Khi người ta càng già, các bệnh lý của tuổi tác càng gia tăng, đặc biệt là các bệnh mạch vành, suy tim, tai biến mạch máu não và sa sút trí tuệ.. Khi người ta càng già, các bệnh lý của t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Bộ môn Sinh Lý Học Thần Kinh
Bài tiểu luận giữa kỳ
TRÍ TUỆ Ở NGƯỜI LỚN TUỔI
Giáo viên bộ môn: Ths.Bs Lâm Hiếu Minh
Nhóm thực hiện: Nhóm 10
Lớp: Tâm lý học- VB2- K02
Trang 2DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 10
1 Lê Huỳnh Ngọc Mai (NT)
2 Dư Huỳnh Kim
3 Phạm Huỳnh Nguyệt Minh
9 Lê Thụy Phương Uyên
10 Ngô Thị Thu Nguyệt
11 Phạm Nguyễn Hương Thảo
12 Lê Thị Thùy Trang
13 Nguyễn Thị Bích Tiên
14.Nguyễn Anh Kiệt
Trang 3MỤC LỤC
A TỔNG QUAN VỀ SA SÚT TRÍ TUỆ 1
I SA SÚT TRÍ TUỆ LÀ GÌ? 1
II ĐẶC ĐIỂM THỂ CHẤT VÀ TÂM LÝ NGƯỜI GIÀ 2
1 Đặc điểm thể chất người cao tuổi: 2
2 Đặc điểm tâm lý người cao tuổi: 4
III PHÂN LOẠI VÀ NGUYÊN NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ 6
1 Phân loại: 6
2 Nguyên nhân: 7
IV DẤU HIỆU NHẬN BIẾT BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ 17
V CÁC GIAI ĐOẠN BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ 19
B CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA BỆNH SA SÚT TRÍ TUỆ: 21
I Chế độ ăn uống: 22
II Sức khỏe: 26
III Lối sống tích cực, lạc quan, cởi mở: 29
C CÁC PHƯƠNG PHÁP CẢI THIỆN CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH 32
Trang 4CHÚ THÍCH
1 Tiêu chuẩn DSM IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) đã được chấp thuận, theo một thông cáo chính thức lúc 3h31pm từ Ủy ban đặc trách
xuất bản của Hội tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association- APA).)
- Tiêu chuẩn DSM – IV: Trong vòng hai tuần, hầu như mỗi ngày: Tính khí
sầu muộn và/hoặc từ chối những nguồn vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong
số các triệu chứng sau:
Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng
Mất ngủ hoặc ngủ triền miên
Kích động hoặc trở nên chậm chạp
Mệt mỏi hoặc mất sức
Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi
Giảm khả năng tập trung, do dự
Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát
2. Chuẩn ICD-10 (The International Classification of Diseases : ICD) là công cụ chẩn đoán tiêu chuẩn cho dịch tễ học, quản lý sức khỏe và mục đích lâm sàng.)
- Tiêu chuẩn ICD – 10
F32.0 Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bị bệnh cảm thấy không được khỏe và tìm sự giúp đỡ của bác sĩ, sinh hoạt bình thường)
F32.1 Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu trong công việc và việc nhà không thể đảm nhiệm nổi)
F32.2 Trầm cảm nặng (bệnh nhân cần được điều trị)
F32.3 Trầm cảm nặng kèm theo những biểu hiện thần kinh khác
F32.8 và 9 Những giai đoạn trầm cảm khác
Trang 5ỜI GIỚI THIỆU
Nhờ sự cải thiện không ngừng của điều kiện sống, môi trường làm việc, dinh dưỡng, chủng ngừa, các thành tựu y tế xã hội, và đặc biệt là sự tiến bộ vượt bậc của y khoa thực hành, cuộc sống của con người ngày càng kéo dài hơn giới hạn mong đợi trước đây Tuy nhiên, sống lâu không đồng nghĩa với sống khoẻ mạnh Khi người ta càng già, các bệnh lý của tuổi tác càng gia tăng, đặc biệt là các bệnh mạch vành, suy tim, tai biến mạch máu não và sa sút trí tuệ
