và nữ và đang có một lực lượng nhỏ lao động có trình độ chuyên môn cao nằm trong lớp NCT
Theo kết quả thống kê Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2010, tỷ lệ NCT chưa bao giờ đến trường chiếm 17,2%, không có bằng cấp chiếm 34,8%, tốt nghiệp tiểu học 20,4%, tốt nghiệp THCS chiếm 10,9%, Tốt nghiệp THPT chiếm 3,2%, được đào tạo từ sơ cấp đến cao đẳng nghề 4,8%, Công nhân kỹ thuật chiếm 3,9%, Trung học chuyên nghiệp chiếm 0,9% và tỷ lệ NCT tốt nghiêp từ cao đẳng trở lên chiếm 3,8% Như vậy, tỷ lệ NCT có học vấn cao, tốt nghiệp từ phổ thông trung học trở lên và được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ nhỏ (16,7%)[27] Trình độ học vấn của NCT giữa thành thị với nông thôn cũng có sự chênh lệch, khu vực thành thị có trình
độ cao hơn nhiều so với vùng nông thôn Trình độ học vấn của NCT nam và nữ thay đổi theo các cấp học và theo chiều hướng ngược nhau rất rõ rệt Càng lên các cấp học cao hơn thì tỷ lệ tốt nghiệp của NCT nữ càng giảm và mức độ chênh lệch so với các NCT nam ngày càng lớn
Trang 321.3.2.5 Vai trò của người cao tuổi Việt Nam
NCT Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội Đa số NCT Việt Nam là những người đã có nhiều công lao đóng góp trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong những năm tháng khó khăn nhất Đến khi tuổi đã cao, NCT vẫn tiếp tục phát huy vai trò như cố vấn, tư vấn… cho Đảng và Chính phủ Nhiều NCT còn sức khoẻ vẫn tham gia tổ chức Đảng, đoàn thể, chính quyền ở cấp xã, ở thôn/xóm/bản làng
Trong kinh tế, NCT là người đóng tích luỹ cho sự phát triển kinh tế của đất nước, tạo vốn đầu tư trong quá khứ Đến khi tuổi đã cao, một bộ phận NCT, đặc biệt là lao động có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm, vốn xã hội… vẫn đang tham gia vào hoạt động kinh tế Họ tham gia sản xuất, kinh doanh vừa để tạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm gương để thế
hệ trẻ noi theo Năm 2011, với hơn 4,5 triệu (52,7%) triệu người NCT tham gia hoạt động kinh tế, tức cứ 2 NCT thì có tới 1 người hoạt động kinh tế…
Trong văn hóa - giáo dục, NCT là kho tàng kinh nghiệm quý giá vừa là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, là người định hướng cho những người trẻ Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nhiều cán bộ khoa học, giáo viên, y bác sỹ sau khi nghỉ hưu và nhiều NCT sống ở nông thôn có kinh nghiệm, kiến thức đã tích cực tham gia công tác giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh khuyến học khuyến tài, góp phần xây dựng một xã hội học tập ở cơ sở Đặc biệt, trong việc lưu giữ và phát triền nghề truyền thống tại các “làng nghề”, NCT có trọng trách đặc biệt là lưu giữ, khôi phục, truyền nghề truyền thống cho thế hệ con cháu nhằm duy trì những tinh hoa văn hóa chắt chiu được qua nhiều thế hệ
Trong nghiên cứu khoa học, ngoài việc khuyên dạy con cháu, dòng họ và mọi người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống… NCT vẫn không ngừng nghiên cứu khoa học công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực xã hội góp phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 33Trong gia đình, NCT có vị trí rất quan trọng trong gia đình truyền thống của người Việt Nam NCT luôn được coi là trụ cột tinh thần, đạo đức của gia đình dòng họ
Có trên 60% NCT tham gia vào các phong trào xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư văn minh, tỷ lệ hộ có NCT đạt danh hiệu gia đình văn hoá cao hơn tỷ lệ chung [8]
1.3.2.6 Đời sống tinh thần
NCT Việt Nam là một trong những lực lượng nòng cốt ở địa phương và trụ cột về đời sống tinh thần trong mỗi gia đình, nêu gương sáng, kiên trì hướng dẫn, động viên con cháu chấp hành nghiêm túc pháp luật của Nhà nước, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy dân chủ ở cơ sở, bảo vệ môi trường sống, đóng góp để kinh tế phát triển, xã hội văn minh Trong tổng số NCT, có khoảng một nửa số người ở độ tuổi từ 60 – 75 còn sức khỏe, trí lực, có trình độ chuyên môn, vẫn tích cực tham gia đóng góp cho xã hội Khoảng 86% NCT tham
