Tại Bảo tàng Nhân học - nơi tác giả công tác đang lưu giữ, trưng bày một hệ thống các sưu tập hiện vật khá phong phú với nhiều chất liệu, loại hình của một số di tích văn hóa Đồng Đậu ti
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI HỮU TIẾN
VĂN HÓA ĐỒNG ĐẬU VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG THỜI ĐẠI ĐỒNG THAU
Ở LƯU VỰC SÔNG HỒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI HỮU TIẾN
VĂN HÓA ĐỒNG ĐẬU VÀ VỊ TRÍ CỦA NÓ TRONG THỜI ĐẠI ĐỒNG THAU
Ở LƯU VỰC SÔNG HỒNG
Chuyên ngành: Khảo cổ học
Mã số: 62 22 60 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Lâm Mỹ Dung
2 TS Ngô Thế Phong
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình của riêng tác giả Các tài liệu,
số liệu, phụ lục minh họa được sử dụng trong luận án hoàn toàn trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2016
Bùi Hữu Tiến
Trang 4Lời cảm ơn
Tận tâm, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới PGS.TS Lâm Mỹ Dung, TS Ngô Thế Phong đã hướng dẫn tôi hết sức tận tình, chu đáo về mặt khoa học Nhờ có sự hướng dẫn đó, mà tôi đã hoàn thành luận án một cách tốt nhất trong khả năng của mình
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới các Thầy cô trong Khoa Lịch
sử, Bộ Môn Khảo cổ học, đặc biệt là các PGS.TS Hoàng Văn Khoán, PGS.TS Hán Văn Khẩn, GVC Nguyễn Xuân Mạnh, GV Nguyễn Chiều hết lòng giúp đỡ, tạo nhiều điều kiện thuận lợi về mặt tư liệu cũng như đã có nhiều góp ý quí báu trong quá trình tác giả thực hiện luận án
Nhân đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng nghiệp công tác tại Bảo tàng Nhân học, Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Vĩnh Phúc, Bảo tàng Đền Hùng, Nhóm Nghiên Cứu Thương Mại Châu Á thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vì sự động viên cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt tư liệu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Nghiên cứu Khoa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tài trợ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học trong quá trình tác giả công tác tại Bảo tàng Nhân học Nhờ có sự tài trợ kinh phí này mà tôi đã triển khai thành công 2 đề tài nghiên cứu chuyên sâu có liên quan đến nội dung luận án
Bản luận án này là món quà tinh thần mà tôi muốn giành tặng cho bố mẹ, vợ, con trai và những người thân yêu trong gia đình Sự quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ của cả gia đình là nguồn động viên, khích lệ to lớn để tôi vững bước trên con đường nghiên cứu khoa học
Bùi Hữu Tiến
Trang 5ĐHKHXH & NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHTHHN : Đại học Tổng hợp Hà Nội
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các di tích văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng]
Bảng 2.1: Thống kê diện tích một số địa điểm văn hoá Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu
Tiến tổng hợp, xây dựng]
Bảng 2.2.: Độ dày tầng văn hoá một số địa điểm văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi
Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng]
Bảng 3.1 Phân loại một số loại hình đồ đá [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bảng 3.2 Phân loại một số loại hình đồ đồng [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bảng 3.3: Phân loại một số loại hình đồ gốm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bảng 4.1: Thống kê đồ tùy táng trong mộ ở một số di tích văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng]
Bảng 4.2: Mật độ đồ đồng, đồ trang sức đá và những dấu tích luyện kim và đúc đồng ở một số di tích văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bảng 4.3: Bảng điểm quy ước đánh giá mức độ phân hóa tài sản ở một số di tích văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bảng 5.1: Ý kiến phát biểu về niên đại văn hoá Đồng Đậu [Nguồn: 84, có bổ sung] Bảng 5.2: Niên đại C14 và AMS di tích Thành Dền [Nguồn: 45, 184]
Bảng 5.3: Niên đại C14 của di tích Đồng Đậu [Nguồn: 184; 202]
Bảng 5.4: Niên đại một số văn hóa, nhóm di tích, di tích ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng]
Bảng 5.5: Thống kê công cụ sản xuất, vũ khí bằng đá, xương, đồng ở lớp văn hoá 1 của di tích Đồng Đậu (1969, 1984, 1987) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng] Bảng 5.6: Thống kê công cụ sản xuất, vũ khí bằng đá, xương, đồng ở lớp văn hoá 2 của
di tích Đồng Đậu (1969, 1984, 1987) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng] Bảng 5.7: Thống kê hiện vật bằng đá, xương, đồng ở di tích Đồng Đậu (2012) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp, xây dựng]
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN ẢNH, BẢN DẬP
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Phân bố các di tích văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Sơ đồ 2: Phân bố các di tích văn hóa Đồng Đậu ở tỉnh Phú Thọ [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Sơ đồ 3: Mối quan hệ giữa sự thay đổi của mực nước biển dựa trên nghiên cứu lượng siđerit và lưu huỳnh trong các lớp trầm tích tử hồ Tougou - ike của Nhật Bản
và sự thay đổi diện tích các di tích khảo cổ học trong văn minh sông Dương Tử (Yasuda et al 2004) [Nguồn: 258]
Sơ đồ 4: Sự hạ thấp nhanh của mực nước diễn ra trong khoảng 3500 - 3200 BP ở Biển Chết (Migowski et al 2006) [Nguồn: 258]
Sơ đồ 5: Dao động mực nước biển của P.Fairbrige [Nguồn: Dẫn theo 193]
Sơ đồ 6: Các tuyến di chuyển của cư dân Phùng Nguyên và Hạ Long vào khoảng
3500 năm cách nay (giả thiết) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Sơ đồ 7: Sự phát triển của nghề luyện kim giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Sơ đồ 8: Hệ thống cấu trúc kinh tế xã hội ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 3.500 - 3.000/ 2.900 BP [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Sơ đồ 9: Sự phát triển của các văn hóa Tiền Sơ sử ở miền Bắc Việt Nam (giả thiết) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
BẢN VẼ
Bản vẽ 1: 1 - 2 Trắc diện vách hố khai quật 08 Thành Dền [Nguồn: Nguyễn Chiều
và Đoàn khai quật]
Bản vẽ 2: 1 Trắc diện bếp 65.ĐĐ.H2.B29; 2 Bình diện và trắc diện nền 65.ĐĐ.N1 [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]; 3 - 4 Bình diện và trắc diện mộ 65.LH.M7, M14 [Nguồn: 8]
Trang 8Bản vẽ 3: Rìu đá (1, 2, 4 Thành Dền; 3, 6, 9 Đồng Đậu; 5, 7, 9 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 4: Bôn đá (1, 2 Thành Dền; 3 - 10 Đồng Đậu) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp] Bản vẽ 5: 1 - 6 Đục đá; 7 - 10 Dao đá (1 - 3, 7 - 10 Đồng Đậu; 4, Thành Dền; 5,
6 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 6: Bàn mài đá (1 - 4, 6, 9 Thành Dền; 7, 8, 10, 11 Đồng Đậu) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 7: Khuôn đúc đá (1, 2, 7, 11, 21 Đồng Đậu; 3, 4, 8, 9, 10, 12 - 20, 22 Thành Dền; 5 Đồng Dền; 6 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 8: Công cụ đá 1 - 2 Bàn đập; 3 Đe; 4 Chì lưới; 6 - 7 Chày; 8 Bàn nghiền;
9 - 10 Công cụ dạng Sơn Vi; 10 Công cụ dạng Hòa Bình (1, 9, 10 Thành Dền; 3,
7, 8 Đồng Đậu; 4, 6 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 9: Vũ khí đá 1, 6 - 8 Lao; 9 - 14 Giáo; 2 - 4 Mũi tên; 15 - 16 Qua (1 – 3, 7 –
11, 14, 15 Đồng Đậu; 4, 5, 12, 13, 16 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp] Bản vẽ 10: Vòng đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 11: Vòng đá (1 , 6, 7, 9 Thành Dền; 2 - 5; 8, 11, 12 Đồng Đậu) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 12: Đồ trang sức đá 1 - 15 Khuyên tai; 21 - 24 Hạt chuỗi; 20 Nhẫn; 18 -
19 Vật đeo hình răng thú; 16 - 17 Trang sức khác (1 - 11, 14 - 19; 23, 24 Đồng Đậu; 12, 13, 21, 22 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 13: Hiện vật đồng (nhiều địa điểm) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 14: Công cụ và vũ khí xương ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 15: Hiện vật xương ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 16: Dọi se sợi gốm (1 - 3, 9, 10 Đồng Đậu; 4 -7 Thành Dền; 8 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 17: Công cụ sản xuất gốm 1 Bàn xoa; 2 - 4 Nồi nấu đồng; 5, 6 Dọi xe sợi;
7, 8 Lõi khuôn; 9 , 10 Khuôn đúc [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 18: Nồi gốm ở Đồng Đậu [Nguồn: 8]
Trang 9Bản vẽ 19: Nồi gốm (1 Đại Trạch; 2 - 4 Thành Dền; 5, 8 - 10 Đồng Đậu; 6, 11 Vườn Chuối) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 20: Bình gốm (1, 4 - 6 Đồng Đậu; 2, 3 Lũng Hòa) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 21: Hiện vật gốm 1 - 4 Bình; 5 Âu; 6 Lọ; 7 - 8 Nắp; 9 Chậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 22: Bát gốm (1, 3, 4, 8 – 10, 12 Lũng Hòa; 2, 5 Đồng Đậu; 6 Thành Dền,
7, 11 Đình Tràng) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 23: Miệng gốm (nhiều địa điểm) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 24: Chân đế và đáy gốm (nhiều địa điểm) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp] Bản vẽ 25: Hoa văn gốm [Nguồn: 1, 6, 18: 29; 2 - 5, 7 - 17 Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 26: Hoa văn gốm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 27: Hoa văn gốm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 28: Hoa văn gốm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 29: Hoa văn gốm [Nguồn: 1 - 8; 11 - 17 Bùi Hữu Tiến 9: 26; 10: 25]
Bản vẽ 30: Hoa văn gốm [Nguồn: 1, 5 - 15 Bùi Hữu Tiến; 2, 3: 143: 4: 26]
