49 Bảng 2.9: Thực trạng quản lýhoạt động nâng cao nhận thức, tạo động cơ học tập môn giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội...50 Bảng 2.10: Thực trạng quản lý hoạt động
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số : 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ MAI LAN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu
và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 02 năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo Học viện khoa học xã hội cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Lan – người định hướng cho tôi nghiên cứu đề tài, đã cung cấp những kiến thức cùng những kinh nghiệm quý báu có tính quyết định tới sự thành công của luận văn
Đề tài này tôi hoàn thành trên cơ sở nỗ lực nghiên cứu của bản thân còn có sự kế thừa, tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, quý thầy cô giáo của Trung tâm giáo dục thể chất và thể thao – Đại học quốc gia Hà Nội, cùng các nhà quản lý giáo dục thể chất, quản lý giáo dục ngoài Đại học quốc gia Hà Nội đã cộng tác, giúp đỡ tôi trưng cầu ý kiến, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng, song trình độ của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự giúp đỡ và góp ý của các nhà khoa học, của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 02 năm 2017
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 12
1.1 Quản lý 12
1.2 Hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học 17
1.3 Quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học 25
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 35
2.1 Khái quát chung về Đại học quốc gia Hà Nội và Trung tâm giáo dục thể chất và thể thao 35
2.2 Thực trạng hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội……….38
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 48
2.4 Đánh giá chung về quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 55
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 61
3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 61
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất tại Đại học quốc gia Hà Nội 62
3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 68
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 70
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt Cụm từ viết tắt
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội về tầm
quan trọng của môn học giáo dục thể chất 38
Bảng 2.2: Thực trạng động cơ học tập môn học giáo dục thể chất của sinh viên Đại
học quốc gia Hà Nội 39
Bảng 2.3: Thực trạng chương trình đào tạo môn học giáo dục thể chất hiện nay của
Đại học quốc gia Hà Nội 40
Bảng 2.4: Thực trạng thực hiện hoạt động học tập môn giáo dục thể chất củasinh
viên Đại học quốc gia Hà Nội 42
Bảng 2.5: Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học giáo
dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 44
Bảng 2.6: Thực trạng nâng cao nhận thức, tạo động cơ học tập môn giáo dục thể
chất cho sinh viênĐại học quốc gia Hà Nội 45
Bảng 2.7: Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có của Đại học quốc gia Hà
Nội phục vụ hoạt động học tập môn giáo dục thể chất 47
Bảng 2.8: Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động quản lý hoạt động
học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 49
Bảng 2.9: Thực trạng quản lýhoạt động nâng cao nhận thức, tạo động cơ học tập môn giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 50 Bảng 2.10: Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh
viên Đại học quốc gia Hà Nội trong các giờ học chính khóa và ngoại khóa 52
Bảng 2.11: Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn
giáo dục thể chất tại Đạihọc quốc gia Hà Nội 53
Bảng 2.12: Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập môn
giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 54
Bảng 2.13: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể
chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội 57
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 71
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức trung tâm giáo dục thể chất và thể thao – Đại học quốc
gia Hà Nội……….36
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên Đại
học Quốc gia Hà Nội 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia phát triển Nghị quyết Trung ương II khóa VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định
“Muốn tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục
và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững…” [18, tr.50]
Đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, kể từ khi mới giành độc lập cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ
về các mặt: Đức - Trí - Thể - Mỹ, với mục đích là đào tạo ra những người chủ tương lai của đất nước không những phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống,
mà còn phải cường tráng về thể chất tinh thần Điều đó được thể hiện thông qua các nghị quyết, nghị định, chỉ thị của Đảng và chính phủ về công tác giáo dục thể chất trong nhà trường Cụ thể như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Chỉ thị 133/TTg ngày 7/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ sự cần thiết phải chú trọng cải tiến nội dung, phương pháp nhằm đưa vào nề nếp, phát triển thể lực góp phần nâng cao chất lượng GDTC trong nhà trường các cấp, xây dựng quy hoạch phát triển và kế hoạch đổi mới công tác GDTC và thể thao học đường từ nay tới năm 2025 Trong giai đoạn mới, sự nghiệp thể dục thể thao (TDTT) cần được tiếp tục phát triển và phương hướng, nhiệm vụ đã được Đại hội IX của Đảng xác định qua Chỉ thị số 17-CT/TW là: " Đẩy mạnh hoạt động TDTT, nâng cao thể trạng
và tầm vóc của người Việt Nam [2];Chỉ thị 36/CT/TW Ban bí thư có nói rõ về hoạt động GDTC cũng như việc thực hiện GDTC trong tất cả các trường học Làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên [3]
Công tác GDTC trong nhà trường là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm.GDTC trong các trường đại học là một bộ phận quan trọng của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo
Trang 9chất, có sức khỏe GDTC là một biện pháp tích cực, tác động nhiều tới sức khoẻ sinh viên, nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản,
là một con đường, một phương tiện có hiệu quả để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và phát triển hài hòa, cân đối hình thể, nâng cao năng lực thể chất và các tố chất thể lực cho học sinh, sinhviên [7]
Trong trường Đại học, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sinh viên chính là nhiệm vụ học tập Bằng các hoạt động học tập, người học tự hình thành và phát triển nhân cách của mình, mặc dù trong quá trình học tập có sự hướng dẫn và giúp
đỡ của người dạy
Quy chế Công tác học sinh, sinh viên được ban hành theo quyết định số 42/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 đã xác định công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh, sinh viên là một trong những công tác trọng tâm ở trường đại học Đây là công tác hướng vào thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có năng lực cao về chuyên môn, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [9, tr 2]
Quản lý hoạt động học tập môn học GDTC của sinh viên trong trường Đại học không chỉ giới hạn trong quản lý giờ học ở trên lớp mà còn gồm cả quản lý việc sinh viên tự tổ chức quá trình học tập của mình thông qua các hoạt động ngoại khóa, tự học, tự nghiên cứu, hoạt động nhóm Quản lý hoạt động học tập bao hàm quản lý thời gian học tập, chất lượng học tập, tinh thần, thái độ và phương pháp học tập của sinh viên [27]
Đại học quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và một số lĩnh vực kinh tế - xã hội mũi nhọn; có chương trình, nội dung,
Trang 10phương pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ [14]
Công tác giáo dục thể chất là một trong những nội dung được Ban lãnh đạo ĐHQGHN đặc biệt quan tâm và có những định hướng chỉ đạo cụ thể trong từng giai đoạn với mục đích đào tạo ra những thế hệ sinh viên thực sự khỏe về thể chất, trong sáng về tinh thần
