Trong xu thế phát triển chung, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lương Tài lần thứ XVIII, XIX và XX đã khẳng định và quyết tâm phấn đấu xây dựng huyện Lương Tài trở thành huyện văn minh gi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN MINH TUẤN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn cao học với đề tài Quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Nắc Ninh là công trình khảo sát, nghiên cứu được thực hiện bằng chính công
sức và nỗ lực của bản thân tôi Các tư liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch và trung thực
Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 2017
Tác giả
Hồ Thế Việt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam - Những người đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức và tạo điều kiện giúp tôi thực hiện bản Luận văn này
Đặc biệt, trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn nghiêm túc, khoa học của PGS.TS Trần Minh Tuấn Xin chân thành cảm ơn thầy đã nhận lời hướng dẫn và giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành của tỉnh Bắc Ninh, Huyện ủy, UBND huyện Lương Tài, các phòng ban chức năng của huyện Lương Tài; Đảng ủy, UBND các xã, thị trấn và các doanh nghiệp của huyện Lương Tài đã cung cấp những số liệu cần thiết và giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu, nghiên cứu trên địa bàn huyện
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã chia sẻ, khích lệ tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 2017
Tác giả
Hồ Thế Việt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……….1 Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước……… 7
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về lao động và quản lý lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước……… ……… 7 1.2 Kinh nghiệm quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước……….……….20
Chương 2: Thực trạng quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2015.27
2.1 Tổng quan về huyện Lương Tài……….……… 27 2.2 Khái quát thực trạng doanh nghiệp ngoài nhà nước và đặc điểm lao động trên địa bàn huyện Lương Tài……… 33 2.3 Thực trạng quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài……….……….37 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước ở huyện Lương Tài……… ………48 2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài……….……… 57
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, giai đoạn 2016-2020 60
3.1 Phương hướng, mục tiêu quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài giai đoạn 2016-2020……….60 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh……….… 61
KẾT LUẬN ……… ……… 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi quốc gia, mọi hình thái kinh tế - xã hội, con người, nguồn nhân lực luôn là nguồn lực đặc biệt, đóng vai trò quyết định tới tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Do vậy, phát triển con người, quản lý lao động luôn là một vấn đề “thời sự nóng bỏng”, có ý nghĩa quan trọng, hàm chứa trong đó mối quan hệ giữa sản xuất và phân phối trao đổi, giữa người lao động và người sử dụng lao động, có tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quản lý lao động là nội dung quan trọng trong công tác quản trị của doanh nghiệp, là một trong những nhân tố then chốt nhất quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hóa Thực hiện tốt công tác quản lý lao động giúp hoạt động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, chấp hành tốt kỷ luật lao động, tăng năng suất và hiệu quả công việc
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về kinh tế, thương mại và nguồn lao động là một xu thế tất yếu Do vậy việc quản lý tốt lao động – nhân tố quyết định sự thành công của của một đất nước nói chung và sự thành bại của doanh nghiệp nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thực tiễn phát triển của nhiều nước trên thế giới là minh chứng sống động khẳng định vai trò trọng yếu của con người tới tiến trình tăng trưởng kinh tế Sự phát triển kinh tế thần kỳ của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay sự tăng trưởng nhanh chóng của nhiều nước công nghiệp mới, các nước ASEAN, Trung Quốc; Sự lớn mạnh của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn… phần lớn đều nhờ vào người lao động (người trực tiếp tạo ra sản phẩm) và việc quản lý lao động hiệu quả
Trang 7Trong xu thế phát triển chung, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lương Tài lần thứ XVIII, XIX và XX đã khẳng định và quyết tâm phấn đấu xây dựng huyện Lương Tài trở thành huyện văn minh giàu đẹp, trong đó chú trọng thu hút các nhà đầu tư, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống do vậy trong những năm qua đã thu hút nhiều nhà đầu tư đến đầu tư tại huyện như công ty cổ phần tập đoàn Minh Tâm, công ty TNHH DHA Bắc Ninh, công ty TNHH may Hoa Đô, công ty cổ phần Hà Việt, công ty cổ phần luyện cán thép Sóc Sơn…
Theo báo cáo của sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Ninh, tính đến hết năm 2015 số doanh nghiệp trên địa bàn huyện Lương Tài là 560 doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ lẻ, làng nghề, ít công nhân lao động, công việc không ổn định, quản lý lao động theo hộ gia đình Số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn huyện là 7.283 lao động, trong đó đa phần là lao động địa phương chưa qua đào tạo, chưa có tác phong làm việc công nghiệp; việc quản lý lao động và việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động còn chưa nghiêm đặc biệt là trong vấn đề về
ký kết hợp đồng lao động, tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động, thời gian thử việc, làm thêm giờ, xử lý kỷ luật, sa thải công nhân một cách tuỳ tiện, vấn đề tiền lương, vấn đề công nhân tự ý bỏ việc, chuyển nơi làm việc thường xuyên… đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc
làm của người lao động và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp (Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện, 2015)
Trước thực tế đó, tôi chọn chủ đề “Quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh”
làm đề tài luận văn thạc sỹ nhằm phân tích đánh giá thực trạng việc quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương
Trang 8Tài hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường quản lý lao động giúp doanh nghiệp có thể duy trì sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu quản lý lao động giúp ta hiểu rõ hơn về lao động, về các mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp, về vai trò và nội dung quản lý lao động của nhà nước cũng như của doanh nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu quản lý lao động còn giúp ta tìm hiểu những tác động tích cực, tiêu cực của lao động đối với sự phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển của doanh nghiệp Chính
vì vậy mà vấn đề quản lý lao động luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu về kinh tế
