1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh sơn tây

97 262 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu đó, cần phải nghiên cứu được các vấn đề sau: - Khái quát và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.. Tại V

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯU ANH ĐỨC

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi xin chân thành gửi lời cảm

ơn tới lãnh đạo trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, lãnh đạo và các thầy cô giáo trong khoa Tài chính Ngân hàng, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và thực hiện luận văn

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lưu Anh Đức, người đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian qua

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp

để luận văn được hoàn thiện hơn nữa

Hà nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả Luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 4

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại 7

1.2.1 Khái quát về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 7

1.2.2 Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 13

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng 28

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng 31

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ LUẬN VĂN 34 2.1 Các phương pháp nghiên cứu 35

2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin 35

2.1.2 Phương pháp tiếp cận 35

2.1.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin 36

2.1.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp 37

2.2 Thiết kế nghiên cứu 38

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH SƠN TÂY 42

3.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây 42

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển MB Sơn Tây 42

3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội chi nhánh Sơn Tây 44

Trang 6

3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Quân Đội chi nhánh Sơn Tây 47

3.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại MB Sơn Tây 53

3.2.1 Công tác phát triển mạng lưới 53

3.2.2 Phát triển sản phẩm 53

3.2.3.Tính nhanh chóng, thuận tiện 55

3.2.4.Về số lượng khoản vay 56

3.2.5 Doanh số cho vay tiêu dùng 57

3.2.6 Dư nợ cho vay tiêu dùng 58

3.3 Đánh giá về thực trạng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại MB Sơn Tây 60

3.3.1 Những kết quả đạt được 60

3.3.2 Hạn chế 62

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 63

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH SƠN TÂY 67

4.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại MB Sơn Tây 67

4.2 Các giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại MB Sơn Tây 68 4.2.2 Xây dựng chiến lược marketing ngân hàng 70

4.2.3 Hoàn thiện sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng 75

4.2.4 Sản phẩm đề xuất cụ thể 79

4.2.5 Nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực 81

4.2.6 Mở rộng mạng lưới của ngân hàng 83

4.2.7 Áp dụng hệ thống tính điểm tín dụng đối với khách hàng 84

4.2.8 Không ngừng phát triển công nghệ ngân hàng 84

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 MB Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội

2 MB Sơn Tây Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội - Chi

nhánh Sơn Tây

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 3.1 Tình hình huy động vốn Ngân hàng Thương mại Cổ

2 Bảng 3.2 Tình hình cho vay qua các năm 2012 – 2015 của MB

3 Bảng 3.3 Tình hình nợ xấu qua các năm 2012 – 2015 của MB

4 Bảng 3.4 Số lượng khoản vay tiêu dùng tại ngân hàng Thương

mại cổ phẩn Quân Đội – chi nhánh Sơn Tây 56

5 Bảng 3.5 Tỷ trọng doanh số cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng

Thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây 57

6 Bảng 3.6 Dư nợ phân theo mục đích vay tiêu dùng tại Ngân hàng

Thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tốc độ toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại trong những năm vừa qua đã tạo ra nhiều thay đổi lớn về môi trường kinh tế quốc tế Trong điều kiện đó, nền kinh tế Việt Nam được hội nhập với nền kinh tế thế giới thông qua việc gia nhập vào các tổ chức kinh tế lớn: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), WTO (Tổ chức thương mại thế giới), Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) Trong, nền kinh tế năng động và đầy cạnh tranh này, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội luôn là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia Với vai trò là một trung gian tài chính, kênh dẫn vốn quan trọng cho toàn bộ nền kinh tế, để có thể đứng vững trên thị trường tài chính – tiền tệ thì các ngân hàng thương mại cần không ngừng tự hoàn thiện phù hợp với quy luật phát triển chung

Trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, từng địa phương cũng như toàn

bộ nền kinh tế cần phải khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước thông qua hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, nhu cầu

mở rộng hoạt động cho vay là tất yếu trong giai đoạn hiện nay

Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu tiêu dùng của con người cũng ngày càng cao và tài chính trở thành vấn đề rất quan trọng để tài trợ cho những nhu cầu đó Nếu chỉ cho vay sản xuất nhiều mà không tiêu thụ được do người dân không

có nhu cầu về hàng hóa đó hoặc có nhu cầu nhưng lại không có khả năng thanh toán thì tất yếu sẽ dẫn tới cung vượt quá cầu, hàng hóa bị tồn kho và ứ đọng vốn Từ thực

tế đó cho thấy, khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công ty, doanh nghiệp là đối tượng cần vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường mà hiện nay, các cá nhân cũng là những người cần vốn và hoạt động cho vay tiêu dùng ra đời để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Cho vay tiêu dùng, một mặt vừa tạo thêm

Trang 10

thu nhập cho chính ngân hàng, mặt khác giúp đỡ cho các cá nhân có được nguồn vốn

để cải thiện cuộc sống của mình, góp phần phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy việc thực hiện chính sách kích cầu của Chính phủ, tạo công ăn việc làm, giúp người lao động có thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống xã hội

Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các ngân hàng trong nước sẽ phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài về dịch vụ ngân hàng khi những hạn chế về việc cung cấp dịch vụ của các ngân hàng nước ngoài dần được dỡ bỏ Điều này đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam nói chung và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội nói riêng cần phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng một cách an toàn và có hiệu quả nhằm hướng đến mục tiêu trở thành một trong những ngân hàng có uy tín trong việc cung ứng sản phẩm cho vay tiêu dùng

Thị xã Sơn Tây là một địa bàn cách trung tâm Hà Nội 42 km về phía Tây Bắc, nằm trong vùng đồng bằng trung du bắc bộ, là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của cả vùng, có nhiều đường giao thông thuỷ, bộ nối với trung tâm Thủ đô Hà Nội Những điều kiện đó cho thấy thị xã Sơn Tây là một thị trường đầy tiềm năng đối với hoạt động cho vay tiêu dùng đối với các ngân hàng Ngân hàng Thương mại

Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây là một trong những ngân hàng thương mại lớn trên địa bàn thị xã, có vai trò rất quan trọng với sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, thực tế cho thấy ngân hàng đã bắt đầu quan tâm tới hoạt động cho vay tiêu dùng nhưng hoạt động này vẫn chưa thực sự trở thành hoạt động lớn của Ngân hàng trên địa bàn Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy tại thời điểm hiện tại chưa có đề tài nào liên quan đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ có ý nghĩa về phương diện lý luận

và thực tiễn đối với sự đa dạng hóa hoạt động của ngân hàng trên địa bàn thị xã

Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi đã chọn đề tài : “ Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây ” làm

đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu lý luận hoạt động cho vay tiêu dùng , áp dụng phân tích thực trạng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây

Để đạt được mục tiêu đó, cần phải nghiên cứu được các vấn đề sau:

- Khái quát và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

- Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng cho vay tiêu dùng t ại Ngân hàng Thương mại

Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây

- Đề xuất các giải pháp nhằm phát tri ển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động cho vay tiêu dùng

- Phạm vi nghiên cứu : Hoạt động cho vay tiêu dùng t ại Ngân hàng Thương

mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây giai đoạn 2012 đến 2015

4 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động cho vay

tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn

Chương 3: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng t ại Ngân hàng Thương mại Cổ

phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây

Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng t ại Ngân hàng Thương

mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ngày nay, cùng với sự hội nhập và phát triển của nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày một tăng cao Nắm bắt cơ hội đó, các ngân hàng đã đưa ra các gói sản phẩm dịch vụ cho vay tiêu dùng nhằm đa dạng hóa các nghiệp vụ, đáp ứng những nhu cầu riêng lẻ của người tiêu dùng Sự phát triển đó đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của các nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng

Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: Nghiên cứu của Pearce (1985), phân tích dữ liệu từ các cuộc khảo sát về tài chính – tín dụng tiêu dùng ở các năm 67, 77, 83 của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ, đã xác nhận nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tín dụng tiêu dùng cá nhân ở Hoa Kỳ Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu tiêu dùng bao gồm: tuổi, lãi suất cho vay và thu nhập Các yếu tố ảnh hưởng tới cung tiêu dùng: trần lãi suất (quy định), cấu trúc tài sản của tổ chức tín dụng và sự cạnh tranh (các nguồn cung khác); Nghiên cứu của Hawly và Fujii (1991), phân tích thông tin từ dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng ở các tổ chức tín dụng Hoa Kỳ năm