gia các tổ chức xã hội như Hội NCT, Hội PNVN, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam…
1.4 Các lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.4.1 Lý thuyết về biến đổi xã hội
Trong Từ điển xã hội học Nguyễn Khắc Viện dùng khái niệm “thay đổi xã hội” Theo đó, thay đổi xã hội “chỉ trạng thái vận động xã hội khác nhau: tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến hóa hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ, v.v ” (1994: 284) Với cách tiếp cận này thay đổi xã hội ở tầm xã hội vĩ mô, khi xã hội có sự vận động trong tồn tại xã hội, ý thức xã hội hoặc kết hợp cả hai Như vậy, “thay đổi xã hội” là một khái niệm mang tính chất là một phạm trù triết học nhằm để chỉ sự vận động từ một giai đoạn xã hội (hình thái kinh tế-xã hội) này sang một giai đoạn khác
Một quan điểm khác cũng xem biến đổi xã hội ở khía cạnh tương tự như sau:
“Biến chuyển xã hội là những sự thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội, cấu trúc, thiết chế và đời sống văn hóa xã hội” (theo Nguyễn Minh Hòa, 1999: 192) Trong khái niệm này, biến chuyển xã hội được hiểu theo bình diện rất rộng với nhiều cấp độ Biến chuyển các khuôn mẫu trong tổ chức, trong các thiết chế và diễn
ra trên quy mô xã hội tổng thể
Trang 34Còn trong Từ điển xã hội học Oxford lại xem biến đổi xã hội dưới góc nhìn
xã hội học bao gồm rất nhiều phương diện Từ biến đổi ngắn hạn đến những biến đổi dài hạn, những biến đổi quy mô lớn đến quy mô nhỏ, từ cấp độ toàn cầu tới cấp
độ gia đình Biến đổi xã hội không chỉ thể hiện trên phương diện cấu trúc chính trị
và cơ cấu xã hội rộng lớn mà còn thể hiện trong chuẩn mực, giá trị, khuôn mẫu hành vi, các mối quan hệ
“Biến chuyển xã hội là sự thay đổi có tính cơ cấu trong những tổ chức, trong những lối suy nghĩ qua thời gian” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003: 200) Quan điểm này nhìn nhận biến đổi xã hội diễn ra không chỉ trong cấu trúc của xã hội tổng thể mà còn diễn ra trong những nhận thức và suy nghĩ
“Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi, các quan hệ, các thiết xã hội và các hệ thống phân tầng được thay đổi qua thời gian” (Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng, 2001: 280) Qua đó các tác giả đưa ra hai loại hình biến đổi
xã hội như sau: Biến đổi vĩ mô, nó diễn ra trên một phạm vi rộng lớn, diễn ra trong một thời gian dài; Biến đổi vi mô, liên quan đến những biến đổi nhỏ, diễn ra nhanh hơn
Trên cơ sở các định nghĩa đó thì biến đổi xã hội có một số đặc trưng như: Diễn ra trong những môi trường, các không gian xã hội khác nhau; Tốc độ và tính chất khác nhau; Biến đổi xã hội cũng diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau; Vừa có tính tự giác, nhưng cũng mang tính phi kế hoạch, có những biến đổi người ta lường trước, nhưng có những thay đổi con người không thể lường được; Biến đổi xã hội vừa mang kết quả tốt, nhưng cũng mang lại nhiều hậu quả xấu; Có những biến đổi diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng cũng có những biến đổi
xã hội diễn ra thời gian rất lâu dài
Dân số là một trọng những lĩnh vực diễn ra sự thay đổi nhanh nhất, và rõ nhất trong xã hội Sự gia tăng về quy mô dân số ở nhiều quốc gia đặt ra những yêu cầu cấp bách về chính sách Nhìn vào sự thay đổi của dân số Việt Nam chúng ta thấy nó mang đầy đủ các đặc trưng đã kể trên của biến đổi xã hội Sự thay đổi trong cơ cấu dân số như: quá trình già hóa dân số tạo gánh nặng về an sinh xã hội, về hoạch định chính sách thích ứng kịp thời với già hóa dân số…
Trang 351.4.2 Luận thuyết phát triển bền vững:
Tiếp cận theo khái niệm Phát triển bền vững được Liên hợp quốc sử dụng từ