Bản vẽ 31: Hoa văn gốm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 32: Tượng gốm (1, 3, 4, 7 - 9 Đồng Đậu; 2, 5, 6 Thành Dền) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản vẽ 33: Chạc gốm (1 - 3, 5 Lũng Hòa; 4, 6 - 16 Đồng Đậu) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến] Bản vẽ 34: Rìu bôn đá ở Gò Mả Đống, văn hóa Hạ Long, văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 35: Đồ gốm ở di chỉ Gò Mả Đống, văn hóa Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 36: Hiện vật gốm giai đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản vẽ 37: Hiện vật gốm giai đoạn Đồng Đậu điển hình [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Trang 10Bản vẽ 38: Hiện vật gốm giai đoạn Đồng Đậu muộn - Gò Mun sớm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Bản ảnh 5: 1 - 5 Di tích hố đào ở Thành Dền; 6 Hố đất đen ở Thành Dền [Nguồn:
1 - 2: Nguyễn Chiều; 3 - 6: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 6: 1 Di tích bếp ở Đồng Đậu (12.ĐĐ.F22); 2 Di tích bếp ở Vườn Chuối (09.H1.F3) [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 7: 1 Di tích lò nấu đồng ở Thành Dền (10.TD.H1.F9) [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 8: 1 Di tích lò nấu đồng ở Vườn Chuối (09.VC.H1.L2 -3)[Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 9: Mộ táng ở Đồng Đậu (99.ĐĐ.TS1.M1) [Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam]
Bản ảnh 10: 1 - 2 Mộ táng ở Đình Tràng [Nguồn: Lại Văn Tới]; 3 Mộ táng ở Vườn Chuối [Nguồn: 45]
Bản ảnh 11: 1 - 2 Mộ táng ở Thành Dền (96.TD) [Nguồn: 148]
Bản ảnh 12: 1 Cục đất sét ở Thành Dền (08.TD) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]; 2 Đất nung có trang trí hoa văn ở Thành Dền [Nguồn: 148]
Bản ảnh 13: Vết tích động vật ở Đồng Đậu (99.ĐĐ) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 14: Vết tích thực vật ở Đồng Đậu (99.ĐĐ) [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Trang 11Bản ảnh 15: Vết tích lúa gạo, xương ở Thành Dền (10.TD.H3.F13) [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 16: H1 Rìu có vai đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 17: H1 Rìu có nấc, rìu tứ giác ở Đồng Đậu; H2 Phác vật rìu bôn đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 18: H1 Bôn đá, H2 Phác vật rìu bôn đá, H3.1 Đục đá ở Thành Dền; H3.2 Mũi khoan đá ở Vườn Chuối [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 19: Bàn mài đá H1, 2, 4: Địa điểm Thành Dền [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]; H3: Địa điểm Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 20: Khuôn đúc đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 21: Khuôn đúc đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 22: H1 Bàn đập đá ở Thành Dền; H2 Chày đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến] Bản ảnh 23: H1 Vũ khí đá H1, 3 Đồng Đậu; H2 Lũng Hòa [Nguồn: Bùi Hữu Tiến] Bản ảnh 24: Vòng trang sức đá ở Thành Dền [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến] Bản ảnh 25: Vòng trang sức đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 26: Khuyên tai đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 27: H1; 2.1, 3, 4 Khuyên tai đá; H2.2 Khuy đá; H1, 3, 4 Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]; H2 Vườn Chuối [Nguồn: Nguyễn Xuân Mạnh]
Bản ảnh 28: Khuyên tai đá ở Đồng Đậu; H2 Hạt chuỗi đá ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 29: Rìu đồng ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 30: H1 Rìu đồng ở Đồng Đậu; H2 Đục đồng ở Đồng Đậu [Nguồn: 9]; H3 Búa đồng ở Thành Dền [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 31: Bàn chải đồng ở Đồng Đậu [Nguồn: H1: Bùi Hữu Tiến; H2: 9]
Bản ảnh 32: H1 Mũi nhọn đồng ở Đồng Đậu; H2.1 Dao đồng; H2.2 Nạo đồng ở Đồng Đậu [Nguồn: H1: Nguyễn Chiều; H2: 9]
Bản ảnh 33: H1 Dao đồng [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]; H2 Lưỡi câu đồng ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Trang 12Bản ảnh 34: H1 Lao đồng (1, 2, 4 Đồng Đậu; 3 Thành Dền); H2 Mũi tên đồng ở Thành Dền [Nguồn: Đoàn khai quật; ảnh: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 35: Công cụ và vũ khí xương ở Đồng Đậu H1.1 - 2: Dao; H1.3 Mũi nhọn; H2 - 3: Lao [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 36: Hiện vật xương ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 37: Dọi se sợi gốm H1, 2 Thành Dền [Nguồn: Đoàn khai quật; ảnh Bùi Hữu Tiến]; H3 Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 38: H1 - 2 Khuôn đúc gốm; H3 Mảnh nồi nấu đồng gốm; H4 Lõi khuôn gốm ở Thành Dền [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]; H5 Dụng cụ rót đồng gốm ở Đông Lâm [Nguồn: 162]
Bản ảnh 39: Nồi gốm 1 - 4 Lũng Hòa; 5, 7, 8 Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến];
Bản ảnh 42: Tượng nghệ thuật gốm ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 43: Chạc gốm ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 44: Chạc gốm ở Đồng Đậu [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 45: Nồi và chạc gốm ở Lũng Hòa [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản ảnh 46: H1 Chạc gốm ở Thành Dền; H2 Thỏi gốm ở Thành Dền; H3 Hiện vật hình nấm ở Đồng Đậu; H4 Bi gốm ở Thành Dền [Nguồn: Đoàn khai quật, ảnh Bùi Hữu Tiến]
Bản dập 47: Hiện vật gốm giai đoạn Đồng Đậu điển hình [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
DANH MỤC BẢN DẬP
Bản dập 1: Hoa văn gốm trong tầng văn hóa 1 ở Thành Dền [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp] Bản dập 2: Hoa văn gốm trong tầng văn hóa 2 ở Thành Dền [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp] Bản dập 3: Hoa văn gốm trong tầng văn hóa 3 ở Thành Dền [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Trang 13Bản dập 4: Hoa văn gốm giai đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản dập 5: Hoa văn gốm giai đoạn Đồng Đậu điển hình [Nguồn: Bùi Hữu Tiến]
Bản dập 6: Hoa văn gốm giai đoạn Đồng Đậu muộn - Gò Mun sớm [Nguồn: Bùi
Hữu Tiến]
Bản dập 7: So sánh hoa văn gốm văn hóa Đồng Đậu và di tích Thành Lạc [Nguồn: Bùi Hữu Tiến tổng hợp]
Trang 143 Đối tượng, phạm vi, nguồn tư liệu và nội dung các vấn đề cần đi sâu
giải quyết trong luận án
3
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VÀ DI TÍCH
VĂN HOÁ ĐỒNG ĐẬU
16
Trang 152.2.3.1 Cấu tạo địa tầng 23
Trang 16Chương 5 CHỦ NHÂN, NIÊN ĐẠI, CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT
TRIỂN VÀ VỊ TRÍ CỦA VĂN HOÁ ĐỒNG ĐẬU TRONG THỜI
ĐẠI ĐỒNG THAU Ở LƯU VỰC SÔNG HỒNG
107
Trang 175.2 Niên đại văn hóa Đồng Đậu 109
5.1.1 Phân kỳ các giai đoạn phát triển của văn hóa Đồng Đậu 110 5.1.2 Đặc điểm các giai đoạn phát triển của văn hóa Đồng Đậu 112 5.1.2.1 Giai đoạn 1 (Giai đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm) 112
5.3.4 Mối quan hệ với văn hóa Hạ Long, nhóm di tích Tràng Kênh -
Đầu Rằm ở vùng duyên hải Đông Bắc
126
5.3.7 Văn hóa Đồng Đậu trong bối cảnh khu vực Nam Trung Quốc
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa Đồng Đậu là một mắt xích trong phổ hệ văn hóa Tiền Đông Sơn (Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun) và Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng Nghiên cứu về phổ hệ văn hóa này đã có các công trình mang tính tổng hợp như “Văn hóa Phùng Nguyên” của Hán Văn Khẩn, “Văn hóa Gò Mun” của Hà Văn Phùng, “Văn hóa Đông Sơn tính thống nhất và đa dạng” của Phạm Minh Huyền, “Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam” do Hà Văn Tấn làm chủ biên… Để nâng cao nhận thức và góp phần nghiên cứu về thời kỳ văn minh sông Hồng nói riêng và lịch sử dân tộc thời dựng nước nói chung cần có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, tổng hợp và
toàn diện về văn hóa Đồng Đậu Luận án “Văn hóa Đồng Đậu và vị trí của nó trong thời đại đồng thau ở lưu vực sông Hồng” bước đầu hướng tới mục đích đó
Trong quá trình công tác tại Bảo tàng Nhân học và thực hiện luận án, tác giả may mắn khi được tham gia điều tra, khảo sát, thám sát, khai quật, chỉnh lý tư liệu ở nhiều địa điểm quan trọng của văn hóa Đồng Đậu như Thành Dền, Vườn Chuối, Gò
Mỏ Phượng, Gò Dền Rắn, Gò Cây Muỗm, Chùa Gio, Đồng Đậu… Tại một số địa điểm, tác giả được tham gia khai quật nhiều lần, điển hình là Thành Dền, Vườn Chuối Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để tác giả thu thập tư liệu, phát triển các ý tưởng nghiên cứu
Trong khoảng 10 năm từ 2005 đến 2015, tác giả đã được chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học về văn hóa Đồng Đậu, hoặc tham gia các đề tài, dự án, chương trình nghiên cứu có liên quan Năm 2009 và 2012, tác giả đã nhận được tài trợ kinh phí của Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN để triển khai 2 đề tài nghiên cứu khoa
học về hoa văn đồ gốm và nghề luyện kim văn hóa Đồng Đậu Điều này hết sức có
ý nghĩa với tác giả, bởi vì, nhờ những kết quả nghiên cứu chuyên sâu từ các đề tài này mà tác giả đã thực sự nhận thức sâu sắc hơn về một số nội dung quan trọng của
văn hóa Đồng Đậu Bên cạnh đó, khi viết chuyên đề Luyện kim và chế tác đồ đồng
ở Thành Dền (năm 2014) trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia
Hà Nội do PGS.TS Lâm Mỹ Dung làm chủ nhiệm cũng giúp tác giả củng cố, bổ
sung thêm về mặt tư liệu và nhận thức Ngoài ra, khi tham gia Đề án Nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ 2005 - 2009, và đề tài Điều tra, khảo sát lập bản đồ khảo cổ học ở Vĩnh Phúc (2012 - 2014), tác giả cũng
Trang 19có điều kiện điều tra, khảo sát, thu thập tư liệu ở nhiều địa điểm khảo cổ học Đồng Đậu và Tiền Đông Sơn như Tiên Hội, Xuân Kiều, Đình Tràng, Bãi Mèn, Đồng Vông (Hà Nội), Lũng Hòa, Đinh Xá, Đồng Đậu, Đồng Dền, Gò Chùa Biện Sơn (Vĩnh Phúc) Nhờ đó, tác giả có được cái nhìn toàn diện hơn trong việc xác định không gian phân bố của các di tích văn hóa Đồng Đậu
Tại Bảo tàng Nhân học - nơi tác giả công tác đang lưu giữ, trưng bày một hệ thống các sưu tập hiện vật khá phong phú với nhiều chất liệu, loại hình của một số