1983 bằng hồi quy mô hình Probit, cho thấy các yêu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng: chủng tộc, tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân, thu nhập và chi tiêu; Nghiên cứu của Kim và Devaney (2001), sử dụng dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng của 3.376 cá nhân sử dụng thẻ tín dụng (tín dụng tiêu dùng) ở Hoa Kỳ năm 1998 và phân tích bằng mô hình hồi quy hai bước của Heckman đã kết luận nhiều yếu tố ảnh hưởng tới thẻ tín dụng của cá nhân, các yêu tố ảnh hưởng tới khả năng sử dụng, ngoài tuổi cá nhân có ảnh hưởng thuận, các yếu tố trình độ học vấn của cá nhân, thu nhập, tài sản thanh khoản, bất động sản, lãi suất và kì hạn khoản vay cùng có tác động nghịch Các yếu tố tác động thuận tới lượng tín dụng: trình độ học vấn, mức thu nhập và giá trị bất động sản; Nghiên cứu của Zhu và De’Armond

Trang 13

(2005), sử dụng thông tin từ khảo sát chi tiêu dùng của 7.579 cá nhân ở Hoa Kỳ năm 2001, bằng phân tích mô hình hồi quy Logit đã kết luận các yếu tố ảnh hưởng

có ý nghĩa thống kê tới lượng vốn tín dụng của cá nhân bao gồm: tuổi và trình độ học vấn của cá nhân, thu nhâp và có nguồn vay khác Trong đó chỉ có trình độ học vấn có tác động nghịch, các yếu tố khác đều có tác động thuận tới lượng vốn vay tiêu dùng của cá nhân ; Và các nghiên cứu khác như: Nghiên cứu của Barro, J Robert (1976) về thị trường cho vay, khoản vay có thế chấp và tỉ lệ lãi suất; Nghiên cứu của Paul F.Smith trong giai đoạn 1949 – 1959 về các hoạt động cho vay tiêu dùng trên thị trường Mỹ, … cho thấy cái nhìn tổng quan về cho vay tiêu dùng, những lợi ích và sự cần thiết của nghiệp vụ này ở nhiều lĩnh vực, qua đó cung cấp các kinh nghiệm quý báu cho các ngân hàng Việt nam nói chung và Ngân hàng Quân Đội nói riêng trong việc phát triển và hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng

Tại Việt Nam, với cơ cấu dân số trẻ, năng động, nhu cầu tiêu dùng lớn tạo cơ hội thuận lợi cho các ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh và đây cũng là nghiệp vụ ngân hàng hiện đại giúp hoạt động của ngân hàng trong nước ngày càng phát triển, đa dạng hóa hoạt động theo hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế và luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của người dân Theo Vụ chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà Nước), với sự tham gia tích cực của nhiều ngân hàng, hiện nay, tổng dư nợ cho vay tiêu dùng ở Việt Nam có mức tăng trưởng trung bình 20%/năm; về thị phần, dư nợ cho vay tiêu dùng mới chỉ chiếm khoảng 8,02%/tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống cho thấy hoạt động này còn rất nhiều tiềm năng phát triển Tuy nhiên đây cũng là dịch vụ đem lại không ít những khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam như: khó khăn về kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ nói chung và bản thân ngân hàng nói riêng đã gây không ít trở ngại đối với việc thúc đẩy hoạt động cho vay tín dụng đạt tới những giá trị tiềm năng vốn có, buộc các ngân hàng không ngừng đưa ra các biện pháp giải quyết để có thể khẳng định vị thế của mình trên thị trường Sự phát triển và đa dạng của hoạt động cho vay tiêu dùng trong những năm qua đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong nước như: Nguyễn Đức Long (2015), nêu lên thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại các công ty tài chính, qua đó cũng đề cập đến những thách thức và đưa ra

Trang 14

những gợi ý quản lý giúp phát triển hoạt động này; Nguyễn Thị Kim Thanh và các tác giả(2015), nêu lên thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam, qua đó

chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và đưa ra những gợi ý quản lý giúp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam; Hoàng Đức (2012), khái quát sản phẩm tín dụng tiêu dùng mới tại một số ngân hàng, đồng thời dự báo tín dụng tiêu dùng sẽ bùng nổ trong thời gian sắp tới và các rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động tín dụng tiêu dùng tại các ngân hàng; Nguyễn Thị Kim Thanh (2012), tổng quan thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng trên thế giới, tập trung một số vấn đề như: thuận lợi và khó khăn trong cho vay tiêu dùng tại Việt Nam, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu khách hàng, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, tỉ lệ nợ xấu, triển vọng phát triển cho vay tiêu dùng, hành lang pháp lý các khuyến nghị đối với Chính phủ, cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy lành mạnh thị trường tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam; Lê Thị Kim Huệ (2013), đưa ra cái nhìn tổng quan về thị trường cho vay tiêu dùng Việt Nam trong thời gian qua, trong đó chỉ ra những sai lầm và hạn chế mà các ngân hàng,

tổ chức tài chính mắc phải khiến cho hoạt động này chưa phát triển mạnh mẽ và đề xuất các giải pháp khắc phục Bên cạnh đó có những luận văn thạc sỹ nghiên cứu về hoạt động cho vay tiêu dùng như: Trần Hạnh Khôi (Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010),

đã phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích đủ các yếu tố tác động, đặc biệt thiếu việc khảo sát nhu cầu, sự hài lòng của khách hàng vay vốn tại ngân hàng để tìm ra các điểm hạn chế trong quy trình cấp tín dụng gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình tiếp cận vốn Điều này dẫn đến kết luận thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á không chuẩn xác, đề xuất các giải pháp không đồng bộ; Nguyễn Thành Công (Đại học Kinh tế quốc dân, 2009), đã đề cập đến các vấn đề sau: khái niệm hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại, hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng trong thị trường ngân hàng Việt Nam, vai trò và ý nghĩa của cho vay tiêu dùng đối với sự phát triển của thị trường tài chính, xu hướng của sự phát triển cho vay tiêu dùng trên thế giới và tác động của nó tới Việt Nam Thêm vào đó, công trình nghiên cứu về cho vay tiêu dùng ở phạm vi địa phương, trong đó hệ thống

Trang 15

hóa được lý luận cơ bản cho vay tiêu dùng, đặc điểm cho vay tiêu dùng và thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội, chi nhánh Thanh Xuân, phương hướng và giải pháp đẩy mạnh

Các công trình trên nghiên cứu về hoạt động cho vay tiêu dùng nói chung ở các góc độ khác nhau đã cho thấy triển vọng phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại và đưa ra được các cách tiếp cận, các phương pháp nhằm phát triển hoạt động này Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây, và đây là khoảng trống để tác giả thực hiện đề tài “Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Sơn Tây”

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại

1.2.1 Khái quát về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm cho vay

Theo Điều 2, quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm

2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

đưa ra định nghĩa: “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín

dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi ” Theo Điều

1, số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03 tháng 2 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một

số điều của quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước nêu rõ: “Khách hàng vay tại tổ chức tín dụng là các tổ chức,

cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống ở trong nước và nước ngoài Trường hợp khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định riêng ”

Như vậy cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (ngân hàng thương mại) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

Trang 16

1.2.1.2 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng Thương mại Các nguyên tắc đó được khái quát như sau:

- Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn lẫn lãi với thời gian xác định Các khoản cho vay của Ngân hàng có nguồn gốc chủ yếu từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản Ngân hàng vay mượn Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi như đã cam kết Do vậy Ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này Đây là điều kiện để Ngân hàng tồn tại và phát triển

- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thỏa thuận với Ngân hàng, không trái các quy định của pháp luật và các quy định khác của Ngân hàng cấp trên Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các Ngân hàng Bên cạnh đó, mỗi Ngân hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo Ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái luật pháp và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh hoạt động của Ngân hàng

- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất Phương án hoạt động có hiệu quả của người vay chứng minh cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ Ngân hàng Các khoản tài trợ của Ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay Trong trường hợp xét thấy kém an toàn, Ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo khi vay

1.2.1.3 Điều kiện cho vay

Khách hàng chỉ có thể vay vốn của ngân hàng khi họ đã thỏa mãn tất cả các điều kiện vay vốn Theo luật pháp Việt Nam, nội dung các điều kiện vay vốn gồm:

Thứ nhất, khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý

Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng là quan hệ được pháp luật

Trang 17

bảo vệ Vì vật, nó phải được lập trên cơ sở quy định của pháp luật Do đó, các chủ thể tham gia phải có đủ tư cách pháp lý Hơn thế, trong quan hệ tín dụng sẽ phát sinh sự chuyển giao và giao dịch về tài sản do đó cần có sự xác nhận của các bên tham gia theo đúng quy định của pháp luật Như vậy, khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý để thực hiện các giao dịch

Thứ hai, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp

Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phù hợp với đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Vì vậy, khi khách hàng sử dụng vốn bất hợp pháp thì các tài sản đó sẽ bị phong tỏa hoặc tịch thu từ đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng Ngoài ra, khi vốn vay sử dụng bất hợp pháp thì tư cách pháp lý của khách hàng có thể bị mất đi do đó ảnh hưởng tới quan hệ tín dụng hợp pháp giữa ngân hàng với khách hàng

Thứ ba, khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh để đảm bảo hoàn

trả tiền vay đúng hạn đã cam kết

Lý do khách hàng phải có tình hình tài chính lành mạnh có thể được hiểu như sau: doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh tức là doanh nghiệp đó có khả năng quản lý tốt: chứng minh sự phát triển ổn định của khách hàng, đảm bảo cho khách hàng có cơ sở vững chắc về tài chính để đảm bảo cho cam kết hoàn trả tiền vay đúng hạn

Thứ tư, khách hàng phải có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi và

hiệu quả (đối với khách hàng có dự án, phương án sản xuất kinh doanh)

Khách hàng phải có phương án khả thi và hiệu quả vì bản chất của Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh trong đó việc cho vay phải đảm bảo các nguyên tắc sinh lời cơ bản Do đó dự án và phương án mà ngân hàng tài trợ vốn phải đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại, nguồn thu từ phương án và dự án vay vốn được coi là nguồn thu “thứ nhất” đảm bảo

an toàn vốn cũng như phát triển liên tục của khách hàng và ngân hàng

Thứ năm, khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo quy định Ngân

hàng Thương mại quan tâm đến đảm bảo tiền vay vì:

Trang 18

Đảm bảo tiền vay là công cụ bảo đảm trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của khách hàng trong quan hệ vay vốn

Đảm bảo tiền vay cũng cung cấp nguồn thanh toán “thứ hai” cho Ngân hàng Thương mại (trong trường hợp khách hàng không trả được khoản vay)

1.2.1.4 Phân loại cho vay

Các khoản cho vay có thể được phân loại bằng nhiều cách theo các tiêu chí khác nhau, bao gồm mục đích, tài sản đảm bảo (nếu có), kỳ hạn, phương pháp hoàn trả và nguồn gốc Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng

* Theo thời hạn cho vay

- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

- Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ một năm đến năm năm Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thức vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập

- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên năm năm Đây là loại hình được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết

bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới

* Theo mục đích vay

- Cho vay kinh doanh: Là loại tín dụng cấp cho các nhà doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các

cá nhân như mua sắm nhà cửa, xe cộ,…

* Theo tài sản đảm bảo

- Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có tài sản cầm cố, thế

Trang 19

chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đó Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân kỹ thuật mà không cần một nguồn thu nợ bổ sung thứ hai

- Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có them một nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn

* Theo đối tượng tham gia quy trình cho vay

- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng cho vay thông qua các tổ, hội, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ,… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên

Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp

Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người sử dụng tiền sai mục đích

* Theo phương thức cho vay

- Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của Ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt

Trang 20

mới vay Ngân hàng, tức là vốn từ Ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh

- Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó Ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thế tính cho cả

kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính

Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng Trong kỳ, khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp Ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ, sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức

- Cho vay thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay, qua đó Ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định

và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi

* Theo phương thức hoàn trả

- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ: Cho vay trả góp

- Cho vay chỉ có một thời hạn trả nợ hay cho vay trả nợ một lần khi đáo hạn

- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy vào khả năng tài chính của mình, người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào

1.2.1.5 Vai trò của hoạt động cho vay

* Đối với ngân hàng

Dư nợ cuối kỳ là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động của ngân hàng Cho vay của ngân hàng lớn mà mức dư nợ thấp chứng tỏ ngân hàng làm

ăn có hiệu quả, uy tín của ngân hàng cao, nhiều người đã biết đến ngân hàng Khi

uy tín của ngân hàng tăng cao thì việc tăng vốn điều lệ hoặc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư gửi vảo ngân hàng sẽ dễ dàng và có chi phí thấp hơn Từ

đó tạo điều kiện mở rộng quy mô, mạng lưới của ngân hàng nhờ đó mà ngày càng phát triển, các hình thức cho vay được đa dạng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng

Trang 21

* Đối với khách hàng

Nhờ có ngân hàng cho vay mà khách hàng sẽ có thể thực hiện được những

dự định, dự án của mình Do vậy nghiệp vụ này mang lại lợi nhuận cho khách hàng hay giải quyết được các vấn đề mà khách hàng gặp phải trong vấn đề cấp bách Tuy vậy, khách hàng cần phải tính toán đến khả năng chi trả để việc chi tiêu hợp lý

* Đối với nền kinh tế

- Góp phần thúc đẩu sản xuất phát triển: tín dụng ngân hàng với tư cách là nơi tập hợp trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi sẽ là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển Như vậy, tín dụng ngân hàng vừa giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế

- Góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả: tín dụng ngân hàng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu thông, do đó, trong điều kiện nền kinh

tế bị lạm phát, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát

- Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội: Hoạt động tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng cho nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư Trong nền kinh tế ngoài các ngân hàng còn có hệ thống những tổ chức sẵn sàng cung cấp vốn vay cho các cá nhân để phát triển kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh hoạt… nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội

1.2.2 Khái quát về hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Cơ sở hình thành hoạt động cho vay tiêu dùng

Khi cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu vay tiêu dùng ngày một gia tăng gắn liền với nhu cầu về hàng tiêu dùng lâu bền như nhà, xe, đồ dùng sang trọng, nhu cầu du lịch,… Tuy nhiên để nhu cầu được đáp ứng đúng lúc, đúng thời điểm không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được bởi còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán Vậy vấn đề cần giải quyết chính là mâu thuẩn giữa nhu cầu tiêu dùng và

Trang 22

khả năng thanh toán

Trên thực tế có hai cách giải quyết Cách thứ nhất là mua bán chịu Tuy nhiên cách này chỉ có lợi đối với người mua, còn bất lợi đối với người bán Người mua sẽ được sử dụng hàng hóa trước khi có đủ số tiền cần thiết, nhưng người bán sẽ thu hồi vốn chậm hoặc thậm chí bị người mua quỵt tiền Khi cần tiền để nhập hàng hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh thì đến lượt người bán sẽ dễ rơi vào tình trạng thiếu phương tiện thanh toán Vì vậy cách mua bán chịu không phổ biến và khả thi, hơn nữa lại gặp nhiều rủi ro Cách thứ hai là người mua đi vay tiền, họ sẽ cảm giác

là đã đủ phương tiện thanh toán Cách này vừa thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và nhà sản xuất cũng bán được hàng

Như vậy là cần đến một tổ chức thứ ba hỗ trợ cả người mua và người bán để họ luôn luôn có phương tiện thanh toán đối với các nhu cầu của họ Tổ chức thứ ba đó chính là các trung gian tài chính, mà quan trọng nhất là các Ngân hàng Thương mại

Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng cũng là cách để ngân hàng gia tăng lợi nhuận, đặc biệt trong môi trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay Nhiều doanh nghiệp lớn khi thiếu vốn đã không tìm đến ngân hàng để vay tiền mà thay vì đó họ

tự tài trợ chủ yếu bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu Hơn nữa, nhiều công

ty tài chính hoặc giữa các ngân hàng cạnh tranh với nhau trong cho vay làm cho thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút buộc ngân hàng phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng, hướng tới tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng Ngân hàng cho vay tiêu dùng một mặt tăng thu nhập cho bản thân ngân hàng, mặt khác tạo ra uy tín cho ngân hàng