những năm 1970 đến nay khi nhìn nhận sự phát triển của các quốc gia cho thấy sự thống nhất của 3 thành tố: tăng trưởng kinh tế; tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường Quan điểm về sự phát triển bên vững dựa trên sự phát triển đồng đều và cân đối của
3 yếu tố Kinh tế - Xã hội – Môi trường Phát triển bền vững là sự thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại và không ảnh hưởng đến nhu cầu của thế hệ tương lai
Luận thuyết phát triển bên vững còn nói rằng kinh tế và xã hội phải hòa hợp,
bổ sung thành một thể thống nhất Nhu cầu của con người phải được đáp ứng, hàng hóa và dịch vụ phải được cung cấp và phân phối trong sự công bằng Mỗi xã hội, mỗi dân tộc có yêu cầu và lý do để định những phương hướng phát triển và chọn những phương thức hành động riêng Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển bền vững
là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người, cải thiện cuộc sống của tất cả và song song bảo toàn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai ổn định Phát triển bên vững có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ Nó chủ trương có sự tham gia đóng góp của tất cả các đối tượng thụ hưởng, tạo tính sở hữu kế hoạch và kết quả hoạt động, xây dựng tinh thần trách nhiệm
Khái niệm phát triển bền vững như vậy có một nội dung bao quát, không có phạm vi nhất định, không bị gò bó bởi những chuẩn mực hoặc quy tắc đã định trước
và không cũng có tính cụ thể rõ rệt Khái niệm có thể diễn nghĩa nhiều cách, theo
Kinh tế
Xã hội Môi trường
Trang 36nhiều hướng khác nhau Đề cập đến vấn đề già hóa dân số chính là đề cập đến các mặt sức khỏe, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của NCT trong môi trường chính trị - kinh tế - xã hội của Việt Nam Đặc biệt trong xu hướng già hóa dân số nhanh khi điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam còn chưa đủ mạnh để đáp ứng nhu cầu của NCT rất cần nhìn nhận vấn đề từ những quan điểm phát triển bền vững
1.4.3 Lý thuyết quá độ dân số
Quá độ dân số là một quan niệm được sử dụng rộng rãi để lý giải sự thay đổi các kiểu sản xuất dân cư trên thế giới Người đầu tiên đưa ra quan niệm này là nhà
dân số học người Pháp A Ladry cùng với việc sử dụng thuật ngữ "Cách mạng dân
số" ra đời vào những năm 1909 -1934 Tư tưởng này được F.W Notestein, nhà dân
số học Hoa kỳ, kế tục và trình bày cụ thể hơn vào năm 1945
Theo lý thuyết này, thời kỳ trước quá độ được đặc trưng bằng mức sinh cao không có sự kiểm soát và mức chết cao do thiên tai, đói khát, bệnh tật và chiến tranh Với sinh và chết như thế tạo nên sự cân bằng dân số lãng phí Hình thức này tồn tại trong các xã hội truyền thống có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu Ở đó khuyến khích mọi người có mức sinh cao và những ý tưởng đó lại được củng cố bằng những lợi ích kinh tế mà các gia đình đông con đưa lại
Tuy nhiên, có nhiều nhà khoa học cho rằng, thời kỳ quá độ là thời kỳ có những biến động lớn của cả mức sinh và mức chết với mức độ khác nhau giữa các thời kỳ và được chia thành 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu quá độ: biểu thị mức chết bắt đầu giảm xuống (nhưng còn
chậm), mức sinh vẫn còn cao và có nơi vẫn tiếp tục tăng Trạng thái cân bằng lãng phí bị phá vỡ, gia tăng dân số bắt đầu diễn ra với tốc độ cao
+ Giai đoạn giữa quá độ: biểu hiện mức chết giảm xuống rất nhanh, trong khi
mức sinh mới chỉ bắt đầu giảm xuống Trạng thái cân bằng dân số bị phá vỡ trầm trọng, gia tăng dân số đạt đến đỉnh cao
+ Giai đoạn cuối quá độ: mức sinh giảm xuống rất nhanh trong khi mức chết
chững lại và biến đổi rất ít, khoảng cách giữa sinh và chết thu hẹp lại, dân số tăng chậm
Trang 37Thời kỳ sau quá độ được đặc trưng bằng mức chết thấp và ổn định, trong khi mức sinh cũng thấp, tăng trưởng dân số rất chậm, thậm chí có một số nước có tăng trưởng dân số âm