di tích văn hóa Đồng Đậu tiểu biểu như Thành Dền, Đình Tràng, Chùa Gio, Vườn Chuối, Gò Dền Rắn, Gò Mỏ Phượng… Do đó, tác giả có điều kiện tiếp xúc một cách thường xuyên, liên tục cũng như được nghiên cứu một cách trực tiếp, kỹ lưỡng những tư liệu này trong nhiều năm bên cạnh việc nghiên cứu các sưu tập hiện vật ở các bảo tàng khác (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Vĩnh Phúc, Bảo tàng Đền Hùng, Bảo tàng Hà Nội)
Ngoài ra, qua các chuyến khảo sát thực tế tại một số di tích Tiền sử và thăm quan bảo tàng ở Thái Lan, Campuchia và Lào, tác giả cũng đã thu thập thêm được nhiều tư liệu, phục vụ cho việc nghiên cứu về các mối quan hệ giữa Việt Nam và Đông Nam Á trong thời đại Kim khí nói chung và giai đoạn văn hóa Đồng Đậu nói riêng
Có thể nói, trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã có những điều kiện rất thuận lợi để thu thập, bổ sung, cập nhật, hệ thống hóa nguồn tư liệu về văn hóa Đồng Đậu cũng như từng bước triển khai thực hiện các ý tưởng nghiên cứu chuyên sâu Mặc dù vậy, việc nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu của tác giả cũng gặp nhiều khó khăn Trong đó khó khăn lớn nhất là, tác giả chưa có điều kiện về thời gian và kinh phí để trực tiếp thám sát, khai quật một số di tích văn hóa Đồng Đậu mới chỉ được khảo sát, điều tra sơ bộ Do đó, việc nhận thức về văn hóa Đồng Đậu của tác giả cũng có những hạn chế nhất định Trong luận án này, tác giả sẽ cố gắng trình bày lại một cách chính xác và trung thực khối tư liệu cũng như những ý kiến, nhận định của các nhà nghiên cứu trước bên cạnh việc đưa ra những nhận thức, quan điểm, ý tưởng riêng
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Hệ thống hóa toàn bộ tư liệu và kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về
văn hóa Đồng Đậu nhằm cung cấp những tư liệu tổng hợp, cập nhật, đảm bảo tính chính xác, khoa học, khách quan
Trang 202.2 Phân tích, diễn giải hệ thống tư liệu nhằm nhận diện các nét đặc trưng cơ
bản; sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như đời sống vật chất và tinh thần của cư dân văn hóa Đồng Đậu
2.3 Làm rõ vấn đề nguồn gốc và quá trình phát triển của văn hóa Đồng Đậu 2.4 Tìm hiểu các mối quan hệ của văn hóa Đồng Đậu trong không gian và
thời gian
3 Đối tƣợng, phạm vi, nguồn tƣ liệu và các vấn đề cần đi sâu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là các di tích, di vật thuộc văn hóa Đồng Đậu Thực tế, có nhiều địa điểm khảo cổ học thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án mới chỉ được điều tra, khảo sát sơ bộ, hoặc đã được khai quật nhưng nguồn
tư liệu vẫn chưa được công bố đầy đủ, hoặc mới chỉ dừng lại ở báo cáo sơ bộ Do vậy, tác giả tập trung những nghiên cứu ở một số di tích tiêu biểu, điển hình nhất cho các khu vực, các giai đoạn, có địa tầng rõ ràng như Đồng Đậu, Lũng Hòa (Vĩnh Phúc), Thành Dền, Đình Tràng, Vườn Chuối, Gò Mỏ Phượng, Gò Dền Rắn, Chùa Gio, Đồng Dền (Hà Nội), Đại Trạch (Bắc Ninh), Gò Diễn (Phú Thọ), Đông Lâm (Bắc Giang)
Bên cạnh việc khai thác nguồn tư liệu thu được từ các cuộc khai quật khảo
cổ học, tác giả còn liên hệ so sánh các di tích, di vật văn hóa Đồng Đậu trong mối quan hệ lịch đại (văn hóa Phùng Nguyên, nhóm di tích Gò Mả Đống - Gò Con Lợn, văn hóa Hạ Long, văn hóa Gò Mun ) và đồng đại (nhóm di tích Đồng Ngầm ở lưu vực sông Mã; nhóm di tích Tràng Kênh - Đầu Rằm ở Quảng Ninh; các di tích ở Đông Nam Á lục địa và Nam Trung Quốc )
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi nghiên cứu của luận án: nghiên cứu các di tích, di vật của văn hóa Đồng Đậu nhằm làm rõ những đặc trưng cơ bản; và nhận thức về vai trò, vị trí của văn hóa Đồng Đậu trong thời đại Kim khí ở lưu vực sông Hồng
- Về không gian, thời gian: luận án tập trung nghiên cứu các di tích văn hóa Đồng Đậu đã được điều tra, khảo sát, khai quật ở lưu vực sông Hồng gồm các tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh và Bắc Giang trong khoảng thời gian từ khoảng 3500 - 3000/2900 năm cách ngày nay
Trang 213.3 Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án
- Nguồn tư liệu sử dụng chủ yếu là báo cáo của các cuộc điều tra, khảo sát,
thám sát, khai quật khảo cổ học; các bài viết đăng trên tạp chỉ Khảo cổ học và Kỷ yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học xuất bản hàng năm; các sách chuyên khảo,
đề tài khoa học đã công bố và một số bài viết đăng trên các tạp chí và kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án
- Những kết quả chỉnh lý hiện vật, nghiên cứu của tác giả về văn hóa Đồng Đậu từ 2005 đến nay
3.4 Các vấn đề cần đi sâu nghiên cứu
- Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của văn hóa Đồng Đậu biểu hiện qua những di tích, di vật
- Những biến đổi trong cấu trúc kinh tế xã hội và đời sống cư dân cổ trong giai đoạn văn hóa Đồng Đậu Lý giải nguyên nhân/động lực tạo ra sự biến đổi
- Xác định, đánh giá vai trò của những yếu tố văn hóa khác nhau tham gia vào sự hình thành văn hóa Đồng Đậu
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các cách tiếp cận: luận án sử dụng cách tiếp cận lịch sử văn hóa, vận
dụng các quy luật của duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để nhìn nhận, phân tích, lý giải sự vận động và những chuyển biến của văn hóa, lịch sử trong thời kỳ Đồng Đậu Đặc biệt, luận án còn sử dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết mạng, lý thuyết khan hiếm, lý thuyết trung tâm và ngoại vi, tiếp cận nghiên cứu biểu tượng
để nghiên cứu về cấu trúc kinh tế -xã hội, đời sống cư dân Đồng Đậu cũng như các mối quan hệ văn hóa
4.2 Phương pháp nghiên cứu sử dụng chính trong luận án là phương pháp
nghiên cứu liên ngành: kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khảo
cổ học (thống kê, khảo tả, đo vẽ, chụp ảnh, so sánh đồng đại, lịch đại….) với các phương pháp của ngành khoa học tự nhiên (phân tích quang phổ, AMS, C14, phân tích thành phần hóa học, phương pháp phân tích khoáng vật đá…)
5 Kết quả, đóng góp của luận án
5.1 Xây dựng một hệ thống tư liệu tương đối đầy đủ và toàn diện phục vụ cho
việc nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu nói riêng và thời kỳ dựng nước nói chung
Trang 225.2 Nêu được các nét đặc trưng cơ bản về di tích và di vật của văn hóa Đồng Đậu 5.3 Bước đầu phác dựng lại được bức tranh kinh tế, xã hội và đời sống vật
chất, tinh thần của cư dân Đồng Đậu trong bối cảnh thời đại kim khí ở lưu vực sông Hồng Trên cơ sở phân tích di tích, di vật nêu bật được vai trò then chốt của nghề luyện kim trong sự chuyển biến cấu trúc kinh tế xã hội của thời kỳ này
5.4 Làm rõ việc phân kỳ cũng như đặc điểm các giai đoạn phát triển của văn
hóa Đồng Đậu
5.5 Phân tích, lý giải và làm sáng tỏ vấn đề nguồn gốc của văn hóa Đồng
Đậu cũng như các mối quan hệ đồng đại, lịch đại của văn hóa này Từ đó, góp phần làm rõ thêm về vấn đề nguồn gốc của phổ hệ văn hóa Tiền Đông Sơn và Đông Sơn
6 Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu (5 trang), kết luận (7 trang), nội dung chính của luận án (147 trang) được chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu văn hóa Đồng Đậu (10 trang)
Chương 2: Đặc điểm môi trường sinh thái và di tích văn hóa Đồng Đậu (18 trang) Chương 3: Các di vật văn hóa Đồng Đậu (39 trang)
Chương 4: Cấu trúc kinh tế xã hội và đời sống cư dân Đồng Đậu (34 trang) Chương 5: Chủ nhân, niên đại, các giai đoạn phát triển và vị trí của văn hóa Đồng Đậu trong thời đại đồng thau ở lưu vực sông Hồng (37 trang)
Ngoài ra, trong luận án còn có các mục: danh mục công trình của tác giả luận
án, tài liệu tham khảo và phụ lục minh họa
Trang 23Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ĐỒNG ĐẬU
Trong hơn 50 năm qua, văn hóa Đồng Đậu đã trở thành chủ đề khoa học giành được
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, thể hiện ở sự đầu tư ngày càng lớn cả về kinh phí, thời gian lẫn công sức cho việc điều tra, khảo sát, khai quật các di tích cũng như nghiên cứu Nhờ đó, quá trình nhận thức về văn hóa Đồng Đậu cũng ngày càng đi vào chiều sâu, tuy nhiên, trên các phương diện khác nhau cũng còn không ít vấn đề cần phải tiếp tục tìm hiểu, làm sáng rõ hơn Trên những nét chung nhất, có thể chia lịch sử nghiên cứu văn hóa Đồng Đậu làm hai giai đoạn
1.1 Giai đoạn từ 1962 - 1971
Giai đoạn này mở đầu bằng sự kiện phát hiện địa điểm khảo cổ học Đồng Đậu tại thôn Đông, thị trấn Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc vào năm 1962 Đến năm 1965, di tích này đã được Đội khảo cổ thuộc Bộ Văn hóa khai quật lần thứ nhất với tổng diện tích 200m2 Trong tầng văn hóa dày từ 2,6 - 3,2m đã phát hiện vết tích bếp, nền đất đắp,
mộ, hố đào cùng trên 800 hiện vật bằng đá, đồng, xương, gốm, tàn tích của động và thực vật Những người khai quật đã cho rằng, ngoài vết tích của thế kỷ IV - V thuộc lớp 1, thì tầng văn hóa (L2 - 5) có sự diễn biến sớm muộn khác nhau từ dưới lên trên, trong đó lớp 2, 3, 4 thuộc về thời đại đồng thau, lớp 5 có thể thuộc hậu kỳ đá mới hoặc
sơ kỳ đồng thau [24] Năm 1967, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành khai quật di tích này lần thứ hai với diện tích 50m2 Kết quả đã phát hiện được nhiều hiện vật và các dấu tích hoạt động khác nhau của con người, đặc biệt lần đầu tiên thấy dấu vết lò đúc đồng nằm cùng 3 khuôn đúc rìu khá nguyên vẹn Có thể nói, những nhận thức ban đầu
về diễn biến tầng văn hóa và hiện vật từ các cuộc khai quật ở di tích Đồng Đậu có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu các di tích thuộc thời đại đồ đồng phát hiện được ở khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ cũng như quá trình phát triển của các văn hóa Tiền Đông Sơn
