Trong báo cáo tổng kết của Trường Đại học PCCC về công tác QLHV vừa qua đã nhấn mạnh: Quá trình QLHV chính là quá trình đề ra mục đích, nội dung, biện pháp và tổ chức cho học vi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM BÙI ANH TUẤN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRƯƠNG XUÂN CỪ
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư
liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 02 năm 2017
PHẠM BÙI ANH TUẤN
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
- Công an nhân dân : CAND
- Giáo dục - đào tạo : GD - ĐT
- Giáo viên chủ nhiệm : GVCN
- Phòng cháy chữa cháy : PCCC
- Quản lý học viên : QLHV
- Thể dục thể thao : TDTT
- Văn hoá - thể thao : VHTT
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp cho học viên trong các trường Công an nhân dân
7
1.2 Quản lý quá trình giáo dục - đào tạo (GD – ĐT) 9 1.3 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trong
các trường Công an nhân dân
11
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học viên các trường Công an nhân dân
17
Chương 2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp cho học viên ở trường Đại học phòng cháy chữa cháy
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ học cho học viên
trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
30
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
48
Chương 3 Những biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Đại học phòng
cháy chữa cháy
54
3.1 Nguyên tắc của những biện pháp tăng cường Quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên
54
3.2 Những biện pháp tăng cường quản lý hoạt động ngoài giờ học cho
học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
54
Phụ lục
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Khảo sát về các hoạt động dầu khoá
Bảng 2.2: Kết quả khảo sát việc thực hiện hoạt động tự học của học viên
Bảng 2.3: Kết quả khảo sát điều kiện cơ sở vật chất phục vụ học tập
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát việc thực hiện điều lệnh nội vụ CAND
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát các vi phạm của học viên
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về các nguyên nhân vi phạm nội quy nhà trường Bảng 2.7: Kết quả khảo sát về các hoạt động VHTT
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát các điều kiện đảm bảo cho hoạt động VHTT Bảng 2.9:Kết quả khảo sát về các quan hệ của học viên
Bảng 2.10:Hệ thống các văn bản pháp quy về QLHV
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hệ thống tổ chức QLHV của trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, góp phần xứng đáng cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đánh thắng thực dân và đế quốc xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ vững chắc chế độ Xã hội chủ nghĩa Có được những thành quả trên là do Đảng ta đã coi trọng công tác cán bộ, luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của đất nước và chế độ, là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Cán bộ là gốc của mọi công việc; Đào tạo cán bộ là công việc gốc của cách mạng” Vì vậy sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chiến sỹ trong lực lượng CAND luôn luôn là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong mọi giai đoạn cách mạng Việc phát triển Giáo dục - Đào tạo trong lực lượng CAND, thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ rất cấp bách cho các trường CAND, trong đó có trường Đại học PCCC
là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học hàng đầu của lực lượng CAND, là ngôi trường duy nhất được Bộ công an giao nhiệm vụ đào tạo đội ngũ kỹ sư an toàn phòng cháy chữa cháy có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, chính quy, tinh nhuệ nhằm đáp ứng việc phát triển đất nước trong thời kì mới
Trường Đại học PCCC trong những năm qua cũng như các trường khác của lực lượng Công an quy mô mở rộng, số lượng học viên tăng lên Công tác QLHV cũng còn nhiều vấn đề bất cập, nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết Trong báo cáo tổng kết của Trường Đại học PCCC về công tác QLHV vừa qua
đã nhấn mạnh: Quá trình QLHV chính là quá trình đề ra mục đích, nội dung, biện pháp và tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động giáo dục để tự hoàn
Trang 8thiện nhân cách của mình Với ý nghĩa đó công tác QLHV giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách người CAND và là một công tác trọng tâm trong nhà trường Ngay sau khi học viên nhập trường, dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, phòng quản lý học viên và các Chủ nhiệm lớp, khóa
đã tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động sinh hoạt đầu khóa: Học viên được học tập các Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ Công an; tình hình kinh tế chính trị - xã hội trong nước và quốc tế; giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội Trong toàn bộ khoá học, học viên được học tập các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, pháp luật,
cơ sở ngành, nghiệp vụ PCCC, được các chủ nhiệm lớp, khóa; giáo viên bộ môn, khoa, Đoàn thanh niên và các tổ chức quần chúng, giáo dục đạo đức lối sống, lòng yêu nước, ý chí phấn đấu, tinh thần đoàn kết, ý thức học tập, rèn luyện… Hằng năm nhà trường đã thường xuyên chỉ đạo Phòng quản lý học viên chủ động
và phối hợp tổ chức, xây dựng và đẩy mạnh các phong trào thi đua học tập, rèn luyện tốt trong khối học viên theo kế hoạch đã đề ra
Trong những năm gần đây các cấp lãnh đạo nhà trường rất tin tưởng và đã mạnh dạn phân cấp tổ chức các hoạt động phong trào, đặc biệt là các hoạt động phong trào nhằm nâng cao chất lượng học tập rèn luyện của học viên tới các lớp, khóa học Do vậy, công tác quản lý học viên đã nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của mình trong việc chủ động tổ chức các hoạt động được phụ trách,
đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chức năng trong trường để tổ chức nhiều phong trào học tập rèn luyện tốt cho học viên và được các cấp lãnh đạo đánh giá cao, đồng thời tạo lòng tin và là cơ sở vững chắc của học viên trong các khóa để các hoạt động của học viên thực sự đạt hiệu quả cao, đồng thời đi vào nền nếp và thống nhất theo điều lệnh CAND Cùng với đó, nhà trường đã rất quan tâm đến thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục học viên trong nhà trường Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài
Trang 9Vì vậy việc chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp cho học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” làm luận
văn thạc sĩ là yêu cầu cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua cũng như các trường khác của lực lượng Công an quy
