1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN .... 35 Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ, PHẠM VI VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TIẾN VINH
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả, quyền liên quan 7
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 13
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 19
1.2 Phân loại và vai trò các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 23
1.2.1 Phân loại các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 23
1.2.2 Vai trò của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan 25
1.3 Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở một số quốc gia trên thế giới và những vấn đề có thể nghiên cứu, vận dụng tại Việt Nam 28
1.3.1 Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan ở một số quốc gia trên thế giới 28
1.3.2 Những vấn đề có thể nghiên cứu, vận dụng ở Việt Nam 35
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ, PHẠM VI VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TẠI VIỆT NAM Error! Bookmark not defined
Trang 52.1 Cơ sở pháp lý, phạm vi hoạt động và các hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt NamError! Bookmark not defined
2.1.1 Cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các tổ chức đại diện tập
thể quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined
2.1.2 Phạm vi hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên
quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined
2.1.3 Các hoạt động của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
tại Việt Nam Error! Bookmark not defined 2.2 Thực trạng hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined 2.2.1 Hoạt động quản lý quyền tác giả, quyền liên quanError! Bookmark not defined
2.2.2 Hoạt động đàm phán cấp phép, thu và phân chia tiền nhuận bút thù lao, các quyền lợi vật chất khác từ việc cho phép khai thác các quyền được ủy quyền
Error! Bookmark not defined
2.2.3 Hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên, tổ chức hòa giải
khi có tranh chấp Error! Bookmark not defined
2.2.4 Hoạt động hợp tác với các tổ chức tương ứng của tổ chức quốc tế và các
quốc gia Error! Bookmark not defined 2.2.5 Các hoạt động khác Error! Bookmark not defined 2.3 Đánh giá chung về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan Error! Bookmark not defined 2.3.1 Những tồn tại, hạn chế Error! Bookmark not defined 2.3.2 Nguyên nhân Error! Bookmark not defined Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẠI DIỆN TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN TẠI VIỆT NAM Error! Bookmark not defined
Trang 63.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined
3.1.1 Rà soát, hệ thống hoá thường xuyên và có chất lượng các văn bản pháp luật
hiện hành Error! Bookmark not defined
3.1.2 Sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật hiện hành về đại diện tập
thể quyền tác giả, quyền liên quan Error! Bookmark not defined
3.1.3 Chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế cho các tổ chức đại diện tập thể quyền
tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined 3.2 Hoàn thiện hệ thống và tăng cường năng lực của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined 3.2.1 Kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng Hiệp hội hoạt động độc lập Error! Bookmark not defined
3.2.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng có Ban Lãnh đạo hoạt động
chuyên trách Error! Bookmark not defined
3.2.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng đúng chức năng, nhiệm vụ và không
chồng chéo Error! Bookmark not defined
3.2.4 Tăng cường năng lực của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên
quan tại Việt Nam Error! Bookmark not defined 3.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quanError! Bookmark
not defined
3.3.1 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện pháp luật
về đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan Error! Bookmark not defined
3.3.2 Tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý, thực thi về quản lý các tổ
chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quanError! Bookmark not defined
3.4 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc xây dựng pháp luật về đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
Trang 7DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 APPA - Hội Bảo vệ Quyền của nghệ sĩ biểu
diễn âm nhạc Việt Nam (tên giao dịch quốc tế là Association of Rights Protection for Vietnamese Music Performing Artists)
2 HNSVN - - Hội Nhạc sĩ Việt Nam
3 HNVVN - Hội Nhà văn Việt Nam
4 QTG, QLQ - Quyền tác giả, quyền liên quan