Trong thực tế đã có nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ
đề này điển hình như cuốn sách Quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam của TS Vũ Minh Tiến, đề tài nghiên cứu Luận án tiễn sỹ về Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch
ở Việt Nam của tác giả Hoàng Văn Hoan, đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ về Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam
của tác giả Đỗ Thị Dung, ngoài ra còn có các tiểu luận, các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, các bài viết về vấn đề quản lý lao động Mặc dù đã có nhiều cuốn sách và các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lao động, quản
lý lao động nhưng riêng về quản lý lao động trong các doanh nghiệp ở huyện Lương Tài cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống Trong khuôn khổ của luận văn này, mục đích của tác giả là
đi sâu tìm hiểu về quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước để nắm được tình hình công nhân lao động, hoạt động của các doanh nghiệp và
sự đóng góp của người lao động, của các doanh nghiệp vào sự phát triển kinh
tế xã hội của huyện
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó tập trung nghiên cứu về đặc điểm lao động, doanh nghiệp trên địa bàn huyện
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện công tác quản lý lao động tại các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách về quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Các chủ thể liên quan đến vấn đề quản lý lao động trên địa bàn huyện Lương Tài bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về lao động, người sử dụng lao động (NSDLĐ), người lao động (NLĐ) và Công đoàn cơ sở (CĐCS)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung
Trang 10Luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận, nghiên cứu thực trạng quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi về không gian
Luận văn nghiên cứu quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài
nhà nước trên phạm vi huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian
Các số liệu về lao động, doanh nghiệp và quản lý lao động được quan sát,
nghiên cứu từ giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp giai đoạn 2016-2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được triển khai nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; chủ trương, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó chú trọng phương pháp phỏng vấn, khảo sát thực địa; Phương pháp nghiên cứu tư liệu cũng được tác giả kế thừa từ những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả đi trước
để phục vụ cho việc hoàn thành luận văn;
Phương pháp xử lý tư liệu, phân tích, thống kê, so sánh cũng được sử dụng khi thực hiện khóa luận này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận, các chính sách về quản lý lao động trong các doanh nghiệp và vận dụng ở huyện Lương Tài
Trang 116.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu, làm rõ thực trạng về quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài là cơ sở để các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp quản lý lao động hiệu quả giúp doanh nghiệp phát triển ổn định góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo mà tác giả
sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn và phần phụ lục, Luận văn gồm
Trang 12- Quản lý và hoạt động quản lý:
Quản lý là sản phẩm tất yếu của sự vận động và phát triển của xã hội, được ra đời từ quá trình lao động sáng tạo của con người Khi con người cùng nhau hợp tác và thỏa thuận để phối hợp nhằm hoàn thành những mục tiêu chung thì một tổ chức sẽ được hình thành Những người điều phối các hoạt động của tổ chức gọi là nhà quản lý, các nhà quản lý thường được bầu ra, bổ nhiệm giữ chức vụ, quyền hạn và thực hiện chức năng quản lý nhất định Ở mỗi tổ chức có các yêu cầu về các dạng quản lý khác nhau Khi kinh tế - xã hội phát triển, cùng với sự phân công lao động, tính chuyên môn hóa càng cao thì những đòi hỏi về quản lý cũng phải cao
Hiểu theo cách chung nhất quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định Hoạt động quản lý là sản phẩm tất yếu của xã hội loài người, hình thành và phát triển từ khi chưa có Nhà nước
- Lao động: là hoạt động quan trọng nhất của con người, thông qua đó
con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội (Nguyễn Mậu Dũng và cộng sự, 2011)
+ Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều
Trang 13+ Người sử dụng lao động: là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác
xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động (Bộ Luật Lao động, 2012)
- Doanh nghiệp: là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Luật doanh nghiệp, 2014) Cũng theo Luật doanh nghiệp năm 2014 thì
có thể hiểu doanh nghiệp ngoài nhà nước là doanh nghiệp không sở hữu 100% vốn của nhà nước
- Quản lý lao động là hoạt động quản lý con người trong một tổ chức
nhất định trong đó chủ thể quản lý tác động lên khách thể bị quản lý nhằm
mục đích tạo ra lợi ích chung của tổ chức (Nguyễn Ngọc Quân, 2009)
+ Quản lý nhà nước về lao động trong doanh nghiệp là hoạt động quyền lực của nhà nước, nhà nước thông qua bộ máy tổ chức, chính sách, pháp tác động định hướng lên người lao động, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan nhằm điều chỉnh và hướng hành vi của chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơ sở bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động, người
sử dụng lao động (Vũ Minh Tiến, 2014)
+ Quản lý lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước: Đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước việc họ quan tâm đầu tiên là mong muốn khoản đầu tư đó đem lại lợi ích hoặc lợi nhuận cho họ Vì thế họ phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức quản lý lao động là nội dung quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, một trong những nhân tố quan trọng quyết định số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hóa Thực hiện tốt công tác quản lý lao động giúp hoạt động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, thúc đẩy người lao động hăng say làm việc,
Trang 14chấp hành tốt kỷ luật lao động nhằm tăng năng suất và hiệu quả công việc của người lao động
Nhiệm vụ của quản lý lao động là điều hành chính xác trọn vẹn các mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ để sản xuất được tiến hành nhịp nhàng, liên tục
và đem lại hiệu quả cao Vì vậy vai trò của quản lý lao động đối với doanh nghiệp là rất quan trọng Bởi lẽ, quản lý lao động là bộ phận không thể thiếu được của quản trị sản xuất kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng người làm việc cần thiết cho doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra, tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất
để con người có thể đóng nhiều sức lực cho các mục tiêu của doanh nghiệp đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con người Sử dụng có hiệu quả nguồn lực của con người là mục tiêu của quản lý lao động