mô mở rộng, số lượng học viên tăng lên Công tác QLHV cũng còn nhiều vấn đề bất cập, nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là nội dung về quản lý học viên ngoài giờ lên lớp Quá trình Công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên chính là quá trình đề ra mục đích, nội dung, biện pháp và tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động giáo dục để tự hoàn thiện nhân cách của mình Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Ở Việt Nam có nhiều cơ quan nghiên cứu về học sinh, sinh viên như các cơ quan chức năng của Bộ Giáo dục đào tạo, Các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Các tác giả nghiên cứu về vấn đề này như: PGS-
TS Mạc Văn Trang, PGS-TS Nguyễn Đức Trí Trong ngành công an cơ quan nghiên cứu về QLHV là Vụ đào tạo, Vụ tổ chức cán bộ, các trường Đại học, Trung học Các tác giả như Th.S Phạm Văn Cố với đề tài: "Xây dựng nếp sống cho học sinh, sinh viên các trường Công an nhân dân" và một số tác giả ở các Trường CAND
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn của công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đề tài đề xuất những biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp tại trường Đại học PCCC
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm đánh giá nhiệm vụ trên, đề tài luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên tai trường Đại học PCCC
- Đề xuất những biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp tại trường Đại học PCCC
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp tại Trường Đại học PCCC
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên
- Chủ thể nghiên cứu: Phòng quản lý học viên (đội ngũ giáo viên chủ nhiệm) và cá nhân, đơn vị chứ năng trong nhà trường
- Địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến hết năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Mục đích: phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài nhằm tổng hợp đọc và phân tích các tài liệu, sách báo để tìm hiểu thực trạng và các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ học của học viên, các tài liệu có lien quan đến vấn đề nghiên cứu của
đề tài Từ đó cho phép đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ học cho học viên trường Đại học PCCC, xây dựng cơ sở dữ liệu cho
đề tài
Trang 11- Các kế hoạch công tác quản lý học viên
- Các Báo cáo tổng kết về công tác quản lý học viên
5.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Là phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm thu thập thông tin cũng như những ý kiến của các chuyên gia, giảng viên có kinh nghiệm trong công tác quản lý sinh viên
Cách tiến hành: đề tài tiến hành thu thập thông tin thông qua phiếu hỏi và trả lời của các chuyên gia, các giảng viên có kinh nghiệm trực tiếp tỏng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên, trên cơ sở đó chúng tôi có thể nắm bắt được tình hình, thông tin khách quan nhất về công tác quản lý học viên ngoài giờ học của Trường Đại học PCCC từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ học
5.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm được sử dụng nhằm quan sát quá trình sinh hoạt, học tập của sinh viên đồng thời quan sát công tác quản lý sinh viên để có những nhận định, đánh giá một cách khách quan và chính xác về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Đại học PCCC
5.4 Phương pháp thực nghiệm Sư phạm
Thực nghiệm sư phạm được sử dụng nhằm kiểm chứng một cách khách quan, khoa học kết quả ứng dụng các biện pháp quản lý giáo dục sinh viên mà đề tài nghiên cứu xây dựng Việc tổ chức thực nghiệm được tiến hành so sánh bằng phương pháp tự đối chiếu trên cùng đối tượng sinh viên trước thực nghiệm và sau
Trang 12thực nghiệm
5.5 Phương pháp toán học thống kê:
Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích và xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu của đề tài các số liệu thống kê, phân
tích và đánh giá theo phần mềm công tác quản lý học viên
6 Ý nghĩa luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ hệ thống hoá các lý luận và thực tiễn đồng thời đánh giá thực trạng về công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Đại học PCCC Kết quả này sẽ góp phần hoàn thiện
lý luận về công tác quản lý học viên đặc biệt là trong nội dung quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường đại học PCCC
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học cho phòng quản lý học viên trường Đại học phòng cháy chữa cháy đề xuất một số biện pháp pháp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên nhà trường
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được kết cầu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp cho học viên các trường công an nhân dân
Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp cho học viên trường Đại học phòng cháy chữa cháy
Chương 3: Những biện pháp tăng cường quản lý hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Đại học phòng cháy chữa cháy
Trang 137
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC VIÊN TRONG CÁC
TRƯỜNG CÔNG AN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm chung về quản lý
1.1.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở
những cách tiếp cận khác nhau
Quản lý là quá trình tác động cổ tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản
lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến đổi của môi trường
Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua sử dụng con người và làm việc với con người
Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo, kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
Quản lý là vận dụng, khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng), kể
cả nguồn nhấn lực, để đạt đến những kết quả kỳ vọng
Tác giả Mạc Văn Trang cho rằng "Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể
có, dựa trên các thông tin về tình trạng, đối tượng của môi trường, nhằm giữ cho
sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiên đã
định".[15, tr.2]
Theo tác giả Phan Văn Kha: "Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định" [13, tr.6]
Từ các khái niệm trên ta thấy, quản lý là một phạm trù hoạt động có đặc trưng:
Là quá trình có mục đích, mọi hoạt động của nhà quản lý đều hướng tới mục tiêu của nhà tổ chức
Trang 159
Hoạt động của nhà quản lý là khai thác các nguồn lực một cách tối đa Do
đó cần có một quy trình hợp lý, sắp xếp nhân sự phù hợp với khả năng của từng người, từng nhóm người
Tuỳ theo đặc điểm của tổ chức mà có cách quản lý riêng
Như vậy, quản lý là việc đặt ra mục tiêu, vạch ra kế hoạch, lựa chọn các phương án tối ưu, là một khoa học, một nghề và quá trình tổ chức thực hiện, lãnh đạo kiểm tra và sự điều chỉnh phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đã xác định
1.1.2 Quan điểm tiếp cận trong quản lý
Khi nghiên cứu về quản lý có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau:
Theo tác giả Vũ Cao Đàm tiếp cận trong quản lý là đường lối xem xét hệ thống quản lý, là cách thức thâm nhập vào hệ thống quản lý, là đường lối để xử
lý các vấn đề quản lý[12, tr.18]Trên thực tế có một số cách tiếp cận thông dụng:
- Tiếp cận theo lịch sử/lôgíc: Tiếp cận lịch sử cung cấp những luận cứ