5 RIAV - Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt
Nam (tên giao dịch quốc tế làRecording Industry Association of Vietnam)
7 VCPMC - Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả âm
nhạc Việt Nam (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Center for Protection of Music Copyright)
8 VH,TT&DL - Văn hóa, Thể thao và Du lịch
9 VIETRRO - Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam
(tên giao dịch quốc tế là Vietnam Reproduction Right Organization)
10 VLCC - Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt
Nam (tên giao dịch quốc tế làVietnam Literary Copyright Center)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Số lượng hội viên của VLCC từ 2011 – 2015 52 2.2 Số lượng ủy thác quyền của VIETRRO từ 2011 – 2015 53 2.3 Số tiền bản quyền thu được của VCPMC từ 2002 – 2015 57 2.4 Số tiền đã thu và phân phối của RIAV từ 2010 – 2015 61 2.5 Số tiền đã thu được của VIETRRO từ 2011 – 2015 63
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
2.1 Quy trình hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể
2.2 Quy trình thu tiền và phân phối, chi trả của VCPMC 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ đã bắt đầu hình thành và phát triển trên thế giới từ 200 năm trước Tuy nhiên, đại diện tập thể QTG, QLQ là lĩnh vực còn mới và phức tạp đối với Việt Nam, song nó có vai trò ngày càng quan trọng trong việc thực hiện QTG, QLQ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước Sự phát triển của công nghệ mới, internet và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện đã tác động mạnh mẽ đến việc bảo vệ QTG, QLQ Các tác phẩm được truyền đạt với rất nhiều cách thức đa dạng, được sử dụng ở bất cứ thời điểm và không gian nào, khiến vi phạm bản quyền có điều kiện phát triển Việc quản lý sao cho QTG, QLQ được tôn trọng, đồng thời quyền của người sử dụng cũng được đảm bảo, theo cách truyền thống, hầu như là không thể Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới đã khẳng định, trong nhiều trường hợp, việc tự quản
lý QTG, QLQ tỏ ra không hiệu quả bằng hình thức đại diện tập thể QTG, QLQ Đó
là việc các chủ sở hữu QTG, QLQ ủy thác cho một tổ chức để thay mặt mình đàm phán, cấp phép, thu và phân phối tiền nhuận bút, thù lao từ việc sử dụng tác phẩm
Hệ thống tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ ở Việt Nam đã từng bước hình thành, phát triển với năm tổ chức, gồm: Trung tâm Bảo vệ QTG âm nhạc Việt Nam (VCPMC, thành lập năm 2002), Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV, thành lập năm 2003), Trung tâm QTG văn học Việt Nam (VLCC, thành lập năm 2004), Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam (VIETRRO, thành lập năm 2010), Hội Bảo vệ quyền của nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc Việt Nam (APPA, thành lập năm 2015) Đây là các tổ chức phi Chính phủ, phi lợi nhuận, do các chủ thể quyền thỏa thuận xin phép thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật để bảo vệ QTG, QLQ
Hiện nay, hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền QTG, QLQ ở Việt Nam đang gặp khó khăn, phát sinh nhiều vấn đề cần tháo gỡ; sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc quản lý nhà nước đối với các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ cũng chưa hiệu quả Điều này ảnh hưởng tới sự phát triển lành
Trang 12mạnh của các quan hệ xã hội về đại diện tập thể QTG, QLQ, gây thiệt hại tới lợi ích của chủ thể quyền, lợi ích của người sử dụng cũng như lợi ích của Nhà nước và công chúng hưởng thụ
Vấn đề này càng trở nên bức xúc hơn, khi Việt Nam đã là thành viên của nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương về QTG, QLQ, là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và ngày càng hội nhập sâu, rộng với quốc
tế Theo đó, các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ còn có nghĩa vụ bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Việt Nam ở nước ngoài cũng như của cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam Việc bảo hộ QTG, QLQ tại quốc gia có hiệu quả sẽ khuyến khích các hoạt động sáng tạo, tạo môi trường đầu tư an toàn để thu hút các nhà đầu tư góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Như vậy, để đảm bảo việc thực hiện QTG, QLQ, “làm tốt công tác bảo vệ bản QTG” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, “thực hiện chính sách bảo hộ quyền SHTT” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam và “nâng cao ý thức chấp hành và hiệu lực thực thi tốt pháp luật về SHTT” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện tốt Chỉ thị 36/2008/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý
và thực thi bảo hộ QTG, QLQ Chính vì vậy, tăng cường hoạt động quản lý của các
tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ là một đòi hỏi khách quan, vừa có ý nghĩa cấp thiết, vừa mang ý nghĩa lâu dài
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn
đề lý luận và thực tiễn hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam hiện nay
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Trang 13Thứ nhất, nghiên cứu, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của các tổ chức đại
diện tập thể QTG, QLQ; khái niệm, đặc điểm về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ; giới thiệu khái quát về các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam hiện nay; nêu ra các mô hình và cách thức hoạt động các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ ở một số quốc gia trên thế giới và những vấn đề có thể nghiên cứu và vận dụng tại Việt Nam
Thứ hai, tổng hợp, phân tích các quan hệ xã hội về các tổ chức đại diện tập thể
QTG, QLQ tại Việt Nam, từ đó phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ; làm rõ những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó
Thứ ba, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ
chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ và thực trạng hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam hiện nay
Phạm vi: Trong phạm vi một luận văn thạc sĩ luật và với khả năng cho phép, tác giả tập trung nghiên cứu nội dung cơ bản về các hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ, đặc biệt là từ khi Luật SHTT có hiệu lực đến nay (2006 - 2016)
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên phương diện nghiên cứu nói chung và với phạm vi luận văn thạc sĩ luật học nói riêng, đến nay, đề tài là một lĩnh vực khá mới mẻ và hiện có ít công trình nghiên cứu, sách tham khảo và bài viết liên quan đến vấn đề hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ
Về công trình nghiên cứu, có thể kể đến đề tài “Hoàn thiện và nâng cao
năng lực, hiệu quả hoạt động của các hệ thống hỗ trợ thực thi QTG ở Việt Nam”
của Tiến sĩ Vũ Mạnh Chu (thuộc đề tài Nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp quốc gia, QGTĐ.03.05: “Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật về bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, Đại học quốc gia Hà Nội)
Trang 14Sách tham khảo chuyên đề về vấn đề này cũng chỉ có cuốn “Quản lý tập thể
QTG và QLQ” của Tiến sĩ Mihaly Ficsor, do Cục Bản quyền tác giả dịch và xuất
bản năm 2006
Các bài viết về đại diện tập thể QTG, QLQ không nhiều, có thể kế đến:
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống quản lý tập thể QTG” của Tiến
sĩ Vũ Mạnh Chu (Tạp chí âm nhạc và thời đại, số quý 4 – 2003); “GEMA – tổ chức
quản lý tập thể QTG âm nhạc CHLB Đức” của tác giả Vũ Ngọc Hoan (Website
Quyền tác giả Việt Nam, tháng 5/2007); “Mô hình tổ chức quản lý tập thể của Thụy
Điển” của tác giả Hoàng Thị Thanh Hoa (Website Quyền tác giả Việt Nam, tháng
3/2015; “Hội thảo về các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ” tháng 10/2016
Các công trình, tài liệu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích, lý giải nhiều vấn
đề về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ ở Việt Nam
Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu về QTG, QLQ ở Việt Nam những
năm gần đây như: Đề án do Đảng, Quốc hội chủ trì về “Hoàn thiện pháp luật về sở
hữu đối với một số loại tài sản mới” (2009); Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả
Hoàng Minh Thái về “Thực hiện pháp luật về bảo hộ QTG ở Việt Nam hiện nay” (2010); Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Kim Oanh về “Quản lý Nhà
nước bằng pháp luật về QTG ở Việt Nam” (2009); Luận văn thạc sĩ luật học của tác
giả Phạm Thanh Tùng về "Hoàn thiện pháp luật về quản lý tập thể QTG ở Việt Nam
hiện nay” (2011) v.v ; Các sách tham khảo như “Sáng tạo văn học nghệ thuật và QTG ở Việt Nam”, “Hài hòa lợi ích bản quyền”, “Pháp luật và thực thi” của Tiến sĩ
Trang 15Vũ Mạnh Chu và một số tài liệu hội thảo khoa học có liên quan v.v cũng có đề cập
đến vấn đề hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ
Có một số công trình nghiên cứu như: Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả
Phạm Thị Hồng về “Cơ sở lý luận xây dựng pháp luật về tổ chức và hoạt động của
hội ở Việt Nam hiện nay” (2003); Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Hải
Ninh về “Hoàn thiện pháp luật về hội đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế ở
Việt Nam hiện nay” (2006); Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Quốc Hùng về
“Tăng cường quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi Chính phủ ở Việt Nam”
