1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng

80 434 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới hiện nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến trẻ tự kỷ, các công trình nghiên cứu về vấn đề này rất đa dạng và được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau - Những nghiên cứu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ BÍCH PHƯƠNG

HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội – 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ BÍCH PHƯƠNG

HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.PHẠM HỮU NGHỊ

Hà Nội - 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ 16

1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ tự kỷ 16

1.2 Quan niệm về cha mẹ có con tự kỉ 19

1.3 Khái niệm, nguyên tắc, kỹ năng và tiến trình của hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ 21

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ 31

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 37

2.1 Thực trạng chung về trẻ tự kỷ và nhu cầu tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ tại thành phố Hải Phòng 37

2.2 Thực trạng về một trường hợp tham vấn cha mẹ có con tự kỷ 39

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ 69

3.1 Về chủ trương, chính sách 69

3.2 Tuyên truyền, nâng cao nhận thức 69

3.3 Về các dịch vụ y tế, giáo dục 70

3.4 Công tác xã hội với hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ 70

KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTXH Công tác xã hộiTVTL Tham vấn tâm lýNVXH Nhân viên xã hộiGDTTK Giáo dục trẻ tự kỷNVCTXH Nhân viên công tác xã hộiCTXHCN Công tác xã hội cá nhân

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ BẢNG

Bảng 2.1: Mục tiêu hoạt động và những nguồn lực trợ giúp 48

Bảng 2.2: Tóm tắt bảng tham vấn chị H lần 1 50

Bảng 2.3: Kế hoạch giáo dục cá nhân cho TTK 56

Bảng 2.4: Bảng tham vấn cho chị H lần 2 61

HÌNH Hình 2.1 : Sơ đồ phả hệ đối với gia đình chị H 40

Hình 2.2: Sơ đồ sinh thái đối với chị H 41

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là những công dân nhỏ tuổi và là chủ tương lai của đất nước Mỗi ngày chúng ta chào đón hàng triệu trẻ em được sinh ra trên thế giới, tuy nhiên trong hàng triệu đứa trẻ đó không phải bé nào cũng may mắn có được một cơ thể phát triển toàn vẹn Có nhiều bé từ khi chào đời đã phải mang trên mình những khuyết tật vận động, rối nhiễu tâm trí, rối loạn cảm xúc, rối loạn hành vi Hiện nay, tồn tại một hội chứng rất phổ biến trên toàn thế giới đó là rối loạn phổ tự kỷ hay còn gọi là Hội chứng Tự kỷ ở trẻ em Tự kỷ là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong hành vi, nhận thức, xúc cảm, sở thích, ý nghĩ, lời nói, giác quan và quan hệ xã hội, ít nhiều có kèm theo chậm phát triển trí tuệ Khác với các dạng khuyết tật về thể chất, trẻ tự kỷ sinh ra bình thường như mọi trẻ khác nên khi trẻ bộc lộ các triệu chứng của tự kỉ đôi khi bị hiểu nhầm là trẻ hư, nghịch ngợm, không được cha mẹ quan tâm hoặc trẻ tự kỉ đôi khi có các đặc điểm

và biểu hiện như một thần đồng Hiện nay, số lượng trẻ tự kỉ tăng lên nhanh chóng

ở tất cả các quốc gia trên thế giới, trẻ Tự kỷ có trong tất cả các nhóm chủng tộc, màu da, các dân tộc và nền kinh tế xã hội khác nhau [37]

Hội chứng tự kỷ được xem là rối loạn phát triển đang tăng nhanh nhất, số trẻ phát hiện mắc chứng tự kỷ ngày càng nhiều Từ thập niên 90 của thế kỷ trước, Hội chứng tự kỷ được mô tả một cách cụ thể hơn và có những phương pháp điều trị khác nhau, tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng và cho đến nay trên thế giới chưa có phương pháp chữa trị tối ưu cho trẻ mắc chứng này

Tự kỷ đang là một trong các căn bệnh được Liên hợp quốc dành riêng một ngày để nâng cao nhận thức cộng đồng, ngày mồng 2 tháng 4 hàng năm [37]

Ở Việt Nam cho đến nay chưa có con số nghiên cứu chính thức về số lượng trẻ mắc chứng bệnh tự kỷ Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nước ta khoảng 200.000 người mắc chứng tự kỷ Nếu tính theo cách tính của WHO, con số này chừng 500.000 người Tuy nhiên, các kiến thức chính thống và khoa học về chứng bệnh này còn rất ít, chưa cụ thể và hệ thống, tài liệu chủ yếu là

Trang 7

tài liệu dịch, gây khó khăn cho cha mẹ có con là trẻ tự kỷ tiếp nhận và học hỏi Cho đến nay việc tham vấn cho phụ huynh, đặc biệt là tham vấn cho người trực tiếp chăm sóc trẻ mắc chứng tự kỷ vẫn chưa được quan tâm đúng mức Con tự kỉ

là một cú sốc lớn cho các bậc cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình Cha mẹ có con tự kỷ phải đối mặt với những khủng hoảng về mặt tâm lý, khó khăn về tài chính, và băn khoăn về các định hướng giáo dục; cha mẹ không biết phải làm gì và không tìm kiếm trợ giúp từ các nhà chuyên môn Cha mẹ thường tìm hiểu thông tin qua mạng hoặc thông qua những phụ huynh khác về vấn đề của con mình và tự tạo ra các cách thức can thiệp cho con nhưng chưa có được những kiểm chứng về tính hiệu quả, khả quan của phương pháp đó

Xuất phát từ lý do đó nên tôi chọn đề tài “Hoạt động tham vấn cho cha mẹ

có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố Hải Phòng” để nghiên cứu trong khuôn khổ

của một luận văn thạc sĩ ngành Công tác xã hội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Một số nghiên cứu về tham vấn tâm lý

Hiện nay, trên thế giới tham vấn vẫn là một lĩnh vực tương đối trẻ Vào trước những năm 1900, tham vấn chủ yếu là cho ý kiến tập trung vào việc cung cấp những phúc lợi nhân đạo căn bản cho những người kém may mắn trong thời kỳ cách mạng Công nghiệp Ban đầu nó được dành riêng cho người trẻ, liên quan đến những chương trình hướng nghiê ̣p và những bài ho ̣c đa ̣o đức căn bản, như làm điều đúng, sống tốt, tránh điều sai, xa lánh điều xấu Năm 1907, Jesse B Davis là người đầu tiên thiết lâ ̣p mô ̣t cơ sở hướng dẫn có hê ̣ thống ở tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ Frank Parson (1854 - 1908) được xem như cha đẻ của ngành hướng dẫn

tư vấn nghề nghiệp tại Mỹ, bởi vậy ông là người đầu tiên đánh dấu cho sự ra đời của chuyên ngành này F Parson đã viết cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong viê ̣c lựa cho ̣n nghề nghiê ̣p, tìm ra cách bắt đầu và xây dựng mô ̣t nghề nghiê ̣p thành công và hiê ̣u quả; chính điều này đã ta ̣o điều kiê ̣n cho sự ra đời và phát triển rầm rô ̣ của ngành hướng dẫn tư vấn nghề Trong thuyết “Nhân cách và yếu tố” (Trait and Factor), F Parson cho rằng: thông qua

Trang 8

viê ̣c làm các trắc nghiê ̣m tâm lý sẽ phát hiê ̣n ra những đă ̣c điểm nhân cách khác nhau của mỗi con người Sau khi tìm ra các đă ̣c điểm nhân cách của mỗi cá nhân, nhà tham vấn giúp những cá nhân đó tìm hiểu và phân loa ̣i các công viê ̣c đang có trong thi ̣ trường lao đô ̣ng Người phát triển quan điểm của F Parson chính là E.G Williamson (1900 - 1979) Theo các tác giả của trường phái này, những đă ̣c điểm nhân cách của mỗi con người sẽ được đo đa ̣c mô ̣t cách hết sức chính xác và viê ̣c lựa cho ̣n nghề nghiê ̣p sẽ tiến hành mô ̣t lần trong đời Mỗi người sẽ có mô ̣t công viê ̣c hoàn toàn phù hợp Vì vâ ̣y, viê ̣c tiến hành làm các trắc nghiê ̣m được coi là

mô ̣t viê ̣c làm quan tro ̣ng nhất và cơ bản nhất Thời điểm lý thuyết này thi ̣nh hành cũng chính là thời điểm những phương pháp đo đa ̣c và trắc nghiê ̣m tâm lý được áp

du ̣ng rô ̣ng rãi (E.G Williamson,1941) Những trắc nghiê ̣m về khả năng nhâ ̣n thức, hứng thú, trí thông minh ngày càng được chuẩn hóa và hoàn thiê ̣n, đóng góp mô ̣t cách tích cực cho tất cả các loa ̣i hình thực hành tham vấn Sự mở rô ̣ng pha ̣m vi ảnh hưởng của ngành tâm lý tri ̣ liê ̣u cùng với nỗ lực đấu tranh cho những hình thức chữa tri ̣ nhân đa ̣o đối với bê ̣nh nhân tâm thần, những bê ̣nh viê ̣n điều tri ̣ tâm thần được xây dựng khiến cho nhu cầu cần người trợ giúp được đào ta ̣o chuyên nghiê ̣p cũng gia tăng Ban đầu, những nhân viên công tác xã hô ̣i, những nhà tâm lý tri ̣ liê ̣u được đào ta ̣o về những kỹ năng tham vấn để có thể đáp ứng nhu cầu này [ 21]

Đến những năm 30 - 40 của thế kỉ XX, do hâ ̣u quả của chủ nghĩa phát xít nên nhiều nhà triết ho ̣c, tâm thần ho ̣c, tâm lý ho ̣c nhân văn đã chuyển từ Châu Âu sang Mỹ và ngay lâ ̣p tức những tư tưởng của ho ̣ đã ảnh hưởng đến tâm lý tri ̣ liê ̣u và giáo du ̣c ở quốc gia này [ 21]

Carl Rogers (1902 - 1987) đã thay đổi công viê ̣c thực hành tham vấn theo hướng thân chủ - tro ̣ng tâm (Client - Centered), sử du ̣ng phương pháp tiếp câ ̣n gián tiếp khi làm viê ̣c với các cá nhân: “đă ̣t tro ̣ng tâm nơi thân chủ” Phương pháp tham vấn thân chủ tro ̣ng tâm lúc đầu được go ̣i là liê ̣u pháp thân chủ tro ̣ng tâm và sau đó được gọi là phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân, hướng tiếp cận của Carl Rogers không chỉ được coi là có ý nghĩa lớn lao trong công việc trợ giúp thân chủ mà còn được xem là cách sống của con người Rogers tin rằng bản chất