Tính đến năm 1967, đã có 14 địa điểm1 được xác định thuộc văn hóa Đồng Đậu được phát hiện ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Nội, Phú Thọ, trong đó có 9 địa điểm đã được thám
1 Lũng Hòa (1963), Từ Sơn (1963), Đồng Dền (1965), Chùa Gio (An Thượng) (1967), Gò Chùa (1966), Gò Chè (1965), Ô Rô (1965), Thọ Sơn (1967), Gß Ch¸y (1967), Đồng Vông (1965), Đồng Đậu (1962), Đồi Đà (1962) Có 2 địa điểm thuộc văn hóa Đồng Đậu đã được phát hiện năm 1961 (trước khi di tích văn hóa Đồng Đậu được phát hiện) là Đồng Đậu con, Đồng Sấu (Bảng 1)
Trang 24sát, khai quật bao gồm Lũng Hòa, Từ Sơn, Đồng Dền, Chùa Gio, Gò Chùa và Gò Chè, Đồng Sấu, Ô Rô, Thọ Sơn1
Từ năm 1968 đến 1971, Viện Khảo cổ học triển khai đề tài “Hùng Vương dựng nước” Công tác nghiên cứu văn hóa Đồng Đậu được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả
Một số di tích quan trọng đã phát hiện, nghiên cứu từ giai đoạn trước tiếp tục khai quật với quy mô lớn đã bổ sung thêm nhiều tư liệu và nhận thức mới như Đồng Đậu, Đồng Dền, Đồng Vông2 Bên cạnh việc tiếp tục nghiên cứu các di tích đã biết, công tác điều tra, khảo sát cũng được đẩy mạnh, do vậy đã phát hiện thêm 9 di tích3 thuộc văn hóa Đồng Đậu ở Hà Nội, Bắc Giang và Phú Thọ, trong đó một số địa điểm đã được khai quật như Bãi Mèn, Đình Tràng, Tiên Hội, Vườn Chuối , Đông Lâm4
Như vậy, sau 10 năm nghiên cứu (1962 - 1971) đã có 24 di tích là di chỉ cư trú, hoặc di chỉ cư trú - mộ táng, hay di chỉ xưởng chế tác đá thuộc văn hóa Đồng Đậu được phát hiện và nghiên cứu (Bảng 1) Đây là cơ sở khoa học để các nhà nghiên cứu thảo luận và xác lập khái niệm văn hóa Đồng Đậu Từ kết quả khai quật di tích Đồng Đậu
và Đồng Dền, có ý kiến cho rằng, có đủ cơ sở để xác định một nền văn hóa khảo cổ thuộc trung kỳ thời đại đồ đồng, đó là văn hóa Đồng Đậu [9, 225] Sau đó, Lê Xuân Diệm (1970) đã có một bài viết mang tính khái quát về văn hóa Đồng Đậu Tác giả đã chỉ ra một số nét đặc trưng cơ bản của giai đoạn Đồng Đậu, trong đó tác giả nhấn mạnh đến sự phát triển của nghề luyện kim và chế tác đá, sự thay đổi của kỹ thuật và phong cách trang trí
đồ gốm [25:164] Trong lời tựa giới thiệu bài nghiên cứu của Lê Xuân Diệm, toà soạn tạp chí Khảo cổ học cho rằng, đa số các nhà nghiên cứu đã thừa nhận: giữa văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Gò Mun có một nền văn hóa Đồng Đậu [25, tr.154] Hà Văn Tấn cho rằng: “Có thể coi giai đoạn Đồng Đậu là giai đoạn trung kỳ thời đại đồng thau ở Việt Nam” [174, tr.19]
Bên cạnh đa số các ý kiến nhận định có một nền văn hóa Đồng Đậu hay giai đoạn văn hóa Đồng Đậu, cũng có ý kiến cho rằng, đấy chỉ là một nhóm di tích tương đương với nhóm/loại hình Chùa Gio của văn hóa Phùng Nguyên Cùng với nhóm Chùa Gio thì nhóm
di tích Đồng Đậu lớp giữa là thành phần chủ đạo tham gia hình thành nên văn hóa Gò Mun
1 Lũng Hòa (1963: 3m2; 1965: 365m2), Từ Sơn (1963: 2m2; 1965: 448m2), Đồng Dền (1965: 159 m2), Chùa Gio (1967: 202
m2), Gò Chùa và Gò Chè (1966: 50m2), Đồng Sấu (1966: 200m 2 ), Ô Rô (1967: 6m2), Thọ Sơn (1967: 10m 2 )
Trang 25[166, tr.38] Tuy nhiên, quan điểm này đã có sự thay đổi trong các công trình sau đó của tác giả bài viết với việc công nhận và sử dụng khái niệm văn hóa Đồng Đậu [171]
1.2 Giai đoạn từ 1972 đến nay
Từ đầu những năm 1972 tới nay, các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nội dung của văn hóa Đồng Đậu Nhiều đợt điều tra, khảo sát ở khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ tiếp tục được triển khai, và thu được nhiều kết quả Các nhà khảo cổ đã phát hiện thêm 19 địa điểm thuộc văn hóa Đồng Đậu1 (Bảng 1) Để bổ sung tư liệu, nhiều cuộc thám sát, khai quật đã được thực hiện, trong đó một số di tích đã được đầu tư khai quật nhiều lần, với tổng diện tích lên tới hàng trăm mét vuông, đã cung cấp một nguồn tư liệu phong phú cho việc nghiên cứu văn hóa Đồng Đậu như Đồng Đậu, Thành Dền, Đình Tràng, Vườn Chuối, Bãi Mèn, Đồng Vông, Bãi Tự2 Nhìn chung, do có nhiều điều kiện thuận lợi hơn về kinh phí, nên việc khai quật cũng ngày càng được tiến hành tốt hơn Một mặt, với việc tăng cường sử dụng phương pháp rây đãi đất trong các di tích (bếp, hố đất đen ), các nhà khảo cổ đã thu thập một cách triệt để hơn các hiện vật nhỏ như thóc gạo, xương cá, tôm Hơn nữa, các mẫu đất (Đại Trạch 2001, Đồng Đậu 1999, Thành Dền 2010, Đình Tràng 2010) cũng được chú ý thu thập để nghiên cứu bào tử phấn hoa nhằm làm rõ hơn về môi trường cổ Mặt khác, công tác xử lý, nghiên cứu hậu khai quật được quan tâm và đầu tư nhiều kinh phí hơn Nhiều mẫu than được gửi tới các phòng thí nghiệm trong và ngoài nước để xác định niên đại C14, AMS (Đồng Đậu 1999, Đại Trạch 2001, Thành Dền 2010 ) Một số dự án, đề tài nghiên cứu, chương trình hợp tác quốc tế được triển khai, nhờ đó, nhiều mẫu hiện vật từ các địa điểm văn hóa Đồng Đậu và một số di tích có liên quan đã được phân tích bằng các phương pháp khoa học tự nhiên như phân tích khoáng vật đá (Thành Dền, Vườn Chuối, Chùa Gio, Tràng Kênh), phân tích quang phổ các mẫu đồng (Thành Dền, Vườn Chuối), phân tích mẫu gốm bằng phương pháp thạch học, phương pháp nhiệt huỳnh quang, phương pháp kích hoạt
Nơtron (Đồng Đậu, Thành Dền) Có thể nói, công tác thu thập, xử lý và nghiên cứu tư liệu khai quật đã được thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ, khoa học, khách quan với tính chất liên ngành cao, và bước đầu có sự tham gia ngày càng nhiều hơn của các chuyên gia quốc
tế, nhờ đó, nhận thức về văn hóa Đồng Đậu cũng được nâng lên một bước
1 Bao gồm: Mã Lao (1974), Nội Gan (1973), Gò Diễn (1973), Xuân Kiều (1973), Giang Xá (1979), Lũng Hồng (1976), Kim Ngọc (1974), Bãi Tự (1973), Mão Sơn (1976), Chùa Lái (1974), Thùng Lò (1976), Đồng Bạch (1976), Lũng Sơn (1976), Bãi Miếu (1976), Đồng Phố (1976), Đại Trạch (1990), Gò Mỏ Phượng (2010), Gò Dền Rắn (2010), Gò Cây Muỗm (2010)
2
Đồng Đậu (1984: 108m2; 1987: 15m2; 1999: 70m2; 2012: 15m2), Thành Dền (1983: 50m2; 1984: 62m2; 1996: 28m2; 2004: 36m2; 2008: 40m2; 2009: 40m2; 2010: 300m2; 2013: 20m2), Đình Tràng (6 đợt: 528,25m 2 ), Vườn Chuối (2001: 74m 2 ; 2009: 60m2; T6 - 7/2011: 300m2; T12/2011: 35m2), Bãi Mèn (1978: 270m2; 1997: 22,5m2; 2003: 842m2); Đồng Vông (1977: 283m2, 1997: 10,50m2; 2003: 350m2) ; Bãi Tự (1974: 100m2; 1983: 50m2)
Trang 26Từ năm 1970 tới nay, số lượng công trình nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu cũng nhiều hơn Các công trình nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu chủ yếu là các bài viết đăng
trên tạp chí chuyên ngành Khảo cổ học và trong 4 tập kỷ yếu hội nghị “Hùng Vương Dựng
Nước” Năm 2002, Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Vĩnh Phúc
tổ chức hội thảo khoa học “40 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Đồng Đậu (1962 - 2002)” Hội thảo đã thu hút sự quan tâm, sự hưởng ứng nhiệt tình của các nhà khoa học
Đã có tới 41 bài viết đề cập tới các khía cạnh khác nhau của văn hóa Đồng Đậu, toàn văn của những tham luận này đã được tập hợp, giới thiệu đầy đủ trong cuốn kỷ yếu được xuất bản năm 2003 Bên cạnh các bài viết, trong giai đoạn này đã có một số ấn phẩm về văn hóa Đồng Đậu được xuất bản
Nghiên cứu về đặc trưng phân bố của di tích văn hóa Đồng Đậu là nội dung đã được
đề cập tới trong một số công trình, trong đó đáng chú ý nhất là bài viết “Các di tích văn hóa Đồng Đậu - mối liên hệ sớm muộn” của Nguyễn Xuân Mạnh (2003) Trong công trình này, tác giả đã tập hợp, thống kê lại đầy đủ nhất các di tích Đồng Đậu được công bố, nêu các đặc điểm phân bố, sự giống và khác nhau của nhóm di tích thuộc giai đoạn Đồng Đậu sớm và nhóm di tích thuộc giai đoạn Đồng Đậu phát triển [122] Nhờ đó, chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về không gian phân bố của văn hóa Đồng Đậu (Sơ đồ 1, 2)1 Tuy nhiên, trong danh mục thống kê này có một số di tích cần phải thảo luận thêm khi xếp vào văn hóa Đồng Đậu như: Gò Chùa Biện Sơn, Đồng Dền, Núi Xây (Vĩnh Phúc), Tràng Kênh (Hải Phòng), Mán Bạc, Chợ Gành (Ninh Bình) Khi tiến hành xây dựng danh mục các di tích của văn hóa Đồng Đậu, trên cơ sở nghiên cứu tư liệu, tác giả đã đánh giá lại các địa điểm đã công bố dựa chủ yếu vào tiêu chí đồ gốm2 kết hợp với các loại di tích, di vật khác Theo đó, với tư liệu hiện biết thì Núi Xây, Gò Chùa Biện Sơn, Đồng Dền (Vĩnh Phúc) không đáp ứng được tiêu chí này, vì vậy chúng không thuộc phạm trù của văn hóa Đồng Đậu Với di tích Gò Chùa Biện Sơn và Đồng Dền, tác giả cho rằng cần phải khai quật để thu thập thêm tư liệu, nhằm xác định rõ hơn niên đại của những di tích này Với các địa điểm như Tràng Kênh (Hải Phòng), Mán Bạc (Ninh Bình), theo ý kiến chung hiện nay của các nhà nghiên cứu, những di tích này là kết quả của sự giao thoa của nhiều luồng văn hóa khác nhau Trong đó những yếu
tố “Đồng Đậu” lại khá mờ nhạt so với các yếu tố văn hóa khác, vì vậy nếu xếp chúng vào văn hóa Đồng Đậu thì chưa đủ sức thuyết phục
Về nội dung này, còn có một bài viết của Nguyễn Anh Tuấn về “Văn hóa Đồng Đậu ở Phú Thọ” Trên cơ sở nghiên cứu sự phân bố tầng văn hóa của các di tích Đồng Đậu ở Phú Thọ, tác giả đã nhận ra có một xu hướng chuyển cư và phân tán của người Việt cổ khỏi khu vực
1 Sơ đồ 1: có 41 di tích Địa điểm Gò Diễn được thể hiện ở sơ đồ 2
2 Theo đó, di tích thuộc văn hoá Đồng Đậu, thì đồ gốm phải có các kiểu miệng và hoa văn đặc trưng của văn hóa này Chẳng hạn như, về hoa văn thì phải có văn khuông nhạc, văn in hình hạt, văn đan
Trang 27này vào giai đoạn văn hóa Đồng Đậu [216, 217] Cũng theo hướng nghiên cứu một cụm di tích, Lại Văn Tới đã tập trung tìm hiểu, phân tích về đặc điểm phân bố của nhóm di tích văn hóa Đồng Đậu ở khu vực Cổ Loa cũng như các đặc trưng về di tích, di vật [210]
