Qua câu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” đã cho ta thấy được yếu tố môi trường(gia đình, xã hội, thể chế đất nước,…) nó ảnh hưởng và tác động đến tính cách con người là như thế nào. Và trong xã hội Việt Nam xưa cho đến nay tình trạng trên được phản ánh rất rõ trong các tác phẩn văn học của những nhà văn lớn như Nam Cao, Tô Hoài,… hay trong các truyện cổ tích, dân gian, dân ca, cải lương và cả phim ảnh,… đã nói lên tình trạng đang báo động trong các gia đình đang rơi vào một vòng lẫn quẫn của sự tiến triển kéo dài dai giẵng và nó đã hình thành nên văn hóa của Việt Nam về tình trạng như: Gia đình quá nuông chiều, đùm bộc, cưng chiều con quá mức-không cho con làm gì hay tự làm gì, gia đình luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con, để lại của cải, giáo dục con chỉ biết hưỡng thụ không biết chia sẽ không biết giúp đỡ người khác,… nhất là trong đa phần rất nhiều gia đình có điều kiện, tiền bạc, và ngay cả không nhiều chính những gia đình không điều kiện khi họ yêu thương con do hệ gia đình gốc ảnh hưởng…. Có một câu nói “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” và có nghe một câu nói khác “cha nào con náy, mẹ nào con náy” đã thể hiện một quy luật và cũng nói lên một tình trạng của xã hội Việt Nam ngày nay được gọi là “ổ bệnh đa thế hệ” và vấn đề “khái niệm tủi hỗ” cũng là điều đáng xem xét và nghiên cứu trong tình trạng các gia đình ở xã hội Việt Nam hiện nay.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
MÔN SINH LÝ HỌC THẦN KINH
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI TIỂU HỌC 5
1 Hoạt động học tập và giao tiếp của tuổi nhi đồng 5
1.1 Hoạt động học tập của tuổi nhi đồng 5
1.2 Các hoạt động khác của nhi đồng 5
1.3 Giao tiếp của nhi đồng 6
2 Phát triển nhận thức và trí tuệ 6
2.1 Sự hình thành khả năng tổ chức hành động nhận thức 6
2.2 Phát triển nhận thức 7
2.3 Ảnh hưởng của các phương thức dạy học tới sự phát triển hoạt động nhận thức và trí tuệ của nhi đồng 7
3 Sự phát triển đạo đức 8
3.2 Sự phát triển nhận thức và hình thành các hành vi đạo đức của lứa tuổi nhi đồng 9
II TRẺ CHƯA NGOAN, CÁC BIỂU HIỆN VÀ NGUYÊN NHÂN 9
1 Định nghĩa: “Trẻ chưa ngoan” 9
2 Những biểu hiện của trẻ chưa ngoan: 10
3 Nguyên nhân của trẻ chưa ngoan 12
III CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ CHƯA NGOAN 20
1 Định nghĩa “giáo dục” 21
2 Các học thuyết ứng dụng trong giáo dục trẻ 21
2.1 Thuyết điều kiện hóa thao tác Skinner 21
2.1.1 Đôi nét về Skinner 21
2.1.2 Nội dung của học thuyết 22
2.1.3 Ứng dụng thuyết trong việc giáo dục trẻ 23
a) Tác nhân củng cố hành vi 23
b) Tạo nếp 25
c) Dạy học chương trình hoá 26
d) Hành vi ngôn ngữ 26
Trang 42.2 Nguyên lý Premack 27
3 Ứng dụng học thuyết trong việc xây dựng môi trường xung quanh trẻ 28
3.1 Môi trường gia đình 28
3.1.1 Xây dựng gia đình văn hóa tiến bộ 28
3.1.2 Xây dựng kỹ năng làm cha mẹ 29
3.1.3 Giáo dục trong gia đình 29
a) Tập nhiễm 29
b) Bắt chước 30
c) Phương pháp “Không roi vọt-kỷ luật không nước mắt” 31
d) Phương pháp “uốn nắn” 31
e) Nhịp củng cố 31
3.2 Đối với giáo dục của nhà trường 31
3.2.1 Xây dựng sân thêm nhiều sân chơi - học lành mạnh 31
3.2.2 Hoạt động Đội thiếu niên Tiền phong: 33
3.2.3 Phương pháp giáo dục của giáo viên 33
3.3 Đối với cộng đồng, xã hội 34
KẾT LUẬN 36
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em là chồi non hy vọng, là thế hệ tương lai của đất nước Tất cả chúng tađều muốn trẻ trở thành người trò giỏi, con ngoan Thế nhưng, người lớn chúng tathường phân loại trẻ theo 2 khuynh hướng: trẻ ngoan và trẻ hư mà chưa quan tâm đếnđối tượng trẻ chưa ngoan cũng như các biện pháp giáo dục trẻ chưa ngoan
Lứa tuổi tiểu học là giai đoạn học sinh bắt đầu tham gia vào hoạt động mangtính xã hội hóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học của loài người Dướiảnh hưởng của hoạt động học tập, nhân cách của học sinh có nhiều biến đổi phong phú
và sâu sắc Vì thế, giáo dục trẻ độ tuổi tiểu học có vai trò quan trọng trong việc hìnhthành năng lực trí tuệ cũng như nhân cách của các em sau này
Vấn đề giáo dục trẻ trong xã hội hiện đại ngày nay khó hơn ngày xưa rất nhiều.Nếu như trẻ con ngày xưa chỉ quanh quẩn trong nhà, không có điều kiện giao lưu vớithế giới bên ngoài thì trẻ em ngày nay đã khác Các em ngoài những mối quan hệtrong gia đình, chúng còn có nhiều mối quan hệ ngoài xã hội cũng như cơ hội tiếp cậnthông tin từ khắp nơi trên thế giới qua các phương tiện thông tin khác nhau Mọiphương pháp giáo dục cần dựa trên thái độ tôn trọng và tình yêu thương Đặc biệt,trong giáo dục trẻ em độ tuổi tiểu học cần chú ý: không nên nôn nóng mà phải biết chờđợi sự phát triển, đặc biệt là tận dụng thuộc tính tâm lý đã có để hình thành các thuộctính tâm lý mới hơn trong nhân cách các em