Trang 9

con người là thiện với những khuynh hướng tiến đến phát triển tiềm năng và xã hội hoá mà nếu đặt trong môi trường thuận lợi sẽ phát triển nhận thức và hiện thực hoá tiềm năng đầy đủ Rogers giả thiết rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hoá những tiềm năng của mình Sở dĩ một cá nhân nào đó phát triển những hành vi kém thích nghi là do sự tập nhiễm những mẫu ứng xử sai lệch Bởi vì mỗi cá nhân đều có nhu cầu mạnh mẽ được người khác chấp nhận, coi trọng nên anh ta hoặc cô ta có thể hành động một cách không tự nhiên, không thực

tế và phát triển những cảm giác sai lệch về bản thân, về những điều mình mong muốn Mục đích của phương pháp tham vấn tập trung vào cá nhân không phải là chữa trị cho thân chủ hoặc tìm kiếm những nguyên nhân từ quá khứ mà cái chính

là khuyến khích thân chủ tự hiện thực hoá những tiềm năng của bản thân, tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển tâm lý lành mạnh ở thân chủ Thân chủ được xem như là một chủ thể có hiểu biết, họ phải được hiểu, được chấp nhận để nhà tham vấn có thể cung cấp những loa ̣i hình giúp đỡ tốt hơn [24, tr.35]

Đầu năm 1942, Rogers xuất bản tâ ̣p sách “Tham vấn và tâm lý tri ̣ liê ̣u” (Counseling and Psychotherapy), ghi lại những nét chính về phương pháp của ông được hình thành sau 10 năm kinh nghiê ̣m làm viê ̣c trong công tác tri ̣ liê ̣u cho cả trẻ em và người lớn Cuốn sách này có ảnh hưởng lớn lao đến ngành, nghề tham vấn, nó đánh dấu sự ra đời của tham vấn hiê ̣n đa ̣i [24, tr.60]

Những năm 50 của thế kỉ XX đánh dấu sự phát triển của rất nhiều ho ̣c thuyết khác nhau trong lĩnh vực tham vấn gắn liền với tên tuổi của các nhà tâm lý học (TLH) lớ n trên thế giới như: “Các giai đoa ̣n phát triển tâm lý và trí tuê ̣” của Jean Piaget (1896 - 1980); “Lý thuyết các giai đoa ̣n phát triển tâm lý cá nhân” của Erickson (1902 - 1994), những lý thuyết này đã cung cấp cho các nhà tham vấn những kiến thức cần thiết về các giai đoa ̣n phát triển của tâm lý cá nhân, từ đó làm nền tảng cho quá trình tương tác với đối tượng

Tham vấn phát triển ma ̣nh mẽ vào những năm 60 của thế kỉ XX Bên ca ̣nh ba hướng tiếp câ ̣n chính là tiếp câ ̣n Phân tâm ho ̣c (Freud), tiếp câ ̣n trực tiếp

Trang 10

(Williamson) và tiếp câ ̣n thân chủ tro ̣ng tâm (Rogers) thì thời kỳ này còn có sự ra đời của vô số những cách tiếp câ ̣n mới như tiếp câ ̣n nhâ ̣n thức của Albert Ellis (1961), tiếp câ ̣n hành vi của Bandura (1969) Tất cả các hướng tiếp câ ̣n tham vấn này đã giúp ích cho sự phát triển rực rỡ của ngành tham vấn trong giai đoa ̣n đó Đến những năm 70 của thế kỉ XX, tham vấn tiếp tu ̣c phát triển trong các lĩnh vực như: tham vấn sức khỏe tâm trí cô ̣ng đồng, tham vấn ho ̣c đường, tham vấn cho người khuyết tâ ̣t Sự đào ta ̣o các nhà tham vấn cũng có quy mô hơn, chú tro ̣ng đến các kỹ thuâ ̣t như thấu cảm, lắng nghe, đă ̣t câu hỏi, phản hồi, nhằm phát triển mối quan hê ̣ giữa nhà tham vấn và thân chủ mô ̣t cách hiê ̣u quả Lúc này tham vấn đã trở thành mô ̣t nghề có vi ̣ trí vững chắc trong xã hội [21]

Từ những năm 80 của thế kỉ XX cho đến nay, ngành tham vấn tiếp tu ̣c được mở rô ̣ng và lớn ma ̣nh trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Ngành tham vấn ngày càng nhấn ma ̣nh tầm quan tro ̣ng của những nguyên tắc đa ̣o đức và đào ta ̣o chuyên môn của nghề tham vấn Năm 1995, Hiê ̣p hô ̣i tham vấn Mỹ ACA (American Couseling Association) đã sửa đổi những tiêu chuẩn đa ̣o đức và những tiêu chuẩn hành nghề tham vấn nhằm làm tăng hiê ̣u quả mối quan hê ̣ trợ giúp giữa nhà tham vấn và thân chủ, mối quan hê ̣ dựa trên sự thấu cảm, chấp nhâ ̣n, quan tâm của nhà tham vấn đối với từng thân chủ có những đă ̣c trưng về lứa tuổi, giới tính, kinh nghiê ̣m, trình đô ̣ văn hóa khác nhau [21]

Tham vấn tâm lý ở Việt Nam hiện nay đang là một ngành khoa học tương đối mới và chưa có nhiều những nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao Hoạt động tham vấn tâm lý thường được tích hợp vào trong các vai trò của các bác sĩ, nhất là những bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi khoa Thực tế, những hoạt động trợ giúp tâm

lý cho những người có khó khăn đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội Việt Nam Nhìn từ lịch sử ngành Công tác xã hội, trước năm 1945 tại một số bệnh viện ở phía Bắc như Bệnh viện Bạch Mai, mội số cán sự xã hội (nhân viên công tác xã hội) đã

sử dụng tham vấn, như một kỹ năng quan trọng của Công tác xã hội, vào quá trình trợ giúp bệnh nhân tại các bệnh viện Ở phía Nam, trước năm 1975, cùng với hoạt động tham vấn cho cá nhân, gia đình tại cộng đồng, Trường đào tạo cán sự xã hội

Trang 11

Caritas, Thành phố Sài Gòn đã triển khai chương trình đào tạo nhân viên công tác

xã hội, trong đó có cung cấp các kỹ năng trợ giúp và kỹ năng tham vấn cho các học viên [13]

Khoảng cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX Vào thời kỳ này, các hoạt động tư vấn tâm lý thường đi kèm với các chương trình cải thiện cuộc sống và kinh tế cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội Công tác tư vấn là một phần trong các hoạt động của công tác từ thiện, công tác xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề mang tính thời đại, như đói nghèo, bệnh tật, mại dâm, người có HIV, trẻ mồ côi, trẻ lang thang, người không nơi nương tựa…, với những tổn thương tâm lý sâu sắc [13]

Lịch sử về tham vấn tại Việt Nam phải kể đến những đóng góp có giá trị của

cố bác sĩ, nhà tâm lý học lâm sàng Nguyễn Khắc Viê ̣n cùng các cô ̣ng sự của ông ở Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em (NT) với những cố gắng phát triển TLH lâm sàng và tư vấn tâm lý trẻ em Nếu nhìn hoạt động tham vấn từ góc độ nghề trợ giúp tâm lý theo đánh giá của ThS Nguyễn Thị Oanh, “Phòng tư vấn tâm lý” đầu tiên được thành lập ở Thành phố Hồ Chí Minh là vào năm 1988, do TS tâm lý Tô Thị Ánh phụ trách Các đối tượng tới đây xin tư vấn thuộc mọi thành phần và các nhu cầu trợ giúp cũng đa dạng Do Trung tâm Tư vấn Tâm lý này có dịch vụ trị liệu tâm lý chuyên sâu nên các khách hàng có nan đề bị trầm trọng đã thường đến đây xin trợ giúp

Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1991) đã được Nhà nước phê chuẩn, Luật Bảo vệ và Chăm sóc giáo dục trẻ em được ban hành đã góp phần nâng cao trách nhiệm của gia đình, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc hạn chế vấn đề vi phạm quyền trẻ em và trẻ em làm trái pháp luật Bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình, Ủy ban Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em Việt Nam (trước đây) đã xây dựng nhiều mô hình chăm sóc trẻ em, trong đó có mô hình văn phòng tư vấn, nhằm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, như trẻ em lang thang kiếm sống ở thành phố, trẻ em trộm cắp, trẻ nghiện hút, trẻ bị bóc lột sức lao động và tình dục, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa [13]

Trang 12

Vào những năm 1997 - 2000, ở Thành phố Hồ Chí Minh có hàng chục Phòng tham vấn HIV xuất hiện Nhiệm vụ của nó chủ yếu là cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc và cho lời khuyên

Sự xuất hiện của các dịch vụ tham vấn/trị liệu trực tiếp nhằm giúp đỡ cho các đối tượng là trẻ em bị lạm dụng tình dục do Trung tâm Công tác Xã hội, thuộc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam kết hợp với Tiến sĩ Tâm lý Trần Thị Giồng đã dần làm thay đổi tính chất của hoạt động tham vấn - Từ tư vấn cho lời khuyên chủ yếu bằng điện thoại chuyển dần sang tư vấn trực tiếp, tập trung sâu vào vấn đề tâm lý của người xin trợ giúp

Hiê ̣n nay ở nước ta cũng đã bắt đầu có mô ̣t số sách về TVTL đã được xuất bản như: “Tư vấn tâm lý căn bản” của tác giả Nguyễn Thơ Sinh Ngoài ra còn cũng có nhiều quan điểm khác nhau về TVTL được in trên các sách, ta ̣p chí như:

- Bù i Thi ̣ Xuân Mai, “Tham vấn - mô ̣t di ̣ch vu ̣ XH cần được phát triển ở Viê ̣t Nam, chủ yếu bàn về các cách hiểu khác nhau của khái niê ̣m tham vấn và những yếu tố cơ bản của tham vấn, qua đó cho thấy được sự cần thiết của viê ̣c phát triển ngành tham vấn ở Viê ̣t Nam

- Nguyễn Thị Phương Hoa, “Về tâm lý ho ̣c tư vấn”, trình bày khái niê ̣m, đối tượng của TLH tư vấn cũng như sự ra đời của TLH tư vấn ở Viê ̣t Nam và triển

vo ̣ng phát triển TLH tư vấn ở nước ta trong những năm sắp tới

- Trần Thi ̣ Minh Đức, “Thực tra ̣ng tham vấn ở Viê ̣t Nam: từ lý thuyết đến thực tế”, nhằm đánh giá hoa ̣t đô ̣ng tham vấn và vai trò của các nhà tham vấn trong giai đoa ̣n hiê ̣n nay

Trong những năm gần đây ngày càng có nhiều trung tâm, di ̣ch vu ̣ hỗ trợ, trợ giúp tâm lý ta ̣i các thành phố lớn như Hà Nô ̣i, Tp HCM được thành lâ ̣p đã góp phần không nhỏ vào viê ̣c phát triển nghề tham vấn thực hành Có thể kể ra một số

cơ sở tham vấn, trị liệu, như: Cơ sở thăm khám tâm lý trẻ em N-T của cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Công ty Tham vấn Share, Trung tâm Tham vấn Hỗ trợ Tâm lý

- Giáo dục CPEC; Trung tâm Tư vấn và Hỗ trợ Tâm lý Các trường phổ thông trung học như trường Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tất Thành, Trần Hưng Đạo;