(2006)… lại chủ yếu đề cập đến vấn đề thành lập, hoạt động và quản lý hội ở Việt Nam nói chung mà chưa đề cập cụ thể đến các hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ với những điểm đặc thù riêng
Như vậy, ở Việt Nam hiện chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu toàn diện về vấn đề hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ Tuy nhiên, những công trình khoa học đã được công bố nêu trên là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của luận văn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửa của chủ nghĩa Mac-Lenin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời, tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến lĩnh vực này
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp: Phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, quy nạp, diễn dịch và phương pháp lịch sử cụ thể
6 Tính mới và những đóng góp về khoa học của đề tài
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ luật học nghiên cứu tương đối toàn diện, hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ Vì vậy luận văn có một số đóng góp về khoa học như sau:
Trang 16- Về tư liệu: Hệ thống hóa các tư liệu, tài liệu, văn bản pháp lý về hoạt động
của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam
- Về nội dung:
Thứ nhất, góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về các tổ chức đại diện tập thể
QTG, QLQ và hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ; đưa ra khái niệm, chỉ rõ đặc điểm, nội dung, vai trò của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ
và hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ
Thứ hai, thông qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của
các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam, luận văn đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ hiện hành
Thứ ba, qua nghiên cứu về lý luận, thực trạng hoạt động của các tổ chức đại
diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam, kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ ở một số quốc gia trên thế giới, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa của luận văn
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận
về các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; cho việc giảng dạy pháp luật trong các trường Đại học
và Cao đẳng và cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này
8 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn dự kiến kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ
Chương 2: Cơ sở pháp lý, phạm vi và thực trạng hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ tại Việt Nam
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẠI
DIỆN TẬP THỂ QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN
1.1 Khái niệm và đặc điểm về hoạt động của các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả, quyền liên quan
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quyền tác giả
a Khái niệm quyền tác giả
Trong suốt chiều dài lịch sử của nền văn minh nhân loại, sự giàu có dựa vào chiếm hữu tài sản vất chất, đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình trạng phát triển kinh tế Tuy nhiên, ngày nay quan niệm này đã thay đổi, tài sản dựa vào tri thức đã trở thành nguồn của cải mới, là động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội Nền kinh tế được xây dựng bằng gạch vữa đang được thay thế bằng nền kinh tế của những ý tưởng, trong đó SHTT nói chung, QTG, QLQ nói riêng trở thành một trong các loại tài sản chủ yếu Ông Kamil Idrid, nguyên Tổng Giám đốc Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đã nói: “Trong nền kinh tế mới, sự thịnh vượng được tạo ra thông qua sáng tạo và nắm bắt giá trị của tri thức”
[34, tr.55]
Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo, với hàm lượng chất xám của lao động được kết tinh ở các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được thừa nhận là tài sản và được gọi là tài sản trí tuệ Sở hữu tài sản trí tuệ thường được gọi là SHTT SHTT là phạm trù rộng bao gồm các lĩnh vực khác nhau như QTG, QLQ, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng
QTG là một trong những quyền con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn chung về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 10/12/1948 QTG có quá trình hình thành, phát triển từ cách đây hơn 300 năm, bắt nguồn từ phán quyết của Toà án nước Anh về độc quyền in ấn của Công ty Stationer
Trang 18Theo đó, hệ thống luật án lệ đã có bước phát triển đầu tiên về QTG khi vào năm 1710, Nghị viện Anh đã ban hành đạo luật Anne nhằm kiểm soát hoạt động in