Một nội dung quan trọng được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu là các hoạt động kinh tế của cư dân Đồng Đậu, đặc biệt là nông nghiệp, nghề đúc đồng và nghề làm gốm Về nông nghiệp, số lượng bài nghiên cứu không có nhiều, trong đó nổi bật là bài viết “Về những hạt gạo cháy phát hiện ở Đồng Đậu (Vĩnh Phúc) 1984” của Đào Thế Tuấn
và “Tư liệu Thành Dền (Mê Linh, Hà Nội) liên quan đến trồng lúa nước ở châu thổ Bắc Bộ thời văn minh sông Hồng” của Lâm Mỹ Dung, Bùi Hữu Tiến (2010) Những công trình này
đã tập hợp, công bố những vết tích lúa gạo tìm được ở hai địa điểm khảo cổ quan trọng nhất của văn hóa này là Đồng Đậu và Thành Dền Ngoài ra, trong đề tài nghiên cứu “Luyện kim đồng, chế tác đồ đồng và nông nghiệp trồng lúa ở châu thổ Sông Hồng qua nghiên cứu di tích Khảo cổ học Thành Dền (Mê Linh - Hà Nội)”, các tác giả đã công bố một cách hệ thống toàn bộ những tư liệu liên quan đến nghề trồng lúa (gạo cháy, vỏ trấu, bào tử phấn hoa ) ở Thành Dền và một số di tích thuộc văn hóa Đồng Đậu
Luyện kim cũng là một trong những nội dung trọng tâm trong nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu Vì vậy, vấn đế này đã sớm thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tới nay, đã có một số công trình nghiên cứu về nghề luyện kim giai đoạn văn hóa Đồng Đậu Để hiểu rõ kỹ thuật chế luyện kim loại, nhiều mẫu đồng thuộc văn hóa Đồng Đậu đã được phân tích bằng phương pháp quang phổ [27, 45, 159, 202] Bên cạnh hướng nghiên cứu về thành phần hợp kim, một số học giả còn tìm hiểu kỹ thuật chế tạo khuôn đúc [175, tr.206 - 207], hay kỹ thuật và quy trình chế tác hiện vật [190, tr.156 - 161] Đặc biệt, trong một số công trình viết về các di tích tiêu biểu của văn hóa này như Đồng Đậu [13], Thành Dền [44], thì nghề luyện kim ở những di tích này cũng được nghiên cứu khá
kỹ Cần nhấn mạnh rằng, Đồng Đậu và Thành Dền đều là những di tích luyện kim quan trọng nhất của văn hóa Đồng Đậu, vì vậy, những kết quả nghiên cứu ở các di tích này đã
có đóng góp thiết thực về mặt tư liệu cũng như nhận thức về lịch sử phát triển của nghề luyện kim giai đoạn Tiền Đông Sơn
Nghiên cứu về loại hình đồ đồng cũng từng bước được các nhà khoa học chú ý Trong bài nghiên cứu “Văn hóa Đồng Đậu - một bước phát triển của thời kỳ Hùng Vương” và “Các bước phát triển của giai đoạn văn hóa Đồng Đậu”, các tác giả đã giới thiệu các loại hình di vật đồng của văn hóa này Tuy nhiên, do tư liệu lúc đó còn ít, nên có thể nhận thấy, bộ hiện vật đồng được các tác giả đề cập là chưa đầy đủ, thiếu khuyết nhiều loại hình so với những tư liệu hiện nay Trong bài viết “Đồng Đậu, một bước nhảy vọt của nghề đúc đồng”, Trịnh Sinh đã thống kê 10 loại hình đồ đồng Công trình “Khảo cổ học Việt Nam tập II, Thời đại Kim khí”
Trang 28và “Cơ sở khảo cổ học” cùng giới thiệu 12 loại hình đồ đồng của văn hóa Đồng Đậu Tác giả cho rằng, để có cái nhìn đầy đủ về các loại hình đồ đồng văn hóa Đồng Đậu thì cần thiết phải tập hợp, hệ thống hóa tư liệu, và đặc biệt là cần cập nhật những tư liệu mới
Ngoài các nội dung trên, gần đây có một số bài nghiên cứu đã bước đầu đề cập tới vấn đề vai trò của nghề luyện kim giai đoạn Đồng Đậu Các tác giả Trịnh Sinh, Chử Văn Tần đã đi vào tìm hiểu ảnh hưởng của nghề luyện kim tới các hoạt động kinh tế [160, 161,
163, 169, 171] Nhìn chung, những nghiên cứu về tác động của đồ đồng tới các hoạt động kinh tế mới chỉ được các tác giả nhìn nhận ở mặt trực tiếp, mà chưa nghiên cứu ở khía cạnh tác động gián tiếp nên sự đánh giá chưa mang tính toàn diện Mặt khác, trong công trình này các tác giả mới chỉ phân tích những tác động của đồ đồng tới các lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp, nghề dệt vải và se sợi, nghề mộc, săn bắt, đánh cá, đã bỏ qua/chưa đề cập tới những tác động của nghề luyện kim, của đồ đồng tới nhiều lĩnh vực sản xuất khác như nghề đan lát, nghề làm gốm, nghề chế tác đá, nghề chế tác đồ xương, hay thương nghiệp (trao đổi, mua bán) Chính vì những lý do trên, có ý kiến cho rằng, “đồ đồng còn đóng vai trò rất ít trong sản xuất nói chung và nông nghiệp nói riêng” [160, tr.21, 163, tr.51] Xung quanh luận điểm này, tác giả cho rằng, cần thiết phải có sự phân tích, thảo luận thêm Một điểm cần nhấn mạnh là, các nhà nghiên cứu cũng mới chỉ tìm hiểu những ảnh hưởng của nghề đúc đồng trên khía cạnh kinh tế, mà chưa nghiên cứu những tác động to lớn của nó ở khía cạnh
xã hội
Mặc dù tiếp cận theo các hướng khác nhau, nhưng, các nhà nghiên cứu đều có quan điểm chung là, đánh giá rất cao sự phát triển của nghề luyện kim trong giai đoạn văn hóa Đồng Đậu [4, 202, 236, tr.82] Nhìn chung, nghiên cứu về vấn đề luyện kim và chế tác đồ đồng giai đoạn văn hóa Đồng Đậu còn ít, và mới chỉ mang tính khái quát dựa vào việc giới thiệu một số loại hình đồ đồng, hay một số khuôn đúc, hoặc dựa vào kết quả phân tích thành phần kim loại của một số mẫu đồng, từ đó nêu lên một số vấn đề về kỹ thuật chế tác kim loại, hay những ảnh hưởng của nghề luyện kim tới tình hình kinh tế, mà chưa đi vào nghiên cứu một cách toàn diện về nghề luyện kim Hơn nữa, trong một số vấn đề nghiên cứu, sự nhìn nhận đôi khi còn có phần phiến diện, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc mới chỉ đề cập lướt qua, đặc biệt là
ở khía cạnh nghiên cứu vai trò của nghề luyện kim Nhận thức được rằng, luyện kim là một nội dung “then chốt” về văn hóa Đồng Đậu, vì vậy, trong 10 năm qua, tác giả luận án cũng đã
cố gắng tập trung đi sâu nghiên cứu về nghề thủ công này [202]
Về nghề làm gốm trong văn hóa Đồng Đậu cho tới nay chưa có công trình chuyên khảo chung, tuy nhiên đã có một số bài viết, sách về các khía cạnh khác nhau của đồ gốm Tác giả Phạm Lý Hương đã nghiên cứu sâu về chất liệu gốm ở di chỉ Đồng Đậu, Thành Dền qua việc ứng dụng các phương pháp khoa học tự nhiên [81] Nghiên cứu về đồ gốm văn hóa
Trang 29Đồng Đậu phải kể đến một số công trình khảo tả về hoa văn Tác giả Hoàng Văn Khoán trong bài viết “Nghề đan của người Đồng Đậu” đã tập trung nghiên cứu về loại hoa văn đan
in trên đáy đồ gốm, từ đó đã nhận ra các kiểu đan, luật đan khác nhau mà thợ thủ công Đồng Đậu sử dụng Bài viết đã bổ sung thêm cho chúng ta một số hiểu biết, nhận thức mới về nghề đan - một nghề thủ công khá phát triển lúc đó Trong quá trình nghiên cứu văn hóa Đồng Đậu, tác giả luận án cũng đã giành nhiều thời gian đề khảo cứu toàn diện về hoa văn
đồ gốm của văn hóa này [199]
Liên quan tới vấn đề đồ gốm, còn có bài viết của Hán Văn Khẩn và Nguyễn Xuân Mạnh (1991) về diễn biến của đồ gốm ở di chỉ Đồng Đậu [96] Trong bài viết này, tư liệu về
đồ gốm của đợt khai quật lần thứ 5 ở di chỉ này đã được các tác giả phân loại, nghiên cứu rất
kỹ lưỡng dưới nhiều góc độ khác nhau về chất liệu, màu sắc, loại hình, hoa văn Sự diễn biến
đồ gốm ở đây là tài liệu so sánh tin cậy để đối chiếu, tìm hiểu diễn biến của đồ gốm ở các di tích khác của văn hóa Đồng Đậu cũng như của đồ gốm thuộc thời đại đồng thau ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ Ngoài các công trình đã nêu ở trên, còn có bài viết về một loại di vật độc đáo của người Việt cổ, đó là chạc gốm Hà Văn Phùng đã nhận diện, phân loại, miêu tả những đặc điểm riêng về chạc gốm của văn hóa Đồng Đậu trong hệ thống chạc gốm chung của văn hóa Tiền Đông Sơn và Đông Sơn Ngoài ra, trong một số công trình chung khác viết về nghề làm gốm của thời đại Kim khí ở Miền Bắc cũng đề cập tới nghề làm gốm của giai đoạn văn hóa Đồng Đậu như “Nghề gốm - một nghề thủ công thời Hùng Vương” của Hà Văn Tấn và Phạm Lý Hương; “Đồ gốm hệ thống Phùng Nguyên - Đông Sơn ở châu thổ sông Hồng” của Hán Văn Khẩn
Nghiên cứu về nghề chế tác đá đã đạt được nhiều thành tựu Năm 1996, cuốn sách
“Công xưởng và kỹ thuật chế tạo đồ trang sức bằng đá thời đại đồng thau ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Kim Dung được xuất bản Trong ấn phẩm này các công xưởng chế tác đá của giai đoạn văn hóa Đồng Đậu, đặc biệt là công xưởng Bãi Tự, Hồng Đà đã được tác giả nghiên cứu, phân tích kỹ dưới các khía cạnh về loại hình sản phẩm, kỹ thuật và quy trình chế tác, mối quan hệ trao đổi, giao lưu với các di tích đồng đại trong khu vực
Nghiên cứu về nghề se sợi và dệt vải thời Tiền Đông Sơn và Đông Sơn có bài nghiên cứu đăng trên tạp chỉ Khảo cổ học số 2 năm 1994 Trong công trình này, Hà Văn Phùng đã tập hợp, phân loại và so sánh các loại hình dọi se sợi tìm được trong các văn hóa khác nhau thuộc thời đại Kim khí ở khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ, qua đó đã phần nào làm nổi bật được vị trí của nghề se sợi và dệt vải giai đoạn Đồng Đậu trong quá trình phát triển nghề thủ công này
Bên cạnh các vấn đề về kinh tế, việc nghiên cứu các mối quan hệ của văn hóa Đồng Đậu cũng được các nhà khoa học quan tâm, thảo luận Trong tập kỷ yếu hội thảo về văn hóa
Trang 30Đồng Đậu đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới mối quan hệ của văn hóa Đồng Đậu theo không gian Trong khi các bài viết của Nguyễn Anh Tuấn, Lại Văn Tới đã tập trung làm
rõ mối quan hệ giữa văn hóa Đồng Đậu với nhóm di tích ở Phú Thọ, khu di tích Cổ Loa, thì bài nghiên cứu của Nguyễn Kim Dung lại gợi ra mối quan hệ của văn hóa Đồng Đậu với các
di tích ở vùng duyên hải Đông Bắc như Tràng Kênh, Đầu Rằm; xa hơn nữa bài viết của tác giả Nguyễn Việt và Ngô Thế Phong đã thảo luận về mối quan hệ của văn hóa này với các di tích ở khu vực sông Mã, sông Chu như Thiệu Dương (lớp dưới), Đồng Ngầm, Đan Nê Thượng, Quỳ Chử (lớp dưới), Núi Nấp Theo chiều lịch đại, một số công trình đã đi sâu vào mối quan