Sa sút trí tuệ tăng dần theo tuổi Vào khoảng 40 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ chỉ chiếm 0,1% dân số; đến trên 65 tuổi, tỉ lệ này là 5-8%; sau 75 tuổi nó tăng lên 15-20%; và trên 85 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ chiếm đến 25-50% dân số Nhìn chung, sau
65 tuổi, tỉ lệ sa sút trí tuệ tăng gấp đôi mỗi 5 năm
Theo Tổ chức Y tế thế giới, năm 2010, thế giới có 35,6 triệu người bị sa sút trí tuệ và ước tính đến năm 2030, con số dự báo sẽ tăng lên 65,7 triệu người, năm
2050 là 115,5 triệu người Tại Việt Nam, chưa có thống kê chính xác về số lượng
sa sút trí tuệ, nhưng theo dự đoán của Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình,
số lượng người dân trên 65 tuổi của năm 2020 và 2050 lần lượt là 8 triệu và 22 triệu người Tất nhiên, số người bệnh sa sút trí tuệ sẽ gia tăng theo số lượng người già, nếu chúng ta không có những biện pháp phòng ngừa hữu hiệu
L
Trang 7BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA SA SÚT TRÍ TUỆ
Ở NGƯỜI LỚN TUỔI
A. TỔNG QUAN VỀ SA SÚT TRÍ TUỆ
Nhờ sự cải thiện không ngừng của điều kiện
sống, môi trường làm việc, dinh dưỡng, chủng
ngừa, các thành tựu y tế xã hội, và đặc biệt là
sự tiến bộ vượt bậc của y khoa thực hành, cuộc
sống của con người ngày càng kéo dài hơn giới
hạn mong đợi trước đây Tuy nhiên, sống lâu không đồng nghĩa với sống khoẻ mạnh Khi người ta càng già, các bệnh lý của tuổi tác càng gia tăng, đặc biệt là các bệnh mạch vành, suy tim, tai biến mạch máu não và sa sút trí tuệ Sa sút trí tuệ là bệnh khá phổ biến ở người cao tuổi Tỷ lệ người mắc bệnh là:
- Khoảng 5 đến 10% người từ 65 tuổi trở lên
- Khoảng 20% người trên 80 tuổi
- Khoảng 47 % người từ 85 tuổi trở lên
- Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM- IV: Sa sút trí tuệ bao gồm nhiều
chức năng suy giảm nhận thức trong:
Trang 8- Hội chứng sa sút trí tuệ khác với tình trạng giảm trí nhớ sinh lý ở người lớn tuổi do hệ quả của quá trình lão hóa khiến cho các quá trình ghi nhận thông tin và nhớ lại thông tin bị chậm đi nhưng không bị mất ý thức do vậy họ vẫn có
- Quên ngược chiều ( Retrograde amnesia) nói đến việc mất trí nhớ đối với các sự kiện trước một điểm thời gian đặc biệt nào đó
- Quên thuận chiều ( Anterograde amnesia) là không có khả năng hình thành nên trí nhớ mới Trí nhớ thường được phân loại theo nhiều loại như trí nhớ ngay lập tức ( theo giây), trí nhớ ngắn ( theo phút đến vài giờ) và trí nhớ lâu dài ( theo ngày đến năm)
- Trí nhớ ngắn hạn là loại trí nhớ thường dễ bị ảnh hưởng nhất đối với các quá trình bệnh lý trong cả hai tình trạng: quên và các hội chứng sa sút trí tuệ Cấu trúc hải mã và cạnh hải mã, đồi thị lưng giữa ( Dorsomedial thalamus) cùng với vỏ não trán trước lưng bên ( Dorsolateral prefrontal cortex) là những vùng có liên quan đến chức năng trí nhớ ngắn hạn Trí nhớ qua lời nói chủ yếu liên quan đến bán cầu não trái và trí nhớ thị giác không gian liên quan đến bán cầu não phải
người mất đi những chức năng trí nhớ và nhận thức bình thường trước đây của mình Người bị sa sút trí tuệ gặp khó khăn trong ghi nhớ, học tập và giao thiệp Sa sút trí tuệ cũng có thể làm người bệnh thay đổi khí sắc và cá tính Sau một thời gian, bệnh sẽ làm cho họ không tự săn sóc được bản thân.