Đánh giá về mối quan hệ giữa tiến trình phát triển kinh tế - xã hội với biến động dân số, các nhà nhân khẩu đã rút ra nhận xét là “tất cả các dân tộc trong kỷ nguyên hiện đại đã chuyển từ nền kinh tế truyền thống trên cơ sở nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp lớn trên cơ sở đô thị hoá, hiện đại hoá thì đều chuyển từ mức sinh và mức chết cao sang mức sinh và mức chết thấp”
Như vậy, quá độ dân số là giai đoạn nhất thiết phải trải qua, mặc dù độ dài ngắn có thể khác nhau Theo lý thuyết này, việc giảm mức sinh là sản phẩm đi kèm của công nghiệp hoá và hiện đại hoá Tuy vậy, đối với các nước đang phát triển, dân
số tăng rất nhanh, không thể chờ đợi công nghiệp hoá, đô thị hoá mà phải chấp nhận chương trình KHHGĐ nhằm tác động trực tiếp đến gia tăng dân số
Lịch sử phát triển dân số trên thế giới đã chứng minh tái sản xuất dân số trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển đã chuyển từ giai đoạn tỷ suất sinh thô (CBR) và
tỷ suất chết thô (CDR) đều cao (cân bằng dân số lãng phí) sang giai đoạn CBR và CDR đều thấp (cân bằng tiết kiệm) Giữa hai giai đoạn này gọi này thời kỳ quá độ dân số Nghiên cứu quá trình phát triển dân số ở Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến nay cho phép rút ra kết luận là dân số Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn của quá độ dân số:
Giai đoạn 1 (Tiền quá độ): Cả CBR (trên 40 %o) và CDR (25%o) đều cao
Đây là giai đoạn từ năm 1955 trở về trước Đối với giai đoạn này biến động tự nhiên dân số thấp chỉ dưới 2%
Giai đoạn 2 (Giai đoạn quá độ): Ở giai đoạn này CBR cao, nhưng CDR đã giảm
thấp, làm cho tăng tự nhiên dân số cao Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn bùng nổ dân
số Mở đầu giai đoạn này CBR cao nhưng đã bắt đầu giảm Do sự tiến bộ của y học và của kinh tế-xã hội, CDR giảm và giảm rất nhanh Sau đó CBR giảm nhanh còn CDR giảm chậm hoặc không giảm nữa, chững lại ở mức thấp Vì vậy, trong giai đoạn này, tỷ
lệ tăng tự nhiên dân số cao và diễn ra quá trình “Bùng nổ dân số”
Trang 38Ở nước ta, thời kỳ bùng nổ dân số kéo dài 40 năm từ năm 1955 đến 1995 với
tỷ lệ tăng dân số cao nhưng giảm dần Ví dụ, thời kỳ từ năm 1954-1969, tỷ lệ tăng dân số lên tới dần 4%, nhưng sau đó tỷ lệ tăng dân số giảm dần
Giai đoạn 3 (Hậu quá độ): CBR đạt mức thấp, CDR tiếp tục thấp nhưng do
sự già hóa của dân số nên CDR sẽ tăng lên không nhiều, dân số tăng chậm, thậm chí
ở một số nước dân số còn giảm
Có thể coi dân số Việt Nam hiện nay đã ở đoạn cuối của thời kỳ quá độ, khi
tỷ lệ tăng dân số nhỏ hơn 1,5% (theo số liệu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở 1/4/2009, tỷ lệ tăng dân số của Việt Nam năm 2009 là 1,2%) Khi tỷ lệ tăng dân số
ở mức dưới 1% thì có thể coi dân số đã bước vào thời kỳ hậu quá độ
Nói một cách tổng quát, lý thuyết đã dự đoán chính xác rằng đối với các nước đang phát triển, mức chết sẽ giảm trước mức sinh Lý thuyết còn cho biết tính quy luật của phát triển dân số qua các thời kỳ tuy nhiên mức độ diễn ra nhanh – chậm tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi quốc gia Tại các nước đang phát triển, trước đây sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chiếm
ưu thế nhưng gần đây, hiện đại hóa và công nghiệp hóa là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm mức sinh Theo học thuyết quá độ, việc đạt được một trình
độ hiện đại hóa nhất định về phương tiện sản xuất là điều kiện tiên quyết cho việc giảm sinh Vì vậy, chương trình KHHGĐ ở các nước đang phát triển sẽ có kết quả hạn chế nếu không có sự thay đổi về mặt kinh tế - xã hội
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Già hóa là một thành tựu của quá trình phát triển; là hệ quả của ba xu hướng nhân khẩu học, đó là tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết giảm và tuổi thọ tăng nhanh Quá trình biến đổi nhân khẩu học này không ngừng đem lại những cơ hội cũng như