thực tiễn, tiếp cận lôgíc cho thấy những mối liên hệ tất yếu Cách tiếp cận lịch sử/lôgíc cho phép nghiên cứu những vấn đề cơ bản của quản lý trong những điều kiện lịch sử theo những mốc thời gian cụ thể, những mặt hạn chế và lý do, những thành tựu, triển vọng và lôgíc phát triển của hệ thống
- Tiếp cận phân tích tổng hợp: Tiếp cận phân tích cho phép xem xét từng
khía cạnh, từng nhân tố của hệ thống một cách biệt lập; tiếp cận tổng hợp cho phép xác lập các mối liên hệ giữa các khía cạnh, nhân tố đã phân tích Cách tiếp cận phân tích/tổng hợp chó phép nghiên cứu các vấn đề của một hệ thống trong mối quan hệ tương tác giữa chung với nhau và giữa chúng với những yếu tố bên ngoài của hệ thống đó như chính trị, kinh tế, xã hội v.v
- Tiếp cận mục tiêu: Mục tiêu là đích cân đạt tới, làm mốc định hướng để
hệ thống vận hành mà trước hết là định hướng cho các hoạt động quản lý, phát triển giáo dục - đào tạo
- Tiếp cận hệ thống: Cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ
thống hoàn chỉnh bao gồm những nhân tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố dể đạt được mục tiêu đã xác định
Trang 161.2 Quản lý quá trình giáo dục - đào tạo (GD - ĐT)
1.2.1 Đối tượng của quản lý quá trình Giáo dục - Đào tạo
Về thực chất đối tượng quản lý trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đều phải là sự hoạt động của một người hay một tập thể, với những mục tiêu và nhiệm vụ nhất định Theo PGS-TS Nguyễn Đức Trí đối tượng của quản lý quá trình GD - ĐT là sự hoạt động của giáo viên, học sinh, sinh viên và các tổ chức
sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình GD -
ĐT nhằm đạt được mục tiêu GD - ĐT đã đề ra với chất lượng cao [Giáo trình môn quản lý quá trình giáo dục, đào tạo]
Có thể nói ngắn gọn: Đối tượng quản lý quá trình GD - ĐT là các hoạt động GD - ĐT hay các quá trình GD - ĐT ở nhà trường
Quá trình GD - ĐT về thực chất là quá trình dạy - học và giáo dục, vì đây
là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động học tập của nhà trường Do đó quản lý quá trình dạy - học và giáo dục là bộ phận chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lý của nhà trường Sự phân hoá của quá trình GD -
ĐT trong nhà trường chính là nền tảng để phân hoá chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lý và tổ chức chỉ đạo GD - ĐT trong nhà trường
Công tác quản lý quá trình GD - ĐT có nhiệm vụ quản lý sự hoạt động của cán bộ, giáo viên, học viên Vì vậy, khi nói đến quản lý kế hoạch, chương trình giáo dục đào tạo, ta cần hiểu thực chất đó là quản lý các hoạt động của cán bộ giao viên và học viên trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình của nhà trường
Nội dung của quản lý quá trình GD - ĐT là một hệ thống xã hội bao gồm các thành tố:
- Tư tưởng (quan điểm, chủ trương, chính sách, chế độ, nội đúng, phương pháp tổ chức dạy - học và giáo dục )
- Con người (cán bộ, giáo viên, học viên)
- Quá trình hay việc (việc dạy, việc học )
- Cơ sở vật chất (trường sở, trang thiết bị, nhà xưởng, phòng thí nghiệm,
máy móc, nguyên vật liệu )
Trang 1711
Khi nói đến quản lý con người, quản lý quá trình hay quản lý cơ sở vật
chất ta cần phải hiểu là quản lý nội dung của các hoạt động tương ứng với từng nhiệm vụ ở các đối tượng quản lý đó
1.2.2 Mục tiêu của quản lý quá trình Giaó dục - Đào tạo
Mục tiêu quản lý là những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được
do quá trình vận động của đối tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản
lý
Mục tiêu quản lý quá trình GD - ĐT là mục tiêu tổng hợp hay mục tiêu chung, là kết quả của nhiều thành tố hay quá trình, bộ phận Mỗi quá trình, bộ phận lại có mục tiêu riêng của nó, được gọi là mục tiêu bộ phận Các mục tiêu bộ phận lại chính là những mục tiêu tổng hợp của các hệ thống con Mỗi hệ thống con lại bao gồm những quá trình, bộ phận nhỏ hơn Như vậy người ta có thể hình dung ra cây mục tiêu của một hệ thống quản lý giúp cho các cán bộ quản lý xác định rõ được vị trí và mối quan hệ giữa các mục tiêu thuộc hệ thống quản lý của mình, để điều khiển được đối tượng quản lý tương ứng vận động đạt được tới kết quả mong muốn
Quản lý quá trình GD - ĐT phải nắm chắc bản chất của quá trình GD -
ĐT là quá trình kết hợp hoạt động của cán bộ, giáo viên, học viên nhằm cải biến nhân cách của học viên theo mục tiêu xác định do nhà trường tổ chức và chỉ đạo
Quản lý quá trình GD - ĐT phải nắm chắc chức năng, nhiệm vụ của GD -
ĐT Quá trình GD - ĐT phải đồng thời thực hiện: Giáo dục, giáo dưỡng và phát triển, trong mối quan hệ tác động và ảnh hưởng lẫn nhau nhằm cải biến và phát triển nhân cách học viên Nhiệm vụ cơ bản của quá trình GD - ĐT là: Dạy người, dạy nghề, dạy phương pháp với mục tiêu là thái độ, kiến thức, kỹ năng
Trong thực tế ba chức năng đó được thực hiện với mức độ ít nhiều khác nhau tuỳ theo nội dung và tính chất của từng giai đoạn trong quá trình GD - ĐT nhưng bao giờ cũng phải có và cần được quản lý và tổ chức thực hiện để đảm bảo nâng cao chất lượng của quá trình GD - ĐT
Việc quản lý quá trình GD - ĐT đòi hỏi các cán bộ quản lý nói chung, cán bộ quản lý học viên nói riêng và giáo viên phải có sự hiểu biết đúng và thực hiện
Trang 18đầy đủ các nhiệm vụ nêu trên của quá trình GD-ĐT, tránh sự lệch lạc do nhiều yếu tố khách quan tác động lên quá trình đó
Các quá trình hay hoạt động GD-ĐT ngoài lớp bao gồm việc tự học ngoài giờ lên lớp ở kí túc xá, sinh hoạt hướng nghiệp, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt câu lạc bộ, hoạt động chính trị xã hội, lao động sản xuất trong trường nói chung hoặc
ở xưởng trường, xí nghiệp của nhà trường nói riêng
Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động được tiến hành dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học còn tiến hành hoạt động tự học nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo đã quy định, Trong quá trình tự học người học tự xác định mục tiêu, sắp xếp bố trí các công việc theo một trình tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng công việc lựa chọn địa điểm và phương tiện, tự huy động năng lực
cá nhân để hoàn thành từng công việc, tự kiểm tra và tự điều khiển hoạt động tự học của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đề ra
Quản lý GD - ĐT cần nắm chắc các yếu tố của quá trình GD - ĐT
Quá trình GD - ĐT là sự vận động của một hệ thống do nhiều yếu tố cấu thành, chung được gọi là các yếu tố của quá trình GD - ĐT Mỗi yếu tố của quá trình GD - ĐT có những tính chất riêng và có tác động khác nhau đến kết quả của quá trình GD - ĐT Giữa các yếu tố có mối quan hệ qua lại lẫn nhau Ta có thể chia các yếu tố của quá trình GD - ĐT thành hai nhóm: Nhóm các yếu tố
Trang 1913
* Mục đích
Xuất phát từ mục tiêu của GD - ĐT trong trường CAND, quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp là trọng trách của các trường CAND, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách người CAND Đó là những chiến sĩ Công an tuyệt đối trung thành với Đảng với nhà nước, vững vàng về chính trị, giỏi về nghiệp vụ có hiểu biết khoa học kỹ thuật, tính kỷ luật cao Do đó, công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phải được quán xuyến và thực hiện suốt quá trình dào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường
1.3.2 Nội dung Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tại thông thư số 50/TT/BCA của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành ngày 01/9/2009 quy định về nội dung quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên
lớp cụ thể như sau:
1.3.2.1 Công tác quản lý học viên trước giờ học tập trên lớp
QLHV trước giờ học tập ở trên lớp thực chất là quản lý việc thực hiện theo đúng thời gian biểu học tập của lớp, quản lý quân số học tập, quản lý vị trí học viên thực hiện việc học tập theo sơ đồ lớp học, giáo dục ý thức tự giác học tập, giáo dục động cơ đúng đắn cho từng học viên
Xây dựng hoạt động học tập trên lớp vào nề nếp: Việc học tập trên lớp phải duy trì theo đúng thời gian biểu, quân số học tập đảm bảo Nhiệm vụ học tập của học viên được quy định rõ trong Quy chế quản lý học viên như sau:
Có thái độ học tập đúng đắn, tự giác, trung thực, thật thà trong học tập, chấp hành nghiêm tức các nội quy, quy chế học tập của nhà trường, hoàn thành đúng thời hạn các chương trình, kế hoạch học tập Có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau, đồng thời không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao chất lượng học tập
Có trách nhiệm tham gia các phong trào thi đua học tập, rèn luyện tốt, các cuộc thi và các hoạt động khác do Bộ và Nhà trường tổ chức
1.3.2.2 Quản lý học viên thông qua hoạt động tự học
Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học
Trang 20bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định
Trong quá trình dạy - học sinh viên các trường Đại học nói chung và học viên trường Đại học PCCC nói riêng, có thể tiến hành hoạt động học tập dưới nhiều hình thức khác nhau trong những điều kiện khác nhau Khi người học tự mình huy động những phẩm chất, năng lực để tiến hành các hoạt động tìm tòi, khám phá độc lập nhằm mục đích chiếm lĩnh tri thức, tức là họ tiến hành hoạt động tự học
Hoạt động tự học của học viên có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn của giáo viên Khi đó người học là chủ thể nhận thức tích cực, họ phải huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân tiến hành những hoạt động học tập để lĩnh hội được kiến thức theo sự dẫn dắt trực tiếp của giáo viên Khi không có giáo viên điều khiển trực tiếp, người học tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các điều kiện vật chất và năng lực bản thân để ôn tập, củng cố, đào sâu, mở rộng
và hoàn chỉnh kiến thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao cho, lĩnh hội một phần kiến thức mới Đó là học viên tự học dưới sự điều khiển gián
tiếp của giáo viên nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy - học
Trong quá trình học tập, ngoài những hoạt động tiến hành dưới sự tổ chức điều khiển của giáo viên, người học còn tiến hành hoạt động tự học nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo đã quy định Như vậy hoạt động tự học của học viên có phạm vi rất rộng: tự học trên lớp dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên, tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên và tự học hoàn toàn độc lập không có sự điều khiển tổ chức của giáo viên Trong quá trình tự học, người học
tự xác định mục tiêu, sắp xếp, bố trí các công việc theo một trình tự hợp lý, phân phối thời gian cho từng công việc, lựa chọn địa điểm và phương tiện, tự huy động năng lực cá nhân để hoàn thành từng công việc, tự kiểm tra và tự điều chỉnh hoạt động tự học của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đề ra
a) Mục tiêu của quản lý hoạt động tự học
Tạo điều kiện hình thành kỹ năng tự học và xây dựng nền nếp tự học cho học viên ngoài giờ lên lớp
Trang 2115
Góp phần trực tiếp nâng cao kết quả và chất lượng dạy học ở các môn chuyên ngành, chuyên đề Thông qua việc tự học của cá nhân và trao đổi thông tin trong nhóm tự học
b) Nội dung quản lý hoạt động tự học
Xây dựng động cơ tự học cho học viên: Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động đó Động cơ hoạt động là lực đẩy trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành động, duy trì hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp chủ thể vượt mọi khó khăn, đạt tới mục đích đã định Vì vậy, động cơ của hoạt động quyết định kết quả của hoạt động đó
Hoạt động tự học của học viên bình đẳng như các hoạt động khác, song
nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng định
nó phải được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói chung và động cơ tự học nói riêng Động cơ tự học có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu tờ sự thoả mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp tương lai cho tới cấp độ cao là thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khát khao tri thức
Quản lý nội dung tự học: Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho nội dung tự học phù hợp mục tiêu, yêu cầu đào tạo; mục tiêu, yêu cầu môn học, giáo viên phải hướng dẫn nội dung tự học cho học viên, nội dung tự học gồm có hai phần:
+ Hệ thống nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc (học viên phải hoàn thành)
+ Định hướng nghiên cứu đào sâu, mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung học tập
Ngoài ra cán bộ lớp phải thường xuyên tư vấn nội dung tự học cho học viên phù hợp với định hướng của giáo viên và phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo
Quản lý kế hoạch tự học: Việc xây dựng kế hoạch tự học của học viên
là yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng tự học Kế hoạch tự học là
Trang 22bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý, dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học khả năng của bản thân và các điều kiện được bảo đảm, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học
Kế hoạch tự học giúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả Từ đó quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học của học viên
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu yên cần nhiệm vụ tự học, phát hiện sai lệch giúp học viên điền chỉnh hoạt động tự học đạt kết quả
1.3.2.3 Quản lý trong các hoạt động chính trị xã hội
Cùng với hoạt động học tập, các hoạt động chính trị xã hội được gắn kết thâm nhập, bổ sung cho nhau trong quá trình giáo dục - đào tạo, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nhân cách người học viên Công an phát triển toàn diện
cả phẩm chất tư tưởng chính trị, tri thức, kỹ năng Đó chính là thực hiện nguyên lý, phương châm giáo dục của Đảng "Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội"
Hoạt động chính trị xã hội của học viên là những hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành Công an, của địa phương nơi trường đóng quân, tham gia các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vệ sinh môi trường, xây dựng chi đoàn Đó là những hoạt động vừa cổ mục đích phục vụ xã hội, vừa