Muốn giáo dục cũng như tìm ra phương pháp giáo dục tốt nhất cho trẻ, đòi hỏicác nhà giáo dục, các bậc cha mẹ phải thật sự thông hiểu trẻ Để tiếp cận và đưa ra giải
pháp cho đề tài “Giáo dục trẻ chưa ngoan độ tuổi tiểu học”, trước hết nhóm chúng tôi
tiến hành tìm hiểu sự phát triển tâm lý lứa tuổi này Chính trong quá trình phát triểntâm lý sẽ nảy sinh ra những khó khăn tâm lý ở lứa tuổi tiểu học mà người lớn chúng tathường nhầm lẫn rằng đó là những biểu hiện chưa ngoan ở trẻ Từ đó, nhóm chúng tôirút ra những phương án giáo dục trẻ chưa ngoan cơ bản dựa trên ứng dụng nguyên lýđiều kiện hóa vào giáo dục và các phương pháp giáo dục trong gia đình, nhà trường,ngoài xã hội cũng như yếu tố tự giáo dục (tự thân vận động) của trẻ
Với quan niệm “Những điều chúng ta biết chỉ là một giọt nước, những điều
chúng ta không biết là cả một đại dương” Mặc dù đã cố gắng bám sát đề tài nhưng
nhóm thực hiện vẫn còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự chia sẻ của thầy vàcác bạn để chúng ta cùng nhau hoàn thiện kiến thức và tìm ra được những phương ántốt nhất giáo dục trẻ chưa ngoan độ tuổi tiểu học nói riêng cũng như sẽ mở rộng đề tài
ở các lứa tuổi khác
Trân trọng cảm ơn!
Trang 6Tập thể các thành viên Nhóm 4
I SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI TIỂU HỌC
Tuổi nhi đồng được xác định từ 6 đến 11 tuổi (tương ứng với thời kì học tiểuhọc ở nước ta)
1 Hoạt động học tập và giao tiếp của tuổi nhi đồng
1.1 Hoạt động học tập của tuổi nhi đồng
Bước ngoặt lớn nhất của trẻ em giai đoạn này là thay đổi hoạt động chủ đạo,
từ chơi sang hoạt động học Hoạt động học của lứa tuổi nhi đồng có các đặc điểmsau:
- Thứ nhất: hoạt động học của lứa tuổi nhi đồng khác hoàn toàn với hoạtđộng chơi của trẻ ở giai đoạn mẫu giáo
- Thứ hai: hoạt động học là hoạt động kép, gồm hai hoạt động có quan hệhữu cơ với nhau như hoạt động học, và các hoạt động tu dưỡng Hoạt động họcđược thực hiện thông qua việc học các môn học, còn hoạt động tu dưỡng được thựchiện thông qua nhiều hoạt động phong phú bao gồm cả hoạt động học; có nội dunggần gũi với cuộc sống thực của học sinh chứ không nhất thiết phải sắp xếp theologic chặt chẽ
- Thứ ba: hoạt động học của tuổi nhi đồng không phải được hình thành ngay
từ đầu, nó được hình thành và phát triển dần trong suốt quá trình phát triển ởtrường tiểu học
1.2 Các hoạt động khác của nhi đồng
Ngoài hoạt động học được tổ chức từ nhà trường, trong cuộc sống thườngngày, trẻ còn tham gia vào nhiều hoạt động được tổ chức hoặc có tính tự phát như:hoạt động chơi, hoạt động xã hội, hoạt động xã hội và hoạt động tập thể, hoạt độngthể thao - nghệ thuật v.v
Lứa tuổi nhi đồng có nhiều loại hoạt động có chức năng nhất định tạo nên sựphát triển của trẻ Tuy nhiên, trẻ được hoạt động như thế nào và có ảnh hưởng đến
sự phát triển ra sao lại tuỳ thuộc vào điều kiện sống của trẻ, tuỳ thuộc vào trình độvăn minh, văn hoá của nhà trường, gia đình và xã hội Điều cần quán triệt là mọihoạt động của trẻ ở lứa tuổi này dù là tự giác hay tự phát đều cần sự quan tâm địnhhướng, giúp đỡ của người lớn, cần được sự bảo vệ của người lớn để các em tránhđược các tác hại và ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường đối với các em
Trang 71.3 Giao tiếp của nhi đồng
Giao tiếp của nhi đồng không chỉ được mở rộng hơn về trường giao tiếp(phạm vi không gian, thời gian, đối tượng giao tiếp và nội dung giao tiếp) mà cònkhác về chất so với giao tiếp của tuổi mẫu giáo
Trong trường học, quan hệ giữa giáo viên với học sinh khác xa so với quan
hệ cô cháu ở trường mẫu giáo Giáo viên tiểu học là người đại diện cho phươngthức tác động mới, với những yêu cầu và tính chất hoạt động khác với hoạt động ởtrường mẫu giáo Dưới con mắt học sinh tiểu học (nhất là các lớp dưới), thầy côgiáo là người đầy quyền lực, uy tín, ngưỡng mộ và thần tượng Các em có nhu cầucao được tiếp xúc, được bắt chước và noi theo các hành vi ứng xử của thầy, côgiáo Các em rất sung sướng, tự hào khi được thầy cô có các cử chỉ thân thiện, giaoviệc, đánh giá và khen ngợi
Từ mối quan hệ giao tiếp đặc biệt này, trẻ em lĩnh hội nhiều từ người thầy cả