sự tiếp tục đóng góp cho xã hội của bộ phận dân số tuy đã cao tuổi nhưng có sức khỏe, có kinh nghiệm, được đảm bảo an sinh Dân số già hoá nhanh cũng sẽ làm tăng áp lực cho hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có, hệ thống dịch vụ sức khoẻ, giao thông đi lại, quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống cũng như hệ thống an sinh xã hội cho NCT có thể dẫn đến những vấn đề kinh tế - xã hội, môi trường thêm trầm trọng và
có nhiều biến động không thể lường trước Chương 1 về cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu đã làm rõ những khái niệm then chốt như “Người cao tuổi:, “Già hóa dân số”, “chỉ số già hóa”, “tỷ lệ phụ thuộc” Nghiên cứu vận dụng các lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết quá độ dân số, luận thuyết phát triển bền vững để luận giải
đề tài
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ XU THẾ GIÀ HÓA DÂN SỐ Ở VIỆT NAM
2 1 Mức độ “già hóa dân số” sang “dân số già”
Theo dự báo của Tổng cục thống kê (TCTK), dân số cao tuổi nước ta sẽ tăng
rất nhanh trong thời gian tới Năm 2010, khoảng 11 người dân mới có 01 người cao
tuổi NCT nhưng ước tính năm 2029 cứ 6 người dân thì có 1 NCT; năm 2049 cứ 4
người dân thì có 1 NCT Từ năm 1989 đến 2009, tỷ trọng dân số cao tuổi chỉ tăng
1,7 điểm phần trăm; giai đoạn 2009-2019 con số này là 7,1 điểm phần trăm và giai
đoạn 2029-2049 sẽ là 8,8 điểm phần trăm [30]
Bảng 2.1 Tổng dân số, số lượng và tỷ lệ dân số 60+, 1989-2009-2014,
dự báo 2029-2049
Nguồn: TCTK Tổng điều tra dân số 1989, 1999; 2009; TCTK, “Dự báo dân
số Việt Nam 2009 – 2049”
Nhìn vào biểu số liệu thống kê (Bảng 2.1) trên đây, từ năm 1999 đến nay, do
mức sinh giảm nhanh và tuổi thọ của dân số tăng khá nhanh, dân số Việt Nam đang
trong “quá trình già hoá” với những biểu hiện rõ nét là: Mức sinh đã và đang tiếp
tục giảm, vì vậy tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi liên tục giảm; Mức độ chết đang tiếp
tục giảm, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh liên tục tăng, vì vậy tỷ trọng người già
(từ 60 tuổi trở lên) tăng với tốc độ tăng dần
Số liệu đó cũng cho thấy, trong hai thập kỷ qua, dân số cao tuổi (dân số 60
tuổi trở lên/NCT) ở nước ta tăng chậm Bình quân mỗi năm tăng khoảng 0,1% (từ
7,1% năm 1989 lên 8,7% năm 2009) Gần đây, chỉ trong 01 năm từ năm 2009 đến
2010, tỷ trong dân số cao tuổi của nước ta đã tăng thêm 0,5% và xu hướng trong
những năm tới sẽ tăng nhanh hơn Theo dự báo thì đến năm 2034, số NCT 60+ sẽ
lớn hơn số trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ lệ tăng hàng năm của nhóm NCT (60-64) năm
1999 là 2,31%, năm 2009 còn 2,26%; với NCT trên 80, năm 1999 là 0,93%, năm
2009 lên 1,47% [28], [29].
Trang 40Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên
Nguồn: - Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009; Kết quả điều tra biến động dân số các năm 2010, 1011; Kết quả dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009 - 2049
Theo Tổng cục Thống kê, thời gian quá độ từ “già hóa dân số” sang “dân số già” của Việt Nam chỉ khoảng 18-20 năm, ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đi trước: Pháp 115 năm; Thụy Điển 85 năm; Nhật Bản 26 năm [48]
2.2 Dân số cao tuổi tăng nhanh ở nhóm tuổi cao nhất
Số liệu từ các cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1989-2009 cho thấy: tỷ trọng dân số cao tuổi tăng 1,24 lần (7,1% năm 2009 so với 8,7%), nhưng tỷ trọng nhóm dân số cao tuổi nhất (80 tuổi trở lên) trong tổng dân số tăng hơn 2 lần (1,5% năm 2009 so với 0,7% năm 1989) [28], [29]
Nhìn vào bảng 2.2 ta thấy dự báo đến năm 2049, tỷ trọng nhóm dân số 80 tuổi trở lên trong tổng dân số vẫn tăng khoảng 2,8 lần so với năm 2009 (4,2% năm 2049 so với 1,5% năm 2009) [29].
Bảng 2.2 Tỷ trọng (%) dân số cao tuổi theo nhóm tuổi, 1989-2049
TỔNG ĐIỀU TRA ĐIỀU TRA BIẾN ĐỘNG
DỰ BÁO