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hoạt động GDTC trong và ngoài ĐHQGHN như: Nghiên cứu xây dựng bài tập nâng cao các tố chất thể lực cho sinh viên; Nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môn học GDTC; Nghiên cứu quản lý hoạt động đánh giá giảng viên GDTC Tuy nhiên chưa có tác giả nào
đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động học tập môn học GDTC của sinh viên mà chỉ được lồng ghép trong một số đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học GDTC
Xuất phát từ thực tế công tác nghiên cứu khoa học còn bỏ ngỏ lĩnh vực quản lý này, cũng như thực tế quan niệm về môn học còn là môn học phụ, chưa nhận được
sự quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý cũng như của người học Để góp phần nâng cao chất lượng môn học cũng như giúp cho sinh viên có
nhận thức và thái độ học tập đúng đắn để có kết quả tốt trong học tập, đề tài ‘‘Quản
lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội”
được lựa chọn nghiên cứu
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình ngiên cứu trên thế giới
Có thể nói tất cả các quốc gia trên thế giới trong lịch sử phát triển của mình đều quan tâm đến giáo dục và học tập là vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu
cả về lý luận và thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực học tập của người học Các nhà giáo dục trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm về hoạt động học tập của học sinh, sinh viên dựa trên những cơ sở thuyết tâm lý, thuyết giáo dục khác nhau Phần lớn những nghiên cứu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động học
Trang 11cứu suốt đời cho người học Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: muốn nâng cao năng lực và hiệu quả học tập thì người giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức, cũng như hướng dẫn tự học cho học sinh
Ở thế kỷ thứ XVII, J.A.Komenski (1592 - 1670) là người đầu tiên đưa ra kiến nghị đổi mới một cách sâu sắc quá trình dạy học nói chung và hình thức tổ chức dạy học nói riêng Hình thức tổ chức dạy học trên lớp do J.A.Komenski đề ra là một sáng kiến vĩ đại, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Ngày nay, tư tưởng của ông
về chế độ dạy học theo lớp với hình thức tổ chức dạy học trên lớp nói riêng vẫn còn
có ý nghĩa tích cực đối với lý luận dạy học hiện đại [dẫn theo 15]
Tư tưởng của J.A.Komenski được tiếp nối và phát triển bởi nhiều nhà sư phạm lỗi lạc khác như: M.N.Xeatkin, N.A.Danilop, B.P.Êxipốp, J.J.Rousseau
Nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX, John Dewey (1859 - 1925)
đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên, đề
cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn Ông viết: " Học
sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều hơn đến việc tổ chức hoạt động của học sinh " [dẫn theo
5]
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng Nhật Bản Tsunesaburo
Makiguchi (1871 - 1944) đã nhấn mạnh: " Giáo viên không bao giờ học thay cho
học viên mà học viên phải tự mình học lấy Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không làm cho học sinh
tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó " [36, tr 152]
Ở Mỹ, trong những năm gần đây, trong công tác quản lý hoạt động GDTC đã coi trọng đổi mới chương trình đào tạo, coi trọng và tăng cường các môn học tự chọn, đồng thời chú trọng cải tiến phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính
tự giác tích cực của người học và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và GDTC nóiriêng [dẫn theo 34]
Trang 12Ở Liên Xô cũ cũng chú trọng công tác quản lý TDTT trường học và thể thao thành tích cao Các công trình nghiên cứu về quản lý TDTT trong GDTC của Novicop Mátveep (1978) đã hình thành hệ thống nguyên lý phương pháp quản lý huấn luyện vận động viên thể thao trẻ [dẫn theo 34]
Trung Quốc là nước đang phát triển và là một cường quốc về TDTT, bởi vậy việc nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung và tổ chức quản
lý hoạt động GDTC trường học nói riêng hết sức được coi trọng Chỉ tính từ năm
1996 đến 2004, trong 8 năm đã có hàng chục công trình nghiên cứu về quản lý TDTT và quản lý hoạt động GDTC trường học, nổi bật nhất là các công trình của: Trần Hiếu Tân (1990) nghiên cứu về quản lý giáo dục, đã khái quát cơ sở lý luận và xây dựng nên các nội dung phương pháp, phương thức quản lý GDTC của Trung Quốc [dẫn theo 22]
Các giáo sư bộ môn Quản lý học của học viện TDTT Bắc Kinh (1988), Chu Nghiêm Kiệt (1988), Trương Lê Chính (1990) đã xây dựng các giáo trình về quản
lý TDTT trường học giúp các giáo viên, cán bộ quản lý GDTC có được các kiến thức cơ bản trong quản lý TDTT trường học [dẫn theo 22]
Qua các công trình nghiên cứu có thể nhận thấy các tác giả đã quan tâm nghiên cứu và đã xây dựng được hệ thống lý luận quản lý và các biện pháp quản lý trong công tác tổ chức quản lý TDTT nói chung, GDTC nói riêng
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, nhiều nhà giáo dục đã tiến hành nghiên cứu hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, trong đó, tập trung vào việc nghiên cứu phương pháp học tập hiệu quả, vị trí, tầm quan trọng và cách thức tiến hành tự học đạt kết quả
Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương ngời sáng về tự học - đã khuyên chúng
ta "Phải biết tự động học tập", "Lấy tự học làm cốt" Tóm lại Bác đề ra 5 yêu cầu của quá trình tự học, đó là: Một, Trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác
định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn Tức là phải hiểu
"Học để làm gì? - Học để sửa chữa tư tưởng - Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng
Trang 13việc tự học suốt đời Ba, Muốn tự học thành công, phải có kế hoạch sắp xếp thời
gian học tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước
trước mọi trở ngại Bốn, Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức để tự học Năm, Học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó [dẫn
theo 1, tr.90 - 91]
Năm 1998, Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) đã tập trung luận bàn về tự học trong cuốn sách "Quá trình dạy - Tự học", đưa ra những trở lực cho việc học, kinh nghiệm khắc phục và phương châm đảm bảo thắng lợi của tự học Tác giả cho rằng mục tiêu đào tạo của các trường hiện nay cần chú trọng rèn luyện cho người học
"năm mọi" trong học tập (học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi người, học bằng mọi cách và học qua mọi nội dung) Đồng thời tác giả đưa ra một số xu thế mới về phát triển việc học trong mối quan hệ biện chứng với dạy [21, tr.101 - 103]
Các tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu cũng đã khái quát chung về hoạt động học tập - tự học của sinh viên trong cuốn sách "Tự học của sinh viên", tác giả đưa ra bản chất và đặc điểm của hoạt động học tập có mục đích, cấu trúc của hoạt động học tập, động cơ học tập và các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hoạt động học tập - tự học của sinh viên [1]
Trên thực tế, công tác giáo dục đào tạo trong thời kỳ hội nhập của nền kinh
tế đất nước đòi hỏi phải có những bước chuyển biến rõ rệt nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội Việc đòi hỏi nâng cao chất lượng môn học GDTC thông qua công tác quản lý hoạt động dạy và học cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà tổ chức, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục trên khắp cả nước
Các công trình khoa học đều nêu lên được tính cấp thiết cũng như những bất cập, chưa hợp lý của công tác GDTC trong các nhà trường Đồng thời đưa ra các giải pháp để triển khai thực hiện nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy và học GDTC trong các nhà trường
Tác giả Phan Anh Tuấn (2013), "Quản lý hoạt động Giáo dục Thể chất cho sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Việt Đức” Đề tài đã tiến hành nghiên cứu điều