có mục đích giáo dục, là hoạt động có sự chỉ đạo giúp đỡ của tập thể sư phạm trong nhà trường và các lực lượng giáo dục ở địa phương, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học viên Hoạt động đoàn thể của học viên trường Đại học PCCC chủ yếu là hoạt động của Đoàn thanh niên
Học viên tham gia hoạt động chính trị xã hội do cấp trên hoặc do nhà trường điều động (tham gia phục vụ những ngày lễ lớn, chống bão lụt, hoạt động
từ thiện, hoạt động phòng chống tội phạm ) thông qua các hoạt đông này nhằm xây dựng cho học viên quan điểm đúng đắn về quần chúng lao động, tính tập thể, tôn trọng những giá trị truyền thống, lòng nhân đạo và tính hướng thiện, đồng thời giáo dục học viên làm quen với hoạt động vận động quần chúng Và
Trang 2317
thông qua đó rèn luyện tinh thần dũng cảm, sự chịu đựng gian khổ, tự khẳng định mình trong môi trường xã hội phức tạp
1.3.2.4 Quản lý trong các hoạt động văn hoá thể thao
Nhu cầu sinh hoạt VHTT của học viên là thể hiện việc họ đòi hỏi được thưởng thức, tham gia, sáng tạo các giá trị VHTT Đây là nhu cầu chính đáng cần được đáp ứng, tuy nhiên trong quản lý các hoạt động VHTT của học viên cần chú ý cả mặt tích cực và tiêu cực của hoạt động này Đặc điểm quản lý các sinh hoạt VHTT của học viên các trường CAND là xây dựng những chuẩn mực
về văn hoá: vẻ đẹp của học viên CAND là sống, học tập, lao động, sinh hoạt theo điều lệnh nội vụ CAND, theo 6 điều Bác Hồ dạy CAND; biết thưởng thức văn hoá nghệ thuật, sinh hoạt văn hoá lành mạnh, rèn luyện sức khoẻ thường xuyên, luôn vững vàng không bị những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội tác động
Trong sinh hoạt VHTT của học viên chú trọng các hoạt động tập thể, tính
kỷ luật, tính thống nhất Trong hoạt động văn hoá phải đảm bảo sự phong phú, lành mạnh về tâm hồn; kết hợp tính hiện đại với đậm đà bản sắc dân tộc, trong học tập, rèn luyện của học viên thể hiện ở việc chấp hành thời gian biểu, sinh hoạt tập thể Tính kỷ luật của học viên thể hiện đảm bảo giữ nghiêm kỷ luật trong các đơn vị học viên, các hoạt động VHTT đều phải đảm bảo chỉ huy, điêu hành thống nhất, đảm bảo nếp sống nơi hội họp, sinh hoạt
1.3.2.5 Quản lý trong các mối quan hệ
QLHV về thực chất là quản lý các hoạt động của học viên và quản lý các quan hệ của học viên, đó là các quan hệ trong và ngoài nhà trường
Khi xem xét các quan hệ của học viên với môi trường xã hội cần chú ý các mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ giao tiếp xã hội nói chung, quan hệ của chiến
sĩ Công an với quần chúng lao động, tình đồng chí đồng đội, tình bạn tình yêu
và quan hệ thầy trò, quan hệ giữa người chỉ huy và học viên
Đặc điểm rõ nét nhất trong quan hệ của học viên các trường CAND là: học viên vừa là học sinh, vừa là cán bộ chiến sĩ trong lực lượng CAND Do đó tồn tại các quan hệ sau:
Quan hệ học viên với học viên: Đây là quan hệ đồng chí đồng đội bình
Trang 24đẳng theo điều lệnh nội vụ CAND
Quan hệ học viên với GVCN: GVCN vừa là người thầy, vừa là chỉ huy trực tiếp của học viên Học viên phải thực hiện các mệnh lệnh, các ý kiến chỉ đạo hướng dẫn của GVCN theo quy chế QLHV của Bộ Công an
Quan hệ học viên với giáo viên: Là quan hệ thầy trò, học viên phải kính trọng, phục tùng
Ngoài những quan hệ đặc thù trên, học viên còn có những quan hệ khác như: tình bạn, tình yêu
Quản lý các quan hệ xã hội của học viên cần phải chú ý cả quan hệ đặc thù và các quan hệ khác, nhất là chú ý đến những biểu hiện tiêu cực của các quan hệ xã hội của học viên
1.3.4 Phạm vi quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Phạm vi quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm quản lý những hoạt động trước khi lên lớp lẫn những hoạt động ngoài trường của học viên trong quá trình GD - ĐT Từ khi học viên nhập học đến khi học viên tốt nghiệp ra trường
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên các trường Công an nhân dân
1.4.1 Yêu cầu của những phương pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Công an nhân dân
- Đảm bảo tập trung dân chủ, thống nhất, toàn diện và chặt chẽ theo điều lệnh nội vụ của lực lượng CAND, đồng thời phát huy dân chủ, ý thức tự giác, tự quản của học viên, lấy giáo dục là biện pháp chủ yếu
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong nhà trường, các biện
Trang 25- Các phương pháp tâm lí xã hội: Là các phương pháp, cách thức tạo ra
những tác động vào đối tượng quản lý bằng biện pháp lôgíc và tâm lí xã hội, nhằm biến những yên cầu do người lãnh đạo, người quản lý đề ra thành nghĩa vụ
tự giác bên trong, thành nhu cầu của người thực hiện
- Các phương pháp giáo dục thuyết phục: Là các phương pháp tác động
vào nhận thức của con người, vì nhận thức đúng sẽ có hành động đúng và ngược lại Phương pháp thuyết phục được gắn với tất cả các phương pháp khác và được nhà quản lý sử đụng đầu tiên Khi nhà quản lý sử dụng phương pháp này không
hiệu quả thì chuyển sang phương pháp khác
Trong quản lý muốn đạt được kết quả, nhà quản lý phải vận dụng các phương pháp quản lý một cách linh hoạt, phối hợp các phương pháp trong giải quyết từng công việc Quá trình vận dụng phải đứng thực tế, phu hợp hoàn cảnh Vận dụng các phương pháp có thành công hay không tuỳ thuộc vào tài năng và
sự nhạy cảm, khéo léo của nhà quản lý
1.4.2 Chủ thể trong quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Công an nhân dân
- Các cá nhân, tổ chức, các đơn vị có nhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên có vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động, đồng thời có vai trò trong việc đôn đốc học viên thực hiện các quy định chung của Bộ Công An cũng như các quy định của nhà trường
- Phòng quản lý học viên được giao nhiệm vụ chính và có các nội dung quản lý cụ thể trong việc quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học viên cần tổ
Trang 26chức và xây dựng phong trào thi đua nhân điển hình tiên tiên trong khối học viên Ngay sau khi học viên nhập trường, dưới sự chỉ đạo của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, phòng QLHV và các Chủ nhiệm lớp, khóa đã tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động sinh hoạt đầu khóa: Học viên được học tập các Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Bộ Công an; tình hình kinh tế chính trị - xã hội trong nước và quốc tế; giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội Trong toàn bộ khoá học, học viên được học tập các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, pháp luật, cơ sở ngành, nghiệp vụ PCCC, được các thầy cô chủ nhiệm lớp, khóa; giáo viên bộ môn, khoa, Đoàn thanh niên, giáo dục đạo đức lối sống, lòng yêu nước, ý chí phấn đấu, tinh thần đoàn kết, ý thức học tập, rèn luyện… Hằng năm nhà trường đã thường xuyên chỉ đạo phòng QLHV chủ động và phối hợp tổ chức, xây dựng và đẩy mạnh các phong trào thi đua học tập, rèn luyện tốt trong khối học viên theo
kế hoạch đã đề ra
- Các cá nhân, tổ chức, các đơn vị có liên quan từ ban giám hiệu trở xuống
có trách nhiệm trong việc quan tâm, chỉ đạo, quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên, đồng thời có những nắm bắt về tâm tư nguyện vọng, tổ chức và xây dựng các chương trình có ích trong các hoạt động của học viên, kiểm tra giám sát việc thực hiện các kế hoạch từ đó có thể động viên khích lệ học viên tham gia và xây dựng nội dung hoạt động ngoài giờ học một cách hiệu quả nhất
1.4.3 Đối tượng trong quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Công an nhân dân
Đối tượng của quá trình quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên chính là nhân cách của học viên nói chung trong toàn trường và nhân cách của cá nhân từng học viên nói riêng Nhân cách là một vấn đề phức tạp, trong đề tài này tác giả đề cập đến nhân cách theo quan niệm sau: Nhân cách của mỗi con người là tổng thể những đặc điểm tâm lý riêng tương đối ổn định gọi chung là thuộc tính tâm lý, kết hợp với nhau tạo thành một chỉnh thể, tạo nên
Trang 27Nhân cách của học viên có những điểm chung (đặc điểm lứa tuổi, trình độ, phản ánh thời đại) đó là cơ sở của việc đào tạo theo mục tiêu nội dung chung cho những tập thể học viên được sắp xếp thành các lớp, các tổ Nhân cách học viên có những điểm riêng (đặc điểm tính khí, cá tính) làm cho nhân cách mỗi học viên có một bản sắc riêng độc đáo cá biệt Trong quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên cần phải tôn trọng đặc điểm riêng này làm cho phong phú đời sống tập thể xã hội
1.4.4 Các điều kiện đảm bảo trong quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Công an nhân dân
Đó là các yếu tố không có quan hệ trực tiếp đến hoạt động cải biến nhân cách của học viên nhưng không thể thiếu được do chúng tạo điều kiện cho hoạt động của cán bộ, giáo viên và học viên bao gồm: Các yếu tố đảm bảo về chính trị, tinh thần; các yếu tố đảm bảo về tổ chức quản lý; các yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật
Môi trường xã hội là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo trong quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên trường CAND, trường học thực tiễn lớn của học viên, là nơi mà học viên sẽ công tác, chiến đấu Cẩn phải thấy hết tính phong phu và phức tạp của môi trường xã hội Trong môi trường này rất nhiều yếu tố tác động tích cực đến hình thành, phát triển nhân cách của học viên Song cũng có vô số yếu tố tác động tiêu cực, vì vậy đòi hỏi học viên phải biết lựa chọn, tiếp thu những cái tốt để trưởng thành và phải tự "miễn dịch" để chống nhiễm phải những thói hư tật xấu Vì vậy quản lý các quan hệ của học viên chính là nhằm xây dựng cho học viên các mối quan hệ lành mạnh, trong
Trang 28sáng đồng thời ngăn chặn các quan hệ tiêu cực góp phần xây dựng mối trường
xã hội lành mạnh trong trường
Ngoài ra, Quản lý các điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, về điều kiện phục vụ học tập, rèn luyện cho hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học viên trường CAND là điều cần thiết
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, học viên trường Đại học PCCC phải đảm bảo 100% quân số học tập, sinh hoạt, ăn ở tại trường trong suốt thời gian đào tạo, đo đó phải quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của học viên trên các mặt sau:
+ Quản lý cơ sở vật chất đảm bảo ăn, ở hoạt động trên lớp, tự học, các sinh hoạt tập thể khác
+ Quản lý sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, phương tiện kỹ thuật dạy - học
+ Quản lý đảm bảo thời gian biểu cho hoạt động tự học của học viên Kiểm tra đánh giá kết quả tự học: Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học viên (hàng tuần, hàng tháng)
Kết luận chương 1
Chương 1 của luận văn đã giải quyết những vấn đề cơ bản về quản lý,
quản lý học viên, quản lý hoạt động giáo dục cho học viên ngoài giờ lên lớp
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ các khái niệm quản lý, quản lý hoạt động giáo dục cho học viên Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu những quy định của thông
tư, các quyết định, chỉ thị của Bộ Công an về công tác quản lý học viên, luận văn đã đưa ra những căn cứ, quy định pháp lý để thực hiện công tác quản lý học viên ngoài giờ lên lớp Không những thế, luận văn còn nêu ra những nội dung cụ thể về công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên Qua đây, thể hiện trách nhiệm của cá nhân, đơn vị có nhiệm vụ thực hiện công tác quản lý, giáo dục học viên và trách nhiệm của học viên trong việc thực hiện những yêu cầu chung theo quy định của Bộ Công an Những nội dung của Chương 1 là cơ sở lý luận quan trọng để đề tài luận văn khảo sát, đánh giá thực
Trang 2923
trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp tại trường Đại học PCCC
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC VIÊN Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
2.1 Một số nét về lịch sử Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Ngày 6/11/1984 Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ công an) đã ký Quyết định số: 2825/QĐ-BNV nâng trường Hạ sĩ quan PCCC lên thành trường Cao
Trang 30đẳng PCCC Ngày 14/11/1999, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số:
203/1999/QĐ-TTg thành lập trường Đại học PCCC trên cơ sở trường Cao đẳng
PCCC trực thuộc Bộ Công an Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển của trường
Đến nay trường đại học PCCC có 03 cơ sở đào tạo trên cả nước:
Cơ sở 1: là trụ sở chính của trường nằm tại quận Thanh Xuân, TP Hà Nội thực hiện nhiệm vụ đào tạo kĩ sư an toàn Phòng cháy chữa cháy trình độ đại học phòng cháy chữa cháy
Cơ sở 2 : nằm tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ trình độ trung cấp phòng cháy chữa cháy cho các tỉnh phía bắc
Cơ sở 3 : nằm tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai thực hiện nhiệm vụ đào tạo cán bộ trình độ trung cấp phòng cháy chữa cháy cho các tỉnh phía nam
Ngoài nhiệm vụ đào đạo cán bộ quản lý nhà nước về phòng cháy chữa cháy, Trường Đại học PCCC có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học về PCCC phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
2.1.2 Hệ thống tổ chức trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Hệ thống tổ chức của Trường có 26 đơn vị trực thuộc Ban giám hiệu
Ban giám hiệu: Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng
Các Phòng chức năng:
- Phòng Quản lý Đào tạo (P1)
- Phòng Quản lý Khoa học và Đào tạo sau đại học (P2)
- Phòng Quản lý học viên (P3)
- Phòng Tổ Chức Cán Bộ (P4)
- Phòng Hậu cần (P5)
- Phòng Hành chính tổng hợp (P6)
- Phòng Quản lý nhà ăn (P7)
- Phòng Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học và Học viên ngoài ngành công an.(P8)
Trang 3125
- Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng đào tạo(P9)
- Phòng Công tác đảng, công tác chính trị, công tác quần chúng(P10)
- Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa(TT1)
- Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng KHKT PCCC (TT2)
- Trung tâm Dạy nghề, đào tạo và sát hạch lái xe (TT3)
- Trung tâm Ngoại ngữ - tin học (TT4)
- Tạp chí Phòng cháy và chữa cháy