(Nguyễn Thị Hường, 2011)
1.1.2 Chính sách và các chủ thể tham gia quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
* Chính sách quản lý nhà nước về lao động
Nhà nước có nhiều chính sách quản lý lao động nhưng chủ yếu là quản
lý lao động ở ba nội dung cơ bản: Ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật về lao động; tổ chức thực hiện pháp luật lao động; theo dõi, kiểm tra, giám sát người sử dụng lao động về việc tuân thủ pháp luật lao động trong quá trình lao động; xử lý các hành vi, vi phạm pháp luật lao động của các bên tham gia QHLĐ Đến nay, hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý lao động ở nước
ta có thể nói là tương đối đầy đủ, ở nhiều cấp độ văn bản pháp luật khác nhau
Cơ bản như:
- Hiến pháp năm 2013 đã tạo cơ sở để xác định các nguyên tắc, nội dung định hướng cơ bản của pháp luật lao động như: quyền - nghĩa vụ cơ bản của công dân (người lao động và chủ sử dụng lao động cũng là công dân),
Trang 15quyền - nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh (doanh nghiệp là tổ chức sản xuất, kinh doanh), tổ chức và hoạt động công đoàn và của tổ chức đại diện NSDLĐ Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động (Điều 57)
- Bộ luật Lao động hiện hành điều chỉnh một lĩnh vực rộng lớn có tác động sâu rộng tới toàn bộ đời sống xã hội, tất cả các thành phần kinh tế, mọi doanh nghiệp, các tổ chức, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ và mọi người lao động Cùng với Bộ luật Lao động, Nhà nước còn ban hành một số luật liên quan đến lĩnh vực lao động, như Luật Công đoàn năm 2012, Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Bảo hiểm y tế, Luật Dạy nghề, Luật doanh nghiệp…
- Cụ thể hóa Bộ luật Lao động và các đạo luật trên, Chính phủ đã ban hành hơn 40 Nghị định, các Bộ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cũng ban hành hoặc phối hợp ban hành khoảng 100 Thông tư, Thông tư liên tịch quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể việc thi hành các quy định về pháp luật lao động như Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/1/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm; Nghị định 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động và Luật Giáo dục về dạy nghề; Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…
Người sử dụng lao động có các phương thức quản lý lao động của mình thông qua các hoạt động cơ bản là tuyển chọn, sắp xếp, bố trí lao động; ban hành nội quy, quy chế, mệnh lệnh, quyết định nhằm bảo đảm việc sắp xếp, bố trí lao động; tổ chức, điều hành các hoạt động của người lao động;
Trang 16kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ đã giao cho người lao động;
xử lý vi phạm của người lao động… Thông qua các hình thức này, hoạt động quản lý lao động của NSDLĐ có liên quan trực tiếp đến việc tạo lập môi trường lao động cho người lao động Các phương thức thực hiện quản lý lao động của NSDLĐ phải thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật Trong quá trình quản lý lao động nếu NSDLĐ có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý
* Các chủ thể tham gia quản lý lao động:
Hiện nay, ở nước ta có ba chủ thể chính tham gia quản lý lao động
1 NLĐ và tổ chức đại diện của họ (Công đoàn, nghiệp đoàn);
2 NSDLĐ và tổ chức đại diện của họ (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA));
3 Nhà nước
Mối quan hệ giữa các chủ thể được thể hiện qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Các chủ thể trong quản lý lao động
(Nguồn: Chu Thanh Hưởng, 2008)
Nhà nước
Lao động
Quy định, hướng dẫn, kiểm soát
Quy định, hướng
dẫn, kiểm soát
Phản hồi thông tin
Phản hồi thông tin
Thương lượng
Ký kết HĐLĐ cá nhân, TƯLĐTT
Trang 17Theo sơ đồ này mối quan hệ giữa NLĐ và người sử dụng lao động là thương lượng với nhau để đạt tới mục tiêu của mỗi bên, còn Nhà nước thiết lập hệ thống luật pháp và áp dụng các biện pháp để hai chủ thể người lao động và người sử dụng lao động phải tuân thủ và tôn trọng luật Trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước, người lao động và NSDLĐ có thể phát hiện những điểm bất hợp lý hoặc không còn phù hợp, phản hồi lại để Nhà nước xem xét và kịp thời điều chỉnh
- NLĐ và tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ
NLĐ là những người tham gia vào một thỏa thuận mà theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết để làm và được nhận một số tiền nhất định
Công đoàn (CĐ) là tổ chức đại diện cho người lao động Công đoàn thực hiện các chức năng và vai trò chủ yếu là: đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho NLĐ; tuyên truyền, giáo dục và giúp NLĐ có ý thức
kỷ luật trong lao động; tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; tham gia quản lý doanh nghiệp, quản lý Nhà nước để góp phần cải tạo xã hội tốt đẹp hơn
- NSDLĐ và đại diện cho quyền lợi của họ
Người sử dụng lao động là một khái niệm phức tạp, đôi khi mơ hồ và
dễ làm nhầm lẫn Theo cách suy nghĩ cổ điển, NSDLĐ là người sở hữu vốn,
là người chủ hợp đồng Nhưng hiện nay lại có quan niệm rằng: không nhất thiết NSDLĐ phải là chủ sở hữu DN, mà chỉ cần họ có quyền tuyển dụng, sa thải lao động hay họ là những người làm cho người khác phải làm việc Theo một quan điểm khác, NSDLĐ không phải là những con người cụ thể theo nghĩa đen mà lại đại diện cho đơn vị hay tổ chức tham gia vào các cuộc thương lượng tập thể với công đoàn Trong lịch sử, trước kia NSDLĐ chưa có
xu hướng liên kết mà thường chỉ cạnh tranh với nhau Tuy nhiên khi các cấp
Trang 18chính quyền được tổ chức chặt chẽ hơn, CĐ ngày càng có kinh nghiệm hơn trong hoạt động chính trị thì các chủ doanh nghiệp thấy cần phải hợp sức lại Các hiệp hội giới chủ ra đời và đảm nhận các vai trò: bảo vệ quyền lợi của hội viên; đào tạo cho NSDLĐ về khía cạnh nghề nghiệp; đối thoại với Nhà nước và các phương tiện truyền thông đại chúng; tạo đối trọng với CĐ Sự đối đầu giữa CĐ và NSDLĐ luôn khá gay gắt và không chỉ mới bắt đầu Tuy nhiên tình hình này đang được cải thiện, CĐ đang tìm cách tiếp cận thích hợp hơn trong thương lượng, còn DN để nâng cao sức cạnh tranh cũng cần đến sự
hỗ trợ tích cực của Công đoàn
- Nhà nước
Trong hệ thống quản lý lao động, Nhà nước là một chủ thể quan trọng không thể thiếu Trên thế giới không nhà nước nào từ bỏ quyền quản lý lao động của mình Việc Nhà nước nắm quyền quản lý lao động là bởi những lý
do xuất phát chức năng, trách nhiệm và sự cần thiết nhằm duy trì quyền lực của nhà nước cũng như yêu cầu của xã hội Nhà nước phải thực hiện bổn phận, giữ gìn, sử dụng và bảo vệ lực lượng lao động, nguồn tài nguyên quý nhất của quốc gia Nhà nước tham gia quản lý lao động nhằm điều hòa mối quan hệ đối tác giữa NLĐ và NSDLĐ Trong buổi sơ khai, quản lý lao động chỉ mới diễn ra giữa NSDLĐ và NLĐ trong thời kỳ đó NLĐ luôn ở vào thế yếu, phải chịu thiệt thòi và luôn luôn phải phục tùng mệnh lệnh Dần dần, vì