Một lý do khác góp phần vào sự hình thành cho vay tiêu dùng đó là đặc điểm luân chuyển hàng hóa tiêu dùng Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp và cá nhân là một mảng hoạt động quan trọng của ngân hàng Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa nếu như không có tiêu dùng thì sẽ bị tắc nghẽn, hàng hóa không tiêu thu được dẫn đến doanh nghiệp bị ứ đọng vốn và quá trình sản xuất vì thế mà không thể tiếp tục Vai trò của ngân hàng lúc này trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Ngân hàng cho người tiêu dùng vay vốn đã tạo ra khả năng thanh toán cho họ trước khi

Trang 23

họ tích lũy đủ số tiền cần thiết Khách hàng có tiền sẽ tìm đến doanh nghiệp mua hàng và doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa, từ đó có thể trả nợ cho ngân hàng cũng như doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất và sẽ tìm tới ngân hàng để tiếp tục vay vốn bên cạnh đó, người tiêu dùng có thu nhập khá hoặc cao, thu nhập tương đối ổn định, vay tiêu dùng giúp họ nâng cao mức sống, tăng khả năng được đào tạo,… giúp họ có cơ hội tìm kiếm công việc có mức thu nhập cao hơn Như vậy cho vay tiêu dùng sẽ có lợi cho người tiêu dùng, doanh nghiệp và cả ngân hàng Sự hình thành cho vay tiêu dùng là điều cần thiết và tất yếu

1.2.2.2 Khái niệm cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng là một hình thức cấp tín dụng nhằm hỗ trợ cho nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hàng ngày của cá nhân và hộ gia đình Có thể hiểu một cách đơn giản là hình thức tổ chức tín dụng cho các khách hàng được sử dụng một khoản tiền trên tài khoản của tổ chức tín dụng đó để dùng trong tiêu dùng cá nhân, với điều kiện khách hàng đó phải đáp ứng được những yêu cầu về khả năng thanh toán của

tổ chức tín dụng cho vay

Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như trang trải cho nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ các nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch,… trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể thưởng thức mức sống cao hơn Đây là những nhu cầu thiết yếu của cá nhân và hộ gia đình, những hoạt động này không sinh lợi Có thẻ so sánh khoản vay tiêu dùng với khoản vay đwọc thực hiện với mục đích sản xuất hoặc để mua các sản phẩm nhằm tạo ra nguồn vốn như cổ phiếu và trái phiếu

1.2.2.3 Đặc điểm cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói chung:

- Đối tượng của các khoản cho vay tiêu dùng: Đó là các cá nhân, hộ gia đình Nhu cầu vay của cá nhân phụ thuộc vào tình hình tài chính của họ Đối với cá nhân

có mức thu nhập thấp, nhu cầu tín dụng thường không cao, nó chỉ xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu gia đình tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu Đối với cá nhân

có mức thu nhập trung bình, nhu cầu tín dụng phát triển mạnh do ý muốn vay mượn

để mua hàng tiêu dùng lớn hơn khoản tiền dự phòng của mình Đối với những

Trang 24

người có thu nhập cao, nhu cầu tín dụng tiêu dùng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán hoặc một khoản tài trợ rất linh hoạt trong chi tiêu khi mà nguồn vốn của họ đã nằm trong khoản đầu tư

- Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh Do đó phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi vay

- Số lượng khách hàng lớn: Mỗi thành viên trong mỗi gia đình sẽ có những mục đích tiêu dùng riêng và thường khác nhau, do đó lượng người tiêu dùng rất đông Vì vậy các khoản vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú

- Quy mô hợp đồng vay nhỏ: Do mục đích vay là tiêu dùng nên số tiền sử dụng không lớn Bên cạnh đó, khoản vay này sử dụng để mua sắm, nên không sinh lời, vì vậy để đảm bảo người vay có khả năng hoàn trả được, ngân hàng chỉ cho vay với số tiền hạn mức, nhỏ hơn so với khoản vay của doanh nghiệp

- Chi phí cho vay tiêu dùng cao: Khoản cho vay tiêu dùng thường không lớn trong khi ngân hàng tốn rất nhiều thời gian và nhân lực để điều tra thu thập thông tin của chủ thể vay tiền Bên cạnh đó, ngân hàng phải quản lý các khoản cho vay nhỏ lẻ nhưng khối lượng là rất lớn Do đó chi phí cho vay tiêu dùng lãi suất thường lớn hơn cho vay thương mại

- Về lãi suất, do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay cao, do vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay thương mại

- Rủi ro tín dụng cao:

+ Khách hàng vay tiêu dùng thường là các cá nhân nên việc chứng mình tài chính thường khó Nếu như các doanh nghiệp có bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh để chứng minh nguồn thu nhập và chi tiêu của mình thì thu nhập của các cá nhân vay tiêu dùng chính là căn cứ để ngân hàng xét cho vay và thu nợ Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, người vay có thể bị thất nghiệp, do đó ngân hàng sẽ gặp nhiều rủi ro hơn trong việc thu hồi nợ

+ Do người vay là cá nhân, thường là công nhân viên, giới trẻ mới ra

Trang 25

trường, hay mới lập gia đình,… nên không có tài sản đảm bảo hay thế chấp Vì vậy rủi ro nợ quá hạn và mất khả năng hoàn trả rất cao và cao nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng Vì vậy các ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa

đã mua,…

- Nhu cầu vay tiêu dùng có tính nhạy cảm và phụ thuộc và chu kỳ kinh tế: Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng tốt và ổn định, người dân cảm thấy lạc quan về tương lai, họ sẽ thoải mái mua sắm, vì vậy nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tâm lý chung của cá nhân là lo lắng về cuộc sống tương lai, do đó việc tiêu dùng sẽ phải hạn chế tối đa, đồng thời hoạt động vay mượn ngân hàng giảm đi rất nhiều

- Người tiêu dùng kém nhạy cảm với lãi suất: Người tiêu dùng thường quan tâm món vay đó có thỏa mãn được nhu cầu của họ không, và số tiền phải trả trong mỗi kỳ là bao nhiêu, hơn là lãi suất mà họ phải chịu, mặc dù lãi suất là yếu tố biểu hiện chi phí họ phải bỏ ra để có được số tiền vay Ngoài ra, do đây là những món vay tiêu dùng, khoản vay thấp, và không vì mục đích kinh doanh, nên người vay thường ít quan tâm đến chi phí phải trả Hơn nữa, đối tượng vay tiêu dùng thường là những người lao động bình thường, công nhân viên chức,… nên họ ít am hiểu về các lĩnh vực ngân hàng như lãi suất,…

- Hiệu quả của vay tiêu dùng phụ thuộc rất nhiều vào từng cá nhân:

+ Yếu tố chủ quan: Tư cách của khách hàng như cam kết trả nợ, độ tín nhiệm của cá nhân đi vay,… là một yếu tố định tính rất khó xác định, tuy nhiên nó lại rất quan trọng, có tính quyết định cho sự hoàn trả của khoản vay

+ Yếu tố khách quan: Tuy nhiên,rủi ro không trả nợ cho ngân hàng không cỉ xuất phát do chủ quan từ phía người đi vay, nó còn chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ các yếu tố khách quan như rủi ro về mất việc làm, bệnh tật, tai nạn, chết, các sự cố xảy ra trong gia đình,… Nhưng vì số lượng khách hảng rất nhiều nên những rủi ro này được phân tán, không tập trung vào một đầu mối, vì vậy giảm được những tổn thất lớn cho ngân hàng

Trang 26

1.2.2.4 Một số phương pháp cho vay tiêu dùng

Các ngân hàng trên thế giới thường sử dụng 2 phương pháp chính, đó là:

- Phương pháp hệ thống điểm: là tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan đến từng đối tượng khách hàng Mỗi tiêu thức tương ứng với một điểm số nhất định, tùy theo từng tiêu thức và tầm quan trọng trong hệ thống các tiêu thức

Tuy nhiên, phương pháp hệ thống điểm số trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như môi trường, kinh tế xã hội,… nếu các yếu tố này có biến động lớn thì ngân hàng cần phải xem xét điều chỉnh lại các tiêu thức cho phù hợp đảm bảo chất lượng cho vay và thu hồi nợ