II ĐẶC ĐIỂM THỂ CHẤT VÀ TÂM LÝ NGƯỜI GIÀ
1. Đặc điểm thể chất người cao tuổi:
- Sự thay đổi về diện mạo bề ngoài thì ai cũng thấy như: da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm chạp, nói năng chậm chạp, mắt mờ, tai lãng,
Trang 9Phản ứng chậm: sau khi nghe câu hỏi, người già cần một khoảng
thời gian lâu hơn để ghi nhận dữ kiện, và thời gian lâu hơn để đưa
ra câu trả lời
Sự đi đứng chậm chạp và phản ứng chậm khiến các cụ cần nhiều
thời gian hơn để chuẩn bị mỗi khi đi ra ngoài
Hay ngã té: vì chân yếu và khả năng giữ quân bình không còn
mạnh như xưa
- Hệ thống tim mạch ở người cao tuổi hoạt động kém hiệu quả hơn; dung tích phổi giảm; khả năng dự phòng của các cơ quan trong cơ thể (nói riêng, hệ thống miễn dịch) đều giảm sút Dễ mắc bệnh hơn người trẻ, do
sự già lão và suy nhược của các cơ quan trong cơ thể, và do khả năng miễn nhiễm không còn mạnh mẽ như trước Những bệnh như cảm cúm, sưng phổi, rất dễ đưa tới cái chết cho người già mặc dù người trẻ có thể đương cự và bình phục một cách dễ dàng
- Một số vấn đề sức khỏe tuổi già gắn liền với chế độ ăn uống không đúng; tiêu thụ quá nhiều mỡ dẫn đến xơ vữa động mạch
- Uống thuốc quá liều lượng, không đúng và lạm dụng thuốc ở người cao tuổi dẫn tới tình trạng nguy hiểm đối với sức khỏe
- Thường thì tuổi cao các hệ thống nhạy cảm bắt đầu hoạt động kém hiệu quả hơn; thực hiện và xử lý thông tin ít hiệu quả Thiếu chú ý và hay quên: thật ra, người già không mất đi những hiểu biết và khả năng của mình, các cụ chỉ chậm chạp hơn trong việc bày tỏ và vận dụng sự hiểu biết của mình mà thôi, do đó, nhìn bề ngoài chúng ta dễ nghĩ là các cụ hay quên khi chúng ta phải chờ một hồi lâu mới được câu trả lời mà mình muốn nghe
- Trọng lượng cơ bắp ở người cao tuổi giảm đi; xương bắt đầu yếu
Trang 10- Cảm giác ngon miệng với người cao tuổi hầu như không thay đổi, nhất là khả năng cảm nhận vị ngọt, trong khi đó khả năng phân biệt sắc thái của
vị cay có giảm đi chút ít Cùng với tuổi tác, khứu giác cũng kém đi rõ rệt
- Hệ tiết niệu cũng có nhiều thay đổi, khả năng lọc của thận kém, khả năng bài tiết giảm, dịch vị trong hệ tiêu hóa giảm, gây trở ngại cho việc tiêu hóa thức ăn
2. Đặc điểm tâm lý người cao tuổi:
- Phần lớn khả năng trí óc ở người cao tuổi trên thực tế không thay đổi, tuy nhiên tốc độ xử lý nhận thức thông tin giảm đi
- Cất giữ thông tin trong các hệ thống nhạy cảm và trí nhớ ngắn hạn cùng với tuổi tác rất ít thay đổi; các chức năng nhớ dài hạn khi thường lệ giảm sút Hồi tưởng ở người cao tuổi thực tế không bị ảnh hưởng
- Sự hình thành trí thông minh- là quan điểm lão hóa tích cực; trí thông minh làm cho số lượng kiến thức về các mặt thực tế cuộc sống tăng lên và giúp con người hiểu thực tế tốt hơn
- Trong số các nguyên nhân đầu tiên làm cho hoạt động nhận thức xấu đi ở người cao tuổi có thể kể đến bệnh Alzheimer và rối loạn tuần hoàn não Trong số những nguyên nhân thứ hai thì nghèo túng và tình trạng sức khỏe kém ở người cao tuổi đóng vai trò quan trọng nhất
