QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNError!. Chương 3
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ ÁNH TUYẾT
CHøC N¡NG CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N TRONG §IÒU TRA Vô ¸N H×NH Sù Mµ BÞ CAN
Lµ NG¦êI CH¦A THµNH NI£N
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Ánh Tuyết
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 8
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 8 1.1.1 Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ
án hình sự mà bị can là người chưa thành niên 8 1.1.2 Đặc điểm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ
án hình sự mà bị can là người chưa thành niên 14 1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 17 1.2.1 Cơ sở lý luận 17 1.2.2 Cơ sở thực tiễn 22 1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 24 1.3.1 Ý nghĩa chính trị 24
Trang 51.3.2 Ý nghĩa pháp lý 25
1.3.3 Ý nghĩa xã hội 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH Error! Bookmark not defined
2.1 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
NĂM 2003 VÀ NĂM 2015 VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ
CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined
2.1.1 Chức năng thực hành quyền công tố Error! Bookmark not defined
2.1.2 Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Error! Bookmark not defined
2.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined
2.2.1 Những kết quả đạt được Error! Bookmark not defined
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhânError! Bookmark not defined
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ BẢO ĐẢM CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN
HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined 3.1 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ
CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined
Trang 63.1.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sựError! Bookmark not defined 3.1.2 Ban hành các văn bản hướng dẫn Error! Bookmark not defined
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC BẢO ĐẢM CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined 3.2.1 Nâng cao chất lượng cán bộ của ngành Kiểm sátError! Bookmark not defined
3.2.2 Tăng cường về cơ sở vật chất cho ngành kiểm sátError! Bookmark not defined
3.2.3 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụngError! Bookmark not defined
3.2.4 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự mà bị can là
người chưa thành niên Error! Bookmark not defined
3.2.5 Xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niênError! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra
ĐTV: Điều tra viên KSV: Kiểm sát viên NCTN: Người chưa thành niên TAND: Tòa án nhân dân
TTHS : Tố tụng hình sự THQCT: Thực hành quyền công tố VAHS: Vụ án hình sự
VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỉ lệ NCTN phạm tội từ năm 2011 - 2016 51 Bảng 2.2: Tỷ lệ NCTN bị VKS truy tố so với NCTN bị đề nghị truy
Bảng 2.3: Số liệu kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ một số
biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra VAHS mà
bị can là NCTN
Error! Bookmark not defined
Bảng 2.4: Số liệu thống kê số bị can là người chưa thành niên do
CQĐT và VKS đình chỉ
Error! Bookmark not defined
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới” đã đặt ra yêu cầu đối với VKSND các cấp là:
Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ [6]
Sau đó, tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định: “ tăng cường
nhiệm vụ của công tố trong hoạt động điều tra ” [8] và gần đây nhất, tại Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác định:
Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo
vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công
Trang 10Yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi)
và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can là NCTN là thể hiện cụ thể một trong những chức năng của VKS, bảo đảm việc giải quyết vụ án có bị can là NCTN được chính xác, nhanh chóng, đảm bảo quyền con người của NCTN, đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước nhằm góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án
Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong công tác của mình, VKS đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong vụ án hình sự nói chung, cũng như vụ án có bị can là NCTN nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKS vẫn còn có những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình, như: Vẫn còn tình trạng bắt, tạm giam, tạm giữ NCTN chưa đáp ứng được điều kiện, yêu cầu của Bộ luật Tố tụng hình sự; việc tạm giam NCTN còn được áp dụng tương đối phổ biến trong khi đó biện pháp giám sát tại gia đình và cộng đồng thì lại
ít được áp dụng trên thực tế, mặc dù đây là biện pháp tốt đối với quá trình giáo dục, cải tạo đối với NCTN; các quyền cơ bản của NCTN trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đặc biệt là quyền bào chữa của họ vẫn chưa được đảm bảo, điều này dẫn đến tình trạng oan sai, vi phạm quyền con người của NCTN đang còn xảy ra; về đội ngũ cán bộ tư pháp như Điều tra viên, Kiểm sát viên; Thẩm phán chưa được đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, về khả năng giao tiếp, làm việc với NCTN Những bất cập trên vẫn còn xảy ra, và có
xu hướng gia tăng, chính vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu, sửa đổi các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan để hoàn thiện hơn thủ
Trang 11tục tố tụng đối với người thành niên nói chung và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra vụ án có NCTN nói riêng
Từ các lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài "Chức năng của Viện
Kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" làm luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý hình sự, chức năng của VKSND trong điều tra
vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã được một số tác giả trong nước nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau
Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về chức năng của VKSND trong điều tra vụ án hình sự và thủ tục tố tụng đối với NCTN như: luận văn
thạc sỹ của Nguyễn Ngọc Thương với đề tài: Thủ tục TTHS đối với những vụ
án do NCTN thực hiện - Lý luận và thực tiễn năm 2006, Luận án tiến sỹ luật
học của tác giả Đỗ Thị Phượng với đề tài Thủ tục tố tụng đối với NCTN – một
số vấn đề lý luận và thực tiễn năm 2008, Luận văn thạc sỹ của Võ Huỳnh
Ngọc Thủy với đề tài “Thủ tục giải quyết các vụ án đối với người chưa thành
niên (trên cơ sở số liệu của địa bàn tỉnh Bình Dương)” năm 2013, luận văn
thạc sỹ của Bùi Ngọc Tú với đề tài “nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm
sát điều tra” năm 2013, luận văn thạc sỹ của Vũ Thị Anh Đào với đề tài
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với bị can, bị
cáo là NCTN” năm 2014, luận văn thạc sỹ của Trần Quỳnh Hoa với đề tài
“Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng đối với người chưa thành niên” năm 2014, luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Thành với đề tài “Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra các vụ ánh hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2015
Trang 12Về đề tài khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội của tập thể tác giả: Nguyên
tắc nhân đạo trong các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS đối với NCTN ở Việt Nam, năm 2005 Ngoài ra, còn có những nghiên cứu đề cập
đến những vấn đề lý luận chung hoặc nghiên cứu những đề tài khác nhưng có
một số nội dung liên quan đến thủ tục tố tụng đối với NCTN như cuốn: Tăng
cường năng lực hệ thống tư pháp NCTN tại Việt Nam, thông tin khoa học
pháp lý của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2000; hay
cuốn: Thủ tục điều tra và xét xử liên quan đến trẻ em và NCTN: Đánh giá về
các thủ tục nhạy cảm đối với trẻ em của Tòa án nhân dân (TAND); Trường
Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội với công trình: Đào tạo kiểm sát viên làm việc với
NCTN (Sách dự án Danida)
Bên cạnh đó, một số tác giả đã công bố các tác phẩm liên quan đến chức năng của VKSND và thủ tục tố tụng đối với NCTN như:
- Tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết: Áp dụng các quy định của
BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm
sát số 6 tháng 3 năm 2007;
- Tác giả Mai Bộ với bài viết: Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí
Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007;
- Tác giả Phan Trung Hoài với bài viết: Vấn đề bảo đảm quyền bào
chữa của NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007
- Tác giả Phạm Hồng Quân với bài viết: Về chức năng, nhiệm vụ của
Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự đăng trên Tạp chí khoa
học, ĐH Quốc gia Hà Nội, Luật học số 28 năm 2012
- Tác giả Trần Thị Minh Thư với bài viết: “Kỹ năng của Kiểm sát viên
khi thụ lý, giải quyết các vụ án do người chưa thành niên phạm tội” đăng trên
Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội số 07, năm 2014
Trang 13Như vậy, nghiên cứu về chức năng của VKSND trong giai đoạn điều tra cũng như thủ tục tố tụng đối với NCTN nói chung đã có rất nhiều người nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Riêng về vấn đề chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN nói riêng còn chưa được quan tâm nghiên cứu sâu sắc
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" là một yêu cầu cấp thiết hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề "Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên" nhằm làm rõ bản chất của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có bị can là NCTN và những đặc trưng cơ bản của hoạt động này trong vụ án có NCTN tham gia Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng của hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can là NCTN Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án có người chưa thành niên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm sáng tỏ lý luận bị can là người chưa thành niên; chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra; chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên
- Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên từ đó thấy được những ưu điểm,
Trang 14tích cực và mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chức năng này
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên
Về thời gian: Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn trong 05 năm (từ năm 2010 đến năm 2015)
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử Đồng thời để phục vụ các nhiệm vụ khoa đặt ra từ đề tài luận văn, luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp,
so sánh và khảo sát thực tế
5 Ý nghĩa và điểm mới và đóng góp của luận văn
Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát điều tra của VKS đối với các vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên Qua đó thấy được vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện Luận văn có nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giải quyết vụ án hình sự có bị can là người chưa thành niên Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình
Trang 156 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng của Viện kiểm sát nhân
dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
và năm 2015 về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên và thực tiễn thi hành
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự
và bảo đảm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình
sự mà bị can là người chưa thành niên
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1.1 Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là người chưa thành niên
Thuật ngữ “Người chưa thành niên” là một thuật ngữ thông dụng được
sử dùng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như xã hội học, tâm lí học, luật học Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học
Việt Nam, năm 2002 đã đưa ra khái niệm về NCTN như sau: “NCTN là người
chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa
có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [35] Dựa vào khái niệm này chúng ta
có thể xác định được NCTN trên hai góc độ:
Thứ nhất, NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực,
trí tuệ và tinh thần (đặc điểm về tâm, sinh lí) Điểm đặc trưng của lứa tuổi này
là sự phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm, sinh lí NCTN là người đang ở giai đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình Đối với NCTN, do tư duy của họ chưa phát triển hoàn thiện nên họ chưa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thường trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiềm chế chưa cao
Thứ hai, NCTN là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân
Các yếu tố khách quan của xã hội chính là cơ sở quan trọng để phân chia độ tuổi của NCTN Ở các quốc gia khác nhau thì các yếu tố khách quan của xã hội
Trang 17cũng khác nhau Chính vì vậy, độ tuổi để phân chia NCTN và người thành niên trên thế giới là không giống nhau Ngày 29 - 11 – 1985, Đại hội đồng Liên hợp
quốc đã thông qua Quy tắc Bắc Kinh và định nghĩa: “NCTN là trẻ em hay
người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật ” [13, phần I, khoản 22, mục a]
Sau đó, Những quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về bảo vệ
NCTN bị tước quyền tự do thông qua ngày 14 - 12 - 1990 đã bổ sung: “NCTN
là người dưới 18 tuổi Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được luật xác định ” [14, phần II, khoản 11, mục a] Theo quy định này thì phạm vi độ tuổi
của NCTN được giới hạn từ 0 đến dưới 18 tuổi [12] Có thể nói, việc xác định
độ tuổi người chưa thành niên như thế nào cho phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng, liên quan tới nhiều chính sách lớn của Nhà nước trong quản lý xã hội Trên nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, đảm bảo sự phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, các văn bản pháp luật Việt Nam cũng giới hạn độ tuổi cho NCTN “Ở Việt Nam, từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công tới nay, Nhà nước Việt Nam đã nhất quán xác định độ tuổi ranh giới này là 18 tuổi tròn Như vậy độ tuổi đối với một người có đầy đủ quyền
và nghĩa vụ công dân là đủ 18 tuổi”[9, tr.8] Mặc dù đều nhằm mục đích bảo
vệ quyền trẻ em nhưng do khách thể bảo vệ trong từng ngành luật khác nhau nên độ tuổi của NCTN cũng được quy định khác nhau
Đối với Luật hình sự, việc xác định một người, ở độ tuổi nào phải chịu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà mình gây ra có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người mà chủ yếu
là sự phát triển về quá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Tại Điều 68 BLHS Việt Nam năm 1999, đã được sửa đổi và bổ sung năm 2009 quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
Trang 18phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [24] Theo quy định trên và các quy định khác của BLHS có thể hiểu rằng: một NCTN chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý thì đều không phải là tội phạm Cùng với quy định của BLTTHS năm
2015 “Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự” [28, Điều 60],
theo chúng tôi, Bị can là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi bị
khởi tố về hình sự
Thuật ngữ “Chức năng” được hiểu là “nhiệm vụ, công dụng và vai trò” [45]
“Chức năng của cơ quan Nhà nước” là hoạt động chủ yếu thường xuyên có tính ổn định tương đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của bộ máy nhà nước [38]
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 107 như sau: “Viện kiểm sát
nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [26]
Thể chế hóa quy định của Hiến pháp về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy
định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27]
Đồng thời lần đầu tiên đưa ra khái niệm về chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND tại Điều 3, 4 của Luật này như sau:
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết
Trang 19tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát
nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [27, Điều 3-4]
Về chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, theo quy định của BLTTHS năm 2003, quá trình tố tụng của nước ta trải qua các giai đoạn đó là: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Với tư cách là một cơ quan pháp luật nhân danh Nhà nước, trong các giai đoạn tố tụng hình
sự, Viện kiểm sát nhân dân đều đảm nhận hai chức năng đã nêu Trong đó, việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn điều tra Bởi lẽ, trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội
phạm Thực tiễn đã chỉ ra rằng, “có thể nói những kết quả khả quan cũng như
những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người
vô tội thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra” [17]
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn TTHS và phạm vi giai đoạn điều tra VAHS Có quan điểm cho rằng:
Điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng hình
sự, trong đó CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội [18, tr.5] Quan
Trang 20điểm khác lại cho rằng: Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi VAHS được khởi tố (một
số trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố) và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố hoặc không truy tố kẻ phạm tội ra toà, hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS [30, tr.91]
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng:
Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình TTHS do Cơ quan có thẩm quyền điều tra VAHS tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn khởi tố được tiến hành trên cơ sở Quyết định khởi tố của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố và kết thúc khi CQĐT hoàn thành bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Toà án hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra [4, tr.96] Theo quan điểm này, điều tra là một giai đoạn tố tụng độc lập, bắt đầu
từ khi cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc kết luận kèm theo quyết định đình chỉ điều tra Trong giai đoạn này, CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can