- Phương pháp phán đoán: là quá trình trong đó ngân hàng tiến hành phân tích, đánh giá toàn bộ thông tin định tính và định lượng về khách hàng nhằm hạn chế các khoản vay có rủi ro cao Vì thế khi quyết định cho vay ngân hàng cần phải quan tâm đến nhiều vấn đề khác như khả năng trả nợ của khách hàng, điều kiện kinh tế hiện tại của khách hàng, các điều kiện khác của khách hàng có phù hợp với

cơ chế, chính sách của ngân hàng hay không…

1.2.2.5 Lãi suất trong cho vay tiêu dùng

Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi suất thực tế đối với cho vay phục vụ nhu cầu riêng Song phần lớ lãi suất được xác định dựa trên lãi suất cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro Hiện nay mỗi ngân hàng thương mại có phương pháp tính lãi riêng, song nhìn chung tập trung vào những phương pháp như: Phương pháp lãi đơn, phương pháp lãi gộp, phương pháp tỷ lệ chiết khấu, phương pháp lãi suất biến đổi,…

1.2.2.6 Rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng

Có hai rủi ro không mong muốn có thể phát sinh trong quan hệ tín dụng tiêu dùng, đó là phá sản cá nhân và đổ vỡ tín dụng của các tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng

- Phá sản cá nhân: là hiện tượng cá nhân bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Ở Việt Nam, khái niệm này đã tồn tại nhưng tương đối còn mới mẻ và xa lạ, nhiều người nghĩ rằng chỉ có các tổ chức kinh tế

Trang 27

mới có khả năng bị phá sản Các nguyên nhân có thể dẫn tới phá sản cá nhân:

+ Khi cá nhân vay tiền để chi tiêu cho các nhu cầu tiêu dùng có thể không kiểm soát được việc chi tiêu của mình dẫn tới việc bị lạm chi, chi tiêu cho những hàng hóa dịch vụ không thực sự cần thiết, làm tăng gánh nặng trả nợ bản thân, có thể vượt quá khả năng trả nợ thực tế

+ Khi các đảm bảo vay vốn của cá nhân do tác động của nhiều yếu tố như:

bị mất việc làm, bị tai nạn mất sức lao động, thiên tai lũ lụt, han hán,… dẫn tới các đảm bảo đó không đủ để thanh toán khoản nợ, lúc này cá nhân rơi vào tình trạng phá sản

- Tình trạng quá nóng tín dụng sẽ thường dẫn đến rủi ro đối với khu vực ngân hàng và thường dẫn đến tình trạng nợ khó đòi trong tương lai, tăng rủi ro cho các ngân hàng thương mại

- Bên cạnh đó, với thị trường tín dụng đầy tiềm năng và nguồn lơi nhuận có thể thu được, một số ngân hàng không ngần ngại nới lỏng trong các điều kiện cho vay và kiểm tra hồ sơ tín dụng để tăng lượng khách hàng và dư nợ cho vay Sự bất cẩn này từ phía các tổ chức tín dụng cho vay đã góp phần tạo điều kiện cho phá sản

cá nhân gia tăng và gây thiệt hại cho chính các tổ chức tín dụng đó Nếu có một số lượng lớn khách hàng cá nhân bị phá sản thì có thể dẫn tới sự khủng hoảng hay đổ

vỡ của các tổ chức tín dụng có số dư nợ tín dụng tiêu dùng lớn

1.2.2.7 Phân loại cho vay tiêu dùng

* Căn cứ vào phương thức hoàn trả

- Cho vay tiêu dùng trả góp

Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay Phương thức này thường áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay Đối với loại cho vay tiêu dùng này, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản sau:

+ Loại tài sản được tài trợ: Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho những khoản vay mua sắm các đồ dùng có giá trị và tính sủ dụng lâu bền, với những tài

Trang 28

sản như vậy, người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài

+ Số tiền phải trả trước: Thông thường ngân hàng yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, số còn lại ngân hàng sẽ cho vay Điều này một phần giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, mặt khác tạo cho người

đi vay có trách nhiệm hơn với tài sản mình định mua bởi họ cũng đã đóng góp một phần số tiền của mình vào trong đó Khi khách hàng không trả được nợ trong nhiều trường hợp ngân hàng sẽ phải phát mãi tài sản để thu hồi nợ Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị cho nên số tiền trả trước có vai trò vô cùng quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro Số tiền trả trước nhiều hay ít phụ thuộc:

 Loại tài sản: Đối với các loại tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì

số tiền trả trước nhiều và ngược lại, đối với các loại tài sản có mức

độ giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít hơn

 Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi sử dụng: Yếu tố này rất quan trọng Nếu đó là tài sản thuộc loại dễ bán thì số tiền trả trước sẽ ít hơn loại tài sản khó bán sau khi sử dụng

 Môi trường kinh tế

 Năng lực tài chính của người đi vay + Chi phí tài trợ: Là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng trong việc sử dụng vốn Chi phí tài trợ chủ yếu là tiền lãi và một số khoản chi phí khác Chi phí tài trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro và mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng chp ngân hàng

+ Điều khoản thanh toán:

 Số tiền thanh toán mỗi kỳ phù hợp về khả năng thu nhập, chi tiêu của khách hàng

 Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi

 Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng nhưng không nên quá dài vì nếu quá dài, giá trị của tài sản tài trợ sẽ bị

Trang 29

giảm mạnh và việc thu hồi nợ có thể gặp rắc rối

- Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn, áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn

- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hàng loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai Theo phương thức này, trong thời hnaj được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng

* Căn cứ vào mục đích vay

Căn cứ vào mục đích vay, ngân hàng sẽ xếp khoản vay đó là vay ô tô hay vay mua nhà, chi phí học hành, mua sắm đồ dùng gia đình,…

* Căn cứ vào hình thức có thể chia cho vay tiêu dùng thành 2 loại:

- Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua những khoản nợ phát sinh của những doanh nghiệp đã bán chịu hàng hóa hay dịch

vụ cho người tiêu dùng, hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng

Trong trường hợp này doanh nghiệp bán lẻ và ngân hàng ký kết hợp đồng mua bán nợ Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng

kỹ thuật được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản Doanh nghiệp bán lẻ

sẽ giao tài sản cho người tiêu dùng và bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng Ngân hàng dựa trên bộ chứng từ đó sẽ thanh toán tiền cho doanh nghiệp bán

lẻ Cuối cùng người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng

Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:

 Cho phép ngân hàng dễ dàng thanh tăng doanh số cho vay tiêu dùng

 Giảm được chi phí trong cho vay

 Mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động của ngân hàng khác

Trang 30

 Vay vốn đúng mục đích

Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau:

 Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu, do đó thông tin về khách hàng đôi khi không chính xác, không tìm hiểu kỹ được khách hàng có thể dẫn tới rủi ro cho ngân hàng

 Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hóa

 Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao

- Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này

So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có những

ưu điểm sau:

 Cho vay tiêu dùng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn bởi nó được quyết định bởi đội ngũ nhân viên uy tín, giàu kinh nghiệm và được đào tạo chuyên môn tốt của ngân hàng chứ không phải

là những nhân viên của doanh nghiệp bán lẻ Nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của doanh nghiệp bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho được nhiều hàng nên dễ dẫn tới quyết định tín dụng vội vàng và có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra không chính đáng

 Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp, ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên hiểu rõ khách hàng

 Do đối tượng khách hàng rất rộng, do đó việc đưa ra các dịch vụ, tiện ích mới là rất thuận lợi, đồng thời là hình thức để tăng cường quản bá hình ảnh của ngân hàng đến với khách hàng

1.2.2.8 Vai trò cho vay tiêu dùng

* Đối với người tiêu dùng

Trang 31

Trước hết là đối với người tiêu dùng, nhờ có nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của của ngân hàng mà người tiêu dùng có thể thực hiện được kế hoạch của mình

Họ được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và quan trọng hơn, dịch vụ này của ngân hàng rất cần thiết cho những trường hợp chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho gia đình và y tế Nhờ đó góp phần nâng cao mức sống, khuyến khích lao động sản xuất để tăng thu nhập và tiết kiệm chi tiêu để trả nợ vay

Đặc biệt là đối với người có thu nhập trung bình, nhờ những khoản cho vay tiêu dùng họ có thể mua sắm những hàng hóa cần thiết có giá trị cao, thỏa mãn những nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của họ chưa cho phép