- Lão hóa đôi khi gắn liền với thiểu năng trí tuệ và kéo theo nó là những thay đổi cá tính:
Muốn được chăm sóc và để ý tới nhiều hơn: do những thay đổi thể
lý, người già có thể mất đi những khả năng đã có như không thể lái
xe được nữa, không tự nấu ăn hay chăm sóc vệ sinh cơ thể được nữa, do đó trở thành lệ thuộc người khác Có người già chấp nhận
và ứng phó thành công với sự suy giảm chức năng, nhưng cũng có người trở thành lo lắng quá độ, lúc nào cũng đòi con cái ở cạnh để
Trang 11được chăm sóc, hoặc trở thành cau có, gắt gỏng khi con cái bê trễ trong việc đáp ứng những nhu cầu của mình
Sợ cô đơn: nhất là với đời sống ở các nước tân tiến và kỹ nghệ như
tại Hoa Kỳ, tuổi trẻ bận rộn bay nhảy, bon chen, người già rất dễ thấy mình bị bỏ rơi và quên lãng trong bốn bức tường, nếu không
có khả năng lái xe, đi xe bus để tham gia những sinh hoạt xã hội hoặc giải trí Sự cách biệt giữa các sinh hoạt thời còn trẻ và tuổi già càng nhiều thì sự thích nghi càng khó Do đó, người già có thể
có thái độ thất vọng, trì kéo và lệ thuộc vào con cái của mình Chúng ta cần thông cảm thái độ này để cư xử một cách tế nhị hầu tránh rơi vào trường hợp hất hủi hay ngược đãi người già
Hay lo âu hơn trước: chính vì chậm chạp, mất đi những chức năng
và phải lệ thuộc hay nhờ vả người khác, mà người già trở nên lo lắng quá độ Do sự lo lắng này, các cụ thường lặp đi lặp lại một yêu cầu hay một câu hỏi, để được trấn an Nhưng chính sự lặp đi lặp lại này có thể làm con cháu hay người gần cận trở nên bực dọc
và cau có với các cụ
Dễ mủi lòng, tủi thân: khi những nhu cầu hay yêu cầu của mình
không được các con đáp ứng đầy đủ hay nhanh chóng Nhất là các
cụ đã từng dành phần lớn thì giờ của đời mình trong việc chăm sóc, lo lắng cho các con với ước mơ được các con đền đáp lúc tuổi già
Nếu người già có những ước mơ không thực hiện được, không hài
lòng với cuộc đời mình, có thể có những triệu chứng của bệnh
trầm cảm, và trở thành một người khó tính, hay gay gắt với con cái, và có thể, ganh tị cả với sự thành công của các con Những người già can thiệp hay kiểm soát quá nhiều vào đời sống con cháu, thường là những người không thỏa hiệp và thích nghi được với giai đoạn mới này của đời sống
Trang 12- Sự bối rối, kém trí nhớ, hành vi mất phương hướng có thể là do những nguyên nhân khác Ví dụ: bệnh về thể lực hay các bệnh cảm xúc cần phải chữa trị
- Khoảng một nửa số người được chẩn đoán là “thiểu năng trí tuệ” đều phải chịu đựng do bệnh Alheimer Trong giai đoạn cuối của bệnh, người bệnh hoàn toàn mất phương hướng và tử vong do các cơ quan quan trọng của cơ thể về sự sống bị rối loạn
- Đột quỵ và vi đột qụy thuộc vào những nguyên nhân đầu tiên của bệnh thiểu năng trí tuệ
- Những kỳ vọng tâm lý, sức khỏe tâm thần và các yếu tố khác có ảnh hưởng quan trọng đối với hoạt động nhận biết của người cao tuổi
- Trong số các yếu tố khác dẫn đến các rối loạn nhận thức có thể kể đến thể trạng kém của người cao tuổi, ăn uống không đúng, thường sử dụng
đồ uống có cồn, các tác dụng phụ của thuốc và tự tách khỏi hoạt động trí
óc
III. PHÂN LOẠI VÀ NGUYÊN NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ
1 Phân loại:
1.1 Sa sút trí tuệ do bệnh lý thoái hoá:
- Sa sút trí tuệ vỏ não: Bệnh Alzheimer
- Sa sút trí tuệ hỗn hợp vỏ và dưới vỏ: Sa sút trí tuệ thể Lewy, loạn
dưỡng chất trắng
- Sa sút trí tuệ dưới vỏ: Bệnh Parkinson, liệt trên nhân tiến triển, thoái
hoá vỏ- hạch nền, bệnh Huntington, bệnh Wilson…
1.2 Sa sút trí tuệ không do bệnh lý thoái hoá:
- Nhồi máu não đa ổ, sa sút mạch máu (bệnh Binswanger, trạng thái lổ khuyết), MS, bệnh não sau chấn thương, viêm mạch, ngộ độc rối loạn chuyển hoá (thiếu B1, bệnh nội tiết, nghiện rượu, nghiện ma tuý), sa sút
Trang 13do bệnh lý viêm nhiễm (HIV, bệnh Whipples, giang mai thần kinh, bệnh Prion)
2 Nguyên nhân:
2.1 Bệnh Alzheimer :Còn được gọi là lú lẩn tuổi già, là nguyên nhân hàng đầu của sa sút trí tuệ Bệnh ảnh hưởng chủ yếu đến những phần não kiểm soát sự suy nghĩ, trí nhớ và ngôn ngữ
a Khái niệm:
- Alzheimer là bệnh thoái hóa cả não bộ
không hồi phục, gây nên chứng sa sút trí tuệ
ở người cao tuổi Tổn thương tế bào thần kinh ở vỏ não và những cấu trúc xung quanh làm sa sút trí nhớ, giảm phối hợp vận động, giảm cảm giác, nhận cảm sai , cuối cùng là mất trí nhớ và chức năng tâm thần
- Do những tế bào não bị co rút lại hay biến
mất, những chất thể bất bình thường tích tụ lại như những "mớ tơ vò" tại trung tâm của các tế bào não, và như những "mảng bựa"
bên ngoài tế bào não Những thứ này ngăn chặn việc truyền đạt thông tin trong não, làm tổn hại đến sự nối kết giữa các tế bào não Sau cùng, các tế bào não bị chết đi, và điều này có nghĩa
là các thông tin không thể được nhớ lại hay tiêu hóa được Vì bệnh Alzheimer làm ảnh hưởng đến từng vùng của bộ não, một số các chức năng hay năng lực nhất định bị mất đi
b. Đặc trưng của bệnh:
- Là một bệnh thoái hoá tiệm tiến của hệ thần kinh kinh trung ương
- Suy giảm trí nhớ có kèm theo là một hay nhiều rối loạn nhận thức, ngôn ngử, cử động hữu ý
Trang 14- Suy giảm dần trong ba lĩnh vực: sinh hoạt hằng ngày, nhân cách và hành vi, nhận thức
- Hay gặp nhất của người từ 65 tuổi trở lên
c Chẩn đoán bệnh Alzheimer (DMS – VI):
- Nhiều thiếu sót trong chức năng nhận thức dưới hình thức suy giảm trí nhớ và có 1 rối loạn (hay nhiều hơn) sau: Mất ngôn ngữ, mất cử động hữu ý, mất nhận thức, mất khả năng thực hiện
- Các thiếu sót về chức năng nhận thức dẫn tới sa sút trong hoạt động xã hội (kém hơn lần trước)
- Tuổi: là yếu tố nguy cơ lớn nhất, bắt đầu từ tuổi 65 thì mỗi 5 năm có gấp
đôi số ca bị Alzheimer Vào tuổi 85 thì có phân nửa số người bị bệnh Alzheimer
- Giới tính: phụ nữ dễ bị bệnh hơn nam giới
- Dân tộc: các dân tộc có tần suất mắc bệnh Alzheimer khác nhau
Trang 15Người da trắng ít mắc bệnh hơn người Mỹ gốc Phi hoặc Tây Ban Nha Người châu Á cũng ít mắc bệnh hơn nơi khác Người ta còn cho rằng bệnh chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường, thí dụ người Nhật sống tại
Mỹ có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn hẳn so với người Nhật sống tại Nhật
- Cao huyết áp và tăng cholesterol máu: nhiều nghiên cứu cho thấy người
có huyết áp tâm thu cao hoặc tăng cholesterol máu sẽ có nguy cơ cao bị Alzheimer
- Hội chứng Down: người bị chứng này sẽ bị Alzheimer khi sống đến 40
tuổi và những bà mẹ sinh con bị Down sẽ có nguy cơ cao bị Alzheimer
e Các giai đoạn tiến trình của bệnh
- Giai đoạn 1: không bị sa sút – chức năng bình thường Bệnh nhân không
có vấn đề về trí nhớ
- Giai đoạn 2: sa sút rất ít – có thể là những thay đổi trong sự lão hóa bình
thường hoặc triệu chứng mới sơ khởi Bệnh nhân có thể cảm thấy mình
có vấn đế về trí nhớ như quên từ thông thường hay vị trí những đồ vật dùng hàng ngày, nhưng những người xung quanh vẫn chưa phát hiện được triệu chứng
- Giai đoạn 3: sa sút nhận thức nhẹ – một vài bệnh nhân có thể được chẩn
đoán ở thời kỳ sơ khai này Mọi người xung quanh có thể phát hiện những khó khăn về trí nhớ và sự chú ý Một vài khó khăn giai đoạn này:
Không tìm được từ chính xác hoặc tên người quen
Không nhớ tên những người vừa mới gặp
Khó khăn làm việc trong xã hội và cơ quan
Quên ngay những điều mình vừa đọc
Gặp nhiều khó khăn trong việc kế hoạch hay tổ chức
- Giai đoạn 4: sa sút nhận thức trung bình – thời kỳ nhẹ hay bệnh
Alzheimer sơ khởi Trong giai đoạn này, khám bệnh có thể phát hiện nhiều vấn đề:
Trang 16Quên những sự kiện vừa xảy ra
Khả năng tính toán nhẩm bị sa sút nhiều
Khó khăn nhiều hơn khi thực hiện các công việc có nhiều thao tác như kế hoạch một buổi tiệc hay quản lý tài chính…
Quên những sự việc đã xảy ra trong đời mình
Tính tình thay đổi vui buồn bất thường, lơ là xa lánh mọi người
- Giai đoạn 5: sa sút nhận thức khá trầm trọng – thời kỳ trung hay bệnh
Alzheimer ở giai đoạn giữa.Trí nhớ và sự suy nghĩ suy giảm rõ rệt Người bệnh bắt đầu cần đến sự giúp đỡ trong công việc thường nhật Trong giai đoạn này, người bệnh có thể:
Không nhớ địa chỉ nhà hay số điện thoại nhà, không nhớ tên trường trung học hay đại học mà mình từng học
Lẫn lộn ngày trong tuần hoặc nơi chốn hiện tại
Khó khăn khi đếm nhẩm ngược chiều
Cần sự giúp đỡ khi lựa chọn áo quần mặc thích hợp với thời tiết
Còn nhớ những chi thiết đáng kể về họ và gia đình
Còn tự túc ăn uống và đi vệ sinh
- Giai đoạn 6: sa sút nhận thức trầm trọng – thời kỳ trầm trọng Trí nhớ
càng ngày càng tệ hơn, nhân cách thay đổi nhiều và người bệnh cần nhiều giúp đỡ trong công việc hàng ngày Trong giai đoạn này, bệnh nhân có thể:
Không nhận thức được những việc vừa xảy ra hay môi trường xung quanh
Còn nhớ tên mình nhưng không còn nhớ lý lịch của mình
Phân biệt giữa khuôn mặt quen và lạ, nhưng không nhớ tên
Trang 17Cần giúp mặc áo quần, nếu không họ có thể mang giày ngược chân hay mặc áo trong ra ngoài áo bộ…
Thay đổi giấc ngủ như ngủ ngày thức đêm
Cần trợ giúp khi đi vệ sinh như giựt nước hay lau chùi bỏ giấy vào thùng rác
- Giai đoạn 7: sa sút nhận thức rất trầm trọng –bệnh Alzheimer ở thời kỳ
nặng hay thời kỳ cuối Trong giai đoạn này, người bệnh mất hết khả năng đáp ứng với hoàn cảnh chung quanh, không chuyện trò, không kiểm soát