sự ổn định xã hội, Nhà nước nhận thấy cần phải tham gia vào với những can thiệp, ban đầu là quy định các mức lương tối thiểu, thời gian làm việc tối đa trong ngày Mối quan hệ ba bên dần dần được hình thành và Nhà nước có chức năng chủ yếu là:
+ Đại diện cho lợi ích quốc gia và cộng đồng trong quản lý lao động; + Đảm bảo khuôn khổ pháp lý để quản lý lao động trong các doanh nghiệp vận hành, thông qua các điều luật cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các
Trang 19bên liên quan, các quy định về thủ tục, trình tự giải quyết các tranh chấp, xung đột;
+ Tham gia giải quyết các tranh chấp lao động dưới các hình thức thanh tra, hòa giải và xét xử
1.1.3 Nội dung và phương thức quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
* Nội dung quản lý lao động trong doanh nghiệp
Nội dung Quản lý lao động trong doanh nghiệp thường gồm: tuyển dụng lao động; phân công, sử dụng lao động; đánh giá khả năng thực hiện công việc và trả công; đào tạo và bồi dưỡng lao động; giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột phát sinh trong quan hệ lao động
+ Tuyển dụng lao động
Tuyển dụng lao động là khâu đầu tiên rất cơ bản của quá trình tổ chức lao, đó là quá trình tìm kiếm, thu hút các ứng viên từ những nguồn khác nhau đến tham dự tuyển vào các vị trí còn trống trong tổ chức và lựa chọn trong số
họ những người đáp ứng tốt yêu cầu công việc đặt ra
Các yêu cầu đối với tuyển dụng lao động:
Tuyển dụng lao động phải gắn chặt với nhu cầu về nguồn nhân lực phù hợp với chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiến hành tuyển dụng trong những trường hợp cần thiết
Tuyển dụng những người lao động thực sự phù hợp với yêu cầu của công việc, đảm bảo cho doanh nghiệp có đội ngũ lao động tốt đáp ứng được yêu cầu công việc (giảm bớt chi phí đào tạo, đào tạo lại, giúp người lao động phát huy được năng lực của mình trong quá trình lao động)
Tuyển được người lao động có kỷ luật, trung thực gắn bó, tâm huyết với công việc của doanh nghiệp
Trang 20Tuyển được người lao động có đủ sức khỏe, có nguyện vọng làm việc lâu
dài trong doanh nghiệp với nhiệm vụ được giao (Nguyễn Ngọc Quân, 2009)
+ Phân công và sử dụng lao động trong doanh nghiệp
Phân công lao động: Phân công lao động hợp lý và khoa học sẽ tạo nên
sự phù hợp với khả năng, trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động sau khi họ được tuyển chọn vào doanh nghiệp Hơn nữa nó tạo nên sự phối hợp hoạt động của toàn bộ hệ thống theo không gian vào thời gian thật cân đối nhịp nhàng liên tục cho quá trình sản xuất kinh doanh cũng như tạo ra môi trường làm việc và quan hệ lý tưởng trong lao động nhằm thúc đẩy tăng năng xuất lao động, phát triển doanh nghiệp
Sử dụng lao động: Sử dụng lao động là sự phân công công việc thành những phần việc khác nhau theo số lượng và tỷ lệ nhất định phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp Trên cơ sở đó bố trí NLĐ cho từng công việc phù hợp với khả năng và sở trường của họ (Nguyễn Thị Hường, 2011)
Sử dụng lao động chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: cơ cấu sản xuất, loại hình sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, trình độ kỹ thuật, năng lực của người lao động Do đó, khi sử dụng lao động phải chú ý các nhân tố trên để phân công lao động hợp lý
Các hình thức sử dụng lao động:
- Sử dụng lao động theo công nghệ: là sử dụng lao động theo loại công
việc, theo tính chất quy trình công nghệ, ví dụ: dệt may, điện tử, cơ khí, thực phẩm Hình thức này cho phép xác định nhu cầu lao động theo nghề tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn của công nhân lao động;
- Sử dụng lao động theo trình độ: là sử dụng lao động theo mức độ
phức tạp của công việc, hình thức này phân công thành công việc giản đơn và phức tạp (chia theo bậc) Hình thức này tạo điều kiện kèm cặp giữa các loại
Trang 21lao động trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, trình
độ lành nghề của người lao động;
- Sử dụng lao động theo chức năng: là phân chia công việc cho từng cá
nhân người lao động của doanh nghiệp trong mối quan hệ với chức năng mà người lao động đảm nhận
Hình thức này xác định mối quan hệ giữa lao động gián tiếp, lao động trực tiếp và tạo điều kiện cho người lao động chính được chuyên môn hóa cao hơn nhờ không làm công việc phụ
+ Đánh giá khả năng lao động và trả công
- Đánh giá khả năng lao động: Việc đánh giá khả năng lao động là một trong những khâu quan trọng trong quản lý lao động Phân tích đánh giá chính xác khả năng lao động sẽ giúp cho doanh nghiệp biết rõ năng lực làm việc của người lao động từ đó bố trí công việc phù hợp với khả năng lao động của từng người
Bên cạnh đó việc đánh giá khả năng lao động chính xác còn làm căn cứ
để trả công cho người lao động, từ đó kích thính người lao động hăng say lao động sản xuất góp phần phát triển doanh nghiệp
- Trả công lao động: Trên thực tế có nhiều hình thức trả công cho người lao động nhưng hình thức trả công phổ biến nhất là tiền lương
Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao
động để thực hiện công việc theo thỏa thuận (Bộ luật lao động, 2012)
Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng người lao động Để bù đắp phần hao phí lao động đó họ cần có một lượng nhất định các vật phẩm tiêu dùng cho nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại… và người sử dụng lao động phải đáp ứng nhu cầu đó đúng mức hao phí mà người lao động đã bỏ ra thông qua tiền lương Do đó sức lao động có thể là hàng
Trang 22hoá phụ thuộc vào sự biến động cung cầu và chất lượng hàng hoá sức lao động trên thị trường tức là chịu sự chi phối của các quy luật giá trị đóng vai trò chủ đạo Tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể tái sản xuất lao động để họ có thể tham gia vào quá trình tái sản xuất tiếp theo Vì vậy, tiền lương bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, để thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và của gia đình họ Việc trả lương cho người lao động không chỉ căn cứ vào hợp đồng mà căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động mà họ nhận được sau một thời gian lao động mà họ bỏ ra
Như vậy, tiền lương được biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động Ở nước ta hiện nay có sự phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố trong tổng thu nhập từ lao động sản xuất kinh doanh của người lao động: tiền lương (lương cơ bản), phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi xã hội Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất, chất lượng lao động và hiệu
quả công việc (Đỗ Thanh Bình, 2002)
+ Đào tạo, bồi dưỡng lao động
Đào tạo lao động trong doanh nghiệp được hiểu là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng lao động của doanh nghiệp, là điều kiện để các doanh nghiệp có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh Do đó trong các tổ chức, công tác đào tao cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có
