1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội) tt

62 479 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hậu quả có vụ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng của nhà nước, các tổ chức, các nhân, nhiều doanh nghiệp đứng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THANH TÙNG

TRáCH NHIệM HìNH Sự ĐốI VớI TộI LừA ĐảO CHIếM ĐOạT TàI SảN THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG VĂN HÙNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thanh Tùng

Trang 4

SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 8 1.1 Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản -

Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, các biện pháp cưỡng chế và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, các biện pháp cưỡng chế của trách

nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt 8 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, hình thức của trách nhiệm hình sự

và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 19

1.2 Cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản 24 1.3 Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

trong luật hình sự một số nước 40

1.3.1 Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong

Bộ luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa 40 1.3.2 Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong

Bộ luật hình sự Thụy Điển 43

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TNHS ĐỐI

VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN (TỪ SỐ LIỆU

THỰC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI) VÀ MỘT

SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG

CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC ÁP DỤNG TNHS ĐỐI VỚI

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢNError! Bookmark not defined

2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (trên cơ sở thực tiễn địa bàn

thành phố Hà Nội) Error! Bookmark not defined

2.1.1 Thực tiễn định tội danh đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảnError! Bookmark not defined

2.1.2 Thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế của TNHS đối với

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Error! Bookmark not defined

2.2 Những hạn chế trong việc xác định trách nhiệm hình sự đối

với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Error! Bookmark not defined

2.2.1 Hạn chế trong định tội danh Error! Bookmark not defined

2.2.2 Hạn chế trong quyết định hình phạt Error! Bookmark not defined

2.2.3 Hạn chế trong áp dụng các biện pháp tư phápError! Bookmark not defined

2.3 Những biện pháp khắc phục những hạn chế trong quy định

về trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

trong Bộ luật hình sự Việt Nam Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN CHUNG Error! Bookmark not defined

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự CHND: Cộng hòa nhân dân TAND: Tòa án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự THTT: Tiến hành tố tụng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong pháp luật hình sự, việc xác định Trách nhiệm hình sự của một tội phạm hay một nhóm tội phạm là rất quan trọng bởi trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản và quan trọng của Luật hình sự Việt Nam Tính chất và mức độ thể hiện của các nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam như pháp chế, nhân đạo, dân chủ xã hội chủ nghĩa phụ thuộc chủ yếu vào việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự Việc xác định đúng trách nhiệm hình sự cho một loại tội phạm là kết quả phản ánh chính xác hiệu quả của nhà làm luật cũng như phát huy được tác dụng răn đe của pháp luật hình

sự trong việc phòng chống tội phạm Đối với các loại tội phạm xâm phạm sở hữu thì trách nhiệm hình sự được quy định có nhiều mức độ khác nhau Hình phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ và cao nhất là tử hình Trong đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1999 có năm khung hình phạt và mức cao nhất là chung thân (Bộ Luật Hình Sự của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Số 15/1999/QH10 Sửa đổi bổ sung 2009/QH12 Ngày 19/6/2009 đã bỏ hình phạt tử hình)

Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất của cả nước,

là nơi diễn các hoạt động kinh tế lớn, dân cư từ các tỉnh thành di chuyển và tập trung sinh sống, học tập tại Hà Nội chiếm tỷ lệ cao, vì vậy nhu cầu xã hội

về mọi mặt tại Hà Nội là rất lớn Trong những năm qua, loại tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Hà Nội diễn biến theo chiều hướng gia tăng và thường xuyên với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Từ hành vi phạm tội, chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng, phong phú Các đối tượng phạm tội thường lợi dụng những sơ hở phát sinh trong nền

Trang 9

kinh tế thị trường, lợi dụng lòng tin, nhu cầu xã hội và thông qua các giao dịch dân sự, quan hệ kinh tế… để thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả có vụ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, làm ảnh hưởng đến nền kinh tế thị trường, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng của nhà nước, các tổ chức, các nhân, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, gây mất trật tự an ninh và làm hoang mang tâm lý của người dân

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quy định về trách nhiệm hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” còn chưa hợp lý, chưa phù hợp với tình hình tội phạm thực tế, việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với loại tội này trên cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc phòng chống loại tội phạm này ở nước ta và Hà Nội chưa được nâng cao, chưa đủ tính răn đe Bởi vậy, tác giả quyết định chọn đề tài

“Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)” làm đề tài tốt

nghiệp cao học Luật Việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về Trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng là việc làm hết sức cần thiết Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự

2 Tình hình nghiên cứu

Trách nhiệm hình sự là một vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Ở nước ta tính đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNHS được công bố, đáng chú ý là các công

Trang 10

trình như: Trách nhiệm hình sự và hình phạt do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2001) chủ biên, NXB CAND, Hà Nội; Trách nhiệm hình sự và miễn trách

nhiệm hình sự của các tác giả GS.TSKH Lê Cảm (chủ biên), TS Phạm

Mạnh Hùng, TS Trịnh Tiến Việt (2005), NXB Tư Pháp, Hà Nội; Tội phạm

và TNHS của tác giả TS Trịnh Tiến Việt (2013), NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội; Luận án tiến sĩ Chế định TNHS theo luật hình sự Việt Nam của tác giả Phạm Mạnh Hùng, bảo vệ tại Trường đại học Luật Hà Nội năm 2004; Về

TNHS của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt của GS.TSKH

Lê Cảm, tạp chí Luật học, số 4/2012; Chế định miễn TNHS trong luật hình

sự Việt Nam của tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, tạp chí Khoa học, số

4/2017; Về chế định miễn TNHS trong BLHS năm 1999 của PGS.TS Phạm Hồng Hải, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12/2001; Chương 12: Trách

nhiệm hình sự và hình phạt, giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập I) của

Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015… Trong đó, luận án tiến sĩ Chế định

TNHS theo luật hình sự Việt Nam của tác giả Phạm Mạnh Hùng, bảo vệ tại

Trường đại học Luật Hà Nội năm 2004 là một công trình nghiên cứu về vấn

đề trách nhiệm hình sự khá đầy đủ, toàn diện

Các nghiên cứu về các tội xâm phạm sở hữu trong đó có tội Lừa đảo

chiếm đoạt tài sản đáng chú ý như: Định tội danh đối với các tội xâm phạm

sở hữu của TS Lê Đăng Doanh (2013), NXB Tư pháp, Hà Nội, trong đó,

tác giả phân tích các dấu hiệu đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời phân tích các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên thực tế mà còn

có nhiều ý kiến về vấn đề định tội danh, qua đó đưa ra quan điểm của cá

nhân đối với từng vụ việc; Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt

tài sản, PGS.TS Cao Thị Oanh (2015), NXB Tư Pháp, Hà Nội, trong đó,

tác giả đã đưa ra một số vấn đề vướng mắc về thực tiễn định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài

Trang 11

sản dựa trên kết quả khảo sát 100 bản án về tội lùa đảo chiếm đoạt tài sản

trên cả nước, đồng thừi kiến nghị các giải pháp khắc phục cụ thể; Bình luận

khoa học BLHS Việt Nam năm 1999 của tác giả Nguyễn Mai Bộ (2001),

NXB CAND, Hà Nội; Cần xác định hành vi chiếm đoạt trong trường hợp

không có khả năng trả nợ của tác giả Đinh Văn Quế, tạp chí Tòa án nhân

dân, số 12/1995; Bàn về yếu tố chiếm đoạt tài sản trong các tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của tác giả Nguyễn

Thị Phương Thảo, tạp chí Kiểm sát, số 9, tháng 5/2012; Các tội xâm phạm

sở hữu trong BLHS năm 1999 của tác giả Trương Quang Vinh, tạp chí Luật

học, số 4/2000; Thực trạng tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có

sử dụng công nghệ cao và một số giải pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm này ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO của tác giả Lê Đăng

Doanh; các luận văn, luận án như: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, những

vấn đề lí luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ, Trần Thị Phương Hiền, 2007; Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ; Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, Lê Đăng Doanh, 2008; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Nam Định, luận văn thạc sĩ, Nguyễn Tiến Dũng, 2014…

Các công trình này nghiên cứu vấn đề TNHS và về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một cách độc lập trên nhiều góc độ Tuy nhiên, có thể nói rằng

chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể về “Trách

nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự” với tư cách là một đề tài độc lập, chuyên biệt Vì vậy, việc tiếp tục

nghiên cứu về đề tài này là cần thiết

3 Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 12

lý luận và thực tiễn các quy định và việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự

để từ đó tìm ra những điểm còn tồn tại, bất cập và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện về mặt lập pháp có liên quan đến trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, qua đó nâng cao hiệu qua áp dụng nó trong thực tiễn và góp phần nâng cao chất lƣợng giải quyết các vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

+ Đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng hình

sự ở Việt Nam;

+ Đƣa ra giải pháp hoàn thiện các quy định của Luật hình sự Việt Nam

về trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và giải pháp nâng cáo hiệu quả thực tiễn áp dụng những quy định đó của các cơ quan tiến hành tố tụng

Đối tượng: đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Bộ

luật hình sự về trách nhiệm hình sự, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 100 bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm

2010 đến năm 2016

Phạm vi: Luận văn nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của tội lừa

Trang 13

đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự một cách tổng thể trong phạm vi chung của các giai đoạn tố tụng ở Việt Nam từ năm 1985 đến nay Nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự và một số nước về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Đánh giá thực tiễn việc

áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam trong khoảng

thời gian 05 năm trở lại đây

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các khoa học: triết học, luật hình sự, luật TTHS, logic học, tội phạm học, điều tra hình

sự và các học thuyết chính trị pháp lý

Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật hình sự

và việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các cơ quan THTT cũng như các văn bản của 3 ngành Công

an, Kiểm sát, Toà án hướng dẫn về hoạt động, điều tra, xử lý vụ án hình sự

Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: hệ thống, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam

Luận văn phát hiện những điểm còn bất cập trong luật hình sự Việt

Trang 14

Nam về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tìm ra những nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định của luật TTHS Việt Nam về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của luật TTHS về đối tượng chứng minh nói chung

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể

được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các cơ quan THTT hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng, sửa đổi BLTTHS và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để hoàn thiện hơn

Về mặt thực tiễn: Các cơ quan THTT có thể khai thác vận dụng

những kết quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình trong việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm hình sự đối với tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản

Chương 2: Thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng trách nhiệm hình

sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1.1 Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - khái niệm, đặc điểm, cơ sở, các biện pháp cưỡng chế và trách nhiệm hình

sự trong một số trường hợp đặc biệt

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự

Theo đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ trách nhiệm được hiểu là: “điều

phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình” [47, tr.1621]

Trong thực tiễn đời sống xã hội chính trị và pháp lí, thuật ngữ “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc nhà nước Ví dụ: trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống, trách nhiệm của

bố mẹ trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục con cái… Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó [19, tr.8]

Trách nhiệm pháp lí trong đó có trách nhiệm hình sự được dùng theo nghĩa thứ hai Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự về khái niệm “trách nhiệm hình sự”, có thể kể đến một vài quan điểm như sau:

Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện [25, tr.14];

Trang 16

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước [45, tr.41];

Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [18, tr.21];

Trách nhiệm hình sự là sự phản ứng của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm, thể hiện tập trung ở sự áp dụng hình phạt với chủ thể

đó [40, tr.157]

Các quan điểm đó tuy có sự khác nhau về một số nội dung như thời điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự, các yếu tố của trách nhiệm hình sự… nhưng tựu chung lại, đa số các quan điểm đều phản ánh thống nhất một số đặc điểm của trách nhiệm hình sự là:

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi

nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự yêu cầu phải thực hiện Điều này có nghĩa, không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể

có trách nhiệm hình sự

Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, chứ không được áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định của pháp luật Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm

Trang 17

được Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự [19, tr.17]

Thứ hai, trách nhiệm hình sự chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách

nhiệm hình sự là kết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các

cơ quan tố tụng có thẩm quyền Quá trình này được thực hiện bởi các cơ quan

có thẩm quyền và phải tuân theo các quy định của luật Tố tụng hình sự về

trình tự, thủ tục… Song, cần lưu ý rằng, “quá trình giải quyết vụ án cùng với

việc áp dụng các biện pháp đó của cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và đủ” [19, tr.31] để có thể truy tố người phạm tội và buộc tội

họ trước Tòa án

Thứ ba, trách nhiệm hình sự được biểu hiện tập trung nhất ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt Trách nhiệm hình sự bao gồm hai nội dung cơ bản là người phạm tội

phải bị kết tội (bởi cơ quan có thẩm quyền duy nhất là Tòa án) và người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp Trong đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội

“Trách nhiệm hình sự có nội hàm rộng hơn hình phạt Hình phạt chỉ là một

dạng đặc trưng, điển hình và phổ biến do Tòa án áp dụng trên thực tế của trách nhiệm hình sự” [46, tr.227] Trong nhiều trường hợp, người phạm tội

được miễn hình phạt Điều đó không đồng nghĩa với việc người phạm tội không có trách nhiệm hình sự, bởi họ vẫn bị Tòa án kết tội, mà chỉ là người phạm tội trong trường hợp đó không phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước do đã thực hiện hành vi phạm tội mà thôi

Trang 18

Thứ tư, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm trước nhà nước chứ không phải với người mà quyền và lợi ích hợp

pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, đó là Nhà nước và

người phạm tội Trong đó “Nhà nước, mà đại diện cho Nhà nước là các cơ

quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền – có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử người phạm tội” [46, tr.225] có nghĩa vụ chỉ được xử lí người phạm tội

dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn của pháp luật quy định:

Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do nhất định, nhưng đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ nghiêm minh, đầy đủ và thực hiện đúng quy định của pháp luật từ phía nhà nước, từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền và từ các cán bộ thực thi pháp luật [46, tr.226]

Thứ năm, trách nhiệm hình sự phải được phản ánh trong bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Như đã trình bày ở nội dung

trên, căn cứ vào kết quả điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án

sẽ ra phán quyết về việc có kết tội người bị truy tố hay không Nếu có đủ cơ

sở, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó Bản án kết tội của Tòa án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía nhà nước và việc phải chịu trách nhiệm hình sự từ phía người phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tòa

án đối với người bị kết tội có hiệu lực pháp luật

Như vậy, từ các phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm trách nhiệm

hình sự như sau: trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, là hậu

quả pháp lí bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước do việc

Trang 19

người đó thực hiện tội phạm, được thể hiện ở việc người phạm tội phải chịu

bị kết tội bởi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp)

1.1.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Cơ sở của TNHS là một trong những vấn đề quan trọng của TNHS

Cơ sở của TNHS bao gồm cơ sở triết học của TNHS, cơ sở pháp lí của TNHS và cơ sở thực tế của TNHS Trong đó, vấn đề cơ sở triết học của

TNHS nhằm giải quyết câu hỏi “dựa trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc

con người phải chịu TNHS về hành vi của họ?” [16, tr.219] Còn vấn đề cơ

sở pháp lí của TNHS nhằm trả lời câu hỏi “căn cứ vào đâu mà Nhà nước có

thể buộc con người phải chịu TNHS về hành vi của mình” [16, tr.219]

Về cơ sở triết học của TNHS: xã hội có thể buộc con người phải chịu

TNHS về hành vi của họ là bởi hành vi của con người vừa có tính tất yếu vừa có tính tự do Tính tất yếu của hành vi của con người thể hiện ở chỗ hành vi được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời những điều kiện xã hội mà được hình thành một cách có quy luật Nó là kết quả của sự tác động qua lại giữa những điều kiện xã hội và con người Nhưng, điều đó không có nghĩa hành vi của con người trong một tình huống cụ thể

là tất yếu, là duy nhất, là không thể tránh được

Mọi xử sự của con người đều chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhưng con người, nhờ hoạt động ý thức, có khả năng nhận thức được quy luật là lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình Đó là sự tự do của con người [16, tr.138] Lí giải cụ thể hơn:

Các nguyên nhân bên ngoài tác động đến con người không phải một cách máy móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và sự quyết định (ý chí) của họ Để thỏa mãn bất kì nhu cầu nào trong

Trang 20

đời sống cũng đều có nhiều biện pháp giải quyết và việc lựa chọn biện pháp nào là kết quả của hoạt động lí trí và ý chí Chính vì vậy, trong những điều kiện khách quan giống nhau, mỗi người có thể lựa chọn biện pháp xử sự khác nhau Con người khi đã có quyền lựa chọn là có tự do [16, tr.139]

Như vậy, tự do là cơ sở triết học của trách nhiệm và tránh nhiệm chỉ đặt ra cho con người khi họ có tự do

Cơ sở pháp lí của TNHS: Theo Điều 2 BLHS năm 1999 thì “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội

phạm không và là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể chưa? Nếu đã thỏa mãn tức là người ấy đã thực hiện tội phạm cụ thể được quy định

trong BLHS và người thực hiện hành vi này phải chịu TNHS Như vậy, “cấu

thành tội phạm là cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự, là điều kiện cần và

đủ của trách nhiệm hình sự” [16, tr.219]

Cơ sở thực tế của TNHS: tội phạm là sự kiện pháp lí làm phát sinh

TNHS Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình

sự [16, tr.50) Cơ sở thực tế của trách nhiệm hình sự “là việc thực hiện hành

vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định” [19, tr.74] Trên thực tế, để có thể xác định một hành vi nào đó là hành

vi phạm tội để áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định được sự thỏa mãn, sự phù hợp của hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự

1.1.1.3 Các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự

Các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự bao gồm hình phạt

Trang 21

Hình phạt: Theo định nghĩa tại Điều 26 BLHS, “Hình phạt là biện pháp

cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và

do Tòa án quyết định” Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất

trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được Nhà nước sử

dụng như là một công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm “Hình

phạt không phải là cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” [16, tr.230] Tính nghiêm

khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị tước bỏ hoặc bạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị, thậm chí cả quyền cơ bản nhất của con người là quyền sống Hình phạt cũng để lại án tích cho người bị kết án Trong BLHS Việt Nam, hình phạt được quy định trong cả phần chung và phần các tội phạm, và Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định hình phạt đối với người phạm tội Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Trong đó:

Hệ thống hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình;

Hệ thống hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền; trục xuất

Biện pháp tư pháp: “Các biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự

được BLHS quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt” [16, tr.257]

Các biện pháp tư pháp có ý nghĩa hỗ trợ cho hình phạt trong những trường hợp cần thiết phải xử lí cơ bản, toàn diện người phạm tội về hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ Trong trường hợp người mắc bệnh tâm thần mất khả

Trang 22

năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi, các biện pháp tư pháp đóng vai trò

thay thế hình phạt “loại bỏ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi nguy hiểm

cho xã hội và thể hiện nội dung cao cả của nguyên tắc nhân đạo Xã hội chủ nghĩa” [16, tr.258]

Trong BLHS Việt Nam, các biện pháp tư pháp bao gồm: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh Đối với người phạm tội chưa thành niên thì các biện pháp tư pháp có thể áp dụng là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng

1.1.1.4 Trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt

Một là: trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm

Theo quy định tại Điều 20 BLHS, đồng phạm là trường hợp có hai

người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Đồng phạm phải thỏa mãn các dấu hiệu khách quan và chủ quan như sau:

Dấu hiệu khách quan đòi hỏi: thứ nhất, có hai người trở lên và tất cả những người tham gia phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm, đó là điều kiện về độ tuổi chịu TNHS và điều kiện về năng lực TNHS; thứ hai, những người này phải cùng thực hiện tội phạm, tức là tham gia vào tội phạm với một trong bốn dạng hành vi: 1) Hành vi thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi

là người thực hành; 2) Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (tổ chức thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi

là người tổ chức; 3) Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (xúi giục người khác thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi là người xúi giục; 4) Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (giúp người khác thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi là người giúp sức Trong vụ đồng

Trang 23

phạm có thể có một loại hành vi nhưng cũng có thể có đầy đủ cả bốn loại hành vi Người đồng phạm có thể tham gia từ đầu, cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc

Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm bao gồm dấu hiệu lỗi và dấu hiệu mục đích

Về dấu hiệu lỗi, đồng phạm chỉ có thể xảy ra với những trường hợp phạm tội với lỗi cố ý Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn

sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác Về lí trí, mỗi người đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và họ đều biết người khác có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Đồng thời, mỗi người đồng phạm đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung hoặc cùng

có ý thức để mặc cho hậu qủa phát sinh

Về dấu hiệu mục đích, đây là dấu hiệu đòi hỏi với những tội có dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc Với những tội này, ngoài dấu hiệu cùng thực hiện và dấu hiệu cùng cố ý, đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích Được coi là cùng mục đích khi những người tham gia đều

có chung mục đích được phản ánh trong cấu thành tội phạm hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó

Khi xác định TNHS trong trường hợp đồng phạm cần lưu ý: về nguyên

tắc, những người đồng phạm phải chịu TNHS đối với tội mà họ cùng phạm Tuy nhiên, khi xác định TNHS của những người đồng phạm cần tuân thủ các nguyên tắc:

1) Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, theo đó tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh, theo

Trang 24

cùng điều luật và trong phạm vi chế tài mà điều luật ấy quy định; các nguyên tắc chung về việc truy cứu TNHS, về quyết định hình phạt, về thời hiệu đối với loại tội những người đồng phạm đã thực hiện được áp dụng chung cho tất cả…

2) Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm Theo nguyên tắc này, những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác; việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừ TNHS của những người đồng phạm khác; hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức dù chưa đưa đến việc thực hiện tội phạm vẫn phải chịu TNHS; sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người đồng phạm này loại trừ TNHS của những người đồng phạm khác…

3) Nguyên tắc cá thể hóa TNHS của những người đồng phạm Thể hiện nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam xác định chính sách hình sự của nhà nước ta là “nghiêm trị kết hợp khoan hồng”, “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối… khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội…” (khoản 2 Điều 3 BLHS)

Bên cạnh hành vi của người đồng phạm, còn có những hành vi khác

liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu “là hành vi cố ý liên quan đến tội

phạm được thực hiện bởi người khác nhưng không có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện tội phạm đó nên họ phải chịu TNHS độc lập về một tội phạm

do Luật hình sự quy định” [6, tr.160] Có ba dạng hành vi, ba tội danh liên

quan đến tội phạm đó là hành vi (tội) che giấu tội phạm (Điều 313), hành vi (tội) không tố giác tội phạm (Điều 314) và hành vi (tội) chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250)

Trang 25

Hai là: TNHS trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Trước hết cần khẳng định, theo lí luận chung được thừa nhận, việc phân chia các giai đoạn phạm tội thành chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành chỉ có thể thực hiện được với những tội được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Trong đó:

Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo

ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó [16, tr.162] Các dạng hành vi chuẩn bị phạm tội có thể

là chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội; tìm kiếm những người đồng phạm; thăm dò địa điểm phạm tội; loại trừ trước những trở ngại khách quan… Vấn

đề trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với người chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng vì chuẩn bị phạm tội là trường hợp có mức

độ nguy hiểm cho xã hội thấp nhất so với phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Hành vi trong chuẩn bị phạm tội chưa trực tiếp xâm hại đến khách thể của tội định thực hiện và riêng hành vi chuẩn bị chưa thể gây ra được những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Do vậy, luật hình sự Việt Nam chỉ đặt vấn đề trách nhiệm hình sự khi tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 17 BLHS) [16, tr.161]

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội phải tuân thủ quy định tại Điều 52 BLHS Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì mức cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu hình phạt cao nhất quy định

là tù có thời hạn thì mức cao nhất được áp dụng là không quá một phần hai mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện

được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội

Trang 26

(Điều 18 BLHS) Đối với phạm tội chưa đạt, luật hình sự Việt Nam không đặt vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự mà xác định

mọi trường hợp phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự “vì đây là

những trường hợp người phạm tội đã có hành vi trực tiếp xâm hại khách thể,

đã trực tiếp đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội” [16, tr.161]

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội phải tuân thủ quy định tại Điều 52 BLHS Theo quy định tại khoản 3 Điều 52 BLHS, đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức cao nhất mà điều luật quy định

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, hình thức của trách nhiệm hình sự

và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối [17, tr.37] Từ khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và khái niệm về TNHS phân tích ở nội dung trước, tác giả xin đưa

ra khái niệm trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một dạng trách nhiệm pháp lí, là hậu quả pháp lí bất lợi mà người có hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải gánh chịu trước nhà nước do việc người đó thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, được thể hiện ở việc người phạm tội phải chịu bị kết tội bởi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu các biện pháp cưỡng chế của

Trang 27

Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hậu quả pháp lí của việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối Hậu quả này chỉ phát sinh khi có sự kiện pháp lí xảy

ra là việc có người thực hiện hành vi bị pháp luật hình sự cấm là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 139 là: tài sản chiếm đoạt có giá trị từ hai triệu đồng trở lên; gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt; đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích

Thứ hai, trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ

có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa

án có nghĩa vụ phải thực hiện

Thứ ba, trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện tập trung nhất ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt Trách nhiệm hình

sự bao gồm hai nội dung cơ bản là người phạm tội phải bị kết tội (bởi cơ quan có thẩm quyền duy nhất là Tòa án) và người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự, bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp Trong đó, theo quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 139 BLHS, các biện pháp cưỡng chế của TNHS đối với tội này bao gồm các hình phạt chính là phạt tù, tù chung thân; các hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các biện pháp tư pháp có thể

áp dụng là: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản,

Trang 28

Thứ tư, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải gánh chịu là trách nhiệm trước nhà nước chứ không phải với người

mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại

Thứ năm, trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải được phản ánh trong bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án

1.1.2.2 Vấn đề cơ sở của TNHS đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Vấn đề cơ sở của TNHS nói chung đã được phân tích tại mục 1.1.1.2 Theo đó, cơ sở của TNHS đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng bao gồm cơ sở triết học của TNHS, cơ sở pháp lí của TNHS và cơ sở thực tế của TNHS Trong đó, có một số điểm cần làm rõ là:

Về cơ sở pháp lí của TNHS đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

như đã phân tích và khẳng định ở nội dung trên, cấu thành tội phạm là cơ

sở pháp lí của trách nhiệm hình sự, là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự Như vậy, cơ sở pháp lí của TNHS đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS

Về cơ sở thực tế của TNHS đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Cơ

sở thực tế của trách nhiệm hình sự là sự kiện pháp lí xảy ra, đó là việc một người thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS (cấu thành tội phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ được phân tích cụ thể tại mục 1.2)

1.1.2.3 Các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp Trong đó:

Các hình phạt chính bao gồm: cải tạo không giam giữ có mức từ 6 tháng đến 3 năm, tù có thời hạn với mức phạt tối thiểu là 6 tháng, tối đa là 20

Trang 29

Các hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm; tịch thu tài sản; phạt tiền;

Các biện pháp tư pháp bao gồm: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; bắt buộc chữa bệnh

1.1.2.4 TNHS đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những trường hợp đặc biệt

Một là: trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Lỗi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý trực tiếp, theo quy

định tại Điều 20 BLHS, Điều 139 BLHS thì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có

thể được thực hiện dưới hình thức đồng phạm Đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Việc xác định đồng phạm cũng như vấn đề TNHS, các nguyên tắc xác định TNHS trong đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương tự như những trường hợp đồng phạm thông thường khác Trong đó, có một số điểm cần lưu ý như sau:

Thứ nhất, về độ tuổi của những người đồng phạm Theo quy định về tuổi chịu TNHS tại Điều 12 BLHS, về phân loại tội phạm theo khoản 3 Điều

8 BLHS và Điều 139 BLHS – tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS theo khoản 1, khoản 2 Điều 139 BLHS Do đó, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không thể là người đồng phạm trong các trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc khoản 1, khoản 2 Điều 139 BLHS

Thứ hai, hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt Do đó, người thực hành trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể thực hiện một trong hai hành vi, đó

là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt chứ không nhất thiết phải thực hiện

Trang 30

Hai là: TNHS trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt

Lỗi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là lỗi cố ý trực tiếp nên có thể phân chia các giai đoạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thành chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành, trong đó:

Chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là giai đoạn trong đó

người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng chưa bắt đầu thực hiện các hành vi đó Các dạng hành vi chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường là chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như chế tạo các thỏi vàng giả để đem đi lừa bán, mua các công cụ để chơi cờ bạc bịp…; tìm kiếm những người đồng phạm; thăm dò địa điểm phạm tội như thăm dò thói quen sinh hoạt của gia đình để nắm được giờ nào, ngày nào chỉ có người giúp việc hoặc người già ở nhà để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản…

Vấn đề trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với mọi người chuẩn bị phạm tội: luật hình sự Việt Nam chỉ đặt vấn đề trách nhiệm hình sự khi tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều

17 BLHS) [16, tr.161] Do đó, người chuẩn bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc khoản 1, khoản 2 Điều 139 BLHS thì không phải chịu TNHS

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội phải tuân thủ quy định tại Điều 52 BLHS Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì mức cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu hình phạt cao nhất quy định

là tù có thời hạn thì mức cao nhất được áp dụng là không quá một phần hai mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định Như vậy, hình phạt cao nhất trong trường hợp chuẩn bị phạm tội thuộc khoản 3 Điều 139 BLHS là không quá 7 năm 6 tháng tù, hình phạt cao nhất trong trường hợp chuẩn bị phạm tội

Trang 31

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện

được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội (Điều 18 BLHS) Đối với phạm tội chưa đạt, luật hình sự Việt Nam không đặt vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự mà xác định mọi trường hợp phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự, do đó, mọi trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đạt phải chịu TNHS

Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội phải tuân thủ quy định tại Điều 52 BLHS Theo quy định tại khoản 3 Điều 52 BLHS, đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức cao nhất mà điều luật quy định Theo đó, trong trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đạt thuộc khoản 1 Điều 139 BLHS thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá 2 năm 3 tháng tù, trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đạt thuộc khoản 2 Điều 139 BLHS thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá 5 năm 3 tháng tù, trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đạt thuộc khoản 3 Điều 139 BLHS thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá 12 năm 9 tháng tù, trường hợp phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đạt thuộc khoản 4 Điều

139 BLHS thì có thể áp dụng hình phạt tù chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng

1.2 Cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Như đã phân tích, để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội phạm không và là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ

ra sao, cần phải xác định hành vi đó thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội

Ngày đăng: 16/05/2017, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Bộ, Nguyễn Thị Tuyết (2012), “Tín dụng đen – một số vấn đề pháp lí cần nghiên cứu”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (8), tr.27-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín dụng đen – một số vấn đề pháp lí cần nghiên cứu”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Mai Bộ, Nguyễn Thị Tuyết
Năm: 2012
2. Lê Cảm (1999), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
3. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự - Phần chung, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự - Phần chung
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Lê Cảm (2006), Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực Tư pháp hình sự (Phần 2: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự), TC. Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực Tư pháp hình sự (Phần 2: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự)", TC. "Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2006
5. Lê Cảm, Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Tiến Việt (2015), Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Tác giả: Lê Cảm, Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2015
6. Nguyễn Ngọc Chí (2000), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2000
7. Lê Đăng Doanh (2004), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan đến lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, TC. Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan đến lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng", TC. "Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2004
8. Lê Đăng Doanh (2006), Về định tội danh đối với hành vi làm, sử dụng thẻ tín dụng giả…, TC. Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về định tội danh đối với hành vi làm, sử dụng thẻ tín dụng giả…", TC. "Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2006
9. Lê Đăng Doanh (2008), Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2008
10. Trần Văn Độ (2007), Chương 5: Trách nhiệm hình sự, sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự", sách: "Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung)
Tác giả: Trần Văn Độ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
11. Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Đinh Bích Hà
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2007
12. Nguyễn Đình Hòa (1999), “Đào Văn Hiệp phạm tội đánh bạc hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân?”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (1), tr.20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Văn Hiệp phạm tội đánh bạc hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân?”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đình Hòa
Năm: 1999
13. Nguyễn Ngọc Hòa (1999), Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Năm: 1999
14. Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và trách nhiệm hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
15. Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Tƣ Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tƣ Pháp
Năm: 2015
16. Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2015), Giáo trình luật hình sự Việt Nam I, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam I
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
17. Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên) (2015), Giáo trình luật hình sự Việt Nam II, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam II
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
18. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn
Nhà XB: Nxb Tƣ pháp
Năm: 2006
19. Phạm Mạnh Hùng (2004), Chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2004
20. Phan Diệu Huyền (2003), “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tội đánh bạc”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (1), tr.32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tội đánh bạc”", Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Phan Diệu Huyền
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w