hệ giữa văn hóa Đồng Đậu với các văn hóa trước và sau nó Năm 2004, chúng ta được biết đến công trình “Văn hóa Phùng Nguyên” của Hán Văn Khẩn Công trình này đã phân tích làm
rõ các nét đặc trưng riêng về di tích, di vật của các địa điểm khảo cổ thuộc giai đoạn chuyển tiếp từ Phùng Nguyên lên văn hóa Đồng Đậu
Nhiều công trình về văn hóa Đồng Đậu đều cho rằng, trong sự hình thành văn hóa Đồng Đậu, ngoài yếu tố Phùng Nguyên đóng vai trò cốt lõi, còn có sự tham gia tích cực của các yếu tố văn hóa ngoại sinh mà những nghiên cứu bước đầu đã xác định được nhóm di tích
Mả Đống - Gò Con Lợn [101, 184] Bên cạnh đó đã có những tư liệu cũng gợi ý rằng, yếu tố văn hóa Hạ Long cũng tham góp vào quá trình hình thành văn hóa Đồng Đậu [199, 200]
Trong công trình “Văn hóa Gò Mun”, tác giả Hà Văn Phùng đã dựa vào tài liệu địa tầng, di tích, di vật thuộc lớp chuyển tiếp từ văn hóa Đồng Đậu sang văn hóa Gò Mun của các địa điểm khảo cổ như Đồng Đậu, Thành Dền, Vườn Chuối, Đồng Dền để phân tích làm rõ một số đặc điểm của giai đoạn sớm của văn hóa Gò Mun và mối quan hệ mang tính nguồn gốc của văn hóa Đồng Đậu với văn hóa này
Phân chia các giai đoạn văn hóa Đồng Đậu là một nội dung đã được các nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chưa nhiều và ý kiến chưa thống nhất Theo Hà Văn Phùng thì văn hóa Đồng Đậu có 2 giai đoạn phát triển sớm muộn khác nhau và mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng về di vật [143, tr.31 - 47] Bên cạnh quan điểm này, cũng có ý kiến dựa vào diễn biến địa tầng của các di tích, văn hóa này có 3 giai đoạn [35, 122] Tác giả cho rằng, cùng với việc làm sáng tỏ việc phân chia các giai đoạn văn hóa, thì việc làm rõ đặc điểm về di tích,
di vật của từng giai đoạn cũng là một vấn đề quan trọng
Ngoài những nội dung đã đề cập ở trên, trong giai đoạn hai này còn có một số công trình nghiên cứu đã đề cập tới các khía cạnh khác của văn hóa Đồng Đậu như vết tích động thực vật [2, 84 - 88, 218, 219, 220], mộ táng, táng tục, nhân chủng [14, 20, 21, 22, 23, 112,
119, 192, 211], niên đại của văn hóa Đồng Đậu [125, 181,184]
Trang 31Bên cạnh những công trình mang tính chuyên sâu về các vấn đề, còn có một số công trình mang tính tổng hợp về một di tích, hoặc có đề cập đến một cụm di tích thuộc văn hóa Đồng Đậu như “Báo cáo khai quật đợt I di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà” của Hoàng Xuân Chinh (1968), “Hà Nội thời đại đồng thau và sắt sớm” của tác giả Trịnh Cao Tưởng, Trịnh Sinh (1982), “Cổ Loa trung tâm hội tụ văn minh sông Hồng” của các tác giả Hoàng Văn Khoán, Lại Văn Tới, Nguyễn Lâm Anh Tuấn (2002), “Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu” của
Lê Xuân Diệm, Hoàng Xuân Chinh (1983), “Đồng Đậu di tích tiêu biểu thời Tiền Sơ sử” của Hoàng Xuân Chinh, Bùi Hữu Tiến (2010), “Vĩnh Phúc thời Tiền Sơ sử” của Hoàng Xuân Chinh (2000) Những ấn phẩm này có những đóng góp quan trọng trong việc tập hợp, hệ thống lại những tư liệu về các di tích thuộc Đồng Đậu, cũng đã nêu ra một số nét đặc trưng về di tích, di vật Năm 1998, cuốn sách “Khảo cổ học Việt Nam, tập II Thời đại Kim khí ở Việt Nam” do Hà Văn Tấn làm chủ biên, được Viện Khảo cổ học xuất bản Cuốn sách này đã trình bày khái quát các vấn đề hết sức cơ bản của văn hóa Đồng Đậu Qua ấn phẩm này giúp người đọc bước đầu có thể hình dung tổng quan về diện mạo của văn hóa Đồng Đậu Tuy nhiên, một số luận điểm được trình bày trong công trình này cần phải phân tích, làm rõ như tiêu chí xác định các di tích văn hóa Đồng Đậu, vấn đề phân chia các giai đoạn văn hóa, diễn biến địa tầng ở một số di tích như Thành Dền, Vườn Chuối Hơn nữa, nhiều vấn đề thuộc nội dung của văn hóa Đồng Đậu chưa được đề cập hoặc chưa được làm sáng tỏ
ở đây như đặc trưng các loại hình di tích, mối quan hệ văn hóa, những biến đổi trong cấu trúc kinh tế - xã hội
Ngoài các sách nghiên cứu, có một số ấn phẩm đề cập tới văn hóa Đồng Đậu dưới dạng khái lược, nêu những đặc trưng chung nhất của nền văn hóa này Một số công trình tiêu biểu như “Cơ sở khảo cổ học Việt Nam”, “Thời đại đồ đồng”, “Các nền văn hóa Cổ”, “Early
Mainland Southeast Asia from First Humans to Angkor”…
Tiểu kết chương 1
i Việc phát hiện di tích Đồng Đậu nổi tiếng với các tầng vị thuộc các giai đoạn văn hóa liên tục, kế tiếp nhau và một hệ thống các di tích có cùng đặc trưng, tính chất và niên đại với lớp giữa của di tích Đồng Đậu ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ có ý nghĩa hết sức to lớn của ngành khảo cổ Việt Nam đối với việc tìm hiểu quá khứ lịch sử dân tộc Vào đầu thập kỷ 60 trước khi giới khảo cổ phát hiện di tích Đồng Đậu, các nhà khoa học đã xác lập được các văn hóa Phùng Nguyên, Gò Mun và Đông Sơn và đã nghĩ tới một chuỗi văn hóa phát triển liên tục từ Phùng Nguyên qua Gò Mun tới Đông Sơn, tuy nhiên, điều này chưa được chứng minh, hay nói đúng hơn là chưa có cứ liệu thuyết phục [153] Vấn đề này chỉ thực sự được làm sáng tỏ khi giới khảo cổ phát hiện
và khai quật di tích Đồng Đậu, nơi lưu tồn và chứa đựng dấu tích của cả 4 giai đoạn
Trang 32văn hóa và xác lập khái niệm văn hóa Đồng Đậu Với việc phác dựng thành công phổ
hệ văn hóa từ Phùng Nguyên qua Đồng Đậu, Gò Mun tới Đông Sơn, chúng ta đã chứng minh được một cách thuyết phục, khoa học nguồn gốc bản địa của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, bác bỏ hoàn toàn quan điểm trước đây về nguồn gốc ngoại lai về văn hóa Đông Sơn của các học giả phương Tây Có thể nhận định, việc xác lập văn hóa Đồng Đậu là một trong những thành tựu đặc biệt quan trọng của khảo cổ học Tiền Sử
Việt Nam
ii Sau hơn 50 năm nghiên cứu, các nhà khảo cổ đã phát hiện được 42 di tích thuộc văn hóa Đồng Đậu1, nhiều cuộc thám sát, khai quật đã được các cơ quan nghiên cứu thực hiện, tư liệu nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu vô cùng đồ sộ và phong phú Tuy nhiên, nguồn tư liệu này hầu hết đều ở dạng tài liệu báo cáo, và phân tán ở các cơ quan nghiên cứu khác nhau Do vậy, để phục vụ cho công tác nghiên cứu lâu dài về văn hóa Đồng Đậu nói riêng và thời đại Kim khí nói chung, những tài liệu này cần được tập hợp, hệ
thống hóa
iii Tới nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Đồng Đậu, trong đó có một số đi sâu nghiên cứu về văn hóa này, nhưng đó chỉ là những chuyên khảo về một
di tích, di vật hay một khía cạnh nào đó Đến nay xung quanh văn hóa này còn nhiều
ý kiến khác nhau, chưa thống nhất về tư liệu cũng như nhận thức, và chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng hợp, toàn diện về văn hóa Đồng Đậu Vì vậy, những vấn đề như đặc trưng di tích và di vật, những mối quan hệ trước, sau, gần, xa cũng như những chuyển biến trong cấu trúc kinh tế xã hội, nguồn gốc của văn hóa Đồng Đậu, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân Đồng Đậu, quá trình phát triển của văn hóa Đồng Đậu cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu Đây cũng chính là những vấn
đề mà tác giả luận án đã và đang giành nhiều tâm huyết cùng thời gian, công sức để
tìm hiểu
1 Trong đó, có một số di tích mới được điều tra, khảo sát sơ bộ hoặc thám sát nhỏ cần được thám sát, khai quật để làm rõ hơn về vấn đề niên đại (Bảng 1)
Trang 33Chương 2
ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
VÀ DI TÍCH VĂN HÓA ĐỒNG ĐẬU
2.1 Môi trường sinh thái
- Địa hình: Đồng bằng sông Hồng được hình thành do sự bồi đắp phù sa của sông
Hồng và sông Thái Bình, các đợt biển tiến, biển thoái trong kỷ Đệ tứ Vào đầu kỷ Đệ tứ QI - II (Pleistocene sớm, giữa), do băng hà thế giới phát triển mạnh, khí hậu lạnh, mực nước đại dương hạ thấp nên lục địa mở rộng Ở Việt Nam, bờ biển chạy dài từ đảo Hải Nam tới tận đảo Sumatra Đến kỷ Đệ tứ III (Pleistocene muộn), diễn ra một đợt vận động tân kiến tạo, làm sụt lún tạo thành các vùng đầm lầy Đường bở biển tiến vào phía nam Hà Nội, Hưng Yên Nhưng đến kỷ Đệ tứ IV (Holocene sớm), cách đây 11000 - 7000 năm, do đợt băng hà cuối cùng phát triển, biển thoái dần, châu thổ lại mở rộng Sau đó, khí hậu nóng lên, băng tan vào Holocene giữa Vào khoảng 7000 - 4000 năm cách nay, mực nước biển dâng, bờ biển tiến sâu vào đất liền từ Chương Mỹ vòng lên Đan Phượng, Hà Nội rồi sang Phả Lại [113] 1 Từ 4000 - 3000 năm cách nay tiếp tục diễn ra các đợt biển thoái - biển tiến xen kẽ với quy mô nhỏ hơn [258]
Theo Trần Quốc Vượng, thuật ngữ đồng bằng châu thổ sông Hồng nên thay bằng châu thổ Bắc Bộ, bởi vì, nó được cơ bản hình thành theo đường lồi tam giác châu Tam giác châu này được giới hạn bởi dải núi Tam Đảo ở rìa Đông Bắc, dải núi Tản Viên ở rìa Tây Nam, đỉnh nằm ở Việt Trì, và đáy kéo dài từ Yên Lập, Quảng Ninh xuống đến Nho Quan, Ninh Bình [185, tr.111] Châu thổ này cũng như nhiều châu thổ khác trên thế giới bao gồm nhiều châu thổ phụ được hình thành trong quá trình xê dịch cửa sông tạo ra và do các sông nhánh tạo thành Về cấu trúc của tam giác châu thổ Bắc Bộ, theo Trần Quốc Vượng, có thể phân làm 3 vùng: Thượng châu thổ (cổ) với đỉnh Việt Trì “Đất tổ”, Trung châu thổ với đỉnh Dâu Canh (Cổ Loa) và Hạ châu thổ với đỉnh ở Hưng Yên “Đỉnh” là nơi mở đầu của “nón phóng vật”, và cũng là nơi sông Hồng chia nhánh thành nhiều sông con như sông Đáy, sông Cà Lồ, sông
1
Theo bản đồ về sự thay đổi của mực nước biển dựa trên nghiên cứu lượng siđerit và lưu huỳnh trong các lớp trầm tích tử hồ Tougou - ike của Nhật Bản (Sơ đồ 3) và bản đồ về sự dao động của mực nước tại biển Chết ở Israel (Sơ đồ 4), thì khí hậu đột ngột trở nên ấm nóng hơn, kèm theo đó mực nước biển dâng lên nhanh chóng trong khoảng thời gian từ 3700 và đạt tới đỉnh cao vào khoảng 3500 năm cách nay [258, tr.54 - 59] Các kết quả nghiên cứu về dao động mực nước biển của Yoshinori Yasuda rất phù hợp với mô hình dao động mực nước biển của P.Frairbrige Theo sơ đồ của P.Frairbrige thì đã có một đợt biển tiến diễn ra trong khoảng từ 4000 - 3500 BP, với hai đợt nước dâng cực đại vào khoảng 3700 BP và 3500 BP (Sơ đồ 5) Sau