Trang 14tra 15 cán bộ quản lý các phòng, khoa chức năng, 7 giáo viên giảng dạy môn GDTC và
200 sinh viên hệ caođẳng [37]
Đề tài tập trung nghiên cứu nhằm hoàn thiện các biện pháp quản lý GDTC cho sinh viên dưới góc độ tiếp cận quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng công nghiệp ViệtĐức với các nhiệm vụ nghiên cứu, đó là: Nghiên cứu cơ
sở lý luận về quản lý hoạt động GDTC cho sinh viên ở trường cao đẳng; Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDTC cho sinh viên ở trường Cao đẳng công nghiệp Việt Đức
Tác giả đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động GDTC cho sinh viên ở trường Cao đẳng công nghiệp Việt Đức cũng như đã tiến hành khảo nghiệm tính khả thi, mức độ phù hợp của các biệnpháp đó, bao gồm:
Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò của GDTC cho cán bộ giảng viên và sinhviên
Biện pháp 2: Nâng cao năng lực chuyên môn cho giảng viên giảng dạy mônGDTC
Biện pháp 3: Tăng cường cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ tập luyện phục vụ GDTC cho sinhviên
Biện pháp 4: Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả GDTC cho sinhviên
Biện pháp 5: Tăng cường tổ chức các phong trào thể dục, thể thao trong nhà trường
Tác giả Nguyễn Đức Toàn (2014), với đề tài " Biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Giáo dục thể chất tại trường Đại học Lao động - Xã hội" đã nghiên
cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Giáo dục thể chất nói riêng Đề tài đã đánh giá thực trạng quản lý dạy học môn GDTC tại trường Đại học Lao động - Xã hội và từ đó nêu ra được những mặt thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn GDTC của nhà trường Đề tài cũng đã đề xuất các biện pháp quản lý công tác dạy học môn GDTC
Trang 15tại trường Đại học lao động - Xã hội nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDTC [34]
Tác giả Trần Việt Khoa (2015) với đề tài " Biện pháp quản lý hoạt động
học tập của học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Tất Thành, tỉnh Yên Bái " Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu lý luận và thực trạng quản
lý hoạt động học tập của học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Tất Thành, tỉnh Yên Bái, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động học tập nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh, góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đề tài đã lựa chọn được 8 biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh, trong đó biện pháp về chỉ đạo bồi dưỡng động cơ học tập của học sinh được chú trọng hàng đầu [25]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài
đã kể trên chúng ta thấy rằng hoạt động học tập của học sinh, sinh viên đã có những
cơ sở lý luận rất vững chắc Các tác giả đã đề cập tới những vấn đề cơ bản về công tác quản lý trường học và quản lý hoạt động GDTC trong nhà trường Ở các góc độ khác nhau các tác giả đã đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cũng như chất lượng dạy và học môn học GDTC cho học sinh, sinh viên trong các trường học Song công tác quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội chưa có tác giả nào nghiên cứu, do đó, qua đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động học tập môn GDTC, từ đó đưa ra các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên ĐHQGHN
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên ĐHQGHN , đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động học tập nhằm nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho sinh viên ĐHQGHN, góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 163.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập môn GDTC 3.2.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên ĐHQGHN
3.2.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên ĐHQGHN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên ĐHQGHN
- Sinh viên đang học tập tại ĐHQGHN
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nguyên tắc hoạt động: Khi nghiên cứu hoạt động học tập của sinh viên đại
học cần nghiên cứu về hoạt động quản lý của Hiệu trưởng để làm bộc lộ rõ biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động học tập của sinh viên trong trường đại học hiện nay
Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Quản lý hoạt động học tập của sinh viên đại học
hiện nay chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau – yếu tố chủ quan và khách quan Vì vậy, trong luận văn này, quản lý hoạt động học tập của sinh viên đại học được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố Tuy nhiên, trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau có yếu tố tác động trực tiếp, có yếu tố tác động gián tiếp, có yếu tố tác động nhiều, có yếu tố tác động ít Việc xác định đúng vai trò của từng yếu tố trong những hoàn cảnh cụ thể là điều cần thiết Vì vậy, trong nghiên cứu này, quản lý hoạt động học tập của SV của Hiệu trưởng tại các trường Đại học được xem xét trong mối quan hệ về nhiều mặt
Trang 175.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Phân tích, khái quát, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu, các văn bản nghị quyết, quy chế, quy định của Nhà nước, của ngành giáo dục, của Đại học Quốc gia
Hà Nội, của trung tâm giáo dục thể chất và thể thao có liên quan đến đề tài
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Lập phiếu điều tra, sử dụng hệ thống câu hỏi đã soạn sẵn nhằm thu thập ý kiến
về các vấn đề nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các cán bộ quản lý giáo dục thể chất, giảng viên giảng dạy giáo dục thể chất và sinh viên của ĐHQGHN
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Thu thập thông tin qua việc trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý giáo dục thể
chất, giảng viên và sinh viên để nắm bắt thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu của đề tài
5.2.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Dùng phương pháp thống kê để tổng hợp số liệu thu được từ phiếu hỏi, tính
tỷ lệ phần trăm, tính trung bình cộng, để phân tích, so sánh, đánh giá kết quả nghiên cứu Sử dụng các bảng và biểu đồ để biểu thị các số liệu thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn đã xác định được khung lý thuyết nghiên cứu về hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội Trong đó đã xác định được các khái niệm công cụ ( quản lý, hoạt động học tập, hoạt động học tập môn giáo dục thể chất, quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất…) Luận văn cũng đã xác định được các nội dung quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất theo hướng tiếp cận mục đích, các nhiệm vụ của hoạt động học tập môn GDTC và chỉ ra được các lý thuyết về quản lý hoạt động này Luận văn
đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập môn GDTC và đưa
ra quan điểm đề xuất các biện pháp quản lý, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học tập môn học GDTC của sinh viên ĐHQGHN Kết quả
Trang 18nghiên cứu lý luận của luận văn có thể góp phần bổ sung thêm một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã nghiên cứu thực trạng hoạt động học tập môn giáo dục thể chất, quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội Qua đó đánh giá được những ưu điểm cũng như chỉ ra những hạn chế của hoạt động này Luận văn đã đề xuất các biện pháp có tính khả thi cao nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất cũng như nâng cao chất lượng học tập môn học này cho sinh viên Vì vậy kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giảng viên
và sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảovà các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên ĐHQGHN
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên ĐHQGHN
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1.1 Quản lý
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến sự quản lý, bất kể
đó là nhóm chính thức hay không chính thức, nhóm nhỏ hay nhóm lớn, là nhóm bạn