kế hoạch
Đào tạo: (hay còn được gọi là các hoạt động đào tạo kỹ năng) được hiểu là các hoạt động nhằm giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho
Trang 23người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kĩ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao
động có hiệu quả hơn (Đỗ Thanh Bình, 2002)
+ Giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột phát sinh trong quan hệ lao động
Quan hệ lao động về bản chất chính là quan hệ mua bán sức lao động, người lao động muốn được bán sức lao động với giá cao, ngược lại người sử dụng lao động muốn được mua sức lao động với giá thấp Chính vì vậy, trong quan hệ lao động dễ dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột do lợi ích các bên không được như mong muốn
Để giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột xảy ra trong quan hệ lao động có các hình thức phổ biến như giải quyết bằng đối thoại, thương lượng; giải quyết bằng hòa giải; giải quyết bằng trọng tài, toà án
Việc giải quyết tốt những mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột sẽ giúp cho quan hệ lao động được hài hòa, ổn định tiến bộ, góp phần xây dựng doanh nghiệp phát triển bền vững
* Phương thức quản lý lao động
Phương thức quản lý có nhiều, nhưng tựu chung lại theo 2 phương thức chính là: Phương thức hành chính và phương thức kinh tế
+ Phương thức hành chính:
Phương thức hành chính trong quản lý là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến các tập thể và cá nhân dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát mang tính chất bắt buộc, đòi hỏi cấp dưới phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng Các quyết định được cụ thể hóa dưới dạng các chỉ thị nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
và các quy chế, quy định, quyết định, nội quy của doanh nghiệp
+ Phương thức kinh tế:
Trang 24Phương thức kinh tế là phương thức tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế như tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt… để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ
Phương thức kinh tế có vai trò rất quan trọng và giữ vai trò trung tâm trong công tác quản lý vì nó tác động thông qua các lợi ích kinh tế, tạo ra sự quan tâm vật chất của mỗi cá nhân và tập thể lao động, tạo ra động lực kinh tế trực tiếp khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người, động lực đó càng vững chắc nếu lợi ích cá nhân được kết hợp đúng đắn với lợi ích của tập thể
và xã hội
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước
* Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp bao gồm quy mô và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp cùng các đặc trưng khác như trình độ kỹ thuật, công nghệ; cơ cấu lao động; trình độ, tác phong, ý thức kỷ luật của người lao động; nhận thức về pháp luật lao động của người lao động và người sử dụng lao động; vai trò của tổ chức công đoàn; các hình thức khuyến khích, động viên người lao động
* Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp bao gồm yếu tố môi trường xã hội, môi trường kinh tế, môi trường chính trị, pháp lý, năng lực hoạt động của các
cơ quan, tổ chức liên quan đến quản lý lao động như cơ quan quản lý nhà nước về lao động, Hội đồng hòa giải, thanh tra, trọng tài, toàn án
Trang 251.2 Kinh nghiệm quản lý lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý lao động ở một số nước trên thế giới
* Quản lý lao động của Nhật Bản
- Công việc làm trọn đời - Khẩu hiệu nâng cao năng suất: Lao động Nhật Bản được chia thành 2 nhóm: Nhóm làm cố định (thường là những người có tay nghề) và nhóm nhân viên tạm thời (học việc hoặc bán thời gian) Do đó, khẩu hiệu “công việc trọn đời” được ra đời với mục đích là sàng lọc lao động và nâng cao hiệu suất làm việc Chẳng hạn, khi hoạt động kinh doanh sa sút, hay khi sử dụng các kỹ thuật tiết kiệm lao động, các công ty sẽ giữ lại nhóm lao động làm việc suốt đời và sa thải nhóm tạm thời hoặc giảm tiền thưởng và thuyên chuyển
họ sang các bộ phận sản xuất khác
- Nhân viên cũng được đưa ra ý kiến: Các ông chủ của doanh nghiệp Nhật Bản rất coi trọng ý kiến nhân viên của mình, bởi những ý kiến đó sẽ giúp doanh nghiệp cải thiệt được năng suất lao động Trên thực tế, có một số doanh nghiệp của Nhật Bản quản lý lao động bằng cách khuyến khích sự hợp tác giữa lao động và chủ lao động Tức là nhân viên cũng sẽ được tham gia vào hoạt động quản trị của công ty Chẳng hạn như bầu ra một người làm đại diện cho mình và người đó sẽ thay mặt họ đưa ra những ý kiến, yêu cầu của họ đối với công ty
Cách quản lý này rất thông minh và hiệu quả Bởi nó có thể hạn chế được những cuộc biểu tình của nhân viên, tạo cho nhân viện cảm giác họ là người quan trọng Từ đó tăng được năng suất lao động
- Thành lập nhóm kiểm tra chất lượng: Một trong những cách quản lý lao động của người Nhật là khuyến khích công nhân viên đưa ra các sáng kiến để nâng cao chất lượng và sản lưởng sản phẩm dịch vụ Nhóm kiểm tra chất lượng
ra đời dựa trên tiêu chí này
Trang 26Nhóm này bao gồm nhiều nhóm lao động nhỏ Họ sẽ gặp nhau thường xuyên để phát hiện và để giải quyết các khó khăn trong dây chuyền sản xuất của
họ Họ lắng nghe và tham khảo ý kiến giữa các đồng nghiệp, sau đó cử một đại diện đem ý kiến đó nói lại với nhà quản lý Nhà quản lý tiếp nhận và điều chỉnh
- Làm việc theo nhóm: Người Nhật rất coi trọng tính tập thể và họ luôn khuyến khích lao động của mình làm việc theo nhóm Bởi nó không chỉ thúc đẩy
sự liên kết chặt chẽ của công nhân viên và khiến họ tập chung vào một mục tiêu lớn thay vì phân tán tư tưởng cho những mục tiêu nhỏ Mà còn ngăn được sự ghen tỵ, khôn vặt, ích kỷ,…trong công nhân viên
Ngoài ra, xét về mặt nhiều loại nhiệm vụ khác nhau, các nhân viên có thể luân phiên làm các công việc trong nhóm để giảm sự nhàm chán và phát triển khả năng thay thế phòng khi người nào đó trong nhóm vắng mặt Ngoài ra, các nhóm nhân viên còn kiểm soát chất lượng và tự sửa chữa máy móc của mình
- Đưa cộng nghệ thông tin vào quản lý nhân sự: Một số công ty của Nhật Bản quản lý lao động bằng phần mềm quản lý Họ cho rằng việc áp dụng phần mềm quản lý nhân sự không những giúp doanh nghiệp khai thác triệt để năng lực sản xuất của công nhân, quản lý được tài sản của doanh nghiệp mà còn nâng cao tính công bằng, công khai, dân chủ, minh bạch trong sản xuất kinh doanh, khuyến khích người lao động cống hiến khả năng của mình và được hưởng thụ
một cách xứng đáng (Nhóm du học sinh Nhật Bản, 2015)
* Quản lý lao động trong doanh nghiệp của Hàn Quốc
Phương pháp quản lý lao động của Hàn Quốc được gắn liền với phép màu kinh tế và đã biến Hàn Quốc trong vòng 25 năm qua trở thành một quốc gia có mức tăng trưởng cao Các doanh nghiệp Hàn Quốc có cung cách quản trị hà khắc, thiên về quyền lực, mệnh lệnh và những hình thức kỷ luật nghiêm ngặt, phù hợp với một xã hội công nghiệp hiện đại Ý thức kỷ luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong mọi mặt của đời sống và lãng phí thời gian là
Trang 27có tội NLĐ Hàn Quốc luôn mong muốn có việc làm lâu dài và ồn định nên thường coi xí nghiệp như nhà mình và gắn bó hết lòng Tính tôn ty trật tự trong cộng đồng là một yếu tố rất quan trọng Chính vì vậy trong các doanh nghiệp của Hàn Quốc rất ít có tranh chấp lao động
Vũ khí chủ yếu của quản lý lao động trong các doanh nghiệp Hàn Quốc chính là quan niệm triết lý về quản lý gói gọn dưới cái tên "nhân hòa" Bất cứ lúc nào công ty cũng có thể thông báo cho nhân viên biết rõ mục tiêu và yêu cầu họ giúp đỡ trong trường hợp khẩn cấp Đây là nguyên tắc chủ đạo của các nhà quản lý Hàn Quốc, họ xem toàn thể nhân viên như một đại gia đình và cứ mỗi tháng lại họp gia đình Cách hai tuần lại có một buổi họp về chất lượng sản phẩm Ngoài ra, tiền thưởng cũng được sử dụng để kích thích sự nhiệt
tình lao động (Park Sung Hee, 2007)
* Quản lý lao động trong doanh nghiệp của một số nước Đông Nam Á
Ở một số nước Đông Nam Á có cơ sở pháp lý với nhiều đạo luật về lao động rất cụ thể, rõ ràng Cơ chế ba bên (với sự tham gia của đại diện NLĐ, đại diện NSDLĐ và Nhà nước) được thiết lập và vận hành hiệu quả Bruneil
có các đạo luật về lao động, đạo luật về tiền lương , đạo luật về Công đoàn, đạo luật về tranh chấp lao động Trong luật về quản lý lao động của Thái Lan có quy định các doanh nghiệp có trên 50 công nhân là phải thành lập Ủy ban công nhân Chủ doanh nghiệp bắt buộc phải gặp gỡ Ủy ban ít nhất 03 tháng 1 lần để thảo luận
về các tài liệu liên quan tới NLĐ Các ủy viên ủy ban này được luật pháp bảo vệ nên không sợ bị hạ lương, sa thải hay bị cản trở hoạt động Đặc biệt, Hội đồng lương quốc gia (National Wages council NWC) là một định chế độc đáo về cơ chế ba bên trong quản lý lao động của Singapore NWC chỉ đóng vai trò là một cơ quan tư vấn, không bị ràng buộc về pháp luật mà cũng không có quyền lực pháp
lý Nhưng nhờ sự hiểu biết tinh thông và tinh thần làm việc hết mình của các thành viên, NWC đã hoạt động rất hiệu quả và đóng một vai trò quan trọng trong
Trang 28việc ổn định và phát triển nền kinh tế Singapore, củng cố được mối quan hệ chủ
thợ ổn định trong doanh nghiệp, giảm hẳn các bất hòa về tiền lương (Chang Hee Lee, 2006)
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước
Vấn đề quản lý và duy trì lao động là một vấn đề mà rất nhiều địa phương và doanh nghiệp nghiệp ngoài nhà nước quan tâm Trên thực tế đã có nhiều doanh nghiệp và địa phương thực hiện công tác quản lý lao động rất hiệu quả, từ đó góp phần quan trọng trong việc ổn định lao động, ổn định sản xuất kinh doanh, xây dựng doanh nghiệp phát triển bền vững đồng thời góp phần ổn định và phát triển kinh tế của địa phương Điển hình trong công tác quản lý lao động hiệu quả đó là:
* Quản lý lao động ở khu kinh tế Vũng Áng
Đến hết tháng 4/2014 tổng số lao động trong KKT Vũng Áng là 40.600 người, bao gồm: lao động Việt Nam 34.006 người đến từ 34 tỉnh, thành phố trong cả nước; lao động nước ngoài 6.594 người đến từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó dự án lớn nhất của KKT Vũng Áng là Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương do Công ty TNHH gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh làm chủ đầu tư, có số lao động là 34.050 người, bao gồm: lao động Việt Nam 27.655 người; lao động nước ngoài là 6.395 người Dự kiến đến năm 2020, KKT Vũng Áng cần hơn 70 nghìn lao động
Nhìn chung, các doanh nghiệp trong địa bàn KKT đã thực hiện các quy định của pháp luật về lao động khá nghiêm túc Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện việc ký kết Hợp đồng lao động, thành lập Công đoàn để đảm bảo lợi ích hợp pháp cho công nhân Đời sống của người lao động làm việc trong KKT Vũng Áng được nâng lên rõ rệt, điều này thể hiện ở thu nhập bình quân của lao động có mức tăng khá, các chính sách liên quan đến người lao động như: BHXH, BHYT, tiền lương, tiền thưởng đã có nhiều cải thiện Nhiều đơn vị
Trang 29đã thực hiện tốt việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động, tổ chức tuyển dụng, đào tạo lại theo đúng chuyên ngành làm việc tại đơn vị sử dụng lao động Việc cấp phát trang thiết bị bảo hộ lao động, tổ chức huấn luyện an toàn lao động trong các doanh nghiệp triển khai dự án đầu tư đã được thực hiện khá nghiêm túc
Mức lương trung bình của các doanh nghiệp trả cho người lao động trong KKT Vũng Áng đạt khoảng 6 triệu đồng/người/tháng, có nhiều đơn vị
có lương bình quân đạt mức khá (10 triệu đồng/người/tháng) Đa số các doanh nghiệp đều tự xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương, lao động trong các doanh nghiệp đều được nâng bậc lương, tỷ lệ lao động được tăng lương trong các doanh nghiệp thấp nhất là 20%, cao nhất là 100% số lao
động (Ban quản lý KKT Vũng Áng, 2015)
* Kinh nghiệm của Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Tính đến hết năm 2015, thành phố Bắc Ninh có trên 1.000 doanh nghiệp hiện đang hoạt động với số lao động là 10.937 người Phần lớn lao động là người địa phương khác, có độ tuổi trung bình từ 18-30
Thống kê cho thấy số lao động đã qua đào tạo từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 15%, công nhân kỹ thuật trình độ trung cấp nghề trở lên chiếm 18,2% Phần lớn lao động các doanh nghiệp tuyển chọn là lao động phổ thông, chiếm khoảng 66,8% do các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu là gia công, lắp ráp, công nghệ chưa tiên tiến Hầu hết các doanh nghiệp tuyển công nhân chưa qua đào tạo, sau đó tổ chức đào tạo một số ngày ngay tại dây chuyền sản xuất theo kiểu
“cầm tay chỉ việc” và tiếp tục vừa làm vừa học tại dây chuyền sản xuất Mặt khác, kỹ năng làm việc của lao động đã qua đào tạo cũng không đáp ứng được yêu cầu của công việc Đa số lao động có chuyên môn kỹ thuật khi được tuyển dụng đều được doanh nghiệp đào tạo lại, bổ sung kỹ năng mới
Trang 30Để tăng cường quản lý lao động trong doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn, chính quyền và NSDLĐ tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:
Một là, tuyên truyền, giáo dục người lao động chấp hành tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, của địa phương, nội quy, quy định của công ty Xây dựng, hướng dẫn tác phong làm việc công nghiệp, tính tự giác cho người lao động trong công việc và thực hiện các nội quy, quy định;
Làm tốt công tác đào tạo tay nghề cho người lao động, khuyến khích người lao động tự học tập, nâng cao trình độ, tay nghề với phương châm doanh nghiệp và người lao động cùng chia sẽ chi phí đào tạo nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí của doanh nghiệp
Hai là, thực hiện chính sách liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào
tạo nghề: Các doanh nghiệp cần chủ động liên hệ các cơ sở đào tạo đề tìm
kiếm những sinh viên xuất sắc, tài trợ học bổng và tiếp nhận những sinh viên này về làm việc tại doanh nghiệp mình Như vậy, chi phí tuyển dụng lao động không quá tốn kém nhưng doanh nghiệp lại có được lao động chất lượng cao
Ba là, ưu đãi của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nên có chính sách đột phá về tiền lương, trả lương cao xứng đáng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động, phù hợp với giá cả sức lao động, đồng thời thực hiện các
chế động chính sách đầy đủ cho người lao động (Phòng Lao động TB&XH thành phố Bắc Ninh, 2015)
1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm cho huyện Lương Tài
Từ thực tiễn về quản lý lao động ở một số nước và địa phương trong nước kể trên, có thể rút ra một số bài học cho quản lý lao động ở huyện Lương Tài như sau:
Một là: Bất cứ một hệ thống quản lý lao động nào cũng phải dựa trên
một nền tảng pháp lý và những quy định hướng dẫn cụ thể Sự phối hợp chặt
Trang 31chẽ giữa Nhà nước, tổ chức đại diện cho NSDLĐ và tổ chức đại diện cho NLĐ là điều kiện tối quan trọng để phát hiện và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh trong quản lý lao động ở các doanh nghiệp
Hai là: Các chủ thể quản lý lao động cần làm tốt công tác tuyên truyền
giúp cho người lao động có ý thức chấp hành tốt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định, nội quy của doanh nghiệp; tuyên truyền về tác phong làm việc công nghiệp, ý thức kỷ luật và tính tự giác của người lao động
Ba là: Các doanh nghiệp cần có chính sách hợp lý nhằm thu hút, tuyển
dụng được những người lao động có tay nghề, có trình độ chuyên môn cao, đồng thời làm tốt công tác huấn luyện, đào tạo tại chỗ giúp cho những người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp được nâng cao tay nghề, thích ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ và hội nhập kinh tế
Bốn là: Tiền lương luôn là nguyên nhân chính gây ra các mối bất hòa
giữa NSDLĐ và NLĐ Do vậy các doanh nghiệp cần có chính sách trả lương cho người lao động một cách thỏa đáng, phù hợp với trình độ, tay nghề và với những đóng góp của người lao động trong công việc và doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải xây dựng thang bảng lương theo đúng quy định và đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện (phòng Lao động TB&XH huyện) Đồng thời chính quyền đại phương cũng phải phân công cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện và giải quyết tốt các mâu thuẫn phát sinh
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LƯƠNG TÀI, TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2011-2015
2.1 Tổng quan về huyện Lương Tài
2.1.1 Vị trí địa lý
Lương Tài là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Ninh trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Diện tích đất tự nhiên 10.566,57 ha, dân số toàn huyện năm 2015 có 95.560 người Tọa độ địa lý nằm trong khoảng 190 00’ 00’ đến 21004’12’ độ vĩ Bắc, từ 106008’45’ đến 106018’25’ độ kinh Đông
- Phía Nam và phía Đông giáp với tỉnh Hải Dương
- Phía Bắc giáp huyện Gia Bình
- Phía Tây giáp với huyện Thuận Thành
Hình 2.1: Vị trí huyện Lương Tài trong tỉnh Bắc Ninh
Hình 2.1 Vị trí huyện huyện Lương Tài trong tỉnh Bắc Ninh
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lương Tài, 2015)
Trang 33Huyện Lương Tài có vị trí thuận lợi trong giao lưu và phát triển kinh tế
- xã hội, trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội khoảng 56km và thành phố Bắc Ninh khoảng 30km, đây là hai thị trường rộng lớn, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện thuận lợi cho huyện tiếp thu ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, hòa nhập với nền kinh tế thị trường, phát triển thương mại và dịch vụ… Huyện có hệ thống các tuyến đường tỉnh lộ
280, 281, 284, 285 nối liền với quốc lộ 38, quốc lộ 5 cùng với các tuyến đường huyện lộ đã hình thành nên mạng lưới giao thông đường bộ khá thuận lợi cho việc giao lưu và tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm để phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, với vị trí địa lý đó huyện Lương Tài có đầy đủ điều kiện để phát huy tiềm năng cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Lương Tài nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên có địa hình tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có các dòng chảy nước ngọt đổ về sông Thái Bình Lương Tài lại là một trong những huyện thấp nhất tỉnh Bắc Ninh, những vùng trũng ven sông Thái Bình đất thường xuyên bị úng ngập, khó thoát nước nên chỉ trồng được một vụ lúa, việc thâm canh, tăng vụ gặp nhiều khó khăn ở các xã Lai Hạ, Minh Tân, Trung Kênh
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện
* Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tình hình phát triển kinh tế của huyện thời gian qua liên tục được duy trì ở tốc độ khá cao, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm (2011 -2015) đạt 12,6%, bằng 98% so với chỉ tiêu đề ra Trong đó: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng 20,8%; nông nghiệp tăng 6,4%; dịch vụ
- thương mại tăng 14,6% Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 28,3 triệu đồng
Trang 34Cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài giai đoạn 2011 - 2015 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế huyện Lương Tài giai đoạn 2011 - 2015
(Đơn vị tính: %)
2011 2012 2013 2014 2015
1 Nông nghiệp - Thuỷ sản 33,27 29,33 27,55 25,78 19,62
2 Công nghiệp - Xây dựng 38,98 39,05 40,00 38,44 41,64
3 Dịch vụ - Thương mại 27,74 31,62 32,46 35,78 38,75
(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Lương Tài, 2015)
Qua bảng 2.1 cho thấy: Kinh tế của huyện đã đạt được những kết quả nhất định Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực trong các khu vực
và từng ngành kinh tế Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ tăng Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp - thủy sản giảm trong khi đó giá trị sản xuất tuyệt đối của nông nghiệp - thủy sản hàng năm đều tăng
* Tình hình nhân khẩu và lao động
- Dân số
Dân số, lao động của huyện Lương Tài được thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Dân số và lao động huyện Lương Tài giai đoạn 2012 – 2015
Trang 35+ Thành thị 8.511 8.723 8.955 9.231 + Nông thôn 93.057 90.301 87.858 89.329
2 LĐ trong độ tuổi (người) 55.862 54.463 53.247 54.208 + Lao động nam 30.165 29.410 28.753 29.272 + Lao động nữ 25.697 25.053 24.494 24.936 + Lao động nông nghiệp 48.599 47.383 46.218 46.890 + Lao động phi nông nghiệp 7.263 7.080 7.029 7.318
3 Tốc độ tăng dân số (%) 0,45 -2,51 -2,24 1,8
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Lương Tài, 2015)
Theo số liệu thống kê, dân số của huyện Lương Tài đến năm 2015 là 95.560 người, trong đó nam 48.499 người (chiếm 49%) và nữ 50.111 người (chiếm 51%), mật độ dân số 908 người/km2 Dân số phân bố không đồng đều giữa các địa bàn trong huyện, tập trung nhiều nhất ở thị trấn Thứa (1.248 người/km2) và xã Trung Kênh (1.314 người/km2) thấp nhất ở xã Trừng Xá (723 người/km2)
- Lao động, việc làm
Theo số liệu thống kê toàn huyện năm 2015 có 54.208 người trong độ tuổi lao động, chiếm 55% dân số Trong đó: lao động phi nông nghiệp là 10.267 người chiếm 18,9% tổng số lao động, lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu có khoảng 43.941 người chiếm 81,1% tổng số lao động tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp thuần túy
* Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng nông thôn là rất quan trọng trong phát triển các ngành kinh tế, kể cả công nghiệp cũng như nông nghiệp và dịch vụ, đây cũng là vấn đề mà Đảng bộ và nhân dân huyện Lương Tài rất quan tâm
Hệ thống đường giao thông của Lương Tài đã tương đối khang trang
Cơ bản 14/14 xã, thị trấn đều đã có hệ thống mạng lưới giao thông liên thôn,
Trang 36xã với độ dài 345,7 km đường bê tông hoặc đường trải nhựa Đây là một hệ thống rất quan trọng giúp bà con nông dân có thể đi lại và chuyên chở các vật dụng nông nghiệp một cách hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất lao động Ngoài hệ thống đường liên thôn - xã, Lương Tài còn có đầy đủ đường tỉnh lộ, huyện lộ, đường thủy Điều này đã giúp huyện Lương Tài dễ dàng giao lưu, buôn bán và trao đổi với tất cả các vùng trong tỉnh cũng như những vùng lân cận
Bảng 2.3 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện Lương Tài
- Trường trung học phổ thông trường 03 03 03
- Bệnh viện và Trung tâm y tế đ.vị 02 02 02
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Lương Tài, 2015)
- Mạng lưới điện và Bưu điện cũng được Lương Tài trang bị tới từng
Trang 37thôn, xã Cụ thể, cho đến nay hầu hết các xã đều có điểm bưu điện văn hoá xã; 100% số hộ tại các xã, thị trấn đã có điện để dùng cho sinh hoạt cũng như sản xuất, chính điều này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong huyện
- Về các công trình phúc lợi: Toàn huyện có 3 Trường trung học phổ thông với hệ thống phòng học đều được cao tầng hoá, hàng năm đã thu hút hơn 1.500 học sinh đến học và ở mỗi xã, thị trấn đều có các trường Mầm non, trường Tiểu học và Trung học cơ sở
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Tiềm năng phát triển nông nghiệp chủ yếu theo chiều sâu, trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật (tăng năng suất và chất lượng cây trồng) và phát triển chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò, dê, lợn và chăn muôi gia cầm
Diện tích đất đai có điều kiện để xây dựng các khu, cụm công nghiệp; nguyên liệu chủ yếu cho phát triển công nghiệp trước hết là sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng như cát, sỏi, gạch Ngoài ra, huyện còn có điều kiện phát triển các cụm công nghiệp làng nghề, trên cơ sở các làng nghề hiện có
Có tiềm năng phát triển thương mại-dịch vụ trên cơ sở tiềm năng phát triển nông nghiệp, công nghiệp cũng như Lương Tài có vị trí địa lý, địa hình, những lợi thế để phát triển thương mại - dịch vụ bền vững
Trang 38Lương Tài có nguồn nhân lực dồi dào với lực lượng trong độ tuổi có khả năng lao động cao so với dân số Trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo đã từng bưước được nâng lên
- Những hạn chế, khó khăn
Là huyện nằm xa các tuyến giao thông chính dẫn đến việc đi lại còn nhiều khó khăn và xa các trung tâm kinh tế lớn nên việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài còn hạn chế Thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, sức mua của dân cư thấp
Xuất phát điểm kinh tế của huyện còn thấp, chưa có sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp mũi nhọn nên chưa có tích lũy về kinh tế để tái đầu tư
Dân số tăng nhanh, lực lượng lao động bổ sung hàng năm ở nông thôn chủ yếu tham gia vào sản xuất nông nghiệp, năng suất lao động còn thấp
2.2 Khái quát thực trạng doanh nghiệp ngoài nhà nước và đặc điểm lao động trên địa bàn huyện Lương Tài
2.2.1 Thực trạng doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện
Ngay sau khi tái lập huyện Lương Tài năm 1999, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện đã xác định các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của huyện, trong đó, chú trọng thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lương Tài lần thứ XIX, XX, XXI đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 xây dựng huyện Lương Tài trở thành huyện giàu mạnh, văn minh và phát triển trong đó chú trọng thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống Để cụ thể hóa các mục tiêu phương hướng của các kỳ Đại hội, trong thời gian qua Hội đồng nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách thúc đẩy công nghiệp phát triển, qua đó đã thu hút nhiều các loại hình doanh nghiệp đầu tư vào huyện, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển công nghiệp; chuyển dịch cơ
Trang 39cấu kinh tế của huyện; tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao kỹ năng chuyên môn cho người lao động
Theo báo cáo của sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Ninh, tính đến hết quý
4 năm 2015 số doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài là
560 doanh nghiệp với tổng số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn huyện là 7.283 lao động, trong đó đa phần là lao động địa phương chưa qua đào tạo, chưa có tác phong làm việc công nghiệp Các doanh nghiệp phân bổ đều ở cả 14/14 xã, thị trấn
Bảng 2.4 Tổng số doanh nghiệp và lao động của huyện Lương Tài
Trang 40Phân theo quốc gia và vùng lãnh thổ: Các doanh nghiệp trên địa bàn
huyện chủ yếu là các nhà đầu tư trong nước với 559 doanh nghiệp chiếm
99,8%, có 01 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,2% (Nguồn sở
Kế hoạch và Đầu tư, 2015)
Phân theo ngành nghề sản xuất kinh doanh: Lĩnh vực công nghiệp, may
mặc, xây dựng và điện tử chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 90% tổng số doanh
nghiệp; số còn lại là lĩnh vực thực phẩm và dịch vụ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (Nguồn
sở Kế hoạch và Đầu tư, 2015)
2.2.2 Đặc điểm lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng doanh nghiệp và người lao động trong những năm gần đây không ngừng tăng lên Tính từ năm
2011 đến hết năm 2015 số lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện đã tăng từ gần 4.000 người lên 7.283 người,
Có thể nói trong những năm vừa qua lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện Lương Tài tăng rất nhanh Xu hướng trong những năm tới số lao động này sẽ tiếp tục tăng khi các chính sách của huyện tiếp tục thu hút vốn đầu tư để phát triển công nghiệp
Đặc thù lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện phần lớn lao động là người địa phương, xuất thân từ nông thôn, trình
độ chuyên môn thấp, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc công nghiệp còn kém, mức độ am hiểu pháp luật còn thấp
* Phân theo giới tính và theo nguồn lao động
- Theo giới tính: trong số 7.283 lao động đang làm việc trong các
doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn huyện có tới 4.956 lao động nữ, chiếm 67,7%, trong đó tập trung phần lớn là ở các doanh nghiệp may mặc và gia công hàng điện tử