Trên thực tế cho thấy có nhiều nhu cầu mang tính tự nhiên, vô cùng thiết yếu

có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân và hộ gia đình Những nhu cầu này không sớm thì muộn người tiêu dùng cũng phải thỏa mãn như nhu cầu về mu sắm, sửa chữa nhà cửa, mua sắm đồ dùng tiện nghi sinh hoạt, mua sắm các phương tiện như xe máy, ô tô, du lịch, ngoài ra là các nhu cầu mà con người thỏa mãn càng sớm càng tốt Chẳng hạn nhu cầu về học hành của họ hay con cái họ, các nhu cầu phát sinh khi chuẩn bị một công việc làm ăn mới,

Tuy rằng, đó là những nhu cầu thật sự thiết yếu nhưng của cái thì được tích lũy theo thời gian, do vậy mà khả năng tài chính thường bị giới hạn Vì vậy, thực tế cho thấy, nhiều người tiêu dùng thường mua sắm nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt khi đã lớn tuổi, khi đã tích lũy đầy đủ tiền Khi đó lợi ích cảm nhận được từ sự hưởng thụ

có xu hướng giảm xuống Do vậy, người tiêu dùng sẽ tìm cách để phối hợp khéo léo giữa việc thỏa mãn các nhu cầu là yếu tố về thời gian và khả năng thanh toán của hiện tại và tương lai Điều này có nghĩa là người tiêu dùng sẽ tìm cách để hưởng thụ trước số tiền mình sẽ có trong tương lai

Chính những nguyên nhân trên, việc ngân hàng thực hiện và mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ đem đến cho người tiêu dùng những lợi ích thiết thực nhất Người tiêu dùng là những người được hưởng lợi ích trực tiếp do hình thức cho vay tiêu dùng mang lại

Trang 32

Tuy vậy, nếu lạm dụng cho vay tiêu dùng thì nó cũng có thể làm cho người

đi vay vượt quá mức cho phép làm giảm khả năng tiết kiệm để trả nợ, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng và ảnh hưởng đến độ tín nhiệm của chính người vay, làm họ khó khăn hơn trong việc vay mượn lần sau

* Đối với ngân hàng

Với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó

để cho vay kiếm lời, các Ngân hàng Thương mại cần nỗ lực huy động vốn, bên cạnh đó cần khai thác thị trường tín dụng một cách triệt để, nghĩa là tìm cách để đảm bảo khả năng đáp ứng và trên cơ sở đó thỏa mãn tốt nhất, nhiều nhất các nhu cầu về cho vay của nền kinh tế Vì vậy, thị trường cho vay tiêu dùng là một thị trường đầy tiềm năng với số lượng nhu cầu về cho vay xét theo lượng khách hàng tiềm năng và theo sự đa dạng của nhu cầu tiêu dùng là vô cùng lớn Do vậy, ngày nay các Ngân hàng Thương mại luôn quan tâm và chú trọng phát triển loại hình cho vay này

Bên cạch đó, nguồn thu của ngân hàng thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng là đáng kể do lãi suất tín dụng tiêu dùng hấp dẫn, đặc biệt là lãi suất thực cho vay trả góp cao, điều này khiến cho hoạt động cho vay tiêu dùng chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, Do vậy việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng cho các cá nhân và hộ gia đình là một hướng kinh tế có triển vọng cho ngân hàng

Xu hướng hoạt động của các Ngân hàng Thương mại là phát triển đa năng tổng hợp, luôn tìm cách mở rộng các nghiệp vụ cũng như đưa ra các sản phẩm mới Việc thực hiện và phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng vừa mở rộng được khách hàng cho vay, tận dụng được nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, vừa đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng góp phần nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng Từ đó ngân hàng tăng được sức mạnh trong cạnh tranh đồng thời tạo được những nét đặc trưng riêng

* Đối với nhà sản xuất

Bất kì nhà sản xuất nào cũng muốn tiêu thụ được càng nhiều hàng hóa càng tốt và họ luôn hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, họ cũng gặp phải một

Trang 33

thực tế là không phải lúc nào khách hàng cũng có sẵn đủ tiền để trả cho họ Rất nhiều nhà sản xuất, các công ty bán lẻ đã chấp nhận bán chịu cho khách hàng hoặc cho khách hàng mua trả góp Để có tiền quay vòng, nhiều công ty bán lẻ đã kí hợp đồng với các ngân hàng để được ngân hàng tài trợ Sau khi đã có thỏa thuận giữa các bên về phương thức tài trợ này, nhà sản xuất sẽ giao hàng cho công ty bán lẻ, ngân hàng cấp tín dụng cho công ty bán lẻ để trả cho nhà sản xuất Khi công ty bán

lẻ tiêu thụ được hàng hóa sẽ thanh toán nợ cho ngân hàng Với cách làm như vậy, các hang sản xuất và các công ty bán lẻ sẽ bán được nhiều hàng hóa, mở rộng quy

mô sản xuất, quay vòng vốn nhanh và thu được nhiều lợi nhuận Mặt khác, việc tiêu thụ nhanh chóng sản phẩm, hàng hóa còn giúp cho nhà sản xuất nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên thương trường Có thể nói cho vay tiêu dùng có tác dụng rất tích cực với nhà sản xuất

* Đối với nền kinh tế

Sự phát triển của một nền kinh tế được thể hiện rất rõ qua mức cầu về hàng hóa tiêu dùng của dân cư, chính là số lượng và mức độ của các nhu cầu có khả năng thanh toán về các mặt hàng tiêu dùng khác nhau Vì vậy một giải pháp làm tăng số lượng nhu cầu có khả năng thanh toán sẽ có một đòn bẩy hữu hiệu để kích cầu, từ

đó tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội

Hoạt động cho vay tiêu dùng có thể góp phần đáng kể trong chính sách kích cầu của Nhà nước, nó cũng giúp Nhà nước đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, chẳng hạn như tăng mức sống cho dân cư, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, tăng GDP,…

Đối với sản xuất kinh doanh, sự phát triển cho vay tiêu dùng đồng nghĩa với việc tăng trưởng của cầu, tức là sức mua của người dân tăng lên, từ đó tạo nên sự sôi động cho thị trường hàng hóa tiêu dùng, tạo nguồn sống cho khu vực sản xuất trong nước, năng lực sản xuấ của quốc gia sẽ được cải thiện, đồng thời tạo sức hút đối với nhà đầu tư nước ngoài Cũng qua đó, Nhà nước đạt được mục tiêu kinh tế -

xã hội là giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm thất nghiệp, giản tệ nạn xã hội

Trang 34

1.2.2.9 Quy trình cho vay tiêu dùng

- Quy trình cho vay là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng vay vốn Việc xác lập một quy trình cho vay và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng Về mặt hiệu quả, một quy trình cho vay hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng cho vay và giảm thiểu rủi ro cho vay

- Về mặt quản lý, quy trình cho vay có tác dụng:

+ Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động cho vay

+ Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn

- Mỗi ngân hàng khác nhau đều tự thiết kế cho mình một quy trình cho vay riêng quy trình cho vay tiêu dùng gồm các bước cơ bản:

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ đăng kí vay vốn

Đây là khâu căn bản đầu tiên của quy trình, nó được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn Khâu này sẽ cung cấp các thông tin về khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định sau này Một bộ hồ sơ

sẽ bao gồm:

- Giấy đề nghị vay

- Chứng minh thư/ hộ chiếu còn hiệu lực trong thời hạn khoản vay

- Sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy đăng kí tạm trú dài hạn (nếu ở nơi khác nơi đăng kí hộ khẩu)

- Tài liệu giải trình mục đích sử dụng vốn

- Tài liệu chứng minh thu nhập để trả nợ

- Các tài liệu liên quan đến tài sản đảm bảo

Ngoài ra, tùy theo mục đích vay cụ thể mà ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng phải có thêm một số giấy tờ cần thiết khác

Bước 2: Kiểm tra hồ sơ vay vốn và thẩm định cho vay

Cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra hồ sơ vay vốn, tiến hành thẩm định các tiêu chí

Trang 35

theo quy định từng Ngân hàng Thương mại Thời gian thực hiện thẩm định khách hàng, tài sản đảm bảo, mục đích vay vốn, phương án trả nợ,… và làm tờ trình trong thời gian không quá 2 – 5 ngày làm việc tùy vào khaonr vay Trong giai đoạn này bắt buộc phải xác định chính xác thông tin về địa chỉ của khách hàng khai trong giấy đề nghi vay vốn, đặc biệt là chỗ ở hiện tại của khách hàng Sau đó, cán bộ tín dụng thực hiện trình hồ sơ lên lãnh đạo phòng kinh doanh để xét duyệt khoản vay theo quy định