3500 BP là thời kỳ biển thoái
Trang 34Nhuệ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Luộc, Hoàng Giang… [237, tr.262] Các di tích thuộc văn hóa Đồng Đậu phân bố chủ yếu ở vùng thềm cổ của sông Hồng thuộc vùng thượng châu và một phần trung châu thổ tiếp giáp Ở đây, có những gờ cao từ 13 - 15m, nằm cạnh những dải đất thấp 5m thường tụ nước tạo thành đầm hồ Nếu xuôi theo thung lũng sông Hồng thì thấy
từ Việt Trì đến Cổ Loa và Hà Nội, thung lũng chưa mở rộng, địa hình còn mấp mô, với những đồi gò kéo dài [149] Đỉnh thứ nhất của tam giác châu thổ là một miền đồi gò thuần trung du, ở đây có những núi - đồi lô nhô như hình bát úp Giữa các đồi là suối, là dòng sông nhỏ uốn lượn và ruộng dộc Rộc1 là ruộng trũng ngập nước, giống ruộng chiêm ở phần ruộng trũng thấp mà khác ruộng chiêm ở phần hẹp, chạy dài mà không tràn lan như miền đồng chiêm trũng, đất là đá bở vụn phong hóa hay pha tích chứ không phải do bồi tích “đất bồi cát lở”, đất trung du bị “la tơ rít hóa”, trong khi đất đồng chiêm bị “gờ - lây hóa” [235, tr.39] Đỉnh thứ hai là miền giáp ranh giữa trung du và đồng bằng Tính chất giáp ranh này được thể hiện rất rõ về mặt thổ nhưỡng, từ vùng đất phe - ra - li - tích vàng đỏ phát triển trên nền phù sa cổ đến vùng đất phù sa không được bồi có gờ - lây trung bình và mạnh, và đến một vùng bãi và phù sa trên bãi ngoài đê, từ một vùng đất bạc màu đến một vùng pha cát, đến một vùng đất thịt [235, tr.104]
Đi vào tìm hiểu chi tiết hơn về địa hình, cảnh quan của vùng thượng và trung châu thổ Bắc Bộ, có thể thấy khu vực này lại bao gồm các tiểu vùng sinh thái khác nhau
i Tiểu vùng sinh thái núi chủ yếu là các núi thấp như núi Dền, núi Sật, núi Nghè của huyện Đoan Hùng, núi Buộm, núi Quảng của huyện Thanh Ba, Phú Thọ, núi Sáng của huyện Lập Thạch, và các núi sót như núi Đinh, núi Trống của huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc), núi Thanh Tước của huyện Mê Linh, núi Mão Sơn của huyện Quốc Oai, núi Phượng Hoàng của huyện Quốc Oai, Hà Nội, núi Thiên Thai - Đồng Cứu của Gia Lương, núi Dạm - Lãm Sơn của huyện Quế Võ, núi Tiên, núi Khám của huyện Tiên Du - Từ Sơn, Bắc Ninh
Cư dân giai đoạn Tiền Đông Sơn nhìn chung ít sinh sống ở vùng sinh thái núi, trong giai đoạn Đồng Đậu cho tới nay mới thấy ở địa điểm Mão Sơn (Hà Nội)
và Bãi Tự (Bắc Ninh)
ii Tiểu vùng sinh thái gò đồi: phổ biến, gặp ở tất cả các tỉnh thuộc vùng thượng châu thổ và trung châu thổ như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh Tuy nhiên, mật độ và quy mô của đồi ở các khu vực có sự khác nhau Nhìn chung, đồi thường có dạng bát úp, dạng vòm, diện tích không lớn lắm Đồi ở vùng đồng bằng thưa và thường chỉ cao từ 20 - 50m, đồi ở vùng trung
1 Cũng có địa phương gọi là Dộc [235]
Trang 35du cao dày đặc hơn và cao trên dưới 100m Các quả đồi mà chúng ta đã biết tới nay có cư dân Đồng Đậu sinh sống là Đồi Giàm (Việt Trì, Phú Thọ), Xóm Thi Đua (Lâm Thao, Phú Thọ), Đồi Đà (Ba Vì, Hà Nội), Đông Lâm (Hiệp Hoà, Bắc Giang)
iii Tiểu vùng sinh thái đồng bằng: có bề mặt tương đối bằng phẳng, độ cao tuyệt đối khác nhau tuỳ nơi phân bố của đồng bằng Độ cao dao động rất nhỏ trong một đồng bằng Song có chênh lệnh về độ cao khá lớn giữa vùng núi và vùng đồng bằng Ruộng ở vùng địa hình trung du Sơn Tây - Việt Trì, có độ cao lên tới 12 - 16m, có chỗ cao tới 18 - 25m, và các vùng trũng ở hai bên sông cũng còn cao đến 7 - 9m Ruộng thấp ở vùng đồng bằng có độ cao từ 4 - 5m Theo
Lê Bá Thảo, các thửa ruộng ở từ khu vực Hà Nội trở lên đỉnh châu thổ đều là những chân ruộng cao [185, tr.130]
Dựa vào độ cao tuyệt đối, hình thái và điều kiện thành tạo có thể chia địa hình đồng bằng làm 3 loại: đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi và thung lũng, bãi bồi ven sông Trong đó, loại thứ nhất có diện tích lớn nhất và cũng có giá trị hơn cả Đây chính là khu vực thường phát hiện được các di tích thuộc thời đại kim khí Đồng bằng châu thổ được hình thành liên quan đến quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn như sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Đáy, sông Cầu Ngoài vật chất hữu cơ được đưa từ miền rừng núi đến, đồng bằng còn tiếp nhận một lượng chất khoáng khổng
lồ cùng các vi lượng khác nhau có mặt trong đá cổ của phức hệ sông Hồng Các lớp đá của dãy Tam Đảo ở rìa Đông Bắc và dải núi Tản Viên ở rìa Tây Nam bị phong hóa từ hàng triệu năm đã trôi xuống làm cho đồng bằng trở nên màu mỡ, phì nhiêu Vì vậy, từ gần bốn nghìn năm về trước, khu vực thềm bậc 2 của đồng bằng châu thổ đã thu hút con người đến sinh cơ lập nghiệp
- Khí hậu: Dựa vào kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở địa điểm Đồng Đậu và
một số di tích khác như Đình Tràng, Thành Dền, Tràng Kênh, tác giả Nguyễn Mai Hương cho rằng, khí hậu của khu vực di chỉ Đồng Đậu nói riêng và của cả châu thổ Bắc Bộ nói chung từ đầu kỷ Đệ tứ đến nay chuyển từ nóng hơi khô sang nóng ẩm Trong suốt thời kỳ Đồng Đậu không có sự biển đổi lớn về khí hậu [86, tr.64] Quan điểm này cần được thảo luận thêm, bởi những nghiên cứu của các học giả quốc tế đã chỉ ra rằng, có những đợt biến đổi khí hậu đột ngột đã diễn ra trong khu vực với pha khí hậu trở nên ấm nóng hơn (vào khoảng 3700 - 3500 năm cách nay) và pha chuyển sang lạnh hơn (sau 3500 BP đạt tới đỉnh điểm vào 3200 BP và tiếp tục kéo dài tới 2200
BP với mức độ giảm hơn) [258, tr.54 - 59]
Trang 36- Sông ngòi: Châu thổ sông Hồng có mạng lưới sông ngòi, đầm hồ chằng chịt,
phân bố đan xen giữa các khu vực Đó là sông Thao, sông Lô, sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Cà Lồ, sông Tích, sông Nhuệ, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Đuống, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê, sông Hoàng Giang Một ý nghĩa đặc biệt quan trọng của các dòng sông này là “chuyên chở” phù sa, bồi tụ nên các đồng bằng châu thổ màu mỡ để con người định cư, canh tác nông nghiệp lúa nước Mặt khác, các dòng sông còn đóng vai trò là đầu mối, cửa ngõ của tiếp xúc và giao lưu văn hóa nhiều chiều
- Khoáng sản: Ở vùng tam giác châu có các mỏ khoáng kim loại, vật liệu xây
dựng, nhiên liệu Khóang sản kim loại gồm có chì, kẽm, đồng, sắt và vàng chủ yếu tập trung ở khu vực Vĩnh Phúc Các điểm khoáng phân bố dọc theo đứt gãy sườn tây nam dãy Tam Đảo Đồng có ở các điểm khóang ở Suối Son, Đồng Giếng, Đồng Bùa của huyện Tam Dương và Bản Long của huyện Bình Xuyên tuy nhiên tỷ lệ đồng rất thấp Thiếc được phát hiện trong sa khoáng ở xóm Giêng xã Đạo Trù, suối Dền Cả xã Đại Đình và Thanh Lãng Sắt là nguồn khoáng sản phong phú ở Vĩnh Phúc, tập trung thành hai dải: dải thứ nhất ở Bàn Giản, huyện Lập Thạch dài 200m, rộng 50m, dải còn lại ở Khai Quang thuộc thị xã Vĩnh Yên dài hàng chục km, không liên tục từ Đạo Tú, Thanh Vân thuộc Tam Dương qua Định Trung về Khai Quang Các mỏ quặng sắt ở đây đa số là lộ thiên, có thể dễ dàng khai thác bằng các loại dụng cụ đơn giản Nhóm vật liệu xây dựng gồm đất sét, đá, cuội, sỏi, cát Đất sét ở đây đều thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc, được hình thành trong thời kỳ Pleistocene, có nguồn gốc trầm tích sông biển, đầm hồ có độ mịn cao, dẻo,
có thể dùng làm nguyên liệu để sản xuất gốm Nhóm khoáng sản nhiên liệu chủ yếu là than bùn Trong thời kỳ kim khí, cư dân đã khai thác các loại khoáng sản như đá cuội, đá sa thạch, đất sét… làm nguyên liệu chế tác các loại vật dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất
và sinh hoạt
- Động thực vật: Vùng tam giác châu thổ Bắc Bộ hơn 3000 năm về trước chắc hẳn
còn rập rạp, um tùm với những rừng cây và lau sậy Rừng không chỉ bao phủ dãy Tam Đảo, dãy núi Tản Viên mà còn trải rộng cả một vùng đồng bằng rộng lớn Trên những đồi
gò, những cánh đồng cao khi đó là những cánh rừng bạt ngàn được phủ kín bởi các loại cây cho gỗ, cây ăn quả mà dấu vết bào tử phấn hoa của chúng đã phát hiện được trong các di chỉ khảo cổ Còn ở vùng đồng bằng thấp, ngập trũng lại được bao phủ bởi các loại
cỏ dại và lau sậy Chúng ta có thể đoán chắc rằng, diện tích rừng khi ấy còn rộng lớn hơn ngày nay rất nhiều Theo những ghi chép, đến tận thời Lê, những cánh rừng vẫn tồn tại ở vùng đồng bằng Hà Nội, Bắc Ninh như rừng Báng (Đình Bảng), rừng gỗ tứ thiết ở Sặt, rừng Xuân Quang, rừng bàng Yên Thái (Bưởi), rừng gỗ tầm giữa bán đảo Tây Hồ, rừng
Trang 37tre ngà viền một dải sông Tô vùng Cửa Bắc, rừng nứa đền Voi Phục (Ba Đình) Và theo tên đất cổ, có Gia Lâm (rừng đa), Du Lâm (rừng dâu da), Mai Lâm (rừng mơ) Những cái tên ấy còn lưu lại hình ảnh của một thời bóng cả cây già [238, tr.52]
Động thực vật ở vùng tam giác châu thổ nằm trong nền cảnh chung của rừng nhiệt đới gió mùa, vì vậy rất đa dạng về giống loài Đây là một kho tài nguyên xanh của người Tiền sử, nơi con người vừa có thể săn bắn các loại động vật, vừa có thể thu lượm các loại rau, củ quả hay khai thác các loại gỗ, tre nứa làm vật liệu xây cất nhà cửa, chế tác các nông
cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất và sinh hoạt
Có thể nói, vùng tam giác châu thổ Bắc Bộ đã hội tụ nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để con người định cư lâu dài, phát triển các hoạt động kinh tế Môi trường sinh thái này
đã có những ảnh hưởng tới việc hình thành các đặc điểm di tích văn hóa Đồng Đậu
2.2 Sự phân bố và đặc điểm các di tích văn hóa Đồng Đậu
2.2.1 Không gian phân bố
Đã có 42 di tích khảo cổ thuộc văn hóa Đồng Đậu được phát hiện Các di tích này phân bố ở 5 tỉnh và mật độ di tích cũng có sự khác nhau giữa các khu vực, trong đó Phú Thọ có 12, Vĩnh Phúc 2, Hà Nội 18, Bắc Ninh 9 và Bắc Giang 1 (Bảng 1) Tới nay, chúng
ta có thể nhận ra khu vực tụ cư chính của cư dân Đồng Đậu, đó là vùng Hà Nội và phụ cận (Sơ đồ 1, 2)
Trong giai đoạn hình thành và phát triển của văn hóa Phùng Nguyên thì Phú Thọ là nơi tập trung dày đặc các di tích Đa số các di tích lớn và quan trọng như Gò Bông, Xóm Rền, Phùng Nguyên đều nằm ở khu vực này Đến giai đoạn văn hóa Đồng Đậu, số lượng
di tích phát hiện được ở Phú Thọ có sự giảm mạnh, chỉ còn 12 di tích (Đa số là các di tích thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn – Đồng Đậu sớm), chiếm khoảng 29% trong tổng số
di tích Nguyễn Anh Tuấn khi nghiên cứu các di tích Phùng Nguyên và Đồng Đậu ở Phú Thọ cũng đã nhận thấy, số điểm cư dân mang tính đặc trưng ở đây đã giảm đi rõ rệt và có
xu hướng chuyển cư của cư dân giai đoạn này từ Việt Trì trở về châu thổ Bắc Bộ [216, tr.184] Lúc này, khu vực trung tâm đồng bằng gồm Hà Nội và vùng phụ cận (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang) đã trở thành địa bàn thu hút dân cư Tại đây, trong giai đoạn văn hóa Đồng Đậu, chúng ta đã phát hiện được 30 di tích, chiếm khoảng 72% trong tổng số di tích Hầu hết các di tích Đồng Đậu lớn, có nghề luyện kim phát triển đều phát hiện được ở khu vực này như Đình Tràng, Đồng Đậu, Thành Dền, Vườn Chuối, Đồng Dền, Đại Trạch,
Đông Lâm Như vậy, nếu ở giai đoạn Phùng Nguyên, vùng trung du thuộc Phú Thọ và Vĩnh Phúc là địa bàn tập trung dân cư, đồng thời cũng là “vùng lõi” của văn hóa, thì đến
Trang 38giai đoạn văn hóa Đồng Đậu, khu vực Hà Nội mở rộng bao gồm cả Bắc Ninh, Bắc Giang
đã trở thành vùng trung tâm quần cư và phát triển văn hóa
2.2.2 Đặc điểm di tích văn hóa Đồng Đậu
2.2.2.1 Các loại hình di tích văn hóa Đồng Đậu
Theo tính chất, các địa điểm văn hóa Đồng Đậu có thể chia làm 4 loại như sau:
- Di chỉ cư trú: Chiếm đa số, với 29/42 di tích, trong đó, các di tích tiêu biểu là
Bãi Mèn, Đình Tràng, Từ Sơn, Vườn Chuối, Gò Mỏ Phượng, Gò Dền Rắn, Đồng Dền, Đồi Đà…
- Di chỉ cư trú - xưởng chế tác đá: Có 6 di tích, tập trung chủ yếu ở Phú Thọ với 5/6
di tích gồm Hồng Đà, Ô Rô, Gò Chè, Gò Chùa, Thọ Sơn, và chỉ có 1 di tích ở Bắc Ninh là Bãi Tự Đây vừa là nơi được người xưa sử dụng làm chỗ ở, vừa là công xưởng chuyên chế tác đá Đặc biệt, ở di tích Bãi Tự, qua nghiên cứu đã nhận thấy, nó được chia làm hai khu rất
rõ rệt: khu cư trú nằm trên sườn đông nam của núi Tiêu Sơn, sát ven sông Tiêu Tương Khu công xưởng chế tác đá nằm trên một gò đất thấp cách nơi cư trú khoảng 0,5km Việc phân lập, tách biệt giữa nơi cư trú và nơi sản xuất là một đặc điểm riêng của địa điểm Bãi Tự Các công xưởng đều có một đặc điểm chung là nằm sát các dòng sông, rất thuận tiện cho việc chuyên chở vật liệu cũng như trao đổi sản phẩm Bãi Tự nằm cạnh sông Tiêu Tương, còn các công xưởng khác ở Phú Thọ đều nằm bên hữu ngạn của sông Thao (huyện Tam Nông)
và tả ngạn sông Đà (huyện Thanh Thuỷ)
- Di chỉ cư trú - mộ táng: Gồm 6 di tích là Lũng Hoà, Vườn Chuối, Đại Trạch, Đình
Tràng, Gò Diễn, Bãi Mèn Hầu hết mộ táng ở các địa điểm đều tìm được ở nơi cư trú, ngoại trừ trường hợp ở Vườn Chuối Mộ ở Vườn Chuối phát hiện được trong hố thám sát trong đợt khai quật năm 2011 nằm ở rìa phía đông bắc của gò, sát khu ruộng thấp với bối cảnh tầng văn hóa xung quanh mộ rất mờ nhạt, không rõ và những người khai quật cho rằng, không có tầng văn hóa, điều đó cho thấy, dường như ngôi mộ đã được chôn ngoài khu cư trú Hiện nay, khu cư trú văn hóa Đồng Đậu tìm được rất nhiều, trong khi đó khu mộ táng lại tìm được rất ít Tác giả cho rằng, có thể xem ngôi mộ ở Vườn Chuối là một tín hiệu hay manh mối gợi
ý cho việc tìm kiếm những khu mộ táng của người Đồng Đậu ở ngoài khu vực cư trú bên cạnh những mộ táng thường được đặt ngay tại nơi con người sinh sống
- Di chỉ cư trú - mộ táng - trung tâm đúc đồng: Có 2 di tích, đó là Thành Dền và
Đồng Đậu Hai di tích này mặc dù có độ dày tầng văn hóa khác nhau, nhưng đều gồm 3 lớp văn hóa Đồng Đậu nối tiếp nhau gồm lớp Đồng Đậu sớm ở dưới, Đồng Đậu phát triển ở giữa, Đồng Đậu muộn ở trên, phản ánh một quá trình định cư rất lâu dài Ngoài ra, ở di chỉ Đồng Đậu trên lớp Đồng Đậu muộn còn có lớp Gò Mun điển hình Trong tầng văn hóa chứa
Trang 39khá nhiều than tro và các vết tích cư trú, sinh hoạt của con người như nền nhà, bếp lửa, phế thải thức ăn, vật dụng vỡ hỏng bị loại bỏ… Ngoài đặc điểm cư trú, những chứng cứ của một trung tâm đúc đồng/làng đúc đồng được biểu hiện khá rõ Nhiều vết tích lò đúc đồng cùng hàng trăm di vật kèm theo như đồ đồng thành phẩm, khuôn đúc, lõi khuôn, mảnh nồi nấu đồng, mảnh muôi múc đồng cùng một khối lượng khá lớn xỉ đồng đã được phát hiện ở hai di tích này Ở các địa điểm này, các nhà khảo cổ cũng đã tìm được một số mộ táng của cư dân thời đó
2.2.2.2 Đặc điểm các khu cư trú
Về đặc điểm các khu cư trú có thể thấy, đa số các làng xóm của người Đồng Đậu thường nằm trên các đồi gò hoặc khu đất cao, ven các các dòng sông, đầm hồ Nghiên cứu một số di chỉ cư trú, ta thấy những nơi đó cao trung bình so với mặt ruộng xung quanh từ 0,5 - 5m Cá biệt có những di chỉ nằm ở chân núi như Mão Sơn Bao quanh các khu cư trú
là những cánh đồng thấp, khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ, phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt, đặc biệt là canh tác lúa nước Hơn nữa, những sông suối, kênh lạch, đầm hồ, vũng vịnh vừa là nơi dẫn nước, tưới tiêu, vừa là “kho” thực phẩm tự nhiên cung cấp các loại tôm, cua, cá, trai, ốc giàu chất đạm (Bản ảnh 1) Cách các di chỉ cư trú không xa, còn
có những cánh rừng, đó là địa bàn con người có thể tổ chức các hoạt động săn bắn, thu lượm các loại động thực vật, cũng như khai thác các loại gỗ, tre phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của cuộc sống Nhìn chung, môi trường ở các khu cư trú của người Đồng Đậu không chỉ tốt cho việc định cư lâu dài, mà còn thuận lợi cho việc phát triển các hoạt động kinh tế
Khi nghiên cứu về vùng châu thổ Bắc kỳ, P Gourou cho rằng, có 3 loại làng Việt
là làng ven sông, làng ven đồi và làng ven biển Theo Trần Quốc Vượng, phối kết 3 loại làng này, ta sẽ có thêm 3 loại làng là làng ven sông - ven đồi, làng ven sông - ven biển, làng ven đồi - ven biển [237, tr.222] Theo cách tiếp cận địa văn hóa, đối sánh với các khu
cư trú văn hóa Đồng Đậu có thể thấy rằng, thời kỳ này có 3 loại làng là làng ven sông, làng ven sông - ven đồi và một loại làng thứ ba theo đề xuất của tác giả có thể gọi là làng ven sông - ven núi Loại thứ nhất chiếm đa số với 37/42 di tích, và đây chính là nét đặc trưng của di tích văn hóa Đồng Đậu Ngược lại, loại thứ hai và thứ ba có số lượng rất ít, chỉ có 5
di tích Loại thứ hai phát hiện ở Đồi Đà, Đông Lâm, Xóm Thi Đua Loại làng thứ ba tới nay cũng mới chỉ thấy ở địa điểm Mão Sơn (Hà Nội) và Bãi Tự (Bắc Ninh) Theo Trần Quốc Vượng, “người Phùng Nguyên tạo lập truyền thống làng đồi ở trung du” [237, tr.47]
Và cũng có thể nói rằng, người Đồng Đậu đã tạo dựng một truyền thống lập làng ven sông
ở vùng châu thổ Bắc Bộ
Trang 40Các khu cư trú của người Đồng Đậu phân bố trên một không gian rộng lớn từ vùng trung du tới đồng bằng cao của châu thổ Bắc Bộ Có nhiều di tích nằm tương đối xa nhau như Đồng Dền, Đông Lâm, Đồi Đà Tuy nhiên, cũng có những khu cư trú nằm khá gần nhau, hoặc liền kề nhau tạo thành cụm di tích như cụm di tích ở Cổ Loa, cụm di tích ở huyện Hoài Đức (Hà Nội), cụm di tích ở huyện Tiên Sơn (Bắc Ninh)
2.2.2.3 Diện tích các khu cư trú
Theo số liệu thống kê từ 21 di tích văn hóa Đồng Đậu có thể thấy, quy mô của các
di tích không giống nhau, rộng từ khoảng 500m2 đến 250.000m2 (Bảng 2.1)1 Dựa vào diện tích, tác giả có thể phân chia các địa điểm này thành 3 loại: nhỏ, trung bình và lớn
- Loại nhỏ: diện tích từ 500 - 15.000m2 có 12 di tích, chiếm 57% trong tổng số các
di tích được thống kê, tiêu biểu như Gò Mỏ Phượng 3000m2; Gò Dền Rắn 4.000m2; Tiên Hội, Đồng Vông, Chùa Gio, Bãi Tự, Nội Gan 10.000m2
- Loại trung bình: diện tích từ 16.000 - 30.000m2, có 4 di tích, chiếm 19% Đó là các di tích: Vườn Chuối 19.000m2; Đình Tràng, Đồng Dền 20.000m2, Đồi Đà 30.000m2
- Loại lớn: diện tích trên 31.000m2, có 5 di tích, chiếm 24% trong tổng số di tích, tiêu biểu như Thành Dền 50.000m2, Đồng Đậu 85.000m2, Từ Sơn 250.000m2 Đây đều là những địa điểm có vị trí thuận lợi, mặt bằng cư trú rộng lớn, môi trường bao quanh phong phú về thảm thực vật và quần thể động vật Đặc điểm chung của các làng cư trú này là hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, trong đó Đồng Đậu và Thành Dền được coi là hai trung tâm đúc đồng lớn nhất lúc đó
2.2.3 Cấu tạo di tích văn hóa Đồng Đậu
2.2.3.1 Cấu tạo địa tầng
Địa tầng của một di tích như một cuốn sử phản ánh khách quan, đầy đủ các mặt của đời sống cư dân trong lịch sử Căn cứ vào địa tầng, chúng ta có thể biết được quá trình sinh hoạt của một cộng đồng người nhất định Độ dày mỏng của tầng văn hóa phản ánh con người đã cư trú dài hay ngắn, liên tục hay gián đoạn Tài liệu địa tầng kết hợp với tài liệu di vật còn giúp ta nhận ra những bước phát triển văn hóa sớm muộn, thậm chí có thể nhận ra những biến chuyển văn hóa diễn ra từ từ trong một giai đoạn văn hóa [196] Trên đại thể, qua cấu tạo địa tầng, chúng ta có thể phác thảo lại quá trình xuất hiện, tồn tại và kết thúc của các làng cổ [100, tr.49] Qua nghiên cứu độ dày tầng văn hóa ở 24 di tích văn hóa Đồng Đậu
có thể thấy, tầng văn hóa của các khu cư trú văn hóa Đồng Đậu có độ dày mỏng khác nhau từ 0,4 - 3m, thậm chí trong một di tích hay một hố khai quật cũng có sự khác nhau giữa các vị trí,
1 Diện tích của các địa điểm phần nhiều mang tính ước lượng