ấn độc quyền Đạo luật này đã tạo ra bước ngoặt cơ bản ở việc trao quyền in ấn tác phẩm cho tác giả, với thời hạn bảo hộ QTG là 14 năm và có thể được gia hạn 14 năm tiếp theo “Thời kỳ đầu tiên, QTG chỉ liên quan đến các tác phẩm in ấn và độc quyền của tác giả chỉ giới hạn ở quyền xuất bản và bán những ấn phẩm đó Sau đó, phạm
vi các tác phẩm được bảo hộ và các quyền của tác giả đều được mở rộng” [47, tr.14]
Cùng với hệ thống luật án lệ, hệ thống luật thành văn cũng hình thành các quy định về QTG, bắt nguồn từ cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 “Với cách tiếp cận từ các quyền tự nhiên, quyền đối với tác phẩm được coi là loại quyền “đặc biệt” của các cá nhân là tác giả của tác phẩm được sáng tạo từ lao động của tư duy,
đó là quyền sở hữu riêng tư và thiêng liêng đối với tác phẩm” [18, tr.7]
Với tư cách là một trong những quyền con người, QTG được hiểu là các độc quyền của tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học do họ sáng tạo
ra Các quyền này được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo hộ Trong một số công trình nghiên cứu hoặc bài nói, bài phát biểu thì thuật ngữ “bản quyền” cũng được sử dụng với nghĩa như thuật ngữ “QTG”
Trong Từ điển tiếng Việt không có thuật ngữ “QTG” mà chỉ có thuật ngữ
“quyền”: “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [64, tr.815] và thuật ngữ “tác giả”: “người sáng tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học nào đó” [64, tr.822-823] Vậy, theo Từ điển tiếng Việt thì chúng ta có thể hiểu QTG là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho người sáng tạo ra một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học nào đó được hưởng, được làm, được đòi hỏi
Còn theo Từ điển Luật học, QTG có thể được hiểu là:
1) Tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,
kỹ thuật; 2) Quyền của tác giả đã trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản gắn liền với các quyền nhân thân đó [63, tr.655]
Trang 19Như vậy, chúng ta có thể hiểu QTG theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng Theo nghĩa rộng, QTG là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm Còn theo nghĩa hẹp, QTG là quyền của người sáng tạo đối với tác phẩm của mình
Theo nghĩa hẹp, QTG bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm của họ Những quyền này giúp cho tác giả có thể kiểm soát việc sử dụng tác phẩmcủa mình Các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm thuộc QTG
có thể được chuyển nhượng, thừa kế hoặc các hình thức chuyển giao khác theo quy định pháp luật Người nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền thuộc QTG là chủ sở hữu QTG và cũng được bảo hộ theo quy định pháp luật Như vậy, tổ chức,
cá nhân có tác phẩm được bảo hộ QTG gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu QTG Do đó, khái niệm QTG cũng cần được hiểu rộng hơn, đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
Theo nghĩa rộng, chúng ta có thể hiểu:
QTG là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật xác nhận và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và các quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm hại [60, tr.314]
Như vậy, theo nghĩa hẹp thì ta có thể hiểu: QTG là quyền của cá nhân, tổ
chức đối với tác phẩm do họ sáng tạo ra hoặc sở hữu Còn theo nghĩa rộng thì: QTG là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
từ việc cá nhân sáng tạo ra tác phẩm Trong Luận văn này, QTG thường được hiểu
theo nghĩa hẹp
b Đặc điểm quyền tác giả
Thứ nhất, QTG phát sinh một cách tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo
và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, phương tiện, ngôn ngữ Việc bảo hộ này không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký Ví dụ: Khi một
Trang 20người sáng tác ra một bản nhạc, không phụ thuộc vào nhạc sĩ đó đã đem đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả hay chưa, đã công bố tác phẩm hay chưa công bố thì tác phẩm đó đã được pháp luật bảo hộ Tác giả của tác phẩm đó đương nhiên được
hưởng các quyền theo quy định của pháp luật
Thứ hai, QTG bị giới hạn về không gian và thời gian
Về không gian, bảo hộ QTG mang tính chất lãnh thổ, QTG chỉ có hiệu lực trong phạm vi từng lãnh thổ quốc gia Điều này có nghĩa là sẽ chỉ được bảo hộ QTG nếu nó đáp ứng các yêu cầu pháp lý của pháp luật quốc gia nơi yêu cầu bảo hộ QTG có thể được bảo hộ mở rộng ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia thông qua các cam kết song phương và đa phương