về khoa học, nghệ thuật và lối sống Ngược lại, nếu bị xa cách, bị đối xử quánghiêm khắc hoặc bị thiên vị, thiếu mẫu mực từ phía giáo viên (đặc biệt trongnhững ngày tháng đầu tiểu học), thì nhiều em sẽ gặp bối rối, lo âu, thậm chí xuấthiện cảm giác cô đơn hoặc có các phản ứng tiêu cực đối với các thầy, cô giáo
Trong giai đoạn phát triển này, trẻ em quan hệ với nhau rất hồn nhiên, bìnhđẳng, các em chưa phân biệt con nhà khá giả, con nhà nghèo túng, chưa phân biệthọc sinh học khá giỏi hay yếu kém Nội dung và hình thức quan hệ giao tiếp cũngchưa phong phú, chủ yếu là qua hoạt động học tập, vui chơi, sinh hoạt Sao, sinhhoạt Đội
em, thành phần chủ định ngày càng phát triển và chiếm ưu thế
Trang 82.2 Phát triển nhận thức
Ở tuổi học sinh tiểu học đang hình thành một sự phát triển toàn diện về cácquá trình nhận thức Trong đó đáng kể nhất là sự phát triển của tri giác, chú ý, trínhớ, tưởng tượng và tư duy
Tác nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển nhận thức người khác của lứa tuổitiểu học là sự phát triển các thao tác nhận thức và sự trải nghiệm của trẻ thông quatương tác với người khác Sở dĩ trẻ có thể dựa vào cấu trúc tâm lý tương đối ổnđịnh để đánh giá người khác là nhờ đã phát triển các thao tác trí tuệ cụ thể, đặc biệt
là do trẻ đã có khả năng bảo toàn (phát hiện ra cái tương đối ổn định, ít biến đổiqua cái dễ biến đổi) Mặt khác, thông qua tương tác xã hội như các hoạt động ngoạikhóa, các trò chơi giữa các bạn cùng lứa, trẻ dần dần tăng hiểu biết của mình về sựkhác biệt quan điểm, tính cách giữa bản thân và người khác
Nhìn chung, ở tuổi tiểu học là giai đoạn mới bước qua từ tuổi mẫu giáo,chuyển từ hoạt động chơi sang hoạt động học tập, từ một môi trường chỉ biết vuichơi sang môi trường học tập tính kỉ luật, nề nếp, chịu sự quản lý giáo dục từ giáoviên v.v Tư duy của trẻ ở tuổi này vẫn còn bị cái tổng thể chi phối Tư duy phântích bắt đầu hình thành nhưng còn yếu nên các biểu tượng được hình thành ở trẻchưa thật chính xác và vững chắc, trẻ có thể bị nhầm lẫn, sai sót trong khi lĩnh hộigiáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội
Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc nhận thức của trẻ trước môi trường xãhội, nơi mà đầy rẫy những cạm bẫy luôn đón chờ bởi chúng chưa phân biệt rõ ràngđâu là cái tốt, cái xấu nên dễ bị kẻ xấu lợi dụng Mặt khác, về tình cảm của học sinhtiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinhđộng, rực rỡ v.v Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễxúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười,rất hồn nhiên vô tư v.v Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thayđổi
2.3 Ảnh hưởng của các phương thức dạy học tới sự phát triển hoạt động nhận thức và trí tuệ của nhi đồng.
Ở giai đoạn tiểu học thì sự phát triển hoạt động của trẻ được quy định bởihoạt động dạy của nhà trường thông qua thầy cô giáo Vì vậy, dạy học quy địnhmức độ, tốc độ và hướng phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ tiểu học Trong thực
Trang 9tiễn, dạy học diễn ra theo các phương thức khác nhau, dẫn đến hiệu quả tác độngkhác nhau đối với sự phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ.
Xã hội ngày càng phát triển với những công nghệ tiên tiến học mọi lúc mọinơi thông qua mạng internet (ở trẻ tiểu học đã có thể trao đổi, tìm hiểu thông tin vàlàm bài trên mạng) nên phương pháp dạy học ngày nay rất tiến bộ, linh động dẫnđến khó kiểm soát nổi chất lượng dạy học, giáo trình dạy học và phương pháp dạyhọc trong khi mục đích của việc dạy học chỉ đạt được khi và chỉ khi chúng ta xácđịnh đúng đắn nội dung và phương pháp
Thông qua mạng internet không chỉ thầy cô giáo khó kiểm soát việc học củahọc sinh mà gia đình cũng không kiểm soát được nhận thức và hành vi của trẻ, mốiquan hệ bạn bè ngoài xã hội, các trang mạng không phù hợp lứa tuổi v.v Đây là độtuổi dễ nghe, dể bảo, dễ dạy và tiếp thu nhanh phương pháp dạy học của thầy cô,
do vậy thầy cô giáo là người trực tiếp truyền cảm hứng cho trẻ để trẻ học tập tốt.Ngược lại, chỉ vì chạy theo thành tích, phương pháp dạy học không linh động,không tận tình chỉ bảo, quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của trẻ và phân biệt đối
xử giữa học sinh yếu và học sinh giỏi dẫn đến việc làm trẻ dễ bị mặc cảm, bị bạn bèthầy cô xa lánh khiến trẻ bị cô lập trong khi nhận thức của trẻ đang trong giai đoạnhoàn thiện Do vậy, thầy cô giáo giỏi quyết định chất lượng giáo dục nhưng muốngiáo dục tốt thì không thể thiếu mối liên kết chặt chẽ gia đình và nhà trường