- Ban quản lý dự án (BQLDA)
Các bộ môn và khoa chuyên nghành:
- Bộ môn Mac - Lê nin và khoa học xã hội nhân văn (BM1)
- Bộ môn Khoa học cơ bản (BM2)
- Bộ môn Pháp luật, nghiệp vụ công an (BM3)
- Bộ môn Quân sự, võ thuật, thể dục thể thao (BM4)
- Bộ môn Cơ sở ngành (BM5)
- Bộ môn Ngoại ngữ (BM6)
- Khoa Tự động và phương tiện kỹ thuật PCCC(K1)
- Khoa Phòng cháy(K2)
- Khoa Chữa cháy (K3)
- Khoa Cứu nạn, cứu hộ (K4)
Bên cạnh hệ thống tổ chức về chính quyền còn hệ thống tổ chức về Đảng, Đoàn, Phụ nữ, Công đoàn
Đảng bộ trường Đại học PCCC: Có các đảng bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường: Có các chi Đoàn trực thuộc
Hội phụ nữ nhà trường: Có các chi hội Phụ nữ trực thuộc
Công Đoàn trường
Các đơn vị hành chính, các tổ chức Đoàn thể đều đặt dưới sự lãnh đạo
Trang 32trực tiếp, toàn diện của Đảng uỷ và Ban giám hiệu
2.1.3 Đặc điểm của trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Học tập và rèn luyện là 2 mặt hoạt động cơ bản của người học viên trong trường CAND Để đạt được mục tiêu đào tạo đã định, 2 mặt hoạt động này tác động biện chứng với nhau, là tiền đề và kết quả của nhau, không thể xem nhẹ mặt nào, Trong thực tế khi học viên thực hiện các hoạt động học tập thì đã phải rèn luyện (ý thức tổ chức kỷ luật trong học tập, chấp hành giờ giấc học tập, thực hiện các quy chế thi, kiểm tra, vượt khó trong học tập ) và khi thực hiện các hoạt động rèn luyện thì đã phải vận dụng các kiến thức trong học tập.[2, tr.13]
Do đặc thù của chuyên ngành đào tạo mà trường Đại học PCCC khác với
các trường trong ngành Công an ở những điểm sau:
- Trường Đại học PCCC là nơi duy nhất đào tạo khoa học kỹ thuật PCCC cho cả nước, là trường đơn ngành, đa hệ
- Trường Đại học PCCC không chỉ là nơi đào tạo các kỹ sư PCCC mà còn là nơi rèn luyện cán bộ chiến sĩ, phương pháp huấn luyện mới của lực lượng cảnh sát PCCC
- Cùng với việc tiếp thu học vấn nghiệp vụ PCCC ở trình độ cao, học viên còn được tiếp thu lý luận chính trị, pháp luật nghiệp vụ Công an ở trình độ nhất định và phát triển toàn diện nhân cách người CAND
- Trường Đại học PCCC có một bộ phận học viên các ngành dân sự, học viên quân đội và học viên ngoại quốc cùng tham gia học tập, đã làm đa dạng trong mối quan hệ học viên với học viên tạo điều kiện cho học viên hình thành ý thức đoàn kết quân - dân
- Quá trình giáo dục rèn luyện được kế hoạch hoá chặt chẽ và được tiến
hành nghiêm túc, theo đúng điều lệnh chiến đấu, điều lệnh nội vụ của Bộ Công
an và qui chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo Nó không chỉ được tiến hành ở trong phòng học, phòng thí nghiệm, phòng luyện tập, sân tập mà còn trong điều kiện thực tập thực tế ở các đơn vị, các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, trong những
Trang 3327
tình huống thực tế chiến đấu của lực lượng cảnh sát PCCC
- Quá trình học tập của học viên gắn chặt với công tác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức người Công an theo 6 điều Bác Hồ dạy CAND, và 4 điều Bác Hồ dạy lực lượng Cảnh sát PCCC
- Quá trình rèn luyện và giáo dục học viên gắn chặt với công tác thường trực sẵn sàng chiến đấu tại đội chữa cháy học tập Các lớp học viên được biên chế thành các trung đội thường trực sẵn sàng chiến đấu có kỹ luật chặt chẽ như một đơn vị chữa cháy chuyên nghiệp Điều này đã tạo điều kiện hình thành cho học viên phẩm chất của nhà tổ chức, lãnh đạo, rèn luyện cho họ ý thức tổ chức
kỷ luật và tâm lý công tác như một đơn vị chiến đấu
2.2 Hệ thống, tổ chức quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
Theo qui chế QLHV của Bộ Công an, hệ thống tổ chức QLHV của Trường Đại học PCCC như sau:
Hiệu trưởng, Ban giám hiệu
Phòng QLHV (P3) gồm có: 1 Trưởng phòng, 4 Phó trưởng phòng và 6 đồng chí thực hiện công tác tham mưu tổng hợp
Các đồng chí Giáo viên chủ nhiệm : Có 14 GVCN, mỗi đồng chí GVCN phụ trách 2 lớp
Các đơn vị học viên: Được biên chế thành các khoá học (đã in thứ 1, thứ
2, thứ 3, thứ 4) trong từng khoá học lại chia thành các trung đội
Trang 34Sơ đồ hệ thống tổ chức QLHV của trường Đại học PCCC :
Sơ đồ trên thể hiện Hiện trưởng là người chỉ huy cao nhất của các đơn vị học viên Các phòng, Bộ môn, trung tâm, đoàn thể theo chức năng của mình phối hợp với phòng QLHV tham gia vào công tác QLHV của trường
2.2.1 Cơ chế quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ công an về toàn bộ công tác quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp của trường mình, là người chỉ huy cao nhất về cồng tác quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp, một đồng chí Phó Hiệu trưởng phụ trách trực tiếp
Trang 35Các GVCN là người trực tiếp phụ trách các lớp và chịu trách nhiệm trước Phòng QLHV về tình hình học tập, rèn luyện của học viên, tiến hành các cồng việc theo chức năng nhiệm vụ đã được quy định theo quy chế quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp
Các đơn vị học viên do Giáo viên chủ nhiệm phụ trách được biên chế thành các trung đội, tiểu đội Trong mỗi lớp học có 1 chi Đoàn; Ban chỉ huy trung đội, tiểu đội chịu trách nhiệm trước GVCN
2.2.2 Hoạt động của học viên và quản lý hoạt động giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp
Năm học 2010 - 2011, lưu lượng học viên toàn trường là: 1360 học viên, trong trường tổn tại ba bậc học là Trung học, Đại học và Cao học với hai hình thức đào tạo tập trung và tại chức Trong năm học này mặc dù nhà trường còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất phục vụ học tập về nơi ăn, ở của học viên nhưng công tác QLHV của trường vẫn đạt được những thành tích hết sức cơ bản Đó là: đã thực hiện và duy trì các hoạt động học tập của học viên đi vào
nề nếp, đảm bảo đúng quy chế QLHV của Bộ Đặc biệt chú ý về mặt lễ tiết tác phong, chấp hành điều lệnh nội vụ CAND, tham gia các phong trào TDTT Phòng QLHVđã tổ chức cho học viên học ngoại ngữ vào các buổi tối trong tuần nhằm góp phần quản lý các hoạt động ngoài giờ một cách có hiệu quả Thực hiện Chỉ thị số 14/ CT - BCA của Bộ trưởng Bộ Công an về việc chấn chỉnh nề nếp, kỉ luật, kỉ cương, tăng cường công tác quản lý giáo dục hoạc viên
Trang 36trong các học viện, trường công an nhân dân Đẩy mạnh cuộc vận động "Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” trong khối học viên
Các đơn vị tổ chức Đảng, Đoàn thể quần chúng, đã phối hợp bằng nhiều hình thức hoạt động nhằm phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực, các vi phạm của học viên đồng thời xử lý kịp thời những học viên vi phạm Tổ chức học tập và triển khai thực hiện nghiêm chỉnh các nội quy, quy định của Bộ về việc quản lý, phân loại học viên, các chính sách chế độ liên quan đến quyền lợi học viên
Thực hiện nghiêm chỉnh việc tổ chức cho học viên ăn, ở tập trung, hạn chế thấp
nhất các sai phạm kỷ luật của học viên, đảm bảo quân số thường trực trong các ngày lễ, ngày nghỉ theo tinh thần chỉ thị của lãnh đạo Bộ
Năm học 2011 - 2012, lưu lượng học viên của toàn trường là: 1890 học viên, trong trường vẫn tổn tại ba bậc học là Trung học, Đại học và Cao học với hai hình thức đào tạo tập trung và không tập chung
Một số việc đã làm được: Tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh quy chế QLHV, xây dựng nề nếp kỷ luật, kỷ cương là một yêu cầu bắt buộc đối với nhà trường, đó là cơ sở cho công tác quản lý và thực hiện các nhiệm vụ chính trị của nhà trường, duy trì các hoạt động học tập, rèn luyện vào nề nếp, thực hiện nghiêm chỉnh giờ nào việc nấy QLHV đã chú trọng đến công tác quản lý ngoài giờ, với nhiều nội dung và biện pháp phối hợp, nhằm từng bước nâng cao chất lượng QLHV
Năm học 2012 - 2013, lưu lượng học viên của toàn trường là: 2307 học viên, trong trường có ba bậc học là Trung học, Đại học và Cao học với hai hình thức đào tạo tập trung và tại chức Năm học này, nhà trường thành lập đội chữa cháy học tập gồm 02 tiểu đội được trang bị đầy đủ về điều kiện chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Xây dựng quy chế phối hợp với cảnh sát PCCC TP Hà Nội thực hiện nhiệm vụ thường trực chiến đấu khi có cháy xảy ra trên địa bàn Thành phố
Hà Nội và các địa bàn khác khi có sự điều động của Bộ công an
Phòng QLHV đã cụ thể hoá các chỉ thị nghị quyết, quy chế của Bộ thành
Trang 3731
những quy định, nội quy của trường để thực hiện Tăng cường phối hợp với các đơn vị chức năng, các tổ chức Đảng, Đoàn thanh niên với nhiều hình thức và biện pháp linh hoạt, phù hợp Phòng QLHV đã chủ động triển khai các biện pháp phòng ngừa, giáo dục học viên, hạn chế những vi phạm, các tệ nạn xã hội xâm nhập vào trường Tiếp tục thực hiện nghiêm túc các chỉ thị số 10, số 14, quyết định số 12 của Bộ và các văn bản hướng dẫn thi đua trong học viên Thực hiện các chế độ chính sách phong thăng cấp hàm, nâng lương, bảo hiểm xã hội, theo đúng hướng dẫn của Bộ và Tổng cục Trong năm học đã xử lý kỷ luật nhiều học viên với các hình thức Cảnh cáo, khiển trách, cá biệt có trường hợp học viên
bị kỷ luật với hình thức buộc thôi học trả về địa phương
Năm học 2013 - 2014, lưu lượng học viên cửa toàn trường là: 3010 học viên, trong trường có ba bậc học là Trung học, Đại học và Cao học với hai hình thức đào tạo tập trung và tại chức Đây là năm học nhà trường có nhiều sự kiện đáng ghi nhớ Trường tổ chức đón nhận Quyết định của bộ trưởng bộ công an về việc thành lập Cơ sở 3 - trường Đại học PCCC và triển khai Quyết định của Bộ trưởng Bộ công an về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của trường
Trong công tác quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học viên, nhà trường đã bám sát quy chế QLHV của Bộ và thể chế hoá một số quy định cụ thể cho phù hợp với công tác quản lý và điều kiện thực tế của trường, nên trong năm học 2013-2014 công tác QLHV đã thu được những kết quả đáng khích lệ trên các mặt, đặc biệt đội tuyển của giáo viên và học viên nhà trường tham gia thi đấu thể thao nghiệp vụ PCCC do Bộ Công an tổ chức tại Hà Nội đã đạt giải nhì trong tổng số 27 đơn vị trong cả nước tham gia
Năm học 2014 - 2015, lưu lượng học viên của toàn trường là: 4578 học viên, trong trường cùng một lúc có ba bậc học là Trung học, Đại học và Cao học với hai hình thức đào tạo tập trung và tại chức Năm học đầu tiên nhà trường tổ chức đào tạo trung cấp phía Nam, vì vậy nhiệm vụ chính trong năm học này là tập trung đầu tư cơ sở vật chất, kiện toàn bộ máy tổ chức và phân công cán bộ
Trang 38thực hiện nhiệm vụ chuyên mônđược giao đảm bảo các điều kiện và yêu cầu trong quá trình đào tạo, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, phấn đấu trường Đại học PCCC sẽ là trung tâm khoa học kỹ thuật PCCC của cả nước
Vì thế ngay từ đầu năm học nhà trường đã quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, học tập, sinh hoạt cho cán bộ, giáo viên và học viên, đầu tư trang thiết
bị phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy - học, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực của học viên, mọi hoạt động của nhà trường đã thể hiện rõ tính chính quy, kỷ cương, trách nhiệm Công tác quản lý học viên ngoài giờ lên lớp cũng đã bám theo hướng tăng cường kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, cũng cố sự đoàn kết nhất trí trong đơn vị, chống các biểu hiện tiêu cực và ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào trường Học tập và rèn luyện là nhiệm vụ chủ yếu của mỗi học viên trong trường, công tác QLHV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc hình thành và phát triển nhân cách người CAND, nó phải được quán xuyến và thực hiện suốt quá trình đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường Trong từng năm học nhà trường đã sơ kết, tổng kết công tác QLHV rút
ra những bài học kinh nghiệm, những mặt mạnh, mặt yếu, nguyên nhân của sự yếu kém, từ đó đề ra phương hướng, biện pháp góp phần đưa công tác GD-ĐT, QLHV vào nền nếp đáp ứng với tình hình thực tế và những năm tiếp theo
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ học cho học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy
2.3.1 Quản lý học viên trong các hoạt động đầu khoá
Đã khảo sát bằng phiếu hỏi học viên, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, kết quả như sau:
Bảng 2.1: Khảo sát về các hoạt động dầu khoá
TT Các biện pháp hoạt động
Ý kiến đánh giá (%)
Rất
Không hoàn
Không tốt
Không
có ý
Trang 3940.00 70.00
2
Công tác kiểm tra sức khoẻ
khi vào trường
- Học viên
- GV và Cán bộ QL
25.00 20.00
42,50 60,00
27,50 20,00
11,25 26,67 1,25
43,75 53,33
42,50 63,33
22,50 20,00 7,50
-
Thông qua điều tra khảo sát các ý kiến học viên năm thứ 3 và cán bộ quản
lý giáo dục và giáo viên nhà trường ,trong các hoạt động đầu khoá thì các hoạt động đều có tỷ lệ đánh giá chung ở mức độ "tốt" và "rất tốt " là cao :
- Công tác kiểm tra hồ sơ nhập học ( 97,08%)
Trang 40- Công tác kiểm tra sức khoẻ khi vào trường ( 73,75%)
- Tổ chức học tập các nội quy, quy chế, chế độ chính sách, điều lệnh nội vụ
Các hoạt động trên đều do nhà trường tiến hành ,tuy nhiên vẫn còn có hoạt động như công tác kiểm tra sức khoẻ vẫn còn (23,75%) ý kiến đánh giá là không hoàn toàn tốt cần được cải tiến
Vấn đề học nội quy, quy chế giữa học viên, giáo viên và cán bộ quản lý còn
có ý kiến đánh giá không thống nhất, học viên thì đánh giá tốt và rất tốt là đa số (87,50%) còn cán bộ và giáo viên thì (26,67%) cho rằng không hoàn toàn tốt cần phải cải tiến, họ cho rằng việc tổ chức học tập các nội quy, quy chế còn mang tính hình thức, đơn điệu chưa có chiều sâu, dẫn đến việc học viên vi phạm nội quy nhà trường
Tổ chức học tập truyền thống CAND, truyền thống nhà trường có (21,25%) ý kiến đánh giá không hoàn toàn tốt, đặc biệt có (7,5%) ý kiến cho là chưa tốt vì hoạt động này làm không thường xuyên, học viên chỉ được tham quan viện bảo tàng CAND, phòng truyền thống nhà trường hai, ba lần trong cả khoá học là quá ít Qua khảo sát có học viên không biết những thành tích của cán bộ, giáo viên và học viên nhà trường đã đạt được trong những năm qua như tham gia chữa cháy các vụ cháy trên địa bàn Thành phố Hà Nội cần có biện pháp cải tiến vấn đề này