bè, gia đình hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất kể mục đích, nội dung hoạt động của nhóm đó là gì [16]
Thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Cho đến nay, đứng ở mỗi góc độ ngành nghề khác nhau sẽ có cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý "Quản lý là gì?" là câu hỏi mà bất cứ người học quản lý ban đầu nào cũng cần hiểu và mong muốn lý giải Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào
đó Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng
và nghĩa hẹp Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì
sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt
Nói đến hoạt động quản lý người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các Mác “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hành hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động
và từ những khách quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [dẫn theo 22]
Trang 20Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên [dẫn theo 25]
Đầu thế kỷ 20 nhà quản lý Mary Parker Follet định nghĩa quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác" [ dẫn theo 16]
Theo nghĩa chung nhất từ góc độ của Tâm lý học, quản lý được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó [16]
Từ những khái niệm quản lý nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác
động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa
tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra [dẫn theo 25]
1.1.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội Lĩnh vực này đang ngày càng phát triển và thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội Nó là loại hình hoạt động chuyên biệt nhưng lại ảnh hưởng đến toàn xã hội nói chung và tới mỗi bộ phận cấu thành của nó nói riêng Quản lý giáo dục là loại hình quản lý mà trong đó bao gồm nhiều thành viên tham gia Trong lĩnh vực quản lý này cần đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ giữa người dạy - người học, giữa cán bộ quản lý giáo dục với người học hay rộng hơn là mối quan hệ nhà trường - gia đình - xã hội [dẫn theo 37]
Cũng như khái niệm quản lý, quản lý giáo dục cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời thì công tác giáo dục không chỉ giới hạn đối với thế hệ trẻ mà là cho tất cả mọi người Tuy nhiên trọng tâm vẫn là hướng tới thế hệ trẻ, chính vì vậy quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân và các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân [dẫn theo 25]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc " Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ
Trang 21giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước " [21]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: " Quản lý giáo dục là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật với chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất " [28]
Như vậy có thể nói quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý từ các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm
lý lứa tuổi [dẫn theo 25]
Quản lý giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục chính là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách cho người học
1.1.1.3 Quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh theo mục tiêu được ghi trong Luật Giáo dụcLà nơi trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước [39]
Nhà trường là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống quản lý giáo dục nào từ trung ương đến địa phương Vì vậy nhà trường là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý bởi lẽ, việc quản lý trong hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa để đạt được mục đích, mục tiêu, chất lượng cũng như hiệu quả của nhà trường [39]
Trang 22Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung như: Quản lý tài chính và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc học tập, giảng dạy; Quản lý chương trình giáo dục; Quản lý chất lượng giáo dục theo chương trình của Bộ, của nhà trường; Quản lý việc học tập của học sinh theo quy chế của Bộ GD&ĐT; Tổ chức đội ngũ nhà giáo, cán bộ công nhân viên, tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường [dẫn theo 38]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng " Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục" [39]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang " Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và những cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [28]
Như vậy, quản lý nhà trường là một bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục tổng thể, trong đó quản lý quá trình dạy học là một trong những hoạt động chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống quản lý của nhà trường Xuất phát từ quản lý quá trình dạy học là sự thống nhất hữu cơ giữa quản lý hoạt động dạy học và quản lý hoạt động học tập của học sinh Tất cả các hoạt động quản lý nêu trên đều là những tác động có phương hướng, có mục đích và được phối hợp một cách đồng bộ nhằm giải quyết những nhiệm vụ quản lý của nhà trường mà trong đó sản phẩm cuối cùng của các hoạt động quản lý đều được biểu hiện tập trung ở sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh [28]
1.1.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm
Trang 23Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý tuy còn chưa thống nhất với nhau
về mặt thuật ngữ để chỉ ra các chức năng của quản lý song về cơ bản đều thống nhất rằng quản lý có bốn chức năng chính liên quan mật thiết với nhau:
Chức năng kế hoạch hoá: Bản chất của khái niệm kế hoạch hoá là quá trình
xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức, điều kiện cơ sở vật chất để đạt được mục tiêu, mục đích đó
Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng kế hoạch hóa là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác Đây được coi là chức năng chỉ lối, dẫn đường cho các chức năng chỉ đạo, kiểm tra
Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, xác định chức năng kế hoạch hoá
có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại, vận hành và phát triển của nhà trường Bởi trên cơ sở phân tích các thông tin, những tiềm năng hiện có, những khả năng sẽ có mà xác định nội dung hoạt động, các phương pháp tiến hành, những điều kiện đảm bảo
để đưa nhà trường đạt tới mục tiêu mong muốn Chính vì kế hoạch hoá là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt được một cách hiệu quả
và cho phép người quản lý có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ
Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền
hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả
Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng như một cơ thể thống nhất Từ đó, chủ thể quản lý tác động đến từng đối tượng quản lý một cách có hiệu quả thông qua sự điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực, tài lực Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng, cho những động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và làm giảm sút hiệu quả quản lý Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định cho được và rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận, đảm bảo mối quan
hệ liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ
Trang 24Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều
hành tổ chức, nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra Chỉ đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của con người, động viên, khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy tiềm năng của nhân tố con người trong
hệ thống quản lý, thực hiện mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc.Trong quản lý giáo dục và quản lý nhà trường thì chức năng chỉ đạo
có ý nghĩa quan trọng song nó còn đòi hỏi ở năng lực phẩm chất và nghệ thuật của chủ thể quản lý, chỉ đạo khách thể là những con người có trình độ năng lực và cá tính phong phú
Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của hoạt động