3 Sự phát triển đạo đức
Đạo đức cá nhân thường có cấu trúc tổng thể gồm ba thành phần quan hệchặt chẽ với nhau: các xúc cảm và tình cảm, nhận thức đạo đức, các hành vi đạođức
3.1 Sự phát triển lĩnh vực xúc cảm và tình cảm đạo đức của nhi đồng
Trong sự phát triển lĩnh vực xúc cảm và tình cảm đạo đức của nhi đồngkhông thể không nói đến sự phát triển của lòng vị tha và tính hiếu chiến của trẻ độtuổi tiểu học
Lòng vị tha là cốt lõi của đạo đức, là nền tảng để trên đó xây dựng các hành
vi đạo đức Những yếu tố ban đầu của lòng vị tha đã xuất hiện ngay từ khi trẻ còntrong giai đoạn ấu nhi Tuy nhiên, hầu hết trường hợp trẻ em nhỏ chưa có khả năng
tự nguyện chia sẻ hoặc có hành động giúp đỡ nếu không có sự gợi ý của người lớn
Sự giúp đỡ đó vẫn chưa dựa trên sự đồng cảm thực sự
Trang 10Tính hiếu chiến là xu hướng có hành động gây gổ, với dự định làm tổn hạihay xâm phạm đến đồ vật, sinh vật hay người khác Hiếu chiến được phân thànhhai loại: hiếu chiến công cụ (cá nhân gây hại người khác với trẻ cách là phương tiện
để đạt mục đích khác: chẳng hạn, đánh bạn để lấy đồ chơi) Hiếu chiến thù địch(hiếu chiến với mục đích gây thiệt hại cho người khác)
3.2 Sự phát triển nhận thức và hình thành các hành vi đạo đức của lứa tuổi nhi đồng
Sự phát triển nhận thức đạo đức
Có thể chia một cách tương đối quá trình hình thành và phát triển nhận thức
về các chuẩn đạo đức của trẻ em diễn ra qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn tiền đạo đức (tương ứng với giai đoạn trẻ mẫu giáo): trẻ có hiểu
biết rất ít về các chuẩn mực đạo đức xã hội
- Giai đoạn đạo đức hiện thực (tương ứng với giai đoạn đầu tiểu học): đây là
giai đoạn trẻ rất tôn trọng các chẩn mực đạo đức do người có quyền hành đưa ra
- Giai đoạn đạo đức tự trị (tương ứng với giai đoạn học sinh cuối tiểu học):
Vào khoảng 10 hay 11 tuổi trẻ đã biết các quy chuẩn xã hội là các thoả thuận và cóthể không được chấp thuận hoặc bị thay thế Trẻ đã biết các quy chuẩn có thể bị viphạm hoặc không được thực hiện nếu hành động đó phục vụ lợi ích con người
Sự hình thành các hành vi đạo đức
Để có được hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, ngay từnhỏ, trẻ em cần được giáo dục, được hình thành trong cuộc sống thực nhờ thục hiệncác hoạt động phù hợp với lứa tuổi được người lớn tổ chức, giúp đỡ Cuộc sống củatrẻ nhi đồng diễn ra trong ba môi trường: nhà trường, gia đình và xã hội Đạo đứclối sống của trẻ được hình thành và hiển hiện ra trong ba môi trường này
II TRẺ CHƯA NGOAN, CÁC BIỂU HIỆN VÀ NGUYÊN NHÂN
1 Định nghĩa: “Trẻ chưa ngoan”
Khó mà có một định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh về loại trẻ em này
Một bé gái áo quần sạch đẹp, trước mặt bố mẹ, thầy cô giáo thì rất lễ phép,một điều dạ - hai điều vâng, có khi còn khoanh tay, cúi đầu nữa, nom thì có vẻngoan, nhưng khi vắng bố mẹ, thầy cô thì lại nói tục, văng bậy v.v
Trang 11Một bé trai sáng đi học ở lớp, chiều đi học phụ đạo, tối đến nhà bạn họcnhóm v.v mới nhìn có vẻ rất chăm, nhưng ở lớp thì nói chuyện, đầu óc để tận đâuđâu; đến lớp phụ đạo thì đùa quậy; đi học nhóm thì xem video, tán gẫu, đánh tá lả,chơi trò chơi điện tử v.v.
Một bé gái khác, nay xin tiền đóng cho trường, mai xin tiền đóng cho lớp vớinhiều lý do, nhưng tất cả các khoản tiền đó đều để ăn quà, mua những thứ linh tinh,trò chơi bạo lực, thậm chí mua số đề, đánh bạc v.v
Tất cả những trẻ em đó đều thuộc loại chưa ngoan, nói một đằng làm mộtnẻo
"Đi nói dối cha, về nhà nói dối chú" Đó không phải là những trẻ em hư,nhưng không thể gọi là ngoan được
Vậy có thể nói trẻ chưa ngoan là những trẻ khó bảo, chưa biết nghe và làmtheo lời cha mẹ Nhìn chung, đó là những đứa trẻ chưa làm cho người lớn hài lòng,
vì không vâng lời người lớn
Trẻ chưa ngoan là hậu quả của sự phá vỡ những mối liên hệ bình thường củahọc sinh với gia đình, nhà trường và xã hội Trong ngôn ngữ thường ngày, trẻ chưangoan còn được gọi là trẻ “khó dạy”, “chậm tiến” v.v
2 Những biểu hiện của trẻ chưa ngoan:
Trong quá trình giáo dục trẻ, cùng với sự tăng dần theo năm tháng, phần lớncác cha mẹ không chờ đợi, không ưa thích một số nét tính cách sau ở con mình,như: không vâng lời, bướng bỉnh khó bảo, lười học, nói dối, đánh nhau, nghịchnghợm, ích kỷ, trộm cắp… Căn cứ vào các biểu hiện hành vi của trẻ có thể liệt kêcác biểu hiện thường gặp ở trẻ chưa ngoan như sau:
Không vâng lời, đỏng đảnh, bướng bỉnh: Những đứa trẻ này đa phần là đượcsinh ra trong gia đình khá giả, ít anh chị em hay là con một trong gia đình và nhữngđứa trẻ này được cha mẹ hết mực yêu thương, muốn gì thì cha mẹ sẽ đáp ứng ngaycái đó (nếu có khả năng) Cho nên trong lớp học hay trong sinh hoạt vui chơi emluôn cho mình là nhất, mọi người phải nghe mình và em cũng không cần thiết nếubạn không chơi với mình và đặc biệt là các em rất thích bạn bè hay thầy cô nóichuyện nhẹ nhàng với em Nếu giáo viên có lời nhắc nhở hết sức khéo léo và nhẹnhàng thì lại có tác dụng tích cực hơn là quát mắng hay dùng hình thức phạt
Vô kỷ luật, ngổ ngáo, gây gỗ: Các em hay làm trò nghịch ngợm trong lớp và có cátính rất mạnh phản ứng với việc dạy dỗ của các thầy cô Luôn bất đồng với các bạn,
Trang 12các em thường chơi theo nhóm và thích làm người chỉ huy trong các trò chơi haytrong các hoạt động khác và thường các em hiếu động trong lớp, thường giải quyếtmâu thuẩn bằng bạo lực
Lười biếng: Những em này nếu không được chăm sóc chu đáo của gia đìnhthì các em thường hay luộm thuộm ham chơi hơn ham học, thường xuyên khônglàm bài tập ở nhà hay viện lý do này hay lý do khác thi không hoàn thành nhiệm vụhọc tập
Dối trá: Những học sinh này không phải nói dối một cách thông thường màcác em thường lên kế hoạch cho lời nói dối của mình Nếu thầy cô phát hiện ra thìcác em trình bày lý do mang tính chất thuyết phục và trường hợp nói dối này các
em thường xuyên sử dụng
Dễ xúc động (tự cao, dễ giận hờn, mất lòng…): các em học khá được thầy cô
ưu ái nhiều, thường các em cho mình quan trọng hơn các bạn trong lớp, tự chomình luôn tốt, nếu việc gì cảm thấy không vừa lòng thường tỏ ra giận hờn, ích kỷ.Những trẻ có xúc cảm thuộc dạng tính mạnh, tốc độ nhanh hoặc tính yếu, tốc độchậm thường không làm chủ được lời nói và hành động, dễ mất tự tin trong việchọc cũng như trong giao tiếp, không kiềm chế cảm xúc bản thân
Những trẻ có những phẩm chất, ý chí phát triển sai lệch: Những hoài bão ước
mơ của em thường mang tính tiêu cực hơn tích cực Bản chất của giáo dục trẻ chưangoan là sự bình thường hóa toàn bộ cuộc sống tâm lý của trẻ, là sự phát triển toàn
bộ nền tảng tích cực của nhân cách trẻ
Như vậy, từ những nhược điểm có thể chấp nhận được, thông qua sự tácđộng của người lớn, của cha mẹ, ở một số trẻ đã dần hình thành một số nét tínhcách chưa ngoan Tuy nhiên, theo họ những nhược này có thể thay đổi được vì nó
“chưa trở thành thói quen”, “chưa trở thành bản tính”, “chưa phải là tật” của trẻ
Một vấn đề nữa xuất phát từ những hành vi, thái độ chưa tốt của trẻ cần phảinói đến là yếu tố nằm ngoài ý muốn chủ quan của cha mẹ và bản thân trẻ là vấn đềliên quan đến bệnh lý do dị tật bẩm sinh như các bệnh di truyền gây tổn thươnghoặc chậm phát triển trí tuệ Những trẻ bị rơi vào trường hợp này thường có nhữnghành vi mà người lớn không mong muốn và không giống những đứa trẻ bìnhthường ở cùng lứa tuổi, nên không thể nói những đứa trẻ này là chưa ngoan Đây làmột phạm trù khác với vấn đề chúng ta đang giải quyết đó là những đứa trẻ sinh rađảm bảo về mặt thể chất và thần kinh nhưng có sự phát triển nhân cách theo chiềuhướng không mong muốn của gia đình và xã hội
Trang 13Ngoài ra, còn nhiều bệnh lý liên quan rối loạn cảm xúc, tăng hiếu động… Lẽ
dĩ nhiên, nếu không được đánh giá đúng mức, những nguyên nhân này sẽ dẫn đếnnhững hành vi và tâm lý không mong đợi ở trẻ, khiến trẻ bị xác định là “trẻ chưangoan” Một số biểu hiện và trường hợp điển hình như:
- Khó tập trung chú ý, hiếu động thái quá (Hội chứng rối loạn khả năng chú ý)
- Bị rối loạn thèm ăn: ăn uống rất nhiều hoặc chỉ ăn được 1 số ít món
- Khó khăn trong diễn đạt lời nói
Đối với các trẻ thuộc nhóm này, giáo viên và gia đình cần phát hiện sớm vàgia đình cần gặp các bác sĩ chuyên về thần kinh hoặc các chuyên gia tâm lý để cócách chữa trị thích hợp
3 Nguyên nhân của trẻ chưa ngoan
3.1 Môi trường gia đình
Phần lớn đều tập trung vào lỗi của cha mẹ, những người vì các khả năng vàđiều kiện khác nhau đã không dạy dỗ được trẻ “nên người” Sau đây là các nguyênnhân chính thường gặp thấy trong cuộc sống, được xếp theo mức độ ảnh hưởng từcao xuống thấp:
- Bố mẹ bất hoà, cãi vã, đánh chửi nhau
- Bố mẹ ly dị, ly thân
- Bố mẹ mải làm ăn, không có thời giờ dạy con
- Bố mẹ không quan tâm, coi trọng việc giáo dục con
- Bố mẹ quá nuông chiều con
Trang 14- Quan hệ họ hàng, gia đình lớn có nhiều ảnh hưởng xấu.
3.2 Môi trường nhà trường
Thực tiễn giáo dục cho thấy phía nhà trường chưa có cách giáo dục đúng đắn,phù hợp, nhận thức về sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội chưa đúng Khicác em chưa ngoan thì đổ lỗi cho gia đình không quan tâm và xã hội thì quá nhiềuảnh hưởng tiêu cực Một số gia đình xem nhà trường là môi trường giáo dục duynhất cho trẻ, vì vậy trẻ hư thì đổ lỗi hoàn toàn cho nhà trường Việc đổ lỗi cho nhaucủa nhà trường - gia đình - xã hội xuất phát từ sự phối hợp quá lỏng lẻo, chỉ là hìnhthức, là hiện tượng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” Xét về phía nhà trường,nguyên nhân trẻ chưa ngoan có thể nói như sau:
* Công tác phối hợp với gia đình và xã hội chưa được đầu tư chiều sâu:Trong các trường học cũng đã thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh tòan trường,Ban đại diện cha mẹ học sinh từng lớp, nhưng họat động của các tổ chức này mangtính hình thức hoặc có họat động thì chỉ tập trung vào một số nội dung nhằm hỗ trợnhà trường về các điều kiện vật chất
* Giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò nòng cốt trong sự phối hợp với gia đình
và nhà trường, nhưng thực chất vì nhiều lý do khác nhau mà giáo viên chủ nhiệmchưa thực sự nhiệt tình và có trách nhiệm đối với công việc này, chưa có sự liên hệchặt chẽ với gia đình và thống nhất với gia đình về nội dung, phương pháp giáodục Đối với các em thì chưa thật sự quan tâm, lắng nghe và hiểu được trẻ để đưa ralời khuyên hay hỗ trợ trẻ vượt qua những lúc khó khăn về việc tiếp nhận và nhậnthức thế giới xung quanh Sự gắn kết rời rạc giữa giáo viên và học sinh dẫn đến trẻ
sẽ mất tin tưởng, cảm giác hụt hẫng
* Cách giáo dục của nhà trường đối với những em chưa ngoan: có những họcsinh trong suốt quá trình học tập ở trường đã có những biểu hiện chưa ngoan nhưngnhà trường cũng không phối hợp với gia đình để quản lý, giáo dục mà dùng nhữngbiện pháp mang tính chất trừng phạt, lên án hành vi lỗi lầm, sai trái, kỷ luật trướctoàn trường Việc này dẫn đến tâm lý bất ổn nơi các em, nảy sinh chán học, chántrường lớp, xấu hổ, tự ti, mặc cảm trước bạn bè
* Nhà trường thì chỉ tập trung cho chất lượng học tập, chỉ chú trọng dạy chữ,xem nhẹ công tác giáo dục đạo đức, chú trọng “dạy chữ” mà xem nhẹ việc “dạyngười”, chưa chú trọng nhiều hơn việc cung cấp những tri thức về chuẩn mực đạođức, giúp học sinh hiểu rỏ thế nào là hành vi đạo đức tốt, thế nào là chưa tốt
* Ngòai họat động dạy học trên lớp, nhà trường rất ít tổ chức các họat độnggiáo dục ngòai giờ lên lớp cho học sinh và nếu có tổ chức cũng nặng về hình thức
Trang 15* Các em bị “quá tải” về giờ học, ngòai giờ học chính khóa học sinh phảihọc thêm dưới nhiều hình thức khác nhau Vì vậy phần lớn thời gian trong ngày củahọc sinh phải dồn cho học tập, thời gian vui chơi, giải trí của học sinh rất ít
* Một nguyên nhân khác từ môi trường học đường là trẻ bị bạn bè xấu ảnhhưởng, lôi kéo mà thực hiện những hành vi không đúng vì bản thân chưa nhận thứcđược hết hậu quả của vấn đề
Chính sự quá tải trong học tập đó đã khiến cho nhiều trẻ học yếu hay trungbình dễ bi quan, chán nản, chây lười học tập, kết quả học tập sút kém dẫn đến bỏ bêhọc tập hoặc bỏ học
3.3 Môi trường xã hội
Một môi trường khác ngoài gia đình và nhà trường là cộng đồng xã hội còntồn tại nhiều điều xấu ảnh hưởng đến hành vi đạo đức của các em Ở tuổi học sinhtiểu học đang hình thành một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức,nhất là sự phát triển của tri giác, chú ý, trí nhớ, tưởng tượng và tư duy
Mặt khác, thông qua tương tác xã hội như các hoạt động ngoại khóa, các tròchơi giữa các bạn cùng lứa, trẻ dần dần tăng hiểu biết của mình về sự khác biệtquan điểm, tính cách giữa bản thân và người khác Điều này ảnh hưởng rất lớn đếnviệc nhận thức của trẻ trước môi trường xã hội, nơi mà đầy rẫy những cạm bẫy luônđón chờ bởi chúng chưa phân biệt rõ ràng đâu là cái tốt, cái xấu nên dễ bị kẻ xấulợi dụng
Do sự quản lý thiếu chặt chẽ của các ngành chức năng trong việc kiểm duyệtcác phương tiện thông tin đại chúng như các truyện tranh bạo lực, game bạo lực đểcho các em bị đầu độc bởi ma lực của các trò chơi chém giết, những phim ảnhkhông lành mạnh kích động sự hung bạo của các em cũng đang ngày một xuất hiệnnhiều hơn, thường xuyên hơn trên internet như quảng cáo có sử dụng hình ảnh 18+,truyện tranh sex… tất cả đều ảnh hưởng xấu đến sự phát triển, hình thành nhâncách và hành vi đạo đức
Con người không thể tách rời khỏi môi trường xã hội Đồng thời, con ngườicũng được định hình và xác định bởi mối quan hệ đó Qua một vài liệt kê về các tácđộng của môi trường xã hội lên trẻ, ta có thể nhận thấy, vấn đề tác động môi trườnglên trẻ là không thể không chú ý và sự cần thiết của môi trường tốt cùng với sự giáodục là điều kiện cần cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách ở trẻ
Qua phân tích các nguyên nhân, ta nhận thấy môi trường xã hội (bao gồmmôi trường gia đình, nhà trường và môi trường cộng đồng) có tác động lớn đến trẻ
Trang 16Mỗi môi trường có đều có những tác động lớn đến nhận thức hành vi và cư xử ở trẻtheo những phạm vi khác nhau Tuy nhiên, cả 3 đều có điểm chung chính là cácyếu tố: hình mẫu bắt chước, quan hệ gắn kết, tác động tâm lý và phương pháp giáodục.