Bước 3: Kiểm soát việc thẩm định hồ sơ khoản vay

Lãnh đạo phòng kinh doanh/ Phòng thẩm định thực hiện kiểm soát nội dung hồ sơ đề nghị vay vốn của khách hàng, yêu cầu bổ sung thêm hồ sơ nếu thấy cần thiết để đảm bảo hồ sơ khách hàng đầy đủ và chính xác, đảm bảo tính pháp lí Sau đó, lãnh đạo phòng kí duyệt và chuyển cho Ban giám đốc/ Người được ủy quyền phê duyệt

Bước 4: Xét duyệt hồ sơ vay vốn

Sau khi hồ sơ đề nghị vay vốn đã có ý kiến và chữ kí kiểm soát của Lãnh đạo phòng kinh doanh, cán bộ tín dụng sẽ trình hồ sơ lên Ban giám đốc trung tâm giao dịch, giám đốc chi nhánh hoặc người được Tổng giám đốc ủy quyền phê duyệt Thẩm quyền phê duyệt của các cấp sẽ được Tổng giám đốc quy định cụ thể cho từng mục đích vay cụ thể Số tiền này càng lớn, cấp có thẩm quyền phê duyệt càng cao

Ngay khi được phê duyệt của lãnh đạo, chuyên viên khách hàng hoặc chuyên viên phân tích, hỗ trợ kinh doanh thực hiện thông báo bằng điện thoại cho khách hàng về việc khoản vay đã được phê duyệt và đề nghị họ hoàn thiện hồ sơ chuẩn bị giải ngân khoản vay

Bước 5: Soạn thảo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ

Sau khi được duyệt, chuyên viên khách hàng hoặc chuyên viên phân tích,

hỗ trợ kinh doanh hướng dẫn người vay lập hồ sơ chuẩn bị giải ngân, bao gồm: Hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị phát tiền vay và Khế ước nhận nợ theo mẫu

Bước 6: Ký kết hợp đồng tín dụng

Chuyên viên khách hàng chuyển hợp đồng sau khi đã được lãnh đạo phòng kinh doanh kí nháy cho Ban giám đốc Trung tâm giao dịch hoặc người được ủy

Trang 36

quyền kí hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để giải ngân cho khách hàng

Sau đó, chuyên viên khách hàng hoặc chuyên viên Ban kiểm soát hỗ trợ kinh doanh chuyển hồ sơ cho Ban kiểm soát và Hỗ trợ kinh doanh hoặc phòng kế toán để hạch toán khai báo khoản vay trên hệ thống của ngân hàng, đồng thời thu phí thu xếp tài chính và lưu hồ sơ

Bước 7: Hoạch toán và giải ngân

Sau khi kí hợp đồng và khế ước nhận nợ, chuyên viên khách hàng và chuyên viên phân tích hỗ trợ kinh doanh đưa hồ sơ lên kế toán để tiến hành hạch toán thu phí, giải ngân tiền vay Sau đó, họ hướng dẫn khách hàng viết giấy lĩnh tiền

để giải ngân khoản vay hoặc chuyển khoản để chi trả theo mục đích vay vốn tương

tự các khoản vay bán lẻ khác

Bước 8: Theo dõi khoản vay, thu hồi nợ

Chuyên viên khách hàng hoặc chuyên viên phân tích hỗ trợ kinh doanh sẽ lưu giữ và kiểm soát hồ sơ sau khi giải ngân Bên cạnh đó, họ có trách nhiệm kiểm tra quá trình trả nợ của người vay theo lịch trình nợ đã thỏa thuận Trường hợp khách hàng trả nợ trước hạn, khách hàng phải thông báo trước bằng văn bản và sẽ chịu mức phí chi trả trước theo thỏa thuận

Bước 9: Gia hạn khoản vay và hạch toán khoản vay

Việc gia hạn khoản vay áp dụng theo quy định của Ngân hàng Thương mại về điều kiện gia hạn khoản vay Khách hàng chỉ được gia hạn tối đa không quá 12 tháng

Khi khoản vay đến hạn tất toán hoặc khách hàng tất toán khoản vay trước hạn, chuyên viên kế toán hoặc chuyên viên phân tích hỗ trợ kinh doanh thực hiện việc tất toán cho khách hàng khi đã hoàn thành hết các nghĩa vụ tài chính với ngân hàng

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng

1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính

* Công tác phát triển mạng lưới

Người tiêu dùng rất đông và phân tán ở nhiều nơi, vì vậy để phục vụ tốt cho nhu cầu này, mở rộng thị trường phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng thì sự gia tăng của các điểm giao dịch, các quỹ tiết kiệm, các phòng giao dịch và các chi

Trang 37

nhánh là một trong những điều điện để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng

* Phát triển sản phẩm

Ngày nay, số lượng ngân hàng ngày một tăng và thêm vào đó, số lượng và nhu cầu sử dụng dịch vụ của ngân hàng thì không có nhiều thay đổi Vì vậy, các ngân hàng không ngừng đổi mới và phát triển sản phẩm mới để cạnh tranh, chiếm thị phần khách hàng Để bắt kịp thị hiếu của người vay, ngân hàng cần thường xuyên nghiên cứu thị trường cho ra các sản phẩm mới để thỏa mãn được nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng Nếu ngân hàng nào không phát triển sản phẩm, không đa dạng hóa sản phẩm hay không phát triển các sản phẩm mới, thì ngân hàng

đó khó thu hút được khách hàng

* Tính nhanh chóng

Tính nhanh chóng trong hoạt động cho vay tiêu dùng được đánh giá dựa vào thời gian cần thiết để giải ngân cho vay một hồ sơ vay tiêu dùng Thời gian càng ngắn chứng tỏ khả năng cho vay tiêu dùng của ngân hàng tốt cũng như nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên ngân hàng ngày càng cao và ngược lại

1.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng

* Số lượng các khoản cho vay tiêu dùng

Số lượng các khoản cho vay tiêu dùng đánh giá mối quan hệ cũng như sự thu hút của khách hàng của ngân hàng Số lượng các khoản vay tăng lên mới chỉ đánh giá sự phát triển về chiều rộng, tuy nhiên đây là một chỉ tiêu rất quan trọng cần xem xét đến khi đánh giá sự phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng

Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng số lượng khách hàng

Mức tăng, giảm = Số lượng - Số lượng

số lượng khách hàng khách hàng năm t khách hàng năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng năm t tăng hay giảm so với năm (t-1)

là bao nhiêu Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng có thể đánh giá việc mở rộng quy mô

và đối tượng khách hàng tại ngân hàngChỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng năm t tăng hay giảm so với năm (t-1) là bao nhiêu Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng có thể đánh giá việc mở rộng quy mô và đối tượng khách hàng tại ngân hàng

Trang 38

* Chỉ tiêu doanh số cho vay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng là tổng số tiền mà ngân hàng thực hiện trong một kì, phản ánh khái quát tình hình cho vay tiêu dùng của ngân hàng trong một thời kì nhất định

+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về doanh số cho vay tiêu dùng tuyệt đối Giá trị tăng trưởng = Tổng doanh số - Tổng doanh số

tổng doanh số (t/t-1) cho vay tiêu dùng năm (t) cho vay tiêu dùng năm (t-1)

Đây là chỉ tiêu tuyệt đối, phản ánh chính xác về quy mô hoạt động cho vay tiêu dùng trong nền kinh tế trong một thời gian nhất định thường là một năm, nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu trước khi họ có khả năng chi trả Doanh số cho vay tiêu dùng phản ánh kết quả về việc phát triển, mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng

và tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng Nếu như các nhân tố khác cố định thì doanh số cho vay tiêu dùng càng cao phản ánh việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng càng tốt, ngược lại doanh số cho vay tiêu dùng của ngân hàng giảm thì chứng tỏ hoạt động của ngân hàng chưa tốt

Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về doanh số cho vay tiêu dùng

Chỉ tiêu này cho biết trong năm (t) doanh số cho vay tiêu dùng tăng bao nhiêu % so với năm (t-1) Chỉ tiêu này càng cao thể hiện tốc độ tăng trưởng cho vay tiêu dùng càng nhanh

* Dư nợ cho vay tiêu dùng

Dư nợ cho vay tiêu dùng là số tiền ngân hàng cho vay tiêu dùng trong một thời điểm Chỉ tiêu này thường được sử dụng kết hợp với chỉ tiêu doanh số cho vay tiêu dùng nhằm phản ánh tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng

Khi xem xét chỉ tiêu này cần xem xét cả về số tuyệt đối và tương đối Sự tăng lên của dư nợ cho vay tiêu dùng về số tuyệt đối mới chỉ đánh giá sự phát triển

về chiều rộng, vì vậy để đánh giá được chính xác cần xem xét chỉ tiêu này về số tương đối tức là xem dư nợ cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ của ngân hàng chiếm

tỉ trọng là bao nhiêu

Trang 39

+ Chỉ tiêu phản ánh dư nợ tuyệt đối

Giá trị tăng trưởng = Tổng dư nợ - Tổng dư nợ

dư nợ tuyệt đối cá nhân năm t cá nhân năm (t-1)

Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay tiêu dùng năm t so với năm (t-1) về tuyệt đối là bao nhiêu Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền mà khách hàng đang

nợ ngân hàng qua các năm đã tăng lên, chứng tỏ hoạt động cho vay tiêu dùng đã phát triển hơn trước

+ Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng

Tỷ trọng cho vay tiêu dùng cho biết doanh số cho vay tiêu dùng chiếm bao nhiêu % trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng Đây chỉ là chỉ tiêu phản ánh số vốn của ngân hàng sử dụng vào hoạt động cho vay tiêu dùng là bao nhiêu do đó nó cho ta thấy được sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng so với các hoạt động khác của ngân hàng

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng

* Các nhân tố chủ quan

- Năng lực về vốn của ngân hàng

Năng lực về nguồn vốn của ngân hàng có ảnh hưởng tới lượng cho vay tiêu dùng Ngân hàng có lượng vốn tự có cao hay thấp, nhiều mạng lưới chi nhánh để thuận tiện giao dịch với khách hàng hay không Khi ngân hàng có nguồn vốn lớn thì hoạt động cho vay tiêu dùng cũng có điều kiện phát triển Ngoài ra, uy tín của ngân hàng cao hay thấp cũng sẽ ảnh hưởng tới lượng khách hàng giao dịch với ngân hàng

- Năng lực thẩm định

Năng lực thẩm định của ngân hàng phụ thuộc vào trình độ của đội ngũ cán

bộ tín dụng Trình độ, thái độ của cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng mang tính quyết định thành công của hoạt động cho vay tiêu dùng Cán bộ tín dụng cần có trình độ chuyên môn tốt thì mới thẩm định chính xác khách hàng và dự án vốn, từ

đó đưa ra các quyết định đúng đắn Cán bộ tín dụng cũng cần có đạo đức nghề

Trang 40

nghiệp, tận tâm với công việc, nhiệt tình giúp đỡ khách hàng hoàn thành các thủ tục cần thiết, đồng thời cán bộ tín dụng thường phải kiểm tra hồ sơ tín dụng của khách hàng thông qua Trung tâm tín dụng của Ngân hàng Nhà nước

- Công nghệ và khả năng quản lý của ngân hàng

Công nghệ ngân hàng và khả năng quản lý có tác động tới hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu ngân hàng có công nghệ hiện đại sẽ dẫn tới việc giải quyết các thủ tục được nhanh chóng, chính xác, giảm bớt các thủ tục rườm rà cho khách hàng

và việc quản lý hồ sơ khách hàng cũng được thuận tiện hơn Bên cạnh vấn đề về công nghệ, ngân hàng cần có các quy định, nội quy làm việc thưởng phạt nghiêm minh, quản lý tốt để tạo động lực làm việc cho cán bộ nhân viên ngân hàng, tác động đến phong cách làm việc của nhân viên

- Chính sách lãi suất

Chính sách lãi suất là nhân tố tác động lớn đến khả năng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại Với chi phí để thực hiện và điều hành các khoản cho vay, các rủi ro liên quan, đặc tính của các khoản cho vay

có vật thế chấp, và kỳ hạn của hợp đồng cho vay tiêu dùng nên lãi suất cho vay tiêu dùng là một trong những loại lãi suất cao nhất trong tất cả các tổ chức cho vay Hơn nữa, cho vay tiêu dùng còn phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế Vì vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp với thu nhập hiện có của người dân, thích hợp với chu kỳ kinh

tế sẽ giúp hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng phát triển

Ngoài ra, khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm với lãi suất Người tiêu dùng quan tâm đến số tiền họ phải trả hàng tháng hơn là lãi suất (mặc dù chính lãi suất ghi trên hợp đồng ảnh hưởng đến quy mô số tiền trả) Do đó, lãi suất không phải là một trong những nhân tố quan trọng mà khách hàng quan tâm khi tìm đến sản phẩm cho vay tiêu dùng

- Chính sách, quy định của ngân hàng

Yếu tố góp phần nhỏ tới thành công của hoạt động cho vay tiêu dùng là các chính sách, quy định của ngân hàng Đó là chính sách chăm sóc khách hàng trước

và sau khi cho vay có chu đáo hay không, các quy định về thời hạn tín dụng và kỳ

Ngày đăng: 17/05/2017, 13:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Văn Bạn, 2009. Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại. Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại
2. Nguyễn Thành Công, 2009. Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội, chi nhánh Thanh Xuân. Luận văn thạc sĩ. Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội, chi nhánh Thanh Xuân
3. Nguyễn Duệ, 2001. Quản trị Ngân hàng. Hà Nội: NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Hoàng Đức, 2012. Tín dụng tiêu dùng, rộng cửa cho vay. Tạp chí Tài chính Đầu tư, số 12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chí Tài chính Đầu tư
5. Phan Thị Thu Hà, 2010. Quản trị Ngân hàng Thương mại. Hà Nội: NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng Thương mại
Nhà XB: NXB Thống kê
6. Lê Thị Kim Huệ, 2013. Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay. Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay. Tạp chí Kinh tế và dự báo
7. Trần Hạnh Khôi, 2010. Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á. Luận văn thạc sĩ. Đại học kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á
8. Nguyễn Đức Long, 2015. Thực trạng cho vay lãi suất tiêu dùng của các công ty tài chính và đề xuất giải pháp quản lý. Tạp chí Ngân Hàng, số 12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng cho vay lãi suất tiêu dùng của các công ty tài chính và đề xuất giải pháp quản lý. Tạp chí Ngân Hàng
9. Fredric S.Mishkin, 1995. Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính. Hà Nội: NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
10. Tô Kim Ngọc, 2004. Giáo trình Lý thuyết Tiền tệ ngân hàng và Thị trường tài chính. Hà Nội: NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Tiền tệ ngân hàng và Thị trường tài chính
Nhà XB: NXB Thống kê
11. Nguyễn Thị Kim Thanh và các tác giả, 2015. Lãi suất cho vay tiêu dùng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp quản lý. Đặc san Toàn cảnh Ngân hàng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: suất cho vay tiêu dùng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp quản lý
13. Peter S.Rose, 2001. Quản trị Ngân hàng Thương mại. Hà Nội, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng Thương mại
Nhà XB: NXB Tài chính
14. Quốc hội, 2010. Luật các tổ chức tín dụng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng
15. Barro, Robert J., 1976. Rational expectations and the role of monetary policy. Journal of Monetary Economy (Elsevier) 2 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rational expectations and the role of monetary policy
16. Pearce, Douglas.K 1985, Rising Household Debt Service, Federal Reserve Bank of Kansas City Economic Review (July - August) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Federal Reserve Bank of Kansas City Economic Review
17. Clifford B. Hawley and Edwin T. Fujii (1991), Discrimination in Consumer Credit Markets, Eastern Economic Journal 17 (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Discrimination in Consumer Credit Markets
Tác giả: Clifford B. Hawley and Edwin T. Fujii
Năm: 1991
18. Kim, H., & DeVaney, S. A., 2001. The determinants of outstanding balances among credit card revolvers. Financial Counseling and Planning 12(1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The determinants of outstanding balances among credit card revolvers
19. Paul F. Smith (1964), Consumer Credit Costs, 1949 – 59. Princeton University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer Credit Costs, 1949 – 59
Tác giả: Paul F. Smith
Năm: 1964

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w