quản lý Quản lý mà không có kiểm tra thì coi như không có quản lý Kiểm tra là chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của
hệ thống quản lý, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu và kế hoạch định trước Như vậy, sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để hoàn thành mục tiêu và triển khai các hoạt động tổ chức, chỉ đạo hiện thực hoá các mục tiêu, điều quan trọng phải tiến hành hoạt động kiểm tra
để xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong quá trình hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu mà người quản lý cần hướng tới
Từ những nội dung ở trên cho thấy bốn chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra là các chức năng cơ bản được hình thành trong sự phân công và chuyên môn hoá hoạt động quản lý Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động và chi phối lẫn nhau tạo thành một chu trình quản lý
1.2 Hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
1.2.1 Hoạt động học tập của sinh viên đại học
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động học tập của sinh viên đại học
Trang 25Theo tác giả Phạm Minh Hạc " Hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa
con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm
về phía con người Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác động diễn
ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau " [21, tr 49]
Có thể hiểu hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và dối tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể đặt ra để thỏa mãn nhu cầu của bản thân Hoạt động sinh ra từ nhu cầu nhưng lại được điều chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được Nhu cầu với tư cách là động cơ, là nhân tố khởi phát của hoạt động nhưng lại chịu sự chi phối của mục tiêu mà chủ thể nhận thức được
Tác giả Phạm Văn Đồng cho rằng: " Ở đại học chủ yếu là học phương pháp
Nếu anh tự vũ trang được một phương pháp vững vàng thì anh dùng nó suốt đời, vì anh phải học mãi mãi " [dẫn theo 1, tr 102]
Các tác giả Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị thì định nghĩa: " Hoạt động
học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao" [dẫn theo 1, tr 104]
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: " Học, cốt lõi là tự học, là quá trình
phát triển nội tại, trong đó, chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình " [33,tr 71]
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ thì: " Học là quá trình tương tác giữa cá thể
với môi trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó Học tập là việc học có chủ ý, có mục đích định trước, được tiến hành bởi một hoạt động đặc thù - hoạt động học, nhằm thỏa mãn nhu cầu học của cá nhân " [27]
Tác giả Hồ Ngọc Đại cho rằng: " Học đại học khác với học phổ thông là sinh
viên phải tự học, tự nghiên cứu dưới sự tổ chức, điều khiển của giảng viên để tìm ra chân lý" [dẫn theo 1, tr 102]
Trang 26Qua những khái niệm trên có thể hiểu hoạt động học tập của sinh viên đại học là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm chiếm lĩnh văn hóa nhân loại, chuyển thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như thái độ của bản thân để chuẩn bị các điều kiện trở thành các chuyên gia - những nguời chủ tương lai của đất nước,
đáp ứng được các yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hoạt
động học tập bao giờ cũng nhằm thỏa mãn một nhu cầu học nhất định, được kích thích bởi động cơ học và được thực hiện bởi một hoạt động chuyên biệt - hoạt động học với nội dung, phương pháp, phương tiện học tập [dẫn theo 38]
1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên đại học
Hoạt động học tập của sinh viên đại học có những đặc điểm sau:
Trước hết, hoạt động học tập của sinh viên vừa là lĩnh hội tri thức, khái niệm
mới, vừa tìm tòi, phát hiện những cái mới khách quan Khi tiến hành hoạt động học tập ở đại học, sinh viên không thể chỉ nhận thức thông thường mà phải tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng, tư duy độc lập, sáng tạo ở mức độ cao đê chuẩn bị cho một ngành nghề chuyên môn nhất định Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên còn gọi là hoạt động học tập nghề nghiệp Vốn học vấn tiếp thu được trong thời kỳ này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó là công
cụ để sinh viên tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và là nền tảng cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu [dẫn theo 38]
Thứ hai, hoạt động học tập của sinh viên là hoạt động mang tính tự giác, tích
cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập, qua đó, họ nỗ lực nắm vững tri thức trong việc lĩnh hội tri thức Tính chủ động nhận thức là sự sẵn sàng tâm lý hoàn thành những nhiệm vụ học tập, nó vừa là năng lực, vừa là phẩm chất tự tổ chức hoạt động học tập cho phép người học tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình [dẫn theo 38]
Trang 27Thứ ba, học ở bậc đại học, vấn đề căn bản, quan trọng nhất là phải tìm được
phương pháp học cho phù hợp với bản thân Phương pháp là những nguyên tắc, cách thức để nắm bắt một vấn đề nào đó, hoàn thành một công việc nào đó, trong một thời gian xác định, một không gian cụ thể với những phương pháp có tính kinh
tế Sinh viên nào có phương pháp học tập tốt sẽ đạt được kết quả tốt hơn trong học tập, tiết kiệm được thời gian và công sức [dẫn theo 38]
1.2.1.3 Hình thức hoạt động học tập của sinh viên đại học
Hoạt động học tập chính khóa được quản lý chặt chẽ theo hệ thống thời
khóa biểu chung của nhà trường, lịch trình giảng dạy của giảng viên cho phép xác định rõ tên môn học, giảng viên đảm nhiệm, thời gian, địa điểm học, phương pháp, hình thức tổ chức môn học Từ đó sinh viên có thể chủ động xây dựng kế hoạch học tập cho riêng mình Mặt khác, đối với cán bộ quản lý các cấp có cơ sở để kiểm tra, theo dõi, quản lý và điều hành hoạt động học tập của sinh viên một cách hài hòa, nhịp nhàng trong cấu trúc hoạt động của nhà trường
Hoạt động học tập ngoại khóa - hoạt động tự học là hoạt động học ngoài
giờ lên lớp của sinh viên Đó có thể là hoạt động có tổ chức theo hình thức câu lạc
bộ, hoặc cũng có thể là hoạt động tự giác của cá nhân Có thể là các hoạt động học tập theo chủ đề theo phong trào của Đoàn thanh niên và Hội sinh viên phát động,
hay cũng có thể là hoạt động tự học của cá nhân hoặc nhóm sinh viên
1.2.2 Hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục thể chất
Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối
ổn định về hình thái, chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống ( bao gồm cả giáo dục và rèn luyện) [30]
Sự phát triển thể chất của con người là quá trình hình thành và biến đổi có quy luật các thuộc tính về hình thái, chức năng tự nhiên của cơ thể dưới ảnh hưởng của điều kiện sống, trong đó có GDTC Quá trình này phụ thuộc không những vào các quy luật về sinh học, mà còn cả các quy luật về cuộc sống xã hội, trong đó giáo
dục luôn luôn giữ vai trò chủ đạo
Trang 28Giáo dục thể chất (hay còn gọi tắt là Thể dục, hiểu theo nghĩa rộng là phương pháp và phương tiện nhằm phát triển các năng lực của con người để đáp ứng các yêu cầu của một xã hội nhất định [30]
Khái niệm GDTC nằm trong khái niệm chung của giáo dục theo nghĩa rộng
Sự khác biệt của GDTC được xác định trước hết ở chỗ, nó là một quá trình truyền thụ và lĩnh hội các tri thức thuộc lĩnh vực TDTT, rèn luyện kỹ năng và hình thành các kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực của con người Để giải quyết các nhiệm vụ theo các đặc trưng của mình, trong quá trình GDTC cần phải tiến hành các hoạt động giảng dạy các động tác và giáo dục các phẩm chất thể lực (các năng lực về thể chất) [30]
Như vậy có thể khái quát lại, GDTC là một quá trình giáo dục mà đặc trưng
của nó thể hiện ở việc giảng dạy các động tác và giáo dục các tố chất thể lực của con người[30]