Trang 13

đường dây tư vấn 1088 hoặc 1900; các cơ sở thăm khám tâm lý - y tế như Khoa Tâm Thần (Viện Quân y 103), khoa Tâm thần nhi (Bệnh viện Nhi Trung Ương), Khoa Tâm Thần (Viện Tâm Thần Trung Ương) [13]

Đến nay, vấn đề tham vấn cho các đối tượng yếu thế tại Việt Nam đã trở thành một đề tài nóng bỏng và bước đầu nhận được sự quan tâm ủng hộ, tuy nhiên, diện mạo của một ngành nghề chuyên nghiệp vẫn chưa thật sự được định hình

2.2 Một số nghiên cứu về tự kỷ

Vấn đề tự kỷ ở trẻ em được phát hiện từ những năm 40 của thế kỷ trước nhưng thực ra đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người Trên thế giới hiện nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến trẻ tự kỷ, các công trình nghiên cứu về vấn đề này rất đa dạng và được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau

- Những nghiên cứu theo hướng phát hiện trẻ tự kỷ

Thuật ngữ Tự kỷ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “autós” nghĩa là “cái tôi, tự bản thân” - được sử dụng đầu tiên bởi bác sỹ tâm thần người Thuỵ Sỹ Eugen Bleuler (1857 - 1940) đưa ra năm 1919 Ông đã dung thuật ngữ này để mô tả giai đoạn bắt đầu của rối loạn thần kinh ở người lớn, đây là triệu chứng rút lui xã hội của các bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt và các triệu chứng trầm cảm khác

Cho đến năm 1943 bác sỹ tâm thần người Mỹ là Leo Kanner (1894-1981)

mô tả trong một bài báo với nhan đề “Autism Disturbance of Effective Contract” Ông cho rằng trẻ tự kỷ là trẻ thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác, cách thể hiện các thói quen hằng ngày rất giống nhau, tỉ mỉ và có tính rập khuôn; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói thể hiện sự bất thường rõ rệt (nói nhại lời, nói lí nhí, không nhìn vào mắt khi giao tiếp), rất thích xoay tròn các

đồ vật và thao tác rất khéo; có khả năng cao trong quan sát không gian và trí nhớ

“như con vẹt”; khó khăn trong học tập ở những lĩnh vực khác nhau; thích độc thoại trong thế giới riêng của mình, khó khăn trong việc thực hiện các trò chơi đóng vai theo chủ đề như cho búp bê ăn, nói chuyện điện thoại, bác sỹ tiêm bệnh nhân; chỉ hiểu nghĩa đen của câu nói, thích tiếng động và vận động lặp đi lặp lại

Trang 14

đơn điệu: giới hạn đa dạng các hoạt động tự phát, mặc dù vẻ bề ngoài nhanh nhẹn, thông minh [18, tr.12] Kanner nhấn mạnh triệu chứng Tự kỷ có thể phát hiện được ngay khi trẻ ra đời hoặc trong khoảng 30 tháng đầu Công trình khoa học của Kanner đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử giáo dục trẻ tự kỷ, ngày nay là

cơ sở của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nước thế giới [18, tr.12]

Năm 1944, một bác sỹ tâm thần người Áo là Han Asperger (1906 – 1980) sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai

mà ông làm việc Mô tả của ông như sau: ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thường, tuy nhiên trong cách diễn tả và cách phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh; có những rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “con, tôi” lẫn lộn với ngôi thứ hai và ba Trẻ vẫn có những tiếp xúc

về mặt xã hội nhưng có xu hướng thích cô đơn, đơn độc Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luận rườm rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội Những trẻ này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán học và có khả năng nhớ tốt một cách lạ thường [18, tr.63], mọi người lấy tên của ông để đặt tên cho hội chứng này là Asperger

Cũng từ những năm 60 của thế kỷ XX, những hiểu biết về Tự kỷ đã có những thay đổi hết sức lớn lao Đặc biệt, nghiên cứu của Michael Rutter đã chỉ ra rằng cách chăm sóc, giáo dục của cha mẹ không phải là nguyên nhân chính dẫn đến việc trẻ bị Tự kỷ [18]

Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu xem xét đến khái niệm phổ tự kỷ Trong cuốn sách “Hiện tượng tự kỷ”, Lorna Wing (1978) đã tìm ra những dấu hiệu rối loạn tự kỷ liên quan đến nhân vật “sư huynh Juniper” Theo nhận định của bà, người này có những dấu hiệu Tự kỷ như: không muốn giao tiếp, tiếp xúc; thờ ơ với mọi người xung quanh, thích những hoạt động nhàm chán lặp đi, lặp lại; không hiểu và đáp lại những tình cảm của người khác Tuy chưa khẳng định một cách chắc chắn Juniper có bị tự kỷ hay không, nhưng theo

mô tả của Lorna Wing cho thấy một số biểu hiện mà ngày nay chúng ta thường gặp ở TTK [18]

Trang 15

- Những nghiên cứu theo hướng công cụ chẩn đoán, đánh giá trẻ tự kỷ

Năm 1996, Baron- Cohen, Allen và Gilber nghiên cứu công cụ sàng lọc Tự

kỷ trên hơn 12.000 trẻ ở độ 18 tháng Sau đó chọn được 9 dấu hiệu đặc hiệu được dùng dưới dạng bộ câu hỏi khẳng định, dễ sử dụng tại các phòng khám nhi, Phục hồi chức năng Bộ câu hỏi này có tên “Bảng đánh giá Tự kỷ ở trẻ nhỏ” (Checklist for Autism in Toddler – CHAT) Bộ câu hỏi CHAT này (gồm 9 dấu hiệu) có tính đặc hiệu cao Nghĩa là trẻ có những dấu hiệu này thì nguy cơ bị Tự kỷ cao Nhưng

nó lại có độ nhạy thấp Nghĩa là nếu trẻ bị Tự kỷ nhẹ thì có thể các dấu hiệu trên

sẽ không quan sát thấy; dẫn tới dễ bỏ sót trẻ bị nhẹ hoặc không điển hình.Vì vậy, năm 2001 Robin, Fein, Barton & Green bổ sung vào công cụ sàng lọc này thêm 14 câu hỏi thuộc các lĩnh vực rối loạn vận động, quan hệ xã hội, bắt chước và định hướng Bộ câu hỏi bổ sung có tên là M-CHAT 2001, được dùng để sàng lọc trẻ tự

kỷ trong độ tuổi 18 - 24 tháng [4, tr.4]

Hội tâm thần học Mỹ, sau nhiều năm nghiên cứu năm 1994 đưa ra Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần DSM-IV, bao gồm các tiêu chuẩn chẩn đoán Tự kỷ tìm ra những biểu hiện khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội, chất lượng giao tiếp và mẫu một số hành vi bất thường Theo một Ba-rem được hướng dẫn, nếu trẻ có đủ các dấu hiệu tiêu chuẩn theo thang đánh giá thì sẽ được xác định là có Tự kỷ hay không Tiếp theo đó, Tổ chức y tế thế giới (WHO) cũng đưa ra Bảng phân loại quốc tế ICD (International Classification of Diseases) qui định những tiêu chuẩn chẩn đoán các bệnh tâm thần trong đó bao gồm các tiêu chí đánh giá để chẩn đoán Tự kỷ [4, tr.23]

- Những nghiên cứu theo hướng phương pháp dạy trẻ tự kỷ

Một nghiên cứu có ứng dụng tích cực trong can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ là Ứng dụng phân tích hành vi (Aplied Behavior Analyis-ABA) Đây là kết quả nghiên cứu của Ivar Lovaas vào năm 1990 ở Đại học Los Angeles - California Kết quả nghiên cứu là cơ sở để hình thành phương pháp can thiệp hành vi, được dùng để phát huy tối đa khả năng học tập của trẻ tự kỷ ABA là một chương trình can thiệp hành vi của trẻ tự kỷ một cách toàn diện trong mọi lĩnh vực liên quan

Trang 16

Tác giả thử nghiệm chương trình can thiệp sớm cho trẻ nhỏ dựa vào gia đình cho trẻ Các lĩnh vực đó có thể là: tương tác xã hội, giao tiếp, tự chăm sóc, vui chơi Cấu trúc của ABA gồm hai thành phần chính: dạy thử nghiệm các kỹ năng riêng biệt và thay đổi hành vi Các nghiên cứu đều cho thấy sự giáo dục phù hợp nhất đối với TTK là can thiệp hành vi sớm và tích cực [18, tr.60]

Andrew Bandy (nhà tâm lý Nhi) và Lori Frost (nhà âm ngữ trị liệu) nghiên cứu phương pháp PECS (Hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi tranh - Picture Exchange Communication System) ứng dụng vào can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ Tác giả sử dụng một loạt chiến lược để giúp trẻ tự kỷ có được các kĩ năng giao tiếp.Tuy nhiên, phương pháp này mới tập trung vào giúp trẻ giao tiếp không lời, cho phép trẻ lựa chọn cách thể hiện nhu cầu của mình bằng tranh ảnh Điều này đã giảm nhẹ hành vi của trẻ tự kỷ, và trẻ trở nên vui vẻ hơn chứ chưa tập trung vào phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ Tự kỷ [18, tr 92]

Có thể nói, các nghiên cứu về tự kỷ trên thế giới chủ yếu được thực hiện ở các nước phát triển như Anh, Pháp, Nhật Bản, Úc, Thụy Điển và đặc biệt là Mỹ Những nghiên cứu có đủ cả lý thuyết và thực nghiệm với nội dung chủ yếu là phát hiện trẻ tự kỷ, đưa ra các tiêu chí sàng lọc hay xác định tự kỷ, phương pháp dạy cho trẻ tự kỷ

Tóm lại, nghiên cứu công tác chăm sóc, giáo dục cho trẻ tự kỷ là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ Những công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở trên thế giới tuy nhiều nhưng chỉ tập trung vào nghiên cứu cách phát hiện, chẩn đoán trẻ tự kỷ, phương pháp dạy trẻ tự kỷ, ít các công trình tham vấn cho cha mẹ, hỗ trợ cha mẹ các kỹ năng giải quyết khủng hoảng, chấp nhận và có các cách thức giáo dục con Nếu được nghiên cứu sâu đề tài sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình chăm sóc, giáo dục nâng cao chất lượng cuộc sống cho cha mẹ và trẻ tự kỷ

Ở Việt Nam nghiên cứu về trẻ tự kỷ mới chỉ được bắt đầu nghiên cứu vào khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ XX Từ năm 2015 trở lại đây, vấn đề trẻ tự kỷ đã được nhiều ngành quan tâm như tâm lý học, giáo dục học, y học… Một loạt các trung tâm nuôi dạy trẻ tự kỷ ra đời, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho

Trang 17

trẻ tự kỷ, các trường học mở các lớp chăm sóc - giáo dục trẻ tự kỷ là những điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này