Về thời gian, tác giả chủ sở hữu QTG được bảo hộ quyền tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, sau thời gian đó tác phẩm thuộc về công cộng Khi đó, công chúng được tự do sử dụng tác phẩm mà không phải xin phép và trả tiền bản quyền nữa Thời hạn bảo hộ QTG tùy thuộc pháp luật các quốc gia quy định Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân thường là vĩnh viễn Có hai nguyên tắc tính thời hạn bảo hộ quyền tài sản Nguyên tắc thứ nhất là tính theo đời người, tức là thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm là suốt cuộc đời tác giả và một số năm nhất định Thông thường pháp luật các nước quy định thời hạn này là 50 năm Tuy nhiên, xu hướng hiện nay của các nước Châu Âu là 70 năm Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ đối với loại hình này
là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết Nguyên tắc thứ hai là thời hạn bảo hộ sẽ là một số năm nhất định tính từ thời điểm công bố hoặc định hình Pháp luật Việt Nam quy định thời hạn bảo hộ đối với loại hình này đối với một số loại hình tác phẩm như điện ảnh, mỹ thuật ứng dụng, nhiếp ảnh là 75 năm kể từ khi công bố, trong trường hợp tác phẩm chưa công bố trong vòng 25 năm kể từ khi định hình thì thời hạn bảo hộ là 100 năm kể từ khi định hình
Thứ ba, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao
chép, bắt chước tác phẩm khác Điều đó không có nghĩa là ý tưởng của tác phẩm phải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính tác giả sáng tạo ra Như vậy, một tác phẩm muốn được bảo hộ, phải do chính sức lao động trí
Trang 21óc của tác giả tạo ra Tính nguyên gốc không có nghĩa là không có kế thừa Ví dụ
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du là chuyển thể thơ của tiểu thuyết “Đoạn trường Tân thanh” của Thanh Tâm Tài Nhân Nhưng cả Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều được công nhận là tác giả của các tác phẩm của mình
Thứ tư, QTG là tài sản vô hình nên có thể được khai thác sử dụng trong cùng
một thời gian bởi nhiều chủ thể khác nhau ở nhiều nơi
1.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm quyền liên quan
a Khái niệm quyền liên quan
Bên cạnh tác giả, phải kể đến những người có sự đóng góp công sức của mình trong việc truyền bá tác phẩm đến với công chúng Trong đa số trường hợp, tác giả sáng tác ra tác phẩm không tự mình phổ biến tác phẩm đến công chúng, mà công việc này thường thông qua các chủ thể khác (gọi chung là những chủ thể của QLQ) thực hiện thông qua năng lực tài chính, thời gian và sự chuyên nghiệp của mình Những người này tuy không trực tiếp sáng tạo ra các tác phẩm, nhưng thông qua các sản phẩm của họ (các cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng) công chúng sẽ tiếp cận được các thành quả sáng tạo của tác giả Các sản phẩm họ làm ra (tiếng hát, làn sóng) cũng có thể bị sao chép, làm lậu Tình hình đó yêu cầu phải có quy định về QLQ Các quyền này ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội khi xuất hiện các hình thức lưu giữ và truyền tải thông tin Nếu không, những người lao động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật không kiểm soát nổi quyền khai thác thành quả lao động của mình - họ là chủ thể của QLQ Việc bảo hộ tốt quyền lợi của những cá nhân, tổ chức này sẽ gián tiếp bảo hộ quyền lợi của tác giả
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau
đây gọi tắt là Luật SHTT) quy định quyền liên quan đến QTG (QLQ) là “quyền của
các tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa” Chủ thể của QLQ
được liệt kê gồm ba nhóm là người biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và
tổ chức phát sóng Có thể dễ dàng nhận thấy các quyền của ba chủ thể nói trên mang tính chất bổ trợ, tồn tại song song với QTG Nếu tác giả sáng tạo ra một tác
Trang 22phẩm mà không có người biểu diễn thì tác phẩm ấy không thể đến được với công chúng Ngay cả khi có người biểu diễn tác phẩm ấy, thì việc truyền bá tác phẩm vẫn mang tính giới hạn về không gian, thời gian Do đó, hoạt động của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, của các tổ chức phát sóng đóng vai trò quan trọng để các tác phẩm được phổ biến rộng rãi
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có trường hợp đối tượng quyền liên quan được tạo ra một cách độc lập, không phụ thuộc vào tác phẩm Ví dụ như đối tượng quyền liên quan đó là bản ghi âm, thì trong một số trường hợp nhất định bản ghi âm này không xuất phát từ một tác phẩm gốc hay chương trình phát sóng như chương trình bóng đá thì chương trình phát sóng này không được xây dựng kịch bản trước hay nói cách khác đối tượng quyền liên quan này không xuất phát từ một tác phẩm Đây
là vấn đề đang được thảo luận tại các diễn đàn quốc tế Trong Luận văn này, quyền liên quan được hiểu theo Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT
Tương ứng với các chủ thể của QLQ, QLQ gồm quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng là 50 năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình, bản ghi âm, ghi hình được định hình nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố, chương trình phát sóng được thực hiện
b Đặc điểm quyền liên quan
QLQ có hai đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, QLQ được hình thành dựa trên việc sử dụng một tác phẩm gốc Ví
dụ ca sỹ trình bày một bài hát của nhạc sỹ sáng tác Vì thế chủ thể QLQ có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu QTG gốc Việc công nhận và bảo hộ QLQ không được làm ảnh hưởng đến QTG đối với tác phẩm Ví dụ, trình diễn một tác phẩm chưa được công bố, phổ biến phải có sự đồng ý của chủ sở hữu QTG và trả thù lao cho tác giả
Thứ hai, cuộc biểu diễn, ghi âm, ghi hình, phát thanh truyền hình cũng phải
có tính nguyên gốc, nghĩa là do chính công sức của người biểu diễn đầu tư, sáng tạo
Trang 23ra Ví dụ, chương trình ca nhạc “Thần tượng Bolero” là do công sức của Đài truyền hình Việt Nam và Công ty Cát Tiên Sa dàn dựng Việc sao chép băng đĩa chương trình này mà không có sự đồng ý của hai chủ thể QLQ trên là xâm phạm QLQ
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
1.1.2.1 Khái niệm tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan
Việc quản lý QTG, QLQ có thể được thực hiện riêng lẻ bởi chính tác giả, chủ
sở hữu QTG, chủ sở hữu QLQ hoặc được thực hiện tập thể thông qua một tổ chức đại diện cho các tác giả, chủ sở hữu QTG, chủ sở hữu QLQ Về nguyên tắc, chủ sở hữu quyền có thể tự do lựa chọn giữa quản lý cá nhân hay quản lý tập thể các quyền của mình Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ trường hợp nào thì các tác giả, chủ sở hữu QTG, chủ sở hữu QLQ đều có thể tự quản lý các quyền của mình Nhu cầu nhanh chóng tiếp cận tác phẩm để sử dụng, nhu cầu sử dụng tác phẩm ở nhiều hình thức khác nhau là đòi hỏi thực tế, trong khi việc tiếp cận với tác giả không phải là
dễ dàng vào bất kỳ thời gian và địa điểm nào Theo C.Mác thì:
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [43, tr.480]
Mặt khác, với tư cách là người sáng tạo, tác giả cần ưu tiên đầu tư thời gian, vật chất, kể cả địa điểm thuận lợi cho lao động tư duy của mình Vì vậy, sự khai thông và thay thế cho việc tự cá nhân đại diện quyền của mình bằng việc ủy quyền cho một tập thể để đại diện mình thực hiện các quyền là cách thức thoả đáng Đây là giải pháp có lợi cho cả người sáng tạo và người sử dụng, cũng như đáp ứng nhu cầu của công chúng về việc được hưởng thụ các tác phẩm
Theo Từ điển tiếng Việt, đại diện (động từ) được hiểu là “thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể làm việc gì”, thuật ngữ này cũng có thể hiểu theo danh từ là
“người được cử thay mặt cho cá nhân hoặc tập thể đi làm việc gì” [64, tr.446] Còn theo Từ điển Luật học, đại diện được hiểu là “việc một người, một cơ quan, tổ chức
Trang 24nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện” [63, tr.225] Theo Từ điển Luật học, thì đại diện có đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Đại diện theo pháp luật do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện theo pháp luật
và người đại diện thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản Như vậy, ta có thể hiểu đại diện là việc thay mặt hoặc nhân danh cho một cá nhân hoặc một tập thể để xác lập, thực hiện một công việc nhằm mục đích bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc tập thể đó
Khác với đại diện trong luật dân sự được chia ra với hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền, còn đối với đại diện QTG, QLQ chỉ có một hình thức duy nhất là chủ sở hữu quyền sẽ ủy quyền cho người đại diện (tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ) Nếu phạm vi đại diện trong luật dân sự rất rộng, bao gồm: tất cả các giao dịch dân sự trong đời sống, kinh tế - xã hội với mục đích vì lợi ích của người được đại diện, còn phạm vi đại diện QTG, QLQ cũng chỉ trong giới hạn từ việc cho phép khai thác các ủy được ủy quyền mà thôi
Cũng theo Từ điển tiếng Việt: tập thể (danh từ) là “tập hợp những người có quan
hệ gắn bó, cùng sinh hoạt hoặc cùng làm việc chung với nhau”; thuật ngữ này cũng có thể được sử dụng làm tính từ, là “thuộc về tập thể, có tính chất tập thể” [64, tr.901]
Như vậy, đại diện tập thể QTG, QLQ là việc thay mặt hoặc nhân danh cho những tác giả, chủ sở hữu QTG, QLQ theo uỷ quyền nhằm quản lý một, hoặc một số quyền của chủ sở hữu QTG, chủ sở hữu QLQ thông qua một tổ chức đại diện tập thể được thành lập hợp pháp
Trong cơ cấu của một tổ chức đại diện tập thể, chủ sở hữu quyền ủy quyền cho các tổ chức đại diện tập thể giám sát việc sử dụng tác phẩm của họ, thương lượng với những người sử dụng tiềm năng, cấp phép cho họ với mức thù lao hợp lý dựa trên một hệ thống biểu giá và theo những điều kiện thích hợp, thu tiền thù lao