1.2.2.2 Đặc điểm hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Giáo dục thể chất là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC được hiểu là: " Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người" [30] Như vậy mục tiêu của GDTC là hình thành và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động, giúp người học phát triển cơ thể hài hòa, cân đối, duy trì sức khỏe trong lao động và học tập
Hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên đại học cũng có những đặc điểm tương đồng như đặc điểm hoạt động học tập chung của sinh viên trong trường đại học
Thứ nhất, đó là quá trình sinh viên lĩnh hội tri thức, khái niệm mới về môn
GDTC cũng như những lý luận cơ bản trong tập luyện và thi đấu một số môn thể thao Những tri thức tiếp thu được trong thời kỳ này có ý nghĩa hết sức quan trọng,
vì nó là công cụ để sinh viên tự tổ chức hoạt động học tập và tập luyện ngoại khóa trong nhà trường cũng như trong cuộc sống
Trang 29Thứ hai, hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên phải là hoạt động mang
tính tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, bởi vì đặc điểm môn học mang tính chất thực hành là chủ yếu, nếu người học thiếu tính chủ động, tự giá, tích cực thì hoạt động thực hành sẽ mang tính miễn cưỡng, và như vậy sẽ không thu được kết quả cao trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của môn học, cũng như dễ dẫn đến chấn thương trong vận động Khi
có được tính tự giác và chủ động nhận thức sinh viên sẽ có ý thức và thái độ học tập GDTC tốt hơn, có được kết quả cao trong học tập, giúp sinh viên tăng cường hơn hoạt động ngoại khóa ngoài giờ học trên lớp để tăng cường sức khỏe cho bản thân, cũng như để phát triển cơ thể một cách hài hòa và cân đối
Thứ ba, mỗi môn thể thao lại có những phương pháp học khác nhau, do vậy
đòi hỏi mỗi sinh viên phải tìm ra được phương pháp học phù hợp cho mình để tiếp thu một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất những tri thức về môn học, cũng như đạt được kết quả học tập tối ưu nhất Ví dụ đối với các môn thể thao đòi hỏi thể lực, sức bền như: Điền kinh, Bóng đá sẽ có phương pháp dạy và học khác với môn thể thao mang tính nghệ thuật như Aerobic, Khiêu vũ thể thao
1.2.2.3 Nhiệm vụ hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Nhiệm vụ hoạt động học tập môn GDCT của sinh viên đại học bao gồm:
+ Hoàn thành chương trình học tập và rèn luyện theo quy định của nhà trường cũng như của Bộ Giáo dục và đào tạo
+ Hình thành và tích lũy kiến thức cơ bản về một số môn thể thao trong và ngoài chương trình học
+ Tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động, nhận thức đúng về tầm quan trọng của vận động đối với việc duy trì sức khỏe trong học tập cũng như trong cuộc sống
+ Giáo dục đạo đức và hoàn thiện nhân cách; rèn luyện tinh thần tập thể cũng như ý thức tổ chức kỷ luật
Trang 301.2.2.4 Nội dung hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình GDTC trong các trường đại học theo quyết định số 203/QĐ - TDTT, ngày 23 tháng 1 năm 1989; Quyết định 3244/GD-ĐT, ngày 12 tháng 1 năm 1995 và số 1262/GD-ĐT ngày 12 tháng 4 năm
1997, nội dung như sau:
Chương trình gồm 150 tiết, với 5 học phần, tương ứng 5 đơn vị học trình TDTT Mỗi đơn vị học trình TDTT được học trong một học kỳ, như vậy chương trình GDTC được tiến hành trong hai năn rưỡi của chương trình học tập
Cuối mỗi năm học, ngoài kiểm tra lý thuyết, kỹ thuật môn thể thao đã học, sinh viên còn phải kiểm tra thể lực theo quy định của Bộ hay theo tiêu chuẩn của trường Sinh viên tích lũy đủ điểm của 5 học phần, trong đó có điểm "đạt" tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (RLTT) mới được cấp chứng chỉ môn học
Ngoại khóa là nội dung học tập bắt buộc ở chương trình GDTC cho sinh viên
và được cán bộ giảng dạy TDTT quản lý
Có thể tóm lược chương trình GDTC trong các trường đại học hiện nay qua phân
bổ thời gian (khung chương trình) cho các nội dung học tập như sau:
bóng đá, võ, cầu lông, bóng bàn, aerobic, khiêu vũ thể thao, bơi lội
1.2.2.5 Hình thức học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Hình thức học tập chính khóa
Hình thức học tập chính khóa mang tính hành chính pháp quy, quy định đối
Trang 31thời gian và quy cách đánh giá chất lượng, do vậy đây là hoạt động cơ bản nhất của sinh viên trong nhà trường
Hình thức học tập GDTC chính khóa có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục sinh viên trong nhà trường nói riêng và trong xã hội nói chung Việc học tập các bài tập thể dục, các động tác kỹ thuật là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hòa, toàn diện, bảo vệ và củng cố sức khỏe Mặt khác trong các giờ học GDTC chính khóa, những phẩm chất ý chí của con người như: lòng dũng cảm, tính quyết đoán, tính kiên trì và khả năng tự kiềm chế được hình thành và hoàn dục tinh thần tập thể, thẳng thắn, trung thực
Hình thức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa
Ngoài các giờ học GDTC chính khóa, các hoạt động TDTT ngoại khóa cũng
có vai trò rất quan trọng đối với công tác GDTC trong nhà trường.Việc phát triển và hoàn thiện thể chất của sinh viên đòi hỏi sự tích lũy của một quá trình tập luyện lâu dài và thường xuyên Hoạt động TDTT ngoại khóa góp phần hoàn thiện các bài học chính khóa, thường được tiến hành vào các giờ tự học của sinh viên có thể có sự hướng dẫn của giáo viên hoặc do sinh viên tự tập luyện trên cơ sở các bài tập đã được giáo viên hướng dẫn trong các giờ học chính khóa
Giờ học ngoại khóa mang tính chất tự nguyện với chức năng là nhằm giúp sinh viên củng cố kỹ thuật động tác đã được học trong các giờ học chính khóa cúng như là động viên, lôi kéo sinh viên tham gia tập luyện các môn thể thao yêu thích, rèn luyện sức khỏe, duy trì và nâng cao thể lực để tham gia vào các hoạt động khác trong và ngoài nhà trường
Hoạt động ngoại khóa mang tính tự giác là chính vì vậy đòi hỏi trong các giờ học GDTC chính khóa giáo viên phải giác ngộ tinh thần yêu thích thể thao của sinh viên để các em thấy được vai trò và tầm quan trọng của môn học GDTC cũng như các hoạt động TDTT trong cuộc sống Từ đó sẽ giúp cho sinh viên tạo ra động cơ tập luyện TDTT ngoại khóa đúng đắn cho mình
Hoạt động TDTT ngoại khóa có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì ngoài mục đích giáo dục và rèn luyện các phẩm chất đạo đức thì còn là nơi sinh hoạt tập thể, giao lưu, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội ra khỏi nhà trường
Trang 321.3 Quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
1.3.1 Khái niệm
Quản lý hoạt động học tập của sinh viên là một trong những nội dung chủ yếu của quản lý trong trường Đại học Thực chất quản lý hoạt động học tập của sinh viên là hệ thống những tác động có ý thức của chủ thể quản lý trong nhà trường đến quá trình nhận thức của sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học tập và thời gian dành cho các hoạt động ngoài giờ Đó là những tác động có mục đích, qua đó giúp sinh viên học tập và rèn luyện tốt hơn [6]
Mục đích của việc quản lý hoạt động học tập là làm cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên đạt tới kết quả như mong muốn Trước hết chủ thể quản
lý phải theo dõi để nắm bắt được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của việc học tập, về thái độ, động cơ, ý thức học tập của sinh viên nói chung và của từng cá nhân nói riêng để có biện pháp thúc đẩy, khuyến khích sinh viên phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập và rèn luyện ngày càng cao [6]
Quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên trong trường đại học là nhằm đánh giá trình độ thể lực cũng như nhận thức của sinh viên đối với môn học để có những thay đổi phù hợp cũng như phát hiện những năng khiếu, tài năng TDTT Theo dõi và tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong quá trình học tập của sinh viên để có những biện pháp khuyến khích, thúc đẩy sinh viên phát huy những yếu tố tích cực của mình, khắc phục, đẩy lùi các yếu
tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao trong học tập [5]
Quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên đại học là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà quản lý đến hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên nhằm phát triển tư duy nhận thức, tư duy môn học, hình thành kỹ năng thực hành môn học cũng như thái độ học tập độc lập, tự chủ và hợp tác của sinh viên trong quá trình học tập, nhờ vậy nâng cao chất lượng học tập của sinh viên [5]
Quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên trong trường đại học
Trang 33mà còn tác động vào quá trình sinh viên tự làm giàu thêm hiểu biết, tự rèn luyện thêm kỹ năng cần thiết cho cuộc sống và nghề nghiệp trong tương lai
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
1.3.2.1 Quản lý mục tiêu hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Giaó dục thể chất là một quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, sực đề kháng
và kéo dài tuổi thọ của con người GDTC là một loại hình giáo dục, chính vì vậy nó
là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động, những kinh nghiệm sống từ thế hệ này cho thế hệ khác Vì là quá trình sư phạm nên GDTC đòi hỏi phải tuân thủ theo những nguyên tắc sư phạm, trong đó vai trò của người học là trung tâm, người thầy có nhiệm vụ
định hướng, dẫn dắt, tổ chức các hoạt động theo nguyên tắc sư phạm [5]
Để quản lý mục tiêu môn học GDTC trong các trường Đại học đòi hỏi nhà quản lý phải quản lý tốt nội dung chương trình, những kiến thức lý luận cơ bản và phương pháp luyện tập cũng như kỹ thuật của một số môn thể thao trong chương trình học của sinh viên Quản lý thực hiện nội dung giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý trong việc quản lý mục tiêu môn học
đó là quản lý xây dựng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên bởi vì quá trình dạy và học không thể thiếu công tác kiểm tra, đánh giá Nó không chỉ là thước đo về kết quả học tập của sinh viên mà còn là thước đo về chất lượng dạy và học Bên cạnh đó thì việc quản lý mục tiêu môn học còn bao gồm việc quản
lý các hoạt động TDTT nhằm tạo điều kiện để nâng cao trình độ thể thao trong sinh viên [5]
Trang 341.3.2.2 Quản lý nội dung hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên đại học bao gồm các nội dung sau:
(1) Nâng cao nhận thức, tạo động cơ học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Hoạt động học tập là một khâu của quá trình giáo dục, là một quá trình gia công, chế biến và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dục quy định Nhờ có học tập và chỉ bằng con đường học tập, người học mới có thể nắm vững tri thức, thông hiểu tri thức, bổ sung và hoàn thiện tri thức cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Hoạt động học tập không chỉ là quá trình nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thói quen, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáo dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Vì trên cơ sở những tri thức họ tiếp thu được nó có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ý chí cần thiết cho việc tổ chức lao động học tập của cá nhân họ Bên cạnh đó còn rèn luyện cho họ cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập trong học tập cũng như rèn luyện thói quen trong hoạt động khác Nói cách khác, hoạt động học tập hướng vào việc rèn luyện phát triển toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên Khi sinh viên nhận thức đầy đủ và đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của môn học đối với bản thân, các em sẽ có thái độ học tập tích cực
Để xây dựng nhận thức về ý nghĩa của việc học tập cho sinh viên cần phải phối hợp chặt chẽ thống nhất sự giáo dục giữa các lực lượng giáo dục trong nhà trường Xây dựng và thực hiện những nề nếp học tập cũng như truyền thống học tập của nhà trường, đề ra những quy định thống nhất về hoạt động học tập, xây dựng tác phong học tập tốt cho sinh viên, ngăn ngừa những hành vi sai trái, Vấn đề này
có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập và phát triển nhân cách của sinh viên
Trang 35Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động Động cơ hoạt động là lực đẩy trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành động, duy trì hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp chủ thể vượt qua mọi khó khăn, đạt mục đích đã định Vì vậy động cơ của hoạt động quyết định đến kết quả của hoạt động đó
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: " Động cơ học tập của học viên là cái mà việc
học của họ phải đạt được để thỏa mãn nhu cầu nhu cầu của mình Nói ngắn gon, học viên học vì cái gì thì cái đó chính là động cơ học tập của học viên" [27, tr 371]
Hoạt động học tập của sinh viên có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân, điều này cũng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ học tập nói chung, động cơ tự học nói riêng Nguồn gốc động cơ học tập của sinh viên có thể xuất phát từ bên ngoài, tức là do yêu cầu của nhà trường, gia đình và xã hội Tuy nhiên, động cơ bên trong có ý nghĩa quan trọng hơn cả, đó chính là xuất phát từ nhu cầu nhận thức, từ mong muốn của bản thân mỗi sinh viên
Do đó công tác giáo dục mục đích, động cơ học tập môn học GDTC cho sinh viên đại học cần phải tập trung thực hiện các công việc sau:
- Nâng cao nhận thức của sinh viên về mục tiêu đào tạo của môn học GDTC trong trường Đại học cũng như ý nghĩa của môn học đối với sức khỏe và cuộc sống của con người
- Tổ chức những buổi nói chuyện, những buổi sinh hoạt, hoạt động tập thể có
sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực GDTC, các vận động viên thể thao nổi tiếng để sinh viên hiểu rõ thêm về mục đích, ý nghĩa của GDTC trong nhà trường, về tác dụng của TDTT đối với sức khỏe và nhân cách con người
- Xây dựng môi trường học tập GDTC phù hợp, tích cực với những giảng viên có bề dày kinh nghiệm và trình độ chuyên môn tốt, cùng với cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại
(2) Quản lý việc thực hiện hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học trong các giờ học chính khóa và ngoại khóa
Trang 36Đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý hoạt động học tập của sinh viên Sinh viên cần phải lên lớp đầy đủ, đúng giờ để nghe giảng viên phổ biến nội dung học tập, giảng dạy những kỹ thuật động tác mới, hướng dẫn cách học cũng như giao bài tập tự tập luyện ở nhà
Cần xác định rõ mục tiêu chính của việc theo dõi hoạt động học tập của sinh viên trong và ngoài giờ lên lớp là nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập của
sinh viên chứ không chỉ đơn giản là để chấp hành nội quy của nhà trường
Để quản lý hoạt động học tập môn GDTC của sinh viên đại học thì hiệu trưởng chỉ đạo phòng đào tạo, bộ môn GDTC và giảng viên giảng dạy lý luận và thực hành hướng dẫn, giám sát sinh viên thực hiện hoạt động học tập môn GDTC, bao gồm:
- Chỉ đạo, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện tiến độ, kế hoạch và chương trình học tập theo tiến độ thời gian và các quy định về nhiệm vụ học tập của sinh viên
- Giám sát và kiểm tra việc thực hiện hoạt động học tập lý luận và thực hành của sinh viên
- Giám sát, kiểm tra tiến độ học tập của sinh viên
- Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện hoạt động ngoại khóa của sinh viên
Bên cạnh đó, vai trò của giảng viên trực tiếp lên lớp cũng rất quan trọng trong quản lý hoạt động học tập của sinh viên, do vậy, giảng viên cần phổ biến kế hoạch học tập, nội dung môn học ngay từ đầu học kỳ cho sinh viên; Thường xuyên điểm danh để theo dõi tình hình học tập của sinh viên cũng như cấm thi các trường hợp sinh viên không tham dự đủ số tiết quy định của môn học; Thường xuyên theo dõi, quản lý quá trình học tập trên lớp của sinh viên và đôn đốc, nhắc nhở sinh viên học tập; Chú trọng việc tạo ra môi trường học tập thân thiện, tích cực, giúp đỡ nhau học tập trong sinh viên
(3) Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một bộ phận không thể
Trang 37dạy của giáo viên cũng như phản ánh phần nào chất lượng môn học của nhà trường Kiểm tra được coi là một nguyên tắc của mối liên hệ ngược, từ thông tin có được nhờ kiểm tra, đánh giá để làm cơ sở điều chỉnh hoạt động quản lý dạy và học Chủ thể quản lý phải có kế hoạch cụ thể để quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, bởi lẽ kết quả học tập của sinh viên thể hiện một phần năng lực chuyên môn của giảng viên cũng như sự quan tâm, quản lý sát sao của các cán bộ quản lý Theo kết quả nghiên cứu của B.S Bloom và Carl, những chuyên gia về đánh giá, thì mức độ lĩnh vực tri thức được chia ra: Biết – Thông hiểu – Vận dụng – Phân tích – Tổng hợp – Đánh giá
Dựa trên lý thuyết này để định hướng kiểm tra và đo lường kết quả Điểm số
và kết quả các kỳ thi phải đánh giá được thực chất về kiến thức, kỹ năng, khả năng vận dụng của sinh viên
Chủ thể quản lý phải quản lý việc kiểm tra của GV đối với SV, tránh tình trạng chỉ đo lường ở điểm số, không chỉ quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV mà còn là biện pháp để nắm vững tình hình SV về mọi mặt
(4) Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên đại học
Nhằm thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo, người quản lý phải thực hiện quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập của sinh viên, bao gồm các nội dung như sau:
- Quản lý thời khóa biểu học tập của sinh viên
- Quản lý đổi mới phương pháp dạy học và hướng dẫn hoạt động học tập của sinh viên
- Quản lý hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo môn GDTC
- Quản lý phòng học lý thuyết và cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ phục vụ hoạt động học tập GDTC
- Quản lý công tác thi đua khen thưởng đối với sinh viên
Trang 38Các nội dung quản lý trên đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất và được thể hiện bằng kế hoạch, nội quy, quy định về giảng dạy và học tập trong nhà trường
Hàng năm các trường đều lập kế hoạch tài chính, dự toán thu chi từ các nguồn theo các biểu mẫu hướng dẫn của Nhà nước, kế hoạch tài chính được xây dựng trên cơ sở phân tích tình hình thực tiễn của năm trước, xác định nhu cầu vốn đáp ứng nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị và các điều kiện dạy học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ…
Để quản lý có hiệu quả các trang thiết bị cơ sở vật chất có tính chất đặc thù của môn học, việc khai thác sử dụng đều cần chú trọng đến khâu quản lý như: giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận, thường xuyên bảo dưỡng, quan tâm bồi dưỡng kiến thức cho người sử dụng với phương châm “giữ tốt – dùng bền” nhằm khai thác tối đa và có hiệu quả trang thiết bị được cung cấp
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập môn giáo dục thể chất trong trường Đại học
Khi bàn đến các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động học tập, có thể xem
xét ở các mặt như:
1.3.3.1 Yếu tố thuộc về chủ thể quản lý
Trình độ, năng lực, phẩm chất của người lãnh đạo
Để đạt hiệu quả trong công tác quản lý, nâng cao chất lượng của hoạt động học tập môn GDTC đòi hỏi người lãnh đạo phải có trình độ quản lý, cũng như nắm
rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nội dung dạy học môn học giáo dục thể chất với những đặc điểm của môn học đặc thù Nắm chắc phương pháp luận và phương pháp dạy và học thực hành, vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học…
Người lãnh đạo còn phải thể hiện được năng lực lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và giám sát, kiểm tra hoạt động dạy và học môn GDTC (cả về lý thuyết và thực hành)
Người lãnh đạo cần phải là người có những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong sáng, gương mẫu và tích cực, tiên phong trong công việc
Trang 391.3.3.2 Yếu tố thuộc về khách thể quản lý
Trình độ, năng lực, phẩm chất của giáo viên
Giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy học, là người chịu trách nhiệm trực tiếp trước kết quả học tập của sinh viên, vì vậy người giáo viên phải có trình độ chuyên môn tương ứng với cấp học, bậc học đang tham gia giảng dạy Bên cạnh đó cần không ngừng học tập, cập nhật kiến thức mới nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của mình, đáp ứng tốt công tác giảng dạy
Năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của giáo viên thể hiện trong quá trình dạy học là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Người giáo viên có năng lực chuyên môn tốt sẽ có khả năng tổ chức buổi học tốt cũng như khả năng xử lý tình huống sư phạm một cách chuẩn mực, đó là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục Mặt khác nhận thức của giáo viên đối với công tác GDTC cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy nói chung và chất lượng từng buổi lên lớp nói riêng
Phẩm chất của nhà giáo là một yếu tố vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động dạy học và chất lượng giáo dục Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức ảnh hưởng đến nhận thức và sự hình thành nhân cách của sinh viên
Phẩm chất, năng lực và nhận thức của sinh viên
Đối với bất kỳ một hoạt động nào cũng đòi hỏi người tham gia vào hoạt động
đó phải có những nhận thức nhất định về hoạt động mà mình tham gia để có ý thức trách nhiệm cũng như xác định mục tiêu đúng đắn Trong hoạt động giáo dục thì điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhận thức đúng đắn của sinh viên về hoạt động học tập của mình, về ý nghĩa, tác dụng của môn học sẽ giúp cho họ có động cơ học tập đúng đắn, thái độ học tập tốt cũng như xây dựng kế hoạch học tập phù hợp
để sinh viên có thể phát huy một cách tốt nhất, tích cực nhất những năng lực, phẩm chất vốn có
Đối với môn học mang tính chất thực hành là phần nhiều thì năng lực vận động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng học tập của sinh viên, như năng lực vận động thiên về sức nhanh, sức mạnh, sức bền, hay về khả năng phối hợp vận động khéo léo…Do vậy trong chương trình GDTC
Trang 40hiện nay dã có nhiều môn thể thao tự chọn để sinh viên lựa chọn dựa trên năng lực vận động của bản thân
Nhận thức của sinh viên cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn học GDTC trong nhà trường Sinh viên có nhận thức tốt về môn học sẽ tiếp thu nhanh những kiến thức trên lớp, đồng thời có mục tiêu học tập rõ
ràng và thái độ học tập đúng đắn
1.3.3.3 Yếu tố thuộc về môi trường quản lý
+ Các chính sách, chủ trương, đường lối về giáo dục của Đảng, Nhà nước và
các cấp lãnh đạo
+ Nội dung chương trình GDTC được quy định theo khung chương trình của
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như theo đặc thù của từng nhà trường
+ Cơ sở vật chất phục vụ môn học GDTC
Giáo dục thẻ chất là một mặt giáo dục trong nhà trường Do vậy cần phải có
sự quan tâm của các cấp, các ngành đầu tư đúng mức về con người và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục thể chất, những trang thiết bị đảm bảo phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập giáo dục thể chất cũng như các hoạt động ngoại khóa trong nhà trường
Để khắc phục những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục thể chất nói chung và hoạt động học tập của sinh viên nói riêng trong trường Đại học, Vụ giáo dục thể chất nay là Vụ công tác học sinh sinh viên – Bộ Giáo dục
và đào tạo đã chỉ đạo trực tiếp công tác GDTC trong nhà trường các cấp học, đồng thời chỉ đạo môn học GDTC và tổ chức quản lý các hoạt động TDTT của sinh viên Công tác cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý phong trào TDTT trong các trường Đại học và Cao đẳng được tập huấn hàng năm nhằm nắm bắt tình hình để đề xuất các giải pháp tăng cường công tác giáo dục thể chất trường học
Kết luận chương 1
Trên cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động học tập với những phân tích,
hệ thống hóa một số khái niệm cơ bản như: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý hoạt động học tập, giáo dục thể chất và hoạt động giáo dục thể chất