- Nghiên cứu về phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ

Tác giả Nguyễn Thị Hương Giang với nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36 tháng tuổi Nghiên cứu chỉ ra hiện nay ở Việt Nam các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ còn hạn chế, chưa có những nghiên cứu mô tả lâm sàng một cách toàn diện ở lứa tuổi nhỏ trước 3 tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ tự kỷ ở mức độ nặng còn cao trẻ tự kỷ thường có khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội như: Không giao tiếp bằng mắt (86,9%), không biết gật đầu hay lắc đầu khi đồng ý hoặc phản đối (97,6%), thích chơi một mình (94,8%), không biết khoe khi được đồ vật (97,6%), không đáp ứng khi được gọi tên (96,8%) Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp: Phát ra một chuỗi âm thanh khác thường (82,1%), không biết chơi giả vờ (98,4%)… [35]

Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh trong cuốn sách “Trẻ tự kỷ - phát hiện sớm và can thiệp sớm” đã nêu ra những vấn đề cơ bản, chung nhất về cách phát hiện sớm

và can thiệp sớm mà chưa nêu ra cách làm cụ thể ở một nội dung nào trong can thiệp sớm cho trẻ Tự kỷ

Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân người Úc gốc Việt đã xuất bản cuốn sách

"Nuôi con bị Tự kỷ", "Để hiểu Tự kỷ", "Tự kỷ và trị liệu", giúp hiểu rõ về Tự kỷ ở trẻ em và giúp cho các phụ huynh biết cách chăm sóc, nuôi con Tự kỷ cũng như cách trị liệu cho trẻ Tự kỷ

- Nghiên cứu về phương pháp dạy trẻ tự kỷ

Năm 2004, tác giả Đỗ Thị Thảo với đề tài “Xây dựng kế hoạch hỗ trợ giáo viên và cha mẹ có con Tự kỷ trong chương trình Can thiệp sớm tại Hà Nội”

Năm 2007, tác giả Nguyễn Nữ Tâm An với đề tài “Sử dụng phương pháp TEACCH trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại Hà Nội” cho thấy được một góc nhìn về vấn

đề định hướng và điều trị trẻ Tự kỷ thông qua giao tiếp, cách vận dụng phương pháp TEACCH (Treatment and Education of Autistic and related Communication handicapped Children) vào trong quá trình can thiệp sớm cho trẻ Tự kỷ

Trang 18

Năm 2009, tác giả Ngô Xuân Điệp trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức trẻ

Tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh” đã cho thấy được thực trạng mức độ nhận thức của trẻ Tự kỷ và mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố chủ quan và khách quan đến nhận thức của trẻ tự kỷ

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Thanh trong công trình “Biện pháp phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ từ 3-4 tuổi”, luận án đi sâu nghiên cứu việc phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ nói chung và trẻ từ 3-4 tuổi nói riêng [27]

Các kết quả nghiên cứu về tham vấn và về tự kỷ, trẻ tự kỷ trong các công trình kể trên là những tài liệu tham khảo bổ ích đối với học viên khi tiến hành đề tài tài về hoạt động tham vấn cha mẹ có con là trẻ tự kỷ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ Từ đó, tìm hiểu vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động tham vấn cho những cha mẹ này và đề xuất một số giải pháp hỗ trợ nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động tham vấn vấn cho cha mẹ có con tự kỷ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Nghiên cứu thực trạng về hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con là trẻ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố Hải Phòng

Trang 19

4.2 Phạm vi nghiên cứu

-Phạm vi về đối tượng nghiên cứu

Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ (bao gốm cả trẻ tự kỷ có đi kèm hội chứng Asperger) và vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động này -Phạm vi về khách thể nghiên cứu

Nhân viên công tác xã hội thực hiện hoạt động tham vấn cho 1 gia đình có con tự kỷ tại địa bàn Hải Phòng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận chủ yếu sau:

- Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử nhấn mạnh việc xem xét đánh giá một vấn đề trong một hoàn cảnh cụ thể, xác định Theo đó, một luận điểm có thể coi là luận điểm khoa học trong hoàn cảnh này nhưng không thể coi là luận điểm khoa học trong hoàn cảnh khác Xuất phát từ quan điểm này, một sự vật hiện tượng cần được đánh giá, xem xét và phân tích một cách khách quan dựa theo thời điểm và hoàn cảnh cụ thể Trong khuôn khổ của luận văn, tôi mong muốn nghiên cứu hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ tại thời điểm hiện tại, với bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể như hiện nay để từ đó đưa ra những nhận xét, khuyến nghị đúng đắn, hợp lý

- Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng xem xét và đánh giá một hiện tượng hay một sự vật đặt trong mối quan hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau Phương pháp luận này giúp cho chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện và chính xác về một sự vật, hiện tượng trong mối tương quan với các sự vật hiện tượng khác Áp dụng phương pháp luận này vào đề tài nghiên cứu, tôi xem xét, đánh giá

và phân tích các hoạt động tham vấn đối với cha mẹ có con tự kỷ trong mối tương quan với gia đình, với môi trường xung quanh và xã hội nói chung

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trang 20

Thu thập và phân tích các tài liệu về hoạt động tham vấn và kiến thức về chứng tự kỷ ở trẻ cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở lý luận cho đề tài

5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng với các câu hỏi mở Đây là phương pháp bổ trợ nhằm tìm hiểu sâu hơn về kỳ vọng của cha mẹ đối với hoạt động tham vấn, về những lo lắng, suy nghĩ thường nhật của cha mẹ có con tự kỷ, những thông tin xung quanh kiến thức về trẻ tự kỷ mà cha mẹ quan tâm

5.2.3 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

Phương pháp xin ý kiến của chuyên gia với mục đích tiếp thu những đóng góp, ý kiến, kinh nghiệm quý báu từ phía các chuyên gia nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khắc phục khó khăn trong suốt quá trình thực hiện đề tài và giúp đưa

ra những định hướng giải quyết cho cha mẹ có con tự kỷ trong việc lựa chọn biện pháp hay tự đề xuất biện pháp

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ Chương 2: Thực trạng hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ tại thành phố

Hải Phòng

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tham vấn cho cha mẹ có

con tự kỷ

Trang 21

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN CHO CHA

MẸ CÓ CON TỰ KỶ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ tự kỷ

1.1.1 Khái niệm trẻ tự kỉ

Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra khá nhiều quan điểm khác nhau về tự kỷ Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, dưới đây là một số quan niệm:

Theo Freud (1923): “Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại cái tôi, có nghĩa là đã trở thành tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong huyễn tưởng và ảo ảnh để nói rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ” [26]

Theo Kanner (1943): “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em từ lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, đó là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lập mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động một cách bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống” [26]

Năm 1964 Bernard Rimland và một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Tự kỷ là

do những thay đổi của cấu trúc lưới trong bán cầu não trái, hoặc do những thay đổi về sinh hóa và chuyển hóa ở những đối tượng này Do đó, những trẻ tự kỷ

không có khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân; không giao tiếp được vì thiếu khả năng khái quát hóa những điều cụ thể” [26] Năm 1996 Từ điển Bách khoa Columbia cho rằng: “Tự kỷ là một khuyết tật phát triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng

cơ bản của não bộ Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp, kĩ năng tương tác xã hội và suy luận Nam nhiều gấp 4 lần nữ Trẻ

có thể phát triển bình thường cho đến tận 30 tháng tuổi” [26]

Năm 1944, Han Asperger bác sỹ tâm thần người Áo (1906 – 1980) sử dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai mà ông

Trang 22

làm việc Rối loạn đặc biệt nhất trong nhóm trẻ này là cách suy luận rờm rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội Những trẻ này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán học, đồng thời có khả năng nhớ tốt một cách

lạ thường Ngày nay được lấy tên là hội chứng Asperger [26]

Theo DSM – IV: “Tự kỷ là sự phát triển không bình thường hay là một sự giảm sút rõ rệt, hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực: Quan hệ xã hội, giao tiếp và tác phong thu hẹp định hình” (1994) [4, tr.6]

Theo chuyên trang Tự kỷ của Liên hợp quốc: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển suốt đời do rối loạn của hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ Tự kỷ có thể xảy ra không phân biệt giới tính, chủng tộc, giàu nghèo và địa vị xã hội Tự kỷ được biểu hiện ra ngoài bằng các khiếm khuyết về tương tác

xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại” (2008) [4, tr.6]

Như vậy, mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau có các quan điểm khác nhau về

trẻ tự kỷ Trong đề tài này tôi chọn khái niệm của Liên hợp quốc năm 2008 làm công cụ nghiên cứu và chọn đối tượng nghiên cứu

1.1.2 Đặc điểm của trẻ tự kỷ

Đặc điểm về hình dáng cơ thể: Trẻ tự kỷ có bề ngoài như bình thường Các công bố từ trước tới nay chưa có nghiên cứu nào nói đến sự khác thường về thể trạng bên ngoài của Trẻ tự kỷ [27, tr.12]

Đặc điểm cảm giác: Ngưỡng cảm giác của Trẻ tự kỷ không bình thường Do

đó trong trị liệu Trẻ tự kỷ người ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan hay điều hòa cảm giác [27, tr.12-13]

Đặc điểm về tư duy, tưởng tượng: Trẻ tự kỷ cũng gặp khó khăn nhất định trong tưởng tượng Do đó, trẻ khó có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những gì có trong trí nhớ, khó khăn trong việc tổng kết, khái quát để đưa ra kết luận, rút kinh nghiệm [27, tr.13]

Đặc điểm về hành vi: Trẻ tự kỷ ít quan tâm đến những chuẩn mực xã hội, muốn làm theo sở thích cá nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với sự

Trang 23

mong đợi của người khác như: la hét, khóc lóc khi người lớn không đáp ứng sở thích của trẻ, tự ý lấy đồ của người khác mà không mắc cỡ hay sợ sệt [40, tr.145]

Đặc điểm về chú ý: Trẻ tự kỷ thường tập trung (dính chặt) vào một tính năng của một đối tượng (vật thể hoặc một người) và bỏ qua “bức tranh tổng thể” Ngược lại đối với những gì mà trẻ thích thì trẻ tập trung chú ý rất tốt [27, tr.15]

Đặc điểm về cảm xúc: Trẻ tự kỷ gặp phải trở ngại trong tiến trình kết nối làm bạn với những trẻ khác Trẻ thường mất nhiều thời gian để hiểu được cảm giác của người khác, thể hiện cảm xúc, tạo gắn bó với các cá nhân hoặc bộc lộ sự quan tâm đến người khác [20, tr.35]

Đặc điểm tương tác xã hội: Khả năng tương tác xã hội của trẻ tự kỷ là rất kém Điều này làm giảm khả năng giao tiếp của trẻ rất nhièu vì môi trường xã hội

là môi trường quan trọng để phát triển các kỹ năng giao tiếp, khó hòa nhập với các bạn khi đến trường [20, tr.38]

Đặc điểm trí tuệ: Đặc điểm trí tuệ của trẻ tự kỷ rất đa dạng Một số trẻ tự kỷ

đi kèm với hội chứng phân rã tuổi ấu thơ là tự kỉ nặng có thoái lùi phát triển

Đặc điểm về giao tiếp: Trẻ bị suy giảm nhiều trong tương tác qua lại với

mọi người, hầu hết trẻ tự kỷ biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao tiếp với các bạn Trong giao tiếp hàng ngày trẻ tự kỷ không quan tâm đến lời ăn tiếng nói của các đối tượng giao tiếp