Như vậy, từ những nhược điểm có thể chấp nhận được, thông qua sự tácđộng của người lớn, của cha mẹ, ở một số trẻ đã dần hình thành một số nét tínhcách chưa ngoan Tuy nhiên, những nhược điểm này có thể thay đổi được Vì nó
“chưa trở thành thói quen”, “chưa trở thành bản tính”, “chưa phải là tật” của trẻ
3.4 Sự phát triển tâm sinh lý trẻ giai đoạn tuổi tiểu học:
Một nguyên nhân chủ quan khác cũng không kém phần quan trọng trongviệc quyết định hành vi của trẻ là yếu tố tâm sinh lý đang phát triển mạnh mẽ bêntrong trẻ giúp trẻ có sự hiểu biết và tự nhận thức về thế giới bên ngoài dưới sự tácđộng của môi trường sống Dựa vào những biểu hiện của trẻ chưa ngoan, chúng tathường quy chụp vào các nguyên nhân như do gia đình, nhà trường hay xã hội màchưa tìm hiểu những đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ giai đoạn này Thực chất, cónhững trẻ được cho là “chưa ngoan” có thể xuất phát từ những khó khăn trong thời
kì đầu trẻ chuyển đổi từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập, thay đổi trongnhận thức của trẻ về các chuẩn mực đạo đức Cụ thể như sau:
3.4.1 Những khó khăn trẻ tiểu học thường gặp trong năm đầu đi học
Bước vào học tiểu học, học sinh lớp 1 thường gặp một số khó khăn trong họctập như sau:
- Thứ nhất: sự thay đổi chế độ hoạt động và sinh hoạt Hoạt động học ở
trường tiểu học có yêu cầu cao hơn nhiều so với ở trường mẫu giáo (phải đi họcđúng giờ, không được nghỉ học, bỏ học giữa buổi, trong giờ học phải ngồi theođúng quy định, phải học và làm bài tập trên lớp và ở nhà v.v) Sự thay đổi tính chấtcủa hoạt động học tập buộc trẻ phải nhanh chóng hình thành các thói quen mới Vìvậy, nếu trẻ em không được chuẩn bị những yếu tố tâm lí cần thiết để đáp ứng cácyêu cầu trên sẽ thường dẫn đến sự mệt mỏi, chán nản, ngại đi học và kết quả họctập không cao
- Thứ hai: sự “vỡ mộng” và sụt giảm hứng thú và tích cực học tập Biểu hiện
của sự thất vọng và suy giảm hứng thú, tính tích cực học tập của học sinh lớp 1 là ởmột số học sinh đầu năm học rất thích thú, hăng hái đến lớp (đi học rất sớm), tích
Trang 17cực thực hiện các yêu cầu của thầy – cô giáo Nhưng sau vài tháng học, các em bắtđầu ngại việc đi học, thích được nghỉ, thờ ơ, chểnh mảng với việc học v.v
Nguyên nhân là về phía học sinh, nhiều em thích thú đi học do sự hấp dẫn bềngoài của việc học: được đến trường, được mặc quần áo đẹp, mang cặp sách v.v.Sau một thời gian học sự thích thú đó giảm, dẫn đến chán, ngại học.Về phía nhàtrường, cách tổ chức dạy học chưa phù hợp với sự phát triển tâm lí lứa tuổi, tronggiai đoạn mẫu giáo, các hoạt động chơi của các em mang tính độc lập, tự do sángtạo Chuyển sang hoạt động học tập, có kỉ luật phải làm theo những chỉ dẫn củagiáo viên v.v Hệ quả là các em cảm thấy việc học trở nên kém hấp dẫn, nặng nề
Đây là những khó khăn cản trở tâm lý đến trường của trẻ, nếu gia đình, nhàtrường không kịp thời phát hiện, động viên, giúp đỡ các em mà quy kết các embiếng lười, ham chơi, xem đó là biểu hiện của sự hư hỏng… sẽ ảnh hưởng xấu đếncác giai đoạn phát triển sau này của trẻ
3.4.2 Tính hiếu chiến của trẻ trong giai đoạn phát triển đạo đức
Tính hiếu chiến là xu hướng có hành động gây gổ, với dự định làm tổn hạihay xâm phạm đến đồ vật, sinh vật hay người khác Hiếu chiến được phân thànhhai loại: hiếu chiến công cụ (cá nhân gây hại người khác với trẻ cách là phương tiện
để đạt mục đích khác: chẳng hạn, đánh bạn để lấy đồ chơi) Hiếu chiến thù địch(hiếu chiến với mục đích gây thiệt hại cho người khác)
Mầm mống của sự hiếu chiến đã có từ rất sớm ở trẻ ấu nhi Biểu hiện rõ nhấtqua sự kiện trẻ 1tuổi đã dùng vũ lực để tranh giành đồ chơi từ người khác Sự hiếuchiến ở trẻ em được thay đổi theo lứa tuổi Trước tuổi tiểu học, hiếu chiến của trẻ
em chủ yếu là công cụ Trẻ thể hiện các hành vi hiếu chiến để tranh giành cho mình
đồ chơi hoặc vật dụng nào đó Khi gần 7tuổi, chuyển dần từ hiếu chiến công cụsang hiếu chiến thù địch
Xu hướng chung là giảm dần các ứng xử hiếu chiến từ lứa tuổi nhỏ đếntrưởng thành Trong các lớp học thường chỉ có vài trẻ thật sự hiếu chiến và khoảng
10 - 15% số trẻ trong lớp hay bị bắt nạt Những trẻ hiếu chiến thực sự là những em
ý thức việc gây chiến sẽ mang lại lợi ích và nâng cao vị thế ảnh hưởng của mình.Các em thường dùng bạo lực làm công cụ để đạt mục đích cá nhân Cũng có nhữngtrẻ hiếu chiến thực sự nhưng không sử dụng bạo lực mà thường nghi ngờ và thậntrọng đối với mọi người xung quanh, coi những người này là thù địch và xứng đáng
bị trừng phạt
Trang 18Tính hiếu chiến chịu sự tác động rất lớn bị yếu tố văn hoá của cộng đồng dântộc và giai tầng xã hội; yếu tố môi trường gia đình và các phương tiện thông tin đạichúng Trong đó sự đối xử bạo lực của gia đình và môi trường xã hội mang tínhbạo lực là những tác nhân mạnh mẽ, nuôi dưỡng và phát triển tính hiếu chiến ở trẻem.