và phân bổ khoản tiền ấy cho các chủ sở hữu quyền [31, tr.18]
Trang 25Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm “đại diện tập thể quyền” và “cấp phép quyền kiểu trung gian” Có nhiều người nhầm tưởng “đại diện tập thể quyền” chính là “cấp phép quyền kiểu trung gian” hoặc tương tự là thế “Cấp phép quyền kiểu trung gian là một hệ thống liên đới trong đó nghĩa vụ duy nhất là thu và chuyển giao tiền bản quyền nhanh nhất và chính xác nhất với mức chi phí thấp nhất có thể, càng cân xứng với giá trị và công dụng thực tế của sản phẩm càng tốt” [31, tr.11] Như vậy, có thể hình dung hoạt động của “cấp phép quyền kiểu trung gian” giống với mô hình đại diện tập thể Tuy nhiên, trong “cấp phép quyền kiểu trung gian”, đây là nghĩa vụ duy nhất, còn trong “đại diện tập thể”, việc thu tiền bản quyền, phân phối lại chỉ là một phần trong các nghĩa vụ phải thực hiện “Cấp phép quyền kiểu trung gian” quan tâm đến quyền hưởng thù lao của chủ sở hữu “Đại diện tập thể” quan tâm đến quyền của chủ sở hữu Một tổ chức đại diện tập thể thực sự không chỉ
là một bộ máy thu - chi mà còn tích cực thúc đẩy quyền lợi tinh thần của chủ sở hữu quyền Nó có mục tiêu chung rõ ràng, nhằm đến một sự thừa nhận về mặt xã hội và pháp lý tốt hơn đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên, thúc đẩy
sự sáng tạo của thành viên
Điểm khác biệt lớn nhất của đại diện tập thể so với cấp phép kiểu trung gian chính là yếu tố “tập thể”, sau lưng nó là một tập thể thật sự chứ không chỉ là một cơ quan được ủy quyền quản lý Hệ thống liên đới cấp phép kiểu trung gian chỉ là một thực thể đứng ra với tư cách đại diện, thực hiện công việc được xác định của những chủ thể trao quyền Trong khi đó, đại diện tập thể được hình thành với một tập thể thực sự, cử ra một số cơ quan thường trực chuyên làm các nhiệm vụ chính được tập thể đó phân cấp Có thể hình dung: “cấp phép quyền kiểu trung gian” như một tổ chức để thực hiện “dịch vụ” thu và cấp tiền bản quyền cho các chủ sở hữu quyền; còn “đại diện tập thể” là một tổ chức như một “ban giám đốc” thực hiện các công việc được “đại hội đồng cổ đông” là tập thể các chủ sở hữu quyền ủy thác trong công ty cổ phần
Hai mô hình này có thể cùng tồn tại và hoạt động bên nhau theo kiểu “chung sống hòa bình”, thậm chí họ có thể thành lập liên minh hoặc hợp tác thực hiện
Trang 26những quyền nhất định Tuy nhiên, do sự khác biệt về chiến lược và mục tiêu, hai
hệ thống này có thể xảy ra mâu thuẫn, cạnh tranh Tại các quốc gia có truyền thống luật thành văn, nơi hệ thống QTG coi người sáng tạo là trung tâm, việc liên đới quản lý quyền thường được phát triển toàn diện cả về mặt vật chất và tinh thần, nên những tổ chức đại diện tập thể chiếm ưu thế hơn cấp phép quyền kiểu trung gian
Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thì “đại diện tập thể” được khái niệm là “việc thực thi QTG, QLQ của các tổ chức thay mặt chủ sở hữu QTG và các
tổ chức này hành động vì lợi ích của các chủ sở hữu quyền đó” [72 ] Các tổ chức phi chính phủ được thành lập để thực hiện công việc đại diện sẽ được gọi là tổ chức đại diện tập thể Như vậy, hiểu đơn giản thì đại diện tập thể là việc đại diện cho một hoặc một số tác giả, chủ sở hữu QTG, QLQ thông qua một tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ được thành lập hợp pháp [72]
Hiện nay, chúng ta sẽ bắt gặp các thuật ngữ khác ngoài thuật ngữ “đại diện tập thể” là “quản lý tập thể” và “quản trị tập thể” Người ta sẽ dùng nhiều thuật ngữ quản lý tập thể hơn quản trị tập thể Có ba lý do biện hộ cho việc thay thế từ “quản trị” bằng từ “quản lý”: thứ nhất, nó mang một hàm ý “chính thức” về nguy cơ bị lẫn lộn với “các thiết chế quản trị QTG” của nhà nước (một cách diễn đạt thường xuyên được sử dụng để chỉ các cơ quan chức năng trong bộ máy chính quyền chuyên thực hiện các chức năng nhà nước trong lĩnh vực QTG); thứ hai, từ “quản trị” không diễn đạt được đầy đủ bản chất tích cực cần thiết trong quá trình hoạt động của các tổ chức cùng nhau thực hiện quyền Và thứ ba, trong tiếng Anh, cách nói “collective management” phù hợp hơn với cách nói trong tiếng Pháp được sử dụng khá thống nhất “gestion collective” (cũng như tương đương với cụm từ tiếng Tây Ban Nha là
“gestión colectiva” - vốn dễ chấp nhận hơn và được sử dụng phổ biến hơn cụm
“admin istración colectiva”) [31, Tr.10]
Pháp luật SHTT nước ta thì lại không định nghĩa thế nào là quản lý tập thể
mà chỉ nêu khái niệm của tổ chức đại diện tập thể tại Khoản 1 Điều 56 Luật SHTT
như sau: “Tổ chức đại diện tập thể QTG, QLQ là tổ chức phi lợi nhuận do các tác