cử động tay chân Họ còn có thể phát ngôn từng chữ hoặc một vài câu Người bệnh cần sự giúp đỡ rất nhiều trong việc hàng ngày như ăn uống,
vệ sinh Họ không còn khả năng cười, ngồi thẳng một mình và ngưỡng cổ thẳng.Phản xạ bất thường Gân cốt co cứng Không ăn nuốt được
2.2 Sa sút trí tuệ mạch máu não- Vascular dementia (VAD)
- Sa sút trí tuệ mạch máu được định nghĩa dựa vào cơ chế bệnh sa sút trí
tuệ do mạch máu và tuần hoàn não
- Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Alzheimer và tiêu chuẩn chẩn đoán đột quị (NINDS-AIREN) thì sa sút trí tuệ mạch máu bao gồm ba yếu tố:
Hiện diện lâm sàng sa sút trí tuệ
Chứng minh bệnh mạch máu não
Và loại bỏ các khả năng khác gây sa sút trí tuệ
- Bệnh lú lẫn não mạch
là một từ ngữ bao quát dùng để diễn tả chứng bệnh sa sút trí tuệ kết hợp với những trở ngại của đường máu lưu thông dẫn tới não
bộ và đứng thứ nhì
Trang 18trong những hình thức bệnh sa sút trí tuệ phổ biến nhất Có một số loại bệnh sa sút trí tuệ não mạch khác nhau Hai loại phổ biến nhất là bệnh sa
sút trí tuệ nhồi máu đa dạng và bệnh Binswanger
- Bệnh sa sút trí tuệ nhồi máu đa dạng bị gây ra do một số cơn tai biến mạch máu não nhỏ, được gọi là những cơn tiểu tai biến mạch máu não hay những Cơn Đau Thiếu Máu Cục Bộ Nhất Thời (Transient Ischaemic
Attacks) (TIA), và có lẽ là hình thức bệnh lú lẫn não mạch phổ biến nhất
- Bệnh Binswanger (còn được gọi là sa sút trí tuệ não mạch dưới vỏ) kết hợp với những biến đổi ở não bộ vốn liên quan tới tình trạng tai biến mạch máu não Loại này bị gây ra do tình trạng cao huyết áp, nghẽn động mạch và máu lưu thông không đầy đủ Bệnh sa sút trí tuệ não mạch có thể xuất hiện tương tự như bệnh Alzheimer, và một số người có thể mắc
cả hai chứng bệnh Alzheimer và bệnh sa sút trí tuệ não mạch
2.3 Bệnh Parkinson
- Bệnh Parkinson là chứng rối loạn hệ thần kinh trung ương ở mức độ ngày càng tăng, được xác định rõ bằng tình trạng run rẩy, tay chân và các khớp xương bị cứng, nói năng trở ngại và rất khó khăn khi phải bắt đầu các động tác thể lực
Trang 19- Vào cuối tiến trình của chứng bệnh này, một số người có thể bị bệnh sa sút trí tuệ Thuốc men có thể giúp cải thiện những triệu chứng về thể lực nhưng có thể gây ra các phản ứng phụ trong đó bao gồm tình trạng bịảo giác, ảo tưởng, cảm giác lẫn lộn tạm thời bị nặng thêm, và các cử chỉ trở nên khác thường
2.4 Bệnh sa sút trí tuệ với thể dạng Lewy
- Bệnh sa sút trí tuệ với thể dạng Lewy xảy ra do những tế bào thần kinh trong não bị thoái hóa và chết đi Tên gọi này xuất phát từ sự hiện diện của những cấu trúc hình cầu khác thường, được gọi là các thể dạng Lewy vốn phát triển bên trong những tế bào thần kinh Người ta nghĩ rằng những thể dạng này có thể góp phần vào việc làm chết các tế bào não
- Những người bị bệnh sa sút trí tuệ với thể dạng Lewy có khuynh hướng nhìn thấy các sự việc (cái nhìn ảo giác), chân tay bị cứng hay bị run (bệnh parkinson), bệnh trạng của họ có khuynh hướng thay đổi rất nhanh, thường từ giờ này qua giờ khác hay ngày này qua ngày khác Những triệu chứng này khiến nó trở thành khác biệt với bệnh Alzheimer