Trẻ hiếu chiến có những ứng xử chống đối, bạo lực và thường sa sút về họctập, hơn nữa do bị bạn bè xa lánh nên trẻ hiếu chiến thường kết bạn với nhữngngười giống mình, tức là những trẻ hung tính, chống đối và kĩ năng sống thấp
Vì vậy ngăn ngừa và kiểm soát tính hiếu chiến và các hành vi hung tính củachúng là rất quan trọng Để làm được việc này, cần tạo dựng một “môi trường vănhoá không có bạo lực”, trước hết là trong gia đình, nhà trường và nhóm xã hội trựctiếp Đồng thời cần có sự can thiệp sớm của người lớn đối với trẻ có hành vi loạinày, theo cách làm giảm hiếu chiến công cụ ở trẻ nhỏ và tác động vào nhận thức xãhội đối với trẻ lớn hơn (tiểu học)
3.4.3 Trẻ em tiểu học với chứng rối loạn tăng động giảm chú ý
Chứng hiếu động thái quá- rối loạn tăng động giảm chú ý thường hay xảy ra
ở lứa tuổi nhi đồng – tiểu học Trẻ em mắc chứng bệnh này có ảnh hưởng rất lớn vàgây hậu quả nghiêm trọng trong việc học và quá trình hình thành nhân cách ở trẻ.Trẻ có 2 biểu hiện cơ bản của chứng tăng động – giảm chú ý: Thiếu tập trung chú ý
và hiếu động thái quá
Chứng hiếu động thái quá- rối loạn tăng động giảm chú ý thường hay xảy ra
ở lứa tuổi nhi đồng – tiểu học Trẻ em mắc chứng bệnh này có ảnh hưởng rất lớn vàgây hậu quả nghiêm trọng trong việc học và quá trình hình thành nhân cách ở trẻ.Trẻ có 2 biểu hiện cơ bản của chứng tăng động – giảm chú ý: Thiếu tập trung chú ý
và hiếu động thái quá
Về sự thiếu tập trung chú ý:
- Dễ bị kích động và ảnh hưởng từ bên ngoài
- Nếu không có sự đôn đốc thì khó hoàn thành nhiệm vụ một cách suôn sẻ
- Khó tập trung được lâu (bài tập, trò chơi)
- Không nghe người khác nói gì
- Thường đánh mất dụng cụ học tập hoặc đồ sinh hoạt hằng ngày
Trang 19- Trong lớp không tập trung chú ý, thành tích học tập không tốt, không thể tổchức hoạt động học tập có mục đích nhất định.
- Việc này chưa xong đã chuyển sang việc khác
Về sự hiếu động thái quá:
- Trong lớp thường thay đổi chỗ ngồi, thành tích học tập không tốt
- Chưa suy nghĩ kĩ đã hành động (làm việc không nghĩ đến hậu quả)
- Trong sinh hoạt tập thể thường không theo thứ tự
- Người ta chưa hỏi xong đã tranh trả lời trước
- Khó mà chơi đùa một cách yên tĩnh
- Làm những hành động quá mức như trèo cao, chạy lung tung
- Tham gia những hoạt động nguy hiểm
- Không ngồi yên một chỗ, tay chân múa máy không ngừng
- Thường quấy rối người khác
- Nói chuyện nhiều
Nguyên nhân dẫn đến trẻ bị chứng rối loạn tăng động giảm chú ý:
Nguyên nhân sinh học: Yếu tố di truyền, giải phẫu sinh lí thần kinh, yếu tốsinh hóa thần kinh, yếu tố vi lượng và chất phụ gia trong thức ăn
Yếu tố xã hội, gia đình và giáo dục: Môi trường xã hội, gia đình và giáodục không tốt cũng sẽ dẫn đến chứng rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ như: kinh
tế gia đình thiếu thốn, không khí tâm lí gia đình căng thẳng, áp lực học tập quá lớn,cách đối xử của thầy cô và cha mẹ không hợp lý…
Hiểu biết về chứng rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ tiểu học là tráchnhiệm của nhà trường và gia đình nhằm đem lại hiệu quả học tập cũng như sự pháttriển nhân cách của các em Từ đó, chúng ta có phương án thích hợp để giáo dụctrẻ, tránh thái độ phớt lờ hoặc những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương đếntrẻ Đây có thể xem là trẻ chưa ngoan do chứng rối loạn tăng động giảm chú ý,nhưng không phải là đối tượng trẻ hư không thể giáo dục Như ta biết, nhân vậtTôttô-chan trong “Tôttô-chan bên cửa sổ”, (đây là quyển tự truyện chứ không phảimột tác phẩm hư cấu của nhà văn Kuroyanagi Tetsuko), theo ngôn ngữ ngày nay,
bà cũng mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý trong giai đoạn học tiểu học