1.1.3 Nhu cầu của trẻ tự kỷ

Nhu cầu chăm sóc về thể chất giúp trẻ tồn tại và phát triển, nó bao gồm việc đáp ứng về nhu cầu ăn uống, chỗ ở, quần áo, vệ sinh, nước sạch, khám sức khỏe giúp trẻ có sức khỏe thể chất tốt

Nhu cầu chăm sóc về tinh thần, tâm lý, tình cảm là việc được yêu thương, quan tâm, trò chuyện, lắng nghe, trẻ cần được sự chăm sóc, nuôi nấng của người lớn, cần mái ấm gia đình để được che chở và an toàn

Nhu cầu chăm sóc về nhận thức, đó là việc được học tập, tìm hiểu về cái mới, cái chưa biết Việc tạo điều kiện để trẻ được đến trường, tiếp cận với các dịch

vụ giáo dục giúp trẻ em có trình độ, tư duy

Trang 24

Nhu cầu về mặt xã hội là việc được có mối quan hệ với người khác trong gia đình, cộng đồng và xã hội Việc đáp ứng nhu cầu về mặt xã hội giúp trẻ sẽ thỏa mãn nhu cầu thuộc về

Nhu cầu được giải trí, vui chơi là việc được tham gia các trò chơi, hoạt động giải trí Thông qua các hoạt động này giúp trẻ em có thể đáp ứng nhu cầu xã hội của mình, có thể giao tiếp với người khác, thể hiện bản thân và khẳng định mình

1.2 Quan niệm về cha mẹ có con tự kỉ

Hầu hết các phương pháp điều trị tự kỷ hiện nay đều tập trung vào trẻ em, nhưng nghiên cứu mới đây cho thấy các bậc cha mẹ có con tự kỷ cũng bị ảnh hưởng tâm sinh lý, họ cũng cần được trị liệu

Giáo sư tâm lý học Elisabeth Dykens thuộc Trường ĐH Vanderbilt, cho biết

"Các can thiệp thường với mục đích tập trung vào trẻ em, nhưng những gì đang bị

bỏ sót là hạnh phúc và sức khỏe của cha mẹ trẻ Điều thực sự quan trọng là cung cấp cho cha mẹ trẻ công cụ kiểm soát sự căng thẳng và để họ tiếp tục đảm nhận tốt vai trò làm cha mẹ” [38, tr 34] Bà cũng cho biết, những bà mẹ có con bị tự kỷ đã trải qua nhiều căng thẳng và sức khỏe luôn trong tình trạng báo động, ngoài ra họ thường bị rơi vào trạng thái trầm cảm

Elisabeth Kubler-Ross (1970) đưa ra 5 giai đoạn trong tiến trình trải nghiệm đau khổ của cha mẹ khi có con tự kỷ Đau khổ không đi theo một tiến trình có trật

tự mà thường đi theo những lối không thể dự đoán trước [37, tr.18]

Có 5 giai đoạn trong tiến trình tâm lý của cha mẹ có con tự kỷ được Elisabeth Kubler-Ross nêu như sau:

Sốc

Ngay sau khi có chẩn đoán con mắc chứng tự kỷ,cha mẹ có thể cảm thấy choáng váng hoặc bối rối Thực tế, chẩn đoán này có thể quá choáng ngợp nên cha

mẹ chưa sẵn sàng để chấp nhận hoặc họ có xu hướng chối bỏ nó lúc ban đầu Một

số cha mẹ có thể đặt nghi vấn về chẩn đoán này và tìm đến một bác sĩ khác để hy vọng người đó nói cho họ một chẩn đoán khác [37, tr.18]

Trang 25

Buồn bã/đau khổ

Nhiều cha mẹ cảm thấy hụt hẫng vì mất hết hy vọng và mơ ước mà họ dành cho con mình trước khi họ có thể bước tiếp Có thể họ sẽ cảm thấy đau buồn hết lần này đến lần khác “Sự chán nản” - nó luôn âm vang lên trong họ tuy nhiên điều này là có sự khác biệt với nỗi buồn bã và trầm cảm Trầm cảm thường khiến cha

mẹ dừng lại và trở ngược về phía sau Còn cảm giác buồn bã cho phép cha mẹ phát triển lên Trên thực tế, cha mẹ có con tự kỷ có quyền cảm thấy buồn bã và thể hiện nó ra một cách thoải mái nhất Khóc có thể giúp giải phóng những căng thẳng tạo ra nỗi buồn cho cha mẹ Khóc thoải mái có thể tiếp sức cho họ vượt qua trở ngại và giúp họ đối mặt với những điều tiếp theo Nếu họ cảm thấy nỗi buồn bã của họ làm ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề, hoặc khi cha mẹ cảm thấy các triệu chứng khác của trầm cảm, chẳng hạn như giảm cân, rút lui khỏi các hoạt động xã hội, có ý nghĩ tự tử, khó ngủ, mất tự tin, giảm các hứng thú trong sinh hoạt hằng ngày… Lúc đó họ cần tìm sự tư vấn của bác sĩ gia đình để được hướng dẫn đến các cơ sở điều trị [37, tr.19]

Phủ nhận

Họ có thể trải qua giai đoạn từ chối việc tin vào những điều xảy đến với con

họ Điều này không phải do họ ý thức lựa chọn, giống như giận dữ, nó chỉ xuất hiện tự nhiên thôi Suốt thời gian này, có thể họ không thể nào nghe đến những yếu tố có liên quan đến chẩn đoán của con họ Đừng chỉ trích bản thân mình vì họ

đã phản ứng theo cách này Phủ nhận là một cách thức đối phó Nó có thể đưa cha

Trang 26

mẹ vượt qua một giai đoạn đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, họ phải nhận biết rằng

họ ở trong giai đoạn phủ nhận, điều này sẽ không làm mất tập trung vào việc điều trị của con mình Điều quan trọng là không xa lánh những người có thể cung cấp những thông tin phản hồi hữu ích và giúp theo dõi sự tiến bộ của con [37, tr.20]

Cô đơn

Cha mẹ có thể cảm thấy cô lập và cô đơn Những cảm xúc này có thể có nhiều nguyên nhân Sự cô đơn có thể đến từ thực tế rằng trong tình hình mới hiện thời của họ, họ chỉ đơn giản cảm thấy không có thời gian để liên lạc với gia đình, bạn bè hoặc công ty của mình Cha mẹ cảm thấy rằng nếu người khác lại gần bên bạn, họ có thể không hiểu hay không thể giúp đỡ gì được [37, tr.20]

vì tự kỷ đã dẫn đến cuộc sống khác xa với những gì họ dự liệu Nhưng họ cũng sẽ trải nghiệm những cảm giác hy vọng khi con bạn bắt đầu có tiến bộ [37, tr.21]

1.3 Khái niệm, nguyên tắc, kỹ năng và tiến trình của hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ

1.3.1 Khái niệm tham vấn và hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ

Tham vấn theo tiếng Anh là Couselling, đây là một hình thức trợ giúp tâm lý xuất hiện đã lâu ở Phương Tây, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ và thường được gọi là tư vấn tâm lý hoặc gọi chung là tư vấn Tham vấn không phải là một

Trang 27

hình thức tư vấn thông thường Tham vấn là nói đến việc trợ giúp về mặt tâm lý chứ không đơn thuần là việc giải đáp thông tin, kiến thức [29, tr.3]

Hiện nay, còn có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ tham vấn tâm lý Theo tài liệu tập huấn về công tác tham vấn cho trẻ em của UNICEF : “Tham vấn không giống như một cuộc nói chuyện Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình trong đó nhà tham vấn giúp thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩa, cảm giác và hành vi của họ Nhà tham vấn không giải quyết vấn đề cho thân chủ” Cụ thể là Nhà tham vấn giúp đỡ thân chủ cải thiện “trạng thái tâm lý của họ” Việc này được xem như một quá trình giúp thân chủ “nghĩ, cảm giác và hành động khác với trước và để từ đó

họ có thể đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống của họ một cách có hiệu quả hơn [29, tr.3]

- Tham vấn là một "Tiến trình" có mở đầu, diễn biến và kết thúc Nó diễn ra trong suốt thời khoảng thời gian để thân chủ cảm nhận được vấn đề của họ như nó chính như vậy Đó là một tiến trình hướng tới kiến thức và hướng đến đạo lý làm người (mở ra các tiềm năng của con người) và đòi hỏi một sự lớn lên (trưởng thành) không chỉ ở các thân chủ mà cả ở nhà tham vấn [22 ]

- Tham vấn là một sự "Tương tác" (chia sẻ - giúp đỡ) Đó là quá trình trò chuyện, chia sẻ, làm việc tay đôi giữa nhà tham vấn và thân chủ một cách tích cực,

có hợp tác, nghĩa là thân chủ phải nói sự thật vấn đề và bộc lộ bản thân của mình Nhà tham vấn phải có sự kết hợp về bằng cấp và bản năng tự nhiên Sự tương tác này phải dựa trên quan niệm tâm linh và các quan điểm nghề nghiệp, đòi hỏi sự tiến tới trung thực ở cả hai phía và kết quả là phải giúp cho thân chủ hiểu rõ hơn

về sự kiện, hoàn cảnh và chấp nhận bản thân mình [22]

- Tham vấn là một quá trình "Tìm tiềm năng": Tham vấn phải luôn coi thân chủ là người có đầy sức mạnh và có vai trò khơi gợi được mặt mạnh, những cái ẩn trong vô thức của thân chủ Để làm được điều đó, nhà tham vấn phải chấp nhận thân chủ, chấp nhận cảm xúc mà họ đang có ngay bây giờ và tại tây, phải động viên khuyến khích thân chủ, thậm chí thỉnh thoảng phải hoạch định rõ tiềm năng

Trang 28

của thân chủ để giúp họ tin vào bản thân bởi một khi thân chủ tự tìm đến người tham vấn để giúp đỡ chia sẻ thì chính bản thân họ đã có tiềm năng, tự bản thân

họ đã biết họ đang có vấn đề và mong muốn được giúp đỡ giải quyết vấn đề của mình [22]

- Tham vấn là tôn trọng quyền "Tự quyết" của thân chủ: Có nghĩa là trong quá trình tham vấn, người tham vấn phải để cho thân chủ tự giải quyết vấn đề (tự chịu trách nhiệm) với vấn đề của họ Nhà tham vấn chỉ soi sáng giúp đỡ về mặt thông tin không đưa ra lời khuyên, cách thức giải quyết vấn đề cho thân chủ Tham vấn là một quá trình giúp đỡ mà nhà tham vấn không làm hộ hoặc chỉ bảo Tự quyết đòi hỏi thân chủ phải biết đến hành động hiện tại, những vấn

đề hiện nay và ngay bây giờ của mình Quá trình tự quyết giúp thân chủ mạnh dần lên, dám nghĩ, dám làm, dám đối đầu với thực tế của mình [22 ]