- Bệnh sa sút trí tuệ với thể dạng Lewy đôi khi xảy ra cùng lúc với bệnh Alzheimer và/hoặc bệnh sa sút trí tuệ Não Mạch Việc phân biệt giữa bệnh Sa Sút Trí Tuệ với thể dạng Lewy và bệnh Parkinson có thể rất khó, đồng thời một số người bị bệnh Parkinson có khuynh hướng mắc phải một chứng bệnh sa sút trí tuệ với những triệu chứng tương tự như bệnh
Sa Sút Trí Tuệ với thể dạng Lewy
2.5 Bệnh Thoái Hóa Thùy Thái DươngFronto (Fronto Temporal Lobal Degeneration) (FTLD)
- Đây là tên gọi được đặt cho một nhóm các chứng bệnh sa sút trí tuệ khi
có sự thoái hóa ở một hay cả hai thùy trán trước hay thùy thái dương Nhóm này bao gồm các chứng Sa Sút Trí Tuệ Thái Dương Fronto
Trang 20(Fronto Temporal Dementia), ch(Progressive non
(Semantic Dementia) và b
- Khoảng 50% nh
đình Những ngtau biến dạng trong nhibình thường Các y
- Biểu hiện : m
thể thùy trán là vô c
dò tìm hiểu bhung dữ, mất khbối rối quẫn trí, tiêu ti
poral Dementia), chứng Mất Ngôn Ngữ(Progressive non-Fluent Aphasia), chứng Sa Sút Trí Tu(Semantic Dementia) và bệnh Pick
ng 50% những người bị bệnh FTLD có bệnh s
ng người bị bệnh này do di truyền thường có các gien ch
ng trong nhiễm sắc thể 17, dẫn đến việc t
ng Các yếu tố rủi ro khác hiện chưa được biế
n : mất kiến thức về từ ngữ và đồ vật Các triệ
n là vô cảm, thờ ơ, mặc quần áo cẩu thả, tă
u bằng miệng, đi tới lui không ngừng, trầm c
t khả năng diễn đạt ngôn ngữ, ít nói dần, tă
n trí, tiêu tiểu không kiểm soát
Trang 21Các hình ảnh bên trái là chụp MRI của một người bị mất trí nhớ frontotemporal Các khu vực màu đen hiển thị các khu vực phía trước của não đã bị thu hẹp do mất trí nhớ
Hình bên phải cho thấy não bình thường một người lớn khỏe mạnh ở cùng độ tuổi
2.6 Bệnh Huntington:
- Bệnh Huntington là bệnh suy thoái não di truyền vốn tác động đến tinh thần và thể xác Bệnh này thường xảy ra ở lứa tuổi từ 30 đến 50 và được xác định rõ qua việc suy sụp trí tuệ, các động tác của tay chân hay các cơ bắp trên mặt trở nên bất định và không tự kềm chế được Các triệu chứng khác bao gồm những thay đổi về cá tính, nhiễu loạn trí nhớ, nói lắp, khả năng phán đoán bị giảm sút và những vấn đề trở ngại về tâm thần
- Hiện chưa có cách điều trị nào để chận đứng tình trạng tiến triển ngày càng tăng của bệnh này, nhưng thuốc men có thể giúp kềm chế những rối loạn về động tác cũng như các triệu chứng về tâm thần Bệnh sa sút trí tuệ xảy ra trong đa số các trường hợp này
2.7 Suy giảm trí tuệ WKS Wernickekosakoff Syndrome :
- WKS là căn bệnh suy giảm trí nhớ liên quan đến Hội chứng Wernickekosakoff Syndrome Nguyên nhân gây bệnh do việc uống quá nhiều rượu bia, đặc biệt nếu kết hợp với chế độ ăn uống không đủ chất thiamine (sinh tố B1) có thể dẫn tới tình trạng thương tổn não bộ tới mức không thể kéo lại được Tình trạng này có thể cải thiện đôi chút nếu ngưng uống rượu bia
- Những phần dễ bị tổn thương trong não nhất là những phần được dùng cho việc ghi nhớ và hoạch định, cho khả năng tổ chức và phán đoán, cho