Nhưng trên thực tế tham vấn là một quá trình tăng cường năng lực trong

đó nhà tham vấn giúp thân chủ nhận thức được những nguyên nhân sâu xa của vấn đề, từ đó thay đổi cách suy nghĩ, cảm nhận và xử sự để giải quyết vấn đề của chính họ

Như vậy, tham vấn là một quá trình chia sẻ và đặt trọng tâm nơi thân chủ chứ không phải là sự chỉ bảo, cho lời khuyên, an ủi hình thức, buộc thân chủ nhìn nhận vấn đề theo các chuẩn mực xã hội Thân chủ là một con người riêng biệt và nhà tham vấn phải chấp nhận thân chủ Tham vấn thành công khi nhà tham vấn khơi gợi được ở thân chủ những yếu tố nội lực để họ tự chịu trách nhiệm về vấn đề của mình và cả cuộc sống sau này của họ Làm cho thân chủ cảm thấy đủ mạnh để đối đầu với vấn đề của họ [ 22 ]

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng khái niệm tham vấn với nghĩa như sau:

Tham vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn,

kĩ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người có khó khăn trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp)

Trang 29

giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân

để giải quyết vấn đề của chính mình

Từ khái niệm tham vấn nêu trên, có thể suy ra khái niệm hoạt động tham vấn

cho cha mẹ có con tự kỷ là là các hoạt động thể hiện quá trình tương tác giữa nhà

tham vấn (nhân viên công tác xã hội người có chuyên môn, kĩ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và cha mẹ có có tự kỷ thông qua sự trao đổi, chia

sẻ thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp cha mẹ có con tự kỷ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình

1.3.2 Nguyên tắc và kỹ năng tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ

Trong quá trình tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ, NVXH phải tuân thủ các nguyên tắc tham vấn và mối quan hệ giữa NVXH với thân chủ Trong suốt quá trình tham vấn, NVXH phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Giữ bí mật thông tin liên quan đến thân chủ và vấn đề của thân chủ:

NVXH tôn trọng quyền được tôn trọng cá nhân và đảm bảo bí mật cho thân chủ, tránh tiết lộ những thông tin không đảm bảo và không hợp pháp Quyền được tôn trọng cá nhân của thân chủ sẽ được miễn trừ khi thân chủ hoặc người đại diện hợp pháp của thân chủ cho phép

Những đòi hỏi chung trong quá trình tham vấn là phải giữ bí mật cho thân chủ, nhưng trong một số ngoại lệ, đòi hỏi chung về việc giữ bí mật không còn hiệu lực như thân chủ có những dấu hiệu chuẩn bị làm hại bản thân hoặc người khác, hoặc khi pháp luật yêu cầu tiết lộ những thông tin NVXH có thể tham khảo ý kiến của những nhà chuyên môn khi nghi ngờ về tính pháp lý của những trường hợp ngoại lệ phải tiết lộ thông tin

Trong những trường hợp đòi hỏi NVXH phải tiết lộ thông tin, NVXH chỉ tiết

lộ những thông tin cơ bản nhất Nếu có thể, NVXH cần thông báo trước với cha

mẹ trẻ tự kỷ về việc tiết lộ thông tin của mình

Khi làm việc với cha mẹ có con tự kỷ, thông tin về một thành viên trong gia đình không được tiết lộ cho thành viên khác trong gia đình khi không được sự

Trang 30

đồng ý của thành viên đó NVXH phải đảm bảo tôn trọng tính riêng tư và cá nhân của mỗi thành viên trong gia đình

- Tôn trọng thân chủ: thân chủ có quyền trình bày các suy nghĩ, cảm xúc của mình Đặc biệt, NVXH không ép thân chủ lệ thuộc vào mình, để cho họ tự quyết định

- Tin tưởng vào khả năng giải quyết và ra quyết định thực hiện của thân chủ: NVXH cần phải có cái nhìn tích cực, tin tưởng rằng cha mẹ trẻ có khả năng giải quyết vấn đề của chính họ, từ đó phải mạnh dạn trao quyền tự quyềt, giao việc cho

họ, khích lệ họ và trợ giúp họ để thực hiện công việc được giao

- Tin tưởng vào khả năng giải quyết và ra quyết định thực hiện của thân chủ: NVXH cần phải có cái nhìn tích cực, tin tưởng rằng cha mẹ trẻ tự kỷ có khả năng giải quyết vấn đề của chính họ, từ đó phải mạnh dạn trao quyền tự quyềt, giao việc cho họ, khích lệ họ và trợ giúp họ để thực hiện công việc được giao

- Hướng tới hiệu quả của việc giải quyết vấn đề, không lấy lợi ích của bản thân làm mục tiêu của quá trình tham vấn

- Không áp đặt kinh nghiệm của NVXH lên vấn đề cha mẹ có con tự kỷ:

Nguyên tắc này thể hiện, NVXH trong quá trình tham vấn cho cha mẹ có con tự

kỷ tránh đưa ra lời khuyên, tránh áp đặt những suy nghĩ, quyết định của mình với đối tượng

- Không phê phán thân chủ ngay cả khi thân chủ có những hành vi, cách nhìn nhận không phù hợp Sự phê phán sẽ làm cho thân chủ thu mình, không dám chia

họ, khả năng thảo luận những chủ đề nhạy cảm một cách tích cực, khả năng khai

Trang 31

thác và sử dụng nguồn lực một cách sáng tạo nhằm giúp thân chủ, khả năng xác định thế mạnh của thân chủ…Các kỹ năng tham vấn không tách rời nhau mà có sự đan xen, tương hỗ nhau trong quá trình tham vấn

Kĩ năng giao tiếp không lời góp phần chuyển tải một lượng thông tin lớn:

bao gồm khả năng sử dụng các hành vi không lời một cách phù hợp để tạo điều kiện cho việc giao tiếp và giúp đỡ NVXH xây dựng mối quan hệ tin cậy với thân chủ Do đó NVXH phải hết sức nhạy cảm với những bức thông điệp họ chuyển tải tới thân chủ qua tư thế và điệu bộ cơ thể

Giao tiếp bằng mắt: Trong tham vấn, NVXH phải thường xuyên nhìn vào

mắt thân chủ làm cho thân chủ cảm nhận được NVXH đang chú ý lắng nghe việc trình bày của thân chủ ánh mắt nhà tham vấn ngang tầm thân chủ

Thông qua ngôn ngữ cử chỉ: NVXH phải kiểm soát được ngôn ngữ cử chỉ

của bản thân mình Cụ thể:

- Tư thế ngồi: Không nên có bàn ở giữa, có thể ngồi đối diện hoặc ngồi cạnh hơi chếch một chút với thân chủ

- Thân thể: Cách tốt nhất khi giao tiếp với thân chủ là nên để cơ thể hơi đổ

về phía thân chủ hướng về phía thân chủ, không rung đùi, không được chạm vào thân chủ ở vùng ngực, lưng, đùi,… Ngôn ngữ cử chỉ đó thể hiện NVXH chăm chú lắng nghe và bị lôi cuốn bởi câu chuyện của thân chủ, thể hiện sự cởi mở và cảm thông với thân chủ

Giọng nói và tốc độ nói: Trong tham vấn với giọng nói bình tĩnh, trầm và tốc

độ nói chậm, thông qua giọng nói thể hiện sự cởi mở, chân thành, bình tĩnh, tự tin, quan tâm đến thân chủ (tránh nói ngọng)

Về không gian: Trong giao tiếp với thân chủ, NVXH nên cố gắng phá bỏ bất

cứ vật cản nào gây ra sự không thoải mái của thân chủ chẳng hạn như một chiếc bàn quá lớn giữa thân chủ và nhà tham vấn, ánh sáng quá chói .nhằm gạt bỏ những ảnh hưởng của môi trường xung quanh đến mức độ thoải mái của thân chủ, đến khả năng chia sẻ suy nghĩ và cảm xúc của thân chủ với NVXH

Trang 32

Khoảng cách giữa nhà tham vấn - thân chủ khi đã tiếp cận 1 - 2 lần thì có thể ngồi gần hơn nhằm tạo điều kiện cho thân chủ thoải mái hơn

Sự im lặng giúp NVXH bình tĩnh đặt câu hỏi, tạo điều kiện khuyến khích

thân chủ nói tiếp vấn đề mình đang trình bày

Thời gian: Trong giao tiếp NVXH cần để cho thân chủ có thời gian để trình

bày, không nên tạo áp lực làm thân chủ cảm thấy bị thúc giục vì điều đó có thể làm cho thân chủ hiểu rằng thân chủ không quan trọng hoặc NVXH “ khó chịu” khi phải lắng nghe họ

Kĩ năng giao tiếp bằng lời cũng nhằm đạt được những mục đích để

khuyến khích thân chủ bộc bạch chia sẻ suy nghĩ của họ với NVXH Sử dụng các kĩ năng giao tiếp bằng lời, NVXH có thể khai thác được những thông tin quan trọng giúp NVXH và cha mẹ Trẻ tự kỷ làm rõ vấn đề và xác định các kế hoạch khác nhau để cải thiện tình huống gặp phải Kĩ năng giao tiếp bằng lời gồm các kĩ năng cụ thể sau:

Kỹ năng đặt câu hỏi là kỹ năng rất quan trọng, câu hỏi NVXH đặt ra sẽ làm

cho cha mẹ Trẻ tự kỷ cảm nhận được suy nghĩ, cảm xúc của NVXH với mình từ

- Sử dụng câu hỏi đóng: các câu hỏi đóng nói chung là kém hiệu quả hơn, nhưng đôi khi nó cũng cần thiết để giúp NVXH thu được những thông tin nhanh

Trang 33

và cụ thể, đưa lại sự rõ ràng, mạch lạc, giúp cha mẹ Trẻ tự kỷ tập trung vào chủ đề của cuộc nói chuyện hoặc kết thúc những cuộc thảo luận dài dòng hoặc tản mạn Mặt hạn chế của loại cấu hỏi này là chúng không cho phép cha mẹ Trẻ tự kỷ giãi bày về tiến triển của sự việc và trách nhiệm tiếp tục cuộc nói chuyện thuộc về NVXH

Khi vận dụng kĩ năng đặt câu hỏi, NVXH cần chú ý :

- Câu hỏi phải đơn giản, dễ hiểu, liên quan đến vấn đề của thân chủ và mục đích giúp đỡ

- Sử dụng câu hỏi “mở” là chủ yếu, hạn chế dùng câu hỏi “đóng”

- Không nên đặt câu hỏi dồn dập Câu hỏi dồn dập sẽ tạo cho thân chủ sự lúng túng và có cảm giác như người bị điều tra xét hỏi

- Không nên đặt câu hỏi chung chung làm cho cha mẹ Trẻ tự kỷ khó trả lời

và không biết bắt đầu từ đâu Điều này cũng khiến cho thân chủ có cảm giác nghi ngờ NVXH, và có thể cho rằng NVXH không hiểu, không quan tâm đến vấn đề của mình

- Không nên đặt câu hỏi mang tính áp đặt đối với cha mẹ Trẻ tự kỷ Bởi như vậy, câu hỏi đặt ra đã bao hàm luôn lời khuyên của NVXH đối với thân chủ

- Không nên hỏi đi hỏi lại về một vấn đề Hỏi đi hỏi lại một vấn đề dễ gây sự khó chịu cho cha mẹ trẻ Điều này cho thấy: hoặc NVXH bị quên (không chú tâm, không xâu chuỗi) hoặc chưa biết tìm câu hỏi khác để khai thác thông tin Hỏi quá nhiều về một vấn đề khiến thân chủ sẽ có cảm giác bị tra hỏi và dễ đi đến sự tự vệ

Kĩ năng khuyến khích và diễn đạt lại là trình bày lại một cách cơ bản nhận

thức của NVXH về những gì cha mẹ trẻ vừa kể Diễn đạt lại khuyến khích cha mẹ trẻ tiếp tục kể vì nó thể hiện rằng NVXH đang lắng nghe và hiểu những gì thân chủ đang trình bày Đồng thời nếu việc diễn đạt lại thể hiện NVXH hiểu không chính xác về sự trình bày của thân chủ, thân chủ sẽ có cơ hội để đính chính và NVXH có thể hiểu chính xác hơn về vấn đề

Kỹ năng phản ánh cảm xúc là nhắc lại cho cha mẹ Trẻ tự kỷ nội dung tình cảm trong ngôn từ của họ Sử dụng kỹ năng này sẽ giúp cho cha mẹ trẻ xác định

Trang 34

cảm xúc của chính họ Khi nó được phản ánh bởi người khác và là cách hiệu quả nhất để thể hiện sự thông cảm của NVXH và sẽ khuyến khích thân chủ sẵn lòng chia sẻ Nhận biết và xử lý nó có thể làm giảm nhu cầu thể hiện cảm xúc đó ra ngoài của thân chủ và có thể giúp họ nhận ra các tác động của cảm xúc đó lên hành vi của họ

Kỹ năng tóm lược: Một trong những công việc quan trọng nhất của NVXH là

giúp thân chủ sắp xếp và làm sáng tỏ những ý nghĩ, những cảm xúc Thông qua việc sử dụng kỹ năng tóm lược giúp NVXH cô đọng và sắp xếp những đểm chính trong lời thân chủ kể và để kiểm tra lại những nhận thức của mình với những gì thân chủ kể xem NVXH nghe có chính xác không

Kỹ năng quan sát giúp NVXH thu thập dữ kiện, sâu chuỗi, phán đoán thông

qua biểu hiện bề ngoài, ngôn ngữ có lời và không lời của thân chủ Hiểu về con người, hoàn cảnh và mối quan hệ của thân chủ

Những yếu tố cần quan sát

- Tổng quát bề ngoài của thân chủ

- Những đặc điểm nổi bật của thân chủ

- Những đặc điểm, các mối quan hệ của thân chủ với người khác

- Những biểu hiện qua nét mặt, những dấu hiệu của sự lo lắng bất an

- Những ngôn ngữ của cơ thể

NVXH phải nhạy cảm với những “dấu hiệu” thân chủ chuyển tải bằng lời Thân chủ giao tiếp rất nhiều qua ngôn ngữ cử chỉ Hiểu được những bức thông điệp ngầm được chuyển tải không bằng lời có thể giúp NVXH thấu hiểu được thân chủ đang suy nghĩ và cảm xúc như thế nào Chú ý một cách kỹ lưỡng đến các hành

vi bằng lời và không bằng lời là một khía cạnh quan trọng của quá trình tham vấn

Kỹ năng thấu cảm là kỹ năng được sử dụng rất nhiều trong tham vấn

- Thấu cảm là sự trải nghiệm những điều thân chủ đang trải nghiệm và cố gắng hiểu được ở bình diện cảm xúc

- Kỹ năng này thể hiện như sau:

+ NVXH nhắc lại những lời thân chủ nói và nguyên nhân dẫn đến

Trang 35

+ Làm cho thân chủ thấy cảm nhận của họ là đúng trong trường hợp của họ + Không sử dụng những từ “hay, nên…”

+ Không đưa ra quan điểm cá nhân

+ Không đưa ra kinh nghiệm cá nhân

+ Không lên án, giảng giải đạo đức cho thân chủ

+ Thấu cảm không được sử dụng thừa từ

1.3.3 Tiến trình tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ

Tiến trình tham vấn tâm lý cho cha mẹ có con tự kỉ được chia thành những giai đoạn sau:

- Tiếp xúc ban đầu: Là buổi gặp mặt đầu tiên giữa NVXH và cha mẹ có con

tự kỷ Chính bước ban đầu này có ý nghĩa rất quan trọng cho việc tạo lập mối quan

hệ hợp tác giữa NVXH và thân chủ, nó ảnh hưởng đến tính chất mối quan hệ sau này và thậm chí quyết định các buổi làm việc tiếp theo có hay không

- Thu thập thông tin và xác định vấn đề cốt lõi

NVXH thu thập thông tin, phân tích thông tin để tìm ra thực chất vấn đề là

gì, nguyên nhân nằm ở đâu, xảy ra như thế nào

Ngoài ra trong giai đoạn này, NVXH còn phải tìm hiểu thông tin về các nguồn tiềm năng của cha mẹ trẻ và xã hội trong việc giải quyết vấn đề của cha mẹ trẻ để phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch giúp đỡ đối tượng

- Giúp đối tượng đưa ra những hướng giải pháp có thể và lựa chọn giải pháp

tốt nhất, phù hợp nhất đối với hoàn cảnh của họ

Khi một vấn đề đã được xác định và hiểu rõ được nguyên nhân gây ra thì NVXH giúp cha mẹ Trẻ tự kỷ tìm kiếm các giải pháp Sau đó trên cơ sở phân tích, NVXH giúp thân chủ nhận thức được nhu cầu tiềm năng để thực hiện và chọn giải pháp thích hợp

Trước hết nên để thân chủ tự mình đưa ra những hướng giải quyết cụ thể Nếu đối tượng không thể tự ra được thì NVXH gợi ý cho họ

Hỗ trợ thân chủ lựa chọn giải pháp thích hợp nhất bằng việc

- Triển khai thực hiện

Trang 36

NVXH kiểm tra tiến trình thực hiện công việc mà thân chủ đã đề ra Nếu thân chủ không thực hiện cần sử dụng kỹ năng làm mẫu để thân chủ trải nghiệm và làm theo, hoặc tìm kíêm các nguồn hỗ trợ bên ngoài cho thân chủ

- Lượng giá và kết thúc

Lượng giá thường xuyên thực hiện trong suốt quá trình tham vấn nhằm giúp thân chủ cảm nhận được mức độ tiến triển của sự việc; kịp thời điểu chỉnh và thay đổi phương cách nhằm trợ giúp có hiệu quả nhất cho thân chủ

Lượng giá kết thúc đòi hỏi đánh giá toàn bộ những việc thân chủ đã làm, các nguồn lực được trợ giúp, chỉ ra những cái chưa làm được (lưu ý sử dụng kỹ năng nới lỏng trong giai đoạn này)

- Tiếp tục theo dõi sau khi kết thúc

Sử dụng các hình thức trao đổi (thư từ, điện thoại, internet ) để biết sự tiến

bộ của thân chủ, đảm bảo rằng thân chủ đã tự đương đầu được với các vấn đề của

họ trong cuộc sống Thời gian trung bình kéo dài từ vài tuần đến 6 tháng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con

tự kỷ

1.4.1 Yếu tố thuộc về chính sách

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và chăm sóc, phục hồi chức năng cho Trẻ tự kỷ nói riêng Tuy nhiện, do chưa có nhiều thông tin về hội chứng tự kỷ và các dịch vụ dành cho người tự kỷ nên có nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ trong một thời gian dài nhưng không được phát hiện và can thiệp sớm Trong những năm qua, nhà nước cũng chưa ban hành một văn bản pháp luật nào công nhận tự kỷ là một dạng khuyết tật riêng biệt; các chính sách đối với người Trẻ tự kỷ và gia đình có Trẻ tự

kỷ mới chỉ được lồng ghép trong hệ thống văn bản, chương trình chung về bảo trợ

xã hội, hệ thống chương trình chính sách với trẻ em, hệ thống các chương trình chính sách đối với người khuyết tật và trẻ em khuyết tật nói chung, hệ thống các chương trình chính sách chăm sóc đối tượng trong các cơ sở bảo trợ xã hội….Nhà nước có xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Luật người

Trang 37

khuyết tật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011được coi là một bước tiến quan trọng thể chế hóa đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về người khuyết tật nhằm xóa bỏ rào cản và đảm bảo các điều kiện để người khuyết tật hòa nhập xã hội như người bình thường khác; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và

hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật, tại Điều 44 chương

VIII của Luật Người khuyết tật đã quy định cụ thể về vấn đề trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/03/2010

của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước trong giai đoạn vừa qua, công tác chăm sóc và phục hồi chức năng cho người khuyết tật và Trẻ tự kỷ

đã phần nào đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của các gia đình có trẻ tự kỷ, góp phần quan trọng thực hiện chính sách an sinh xã hội

Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người khuyết tật (23/2006/QĐ-BGD&ĐT) Theo quy định này, người khuyết tật được định nghĩa là “Người khuyết tật, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chúc năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc sinh hoạt, học tậo, lao động gặp nhiều khó khăn” Nội dung của quy định này bao gồm những quy định về tổ chức, hoạt động giáo dục hòa nhập cho người khuyết tật trong giáo dục hòa nhập, cơ sở vật chất, trang thiết bị và

Trang 38

về phê duyệt “Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020” Theo đó, người mắc chứng rối loạn tự kỷ được “hỗ trợ triển khai giáo dục hòa nhập ở các cấp học thông qua việc xây dựng chương trình, tài liệu; bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trực tiếp dạy tự kỷ Tuy chưa có giá trị về mặt pháp lý trong việc đưa tự kỷ vào một trong các dạng khuyết tật được pháp luận công nhận nhưng đây cũng là một bước tiến trong việc Chính phủ và các ban ngành đang cố gắng để tự kỷ được công nhận là một dạng khuyết tật

Năm 2013, Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh Xã hội đã

ban hành Quy định về Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Trong quy

định nêu rõ điều kiện và thủ tục thánh lập, hoạt động, đình chỉ hoạt động, tổ chức lại, giải thể Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Với hai loại hình công lập và ngoài công lập, Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập là cơ sở cung cấp nội dung chương trình, thiết bị, tài liệu dạy và học, các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ giáo dục, tổ chức giáo dục phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của người khuyết tật

Chính thức, tháng 12 năm 2014, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, đại diện là Cục Bảo trợ xã hội cho biết ngành Lao động Xã hội đang nỗ lực xây dựng tài liệu hướng dẫn về vấn đề tự kỷ, tập huấn cán bộ của ngành để hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện xác định mức độ khuyết tật cho trẻ tự kỷ, để các

em được hưởng chính sách dành cho người khuyết tật

Như vậy, ngay cả trong Luật Người khuyết tật được coi là văn bản pháp luật tiến bộ nhất hiện nay thì Trẻ tự kỷ cũng chưa được đề cập một cách cụ thể mà chủ yếu lồng ghép với các đối tượng khác Vì vậy việc xác định rối loạn phổ tự kỷ là loại khuyết tật nào trong Luật Người khuyết tật rất quan trọng vì nó liên quan đến chính sách của nhà nước dành cho Trẻ tự kỷ Ngoài ra, đây còn là hành lang pháp

lý cho các công tác chuẩn đoán, hỗ trợ và các chính sách khác liên quan đến Trẻ tự

kỷ và gia đình có Trẻ tự kỷ

Trang 39

1.4.2 Yếu tố thuộc về trẻ tự kỷ và cha mẹ có con tự kỷ

Tự kỷ là một rối loạn phát triển kéo dài suốt đời, ảnh hưởng đến cách giao tiếp và quan hệ của một người đối với người xung quanh Trẻ tự kỷ bị tổn thương trong tương tác xã hội, giao tiếp xã hội và tưởng tượng Trẻ cũng có hành vi lặp đi lặp lại và nhạy cảm giác quan, những trẻ này có khuynh hướng gặp khó khăn trong học tập và nhiều trẻ bị khiếm khuyết về trí tuệ

Hầu hết cha mẹ cảm thấy shock ngay sau khi có chuẩn đoán con mắc chứng

tự kỷ và thường đặt nghi vấn hoặc có xu hướng chối bỏ thông tin họ nhận được Nhiều cha mẹ cảm thấy hụt hẫng, mất hết hy vọng và ước mơ họ Trẻ tự kỷ gặp những rào cản rất lớn về giao tiếp do vậy phụ thuộc rất nhiều vào cha mẹ và những người xung quanh Do khả năng bộc lộ các nhu cầu tối thiểu bị hạn chế hơn trẻ bình thường rất nhiều nên nếu trẻ không được cha mẹ và những người xung quanh quan tâm đúng mức, các khả năng tiếp cận cuối cùng với xã hội của trẻ cũng dần dần bị mai một Môi trường sống và cách mà cha mẹ thể hiện mức độ quan tâm đối với Trẻ tự kỷ là một trong những yếu tố quan trọng hang đầu trong phát hiện sớm và can thiệp sớm cho trẻ

1.4.3 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội

Nguồn nhân lực phục vụ cho CTXH là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH, họ có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội

để các đối tượng tiếp cận được với nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân và giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng đến chính sách

xã hội [6, tr.8]

Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động CTXH với trẻ em và gia đình cần được yêu cầu có trình độ và được trang bị một cách đầy đủ kiến thức về CTXH, tâm lý học, xã hội học cũng như những chuyên ngành cần thiết khác Tham gia các khóa tập huấn, lớp bồi dưỡng kiến thức về CTXH chương trình do bộ LĐTB&XH ban hành Ngoài ra, nhân viên CTXH có đủ trình độ ngoại ngữ, tin học để đáp ứng cho nhu cầu của công việc

Trang 40

Cán bộ xã hội cần sử dụng các kỹ năng như lắng nghe, quan sát, giao tiếp, tham vấn, kỹ năng ghi chép Khi làm CTXH đối với trẻ em và gia đình, ngoài các

kỹ năng trên thì cần thêm kỹ năng tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với đối tượng Với mỗi đối tượng khác nhau cần có cách tiếp cận khác nhau Thêm vào đó còn các kỹ năng thu thập và phân tích thông tin, kỹ năng vãng gia, kỹ năng bộc lộ và

kỹ năng quản lý trường hợp

Kết luận chương 1

Chương I đã xây dựng được khái niệm tham vấn như sau: Tham vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn, kĩ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người có khó khăn trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình

Hoạt động tham vấn tâm lý cho cha mẹ có con là trẻ tự kỷ có nhiều cách tiếp cận khác nhau theo những trường phái Tâm lý học khác nhau như: Trường phái tâm lý học phân tâm học, lý thuyết thân chủ trọng tâm của Carl Roger, tâm lý học hành vi,… và những cách tiếp cận theo CTXH đối với hoạt động tham vấn tâm lý Những cách tiếp cận này có những ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn quan trọng,

bổ trợ cho vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, những khái niệm công cụ quan trọng cũng góp phần cho người nghiên cứu có cái nhìn khái quát hơn về vấn đề được nghiên cứu, bổ trợ cho quá trình tìm hiểu thông tin phụ huynh, tìm hiểu các đặc điểm tâm

lý của phụ huynh có con là trẻ tự kỷ cũng như bản thân trẻ tự kỷ, từ đó giúp cho người nghiên cứu có được cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu cũng như đề xuất, đưa ra được những chương trình tham vấn cho cha mẹ có con là trẻ tự kỷ cũng như đưa ra các chương trình can thiệp cụ thể cho trẻ tự kỷ

Trong giai đoạn vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng cho Trẻ tự kỷ Tuy nhiên Chương I chỉ rõ ngay cả trong Luật Người khuyết tật được coi là văn bản pháp

Ngày đăng: 17/05/2017, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nữ Tâm An (2007), Sử dụng phương pháp TEACCH trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương pháp TEACCH trong giáo dục trẻ Tự kỷ tại Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Nữ Tâm An
Năm: 2007
2. Hoàng Anh (chủ biên), Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc (2007), Hoạt động giao tiếp nhân cách, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh (chủ biên), Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2007
3. Đào Thanh Âm (chủ biên) (1995), Giáo dục mầm non (tập 1,2,3), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non (tập 1,2,3)
Tác giả: Đào Thanh Âm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
4. Bệnh viện Nhi Trung Ương (2004), Hướng dẫn thực hành phương pháp chẩn đoán tự kỷ, Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành phương pháp chẩn đoán tự kỷ
Tác giả: Bệnh viện Nhi Trung Ương
Năm: 2004
5. Bệnh viện tâm thần Trung ương (1992), Phân loại bệnh Quốc tế về các rối loạn tâm thần và hành vi, Viện Sức khỏe tâm thần, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phân loại bệnh Quốc tế về các rối loạn tâm thần và hành vi
Tác giả: Bệnh viện tâm thần Trung ương
Năm: 1992
6. Hồ Thanh Bình, Phạm Minh Hạc (1978), Tuyển tập các bài báo Những vấn đề lịch sử của tâm lý học, tâm lý học đại cương, tâm lý học thần kinh, tâm lý học sư phạm, Nxb Tiến Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các bài báo Những vấn đề lịch sử của tâm lý học, tâm lý học đại cương, tâm lý học thần kinh, tâm lý học sư phạm
Tác giả: Hồ Thanh Bình, Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Tiến Bộ
Năm: 1978
7. Nguyễn Thanh Bình (2009), Giáo trình chuyên đề về giáo dục kỹ năng sống, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề về giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2009
8. Vũ Thị Chín (1987), Chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý từ 0 – 3 tuổi, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển sinh lý, tâm lý từ 0 – 3 tuổi
Tác giả: Vũ Thị Chín
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1987
9. De Guzman, L.S (1992),Working with individuals – The case work process, NASWE, Manila. Người dịch Nguyễn Thị Oanh, làm việc với cá nhân - tiến trình công tác xã hội cá nhân, ĐH Mở - bán công, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: làm việc với cá nhân - tiến trình công tác xã hội cá nhân
Tác giả: De Guzman, L.S
Năm: 1992
10. Ngô Xuân Điệp (2009), Nghiên cứu nhận thức của TTK tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án tiến sĩ tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức của TTK tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Xuân Điệp
Năm: 2009
11. Phạm Văn Đoàn (1995), Tâm bệnh lý trẻ em, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm bệnh lý trẻ em
Tác giả: Phạm Văn Đoàn
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1995
12. Nguyễn Văn Đồng (2009), Tâm lý học giao tiếp, Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
13. Trần Thị Minh Đức (2002), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb ĐHQGHN 14. Trần Thị Minh Đức, Thực trạng tham vấn ở Việt Nam: từ lý thuyết đến thực tế, Tạp chí tâm lý học số 2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý", Nxb ĐHQGHN 14. Trần Thị Minh Đức, Thực trạng tham vấn ở Việt Nam: từ lý thuyết đến thực tế
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN 14. Trần Thị Minh Đức
Năm: 2002
15. Elen Notbohm (2010), Mười điều trẻ Tự kỷ mong muốn bạn biết, Nxb Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười điều trẻ Tự kỷ mong muốn bạn biết
Tác giả: Elen Notbohm
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Freud S. (Nguyễn Xuân Hiến dịch), (2002), Phân tâm học nhập môn, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học nhập môn
Tác giả: Freud S. (Nguyễn Xuân Hiến dịch)
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2002
17. Phạm Minh Hạc – Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lý học tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tập 1
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Trần Trọng Thủy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
18. Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Trẻ Tự kỷ - Phát hiện sớm và can thiệp sớm, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ Tự kỷ - Phát hiện sớm và can thiệp sớm
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Phương Hoa, Về tâm lý học tư vấn, Tạp chí Tâm lý học số 2/1999 20. Tài liệu số 15 (2010), Phục hồi chức năng trẻ tự kỷ, Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng trẻ tự kỷ
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa, Về tâm lý học tư vấn, Tạp chí Tâm lý học số 2/1999 20. Tài liệu số 15
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2010
21. Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Nguyễn Thị Thái Lan, Lim Shaw Hui, (2008), Giáo trình tham vấn, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai (chủ biên), Nguyễn Thị Thái Lan, Lim Shaw Hui
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2008
22. Bùi Thị Xuân Mai, Tham vấn - Một dịch vụ XH cần được phát triển ở Việt Nam, Tạp chí Tâm lý học, số 2/1005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tâm lý học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Sơ đồ sinh thái đối với chị H - Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng
Hình 2.2 Sơ đồ sinh thái đối với chị H (Trang 46)
Bảng 2.1: Mục tiêu hoạt động và những nguồn lực trợ giúp - Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng
Bảng 2.1 Mục tiêu hoạt động và những nguồn lực trợ giúp (Trang 53)
Hình thành và rèn luyện cho con các kỹ năng tương tác  phù hợp với độ  tuổi, các kỹ năng tập trung, lắng nghe, hiểu các câu giao tiếp và biết cách - Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng
Hình th ành và rèn luyện cho con các kỹ năng tương tác phù hợp với độ tuổi, các kỹ năng tập trung, lắng nghe, hiểu các câu giao tiếp và biết cách (Trang 64)
Hình ảnh - Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng
nh ảnh (Trang 65)
Bảng 2.4: Bảng tham vấn cho chị H lần 2  Địa điểm Tại nhà chị H - Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng
Bảng 2.4 Bảng tham vấn cho chị H lần 2 Địa điểm Tại nhà chị H (Trang 66)
Bảng 2.5: Bảng  tham vấn cho chị H lần 3  Địa điểm Tại nhà chị H - Hoạt động tham vấn cho cha mẹ có con tự kỷ từ thực tiễn thành phố hải phòng
Bảng 2.5 Bảng tham vấn cho chị H lần 3 Địa điểm Tại nhà chị H (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm