1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biến đổi văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài hạ long, tỉnh quảng ninh

127 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 5,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Biến đổi văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” với mong muốn truyền tải lịch sử hình thành, phát triển và bi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐOÀN VĂN THẮNG

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH LỊCH SỬ

Hà Nội –2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐOÀN VĂN THẮNG

BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa Việt Nam

Mã số: Đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn: PGS.TS Lương Hồng Quang

Hà Nội –2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi thông tin, số liệu công bố trong luận văn là trung thực, phản ánh thực tế những gì tôi nhận thức được khi khảo sát địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của mình Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

của chủ tịch Hội đồng

GS TS Nguyễn Quang Ngọc Đoàn Văn Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến PGS TS Lương Hồng Quang, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Vicas), người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong

Bộ môn Văn hóa học và Lịch sử Văn hóa Việt Nam, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi tri thức và kĩ năng cần thiết để có được tư duy và phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực lịch sử văn hóa

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những người đã nhiệt tình cung cấp thông tin, số liệu cho luận văn, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của bà con ngư dân vạn chài Hạ Long tại khu tái định cư Khe Cá (Khu phố 8), phường Hà Phong, thành phố

Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Do hạn chế về năng lực, nguồn lực đầu tư, luận văn khó tránh được những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy, cô, bạn bè để trong tương lai, nếu tiếp tục theo đuổi hướng nghiên cứu này, tôi có thể hoàn thiện thêm

Trang 5

1.1.2 Tái định cư và các vấn đề văn hóa – xã hội 15

1.2.1 Thuyết Sinh thái học văn hóa 19

1.2.2 Đô thị hóa và biến đổi văn hóa 23

CHƯƠNG 2

2.1.1 Tranh luận về phát triển du lịch Hạ Long và di dân làng chài 38

2.1.2 Quá trình thực hiện chuyển cư 42

2.1.3 Môi trường đô thị và các yếu tố của đời sống thủy cư tại khu TĐC 45

2.2.1 Những biến đổi văn hóa trên bình diện cộng đồng 47

2.2.2 Những biến đổi văn hóa trên bình diện gia đình, dòng họ 56

2.2.3 Biến đổi văn hóa trên bình diện cá nhân 62

CHƯƠNG 3

3.2.1 Hội nhập trong lao động sản xuất 77

3.2.2 Hội nhập với hoạt động sinh hoạt – tiêu dùng 80

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biến đổi văn hóa hiện là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm phân tích nhằm chỉ ra bối cảnh tác động, khuynh hướng biến đổi, đưa ra nhận thức về các cơ hội và thách thức mà những cộng đồng đang chuyển đổi phải đối mặt Trong bối cảnh đó, di dân và tái định cư cũng được chú ý nghiên cứu như một nguyên nhân tạo ra những tương tác và biến đổi văn hóa

Di dân và tái định cư (TĐC) là một hiện tượng kinh tế - xã hội trong lịch sử loài người mà động lực của nó bắt nguồn từ những thay đổi của môi trường sống, sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng, miền Hiện tượng này diễn ra mạnh

mẽ ở Việt Nam trong những năm gần đây do những tác động từ chính sách cũng như xuất phát từ những lực đẩy – lực hút khi so sánh tương quan nông thôn – đô thị

Di dân, đặc biệt là di dân có tổ chức thường gắn với việc thay đổi không gian sống, các điều kiện thực hành sinh kế, văn hóa của cộng đồng người chuyển cư Việc di dân (dù là di dân tự do hay di dân “cưỡng bức”) tạo ra sự tương tác giữa cộng đồng người di cư và môi trường sống mới, tương tác giữa các giá trị văn hóa giữa cộng đồng di dân với môi trường xã hội tại nơi đến Từ đó đưa đến những tiếp xúc và giao lưu văn hóa, cùng với quá trình thích nghi với môi trường tự nhiên, môi trường

xã hội, đưa đến những biến đổi các thực hành văn hóa và quan niệm về giá trị, chuẩn mực và các khuôn mẫu văn hóa của cộng đồng Mặt khác, quá trình này cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề, trong đó là sự hội nhập của người di cư trong môi trường sống mới, yêu cầu phân tích vai trò, vị thế cũng như những khó khăn mà người di cư gặp phải trong quá trình thích ứng với môi trường đang hàng ngày thay đổi cuộc sống của họ

Thời gian gần đây có một dự án di dân và TĐC được báo chí cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm bởi sự nổi tiếng của cộng đồng di dân cũng như sự nổi tiếng của môi trường sinh thái mà cộng đồng này sinh sống Đó là cộng đồng ngư dân vạn chài vịnh Hạ Long Cộng đồng này đã có một quá trình sinh sống lâu dài trong môi trường sinh thái vịnh Hạ Long Các giá trị văn hóa cùng tổ chức xã hội của cộng đồng đã được hình thành và phát triển để thích ứng với điều kiện tự nhiên,

Trang 9

xã hội, kinh tế đặc thù này Xu hướng di sản hóa trong những năm gần đây đã dẫn đến việc cộng đồng này phải rời bỏ môi trường sống của mình để đảm bảo cho sự bền vững của di sản Vịnh Hạ Long, kì quan thiên nhiên thế giới của Việt Nam bằng

“Đề án di dời nhà bè trên vịnh Hạ Long” của chính quyền tỉnh Quảng Ninh Được thụ hưởng một số quyền lợi nhưng việc bị tách ra khỏi không gian sống quen thuộc

đã tạo ra những hệ quả về mặt văn hóa – xã hội bắt nguồn từ việc thay đổi không gian sống và sinh kế của cộng đồng Hiện nay, sau 2 năm chuyển lên bờ, nhiều vấn

đề của dự án này đã xuất hiện đã được phản ánh trên báo chí và phần lớn ngư dân

đã quay trở lại khai thác biển Điều này thôi thúc cần có những nghiên cứu khoa học

để đánh giá hiệu quả, hệ quả của chính sách để có những điều chỉnh và hỗ trợ cộng đồng ngư dân kịp thời trong việc ổn định cuộc sống, đảm bảo sinh kế bền vững và hội nhập văn hóa với cộng đồng dân cư đô thị ở trên bờ

Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Biến đổi văn hóa của cộng

đồng ngư dân vạn chài Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” với mong muốn truyền tải

lịch sử hình thành, phát triển và biến đổi văn hóa của một cộng đồng, thông qua đó đánh giá những phương diện tích cực, hạn chế của một giai đoạn văn hóa hiện nay trong tổng thể tiến trình lịch sử văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Nhóm các công trình nghiên cứu về di dân và tái định cư, thích ứng với môi trường:

Di dân là một chủ đề được các học giả và những người làm chính sách ở Việt

Nam quan tâm Những nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề như: di dân với vấn

đề kinh tế; di dân với vấn đề xã hội; di dân với các vấn đề về chính trị, chính sách

và hướng tiếp cận di dân và vấn đề tái định cư, môi trường Thường những công

trình này tập trung vào quá trình di dân tự do nông thôn – đô thị do lực đẩy ở khu vực nông thôn từ áp lực dân số, thiếu thốn cơ sở hạ tầng, cuộc sống nghèo nàn; do

sự chênh lệch về mức thu nhập giữa lao động ở khu vực nông thôn và đô thị tạo ra lực hút về kinh tế, lực hút về chính trị đối với người dân nông thôn mong muốn đổi

đời và phát triển kinh tế gia đình Những công trình theo hướng này như “Di dân

trong nước: vận hội và thách thức đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt

Trang 10

Nam”, “Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam” của tác giả Đặng

Nguyên Anh (2005), Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang

kinh tế thị trường của Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng (2008), Trần Đình Hằng

với đề tài cấp Bộ (Bộ Văn hóa Thể thao và Du Lịch) “Bảo tồn và phát triển văn hóa

các dân tộc thiểu số vùng di dân tái định cư ở miền Trung do xây dựng các công trình thủy điện” (2014),“Sự hòa nhập lối sống đô thị của dân nhập cư tại Tp Hồ Chí Minh” của Lê Sĩ Hải (2016) cũng tập trung vào phân tích những tác động về

kinh tế, dân số, an sinh xã hội và quá trình thức ứng của người di cư trong môi trường sống mới, chỉ ra thách thức trong hoạch định chính sách di dân để vừa thúc đầy tăng trưởng kinh tế vừa duy trì ổn định xã hội Trong đó, công trình của Trần Đình Hằng có giá trị tham khảo cao về mặt lý luận với việc trình bày các lý thuyết

về di dân, biến đổi sinh kế và văn hóa, cùng với đó là những mô tả thay đổi văn hóa của các cộng đồng “dân tộc thiểu số”, qua đó đề xuất một số biện pháp trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng di dân TĐC miền Trung do xây dựng các đập thủy điện Những phân tích trong công trình này cho thấy, việc “cưỡng bức” các cộng đồng tộc người khu vực miền Trung, vốn sinh sống lâu đời trong môi trường thung lũng, dồn họ vào các khu TĐC với môi trường

tự nhiên khác biệt và mở rộng điều kiện giao thương là một cú hích với lực tác động mạnh mẽ, đột ngột, làm biến đổi sinh kế, biến đổi văn hóa của cộng đồng Biến đổi sinh kế được phân tích gắn với biến đổi môi trường tự nhiên, là hiện tượng mang tính quy luật khi thay đổi môi trường tự nhiên Bên cạnh những mặt tích cực, chính sách di dân “cưỡng bức” này cũng đã để lại nhiều hệ quả về mặt văn hóa do không chú trọng đến yếu tố văn hóa, thiếu những đánh giá trên góc độ nhân học văn hóa, dân tộc học

Công trình “Dân số, định cư và môi trường” của tác giả Nguyễn Đình Hòe

(2001)là công trình với hướng tiếp cận di dân với vấn đề tái định cư và môi trường Cuốn sách có chương 3 tập trung vào phân tích tác động tới môi trường của di dân

và tái định cư và khẳng định “Di cư và định cư giúp xã hội sử dụng được nguồn tài nguyên đa dạng của trái đất, làm tăng khả năng tải của lãnh thổ và khởi động quá trình văn minh trên cơ sở hội nhập các nền văn hóa và kinh nghiệm sử dụng tài nguyên Tuy nhiên, định cư cũng có thể thất bại cả về phương diện xã hội lẫn

Trang 11

phương diện môi trường do thiếu cân nhắc mối quan hệ giữa động lực dân cư và môi trường cư trú Khả năng thành công của định cư tăng lên nhờ công tác quy hoạch hợp lý, xử lý tốt mối quan hệ sinh thái học và khai thác hợp lý tài nguyên môi trường Đánh giá môi trường, hiểu cặn kẽ thuận lợi và khó khăn của vùng đất sẽ định cư đóng vai trò chủ chốt trong việc xác lập mô hình định cư” [20,29] Trong chương này, tác giả Nguyễn Đình Hòe còn phân tích rõ những nguyên tắc môi trường tái định cư và những vấn đề kinh tế - xã hội của tái định cư Những phân tích khái quát tầm lý thuyết có kèm theo những ví dụ cụ thể là nguồn tham khảo hữu ích

để chúng tôi áp dụng phân tích trong luận văn này

Bên cạnh đó, một số bài viết như “Công tác tái định cư thủy điện Sơn La

dưới góc độ phong tục và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc”

của nhóm tác giả Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Vòng (2011) in trong tạp chí Khoa học và Phát triển của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện

nông nghiệp), luận văn “Tái định cư và sự thay đổi đời sống của nhóm Đan Lai

(Thổ) ở vườn Quốc gia Pù Mát” của Bùi Minh Thuận (2010) cũng phân tích những

tác động của tái định cư tới sự thay đổi phong tục tập quán của cộng đồng bị ảnh hưởng và đề ra một số chính sách cụ thể Những công trình này cũng đã có những phân tích về hạn chế của những chính sách khi chỉ chú trọng tới vấn đề kinh tế mà

bỏ qua vấn đề đảm bảo văn hóa, sinh kế cho phát triển bền vững của tộc người

- Nhóm các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa:

Trên bình diện lý thuyết, “biến đổi văn hóa” đã được đề cập đến trong những công trình của các lý thuyết gia kinh điển với các thuyết Tiến hóa luận, Truyền bá luận, Tiếp biến văn hóa; Cấu trúc – chứng năng, Sinh thái học văn hóa, sinh thái học nhân văn Các lý thuyết này cung cấp những lập luận và khung phân tích để chứng minh sự biến đổi văn hóa với các cách giải thích về nguyên nhân khác nhau như: sự tiến hóa theo thang bậc phát triển, có văn hóa thấp, văn hóa cao; do tiếp xúc, giao lưu, trao đổi, truyền bá, gây ra những biến đổi về mô thức văn hóa; do sự thích ứng với môi trường

Ở Việt Nam, trong bối cảnh CNH – HĐH và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đã

nở rộ các công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa, trong đó tập trung vào khu vực nông thôn đang vận động với xu hướng đô thị hóa Những công trình này tập trung

Trang 12

nghiên cứu các khuynh hướng, các khuôn mẫu và giá trị văn hóa trong một xã hội

chuyển đổi như “Câu chuyện làng Giang” do tác giả Lương Hồng Quang chủ biên; Nguyễn Thị Phương Châm với công trình “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện

nay (trường hợp làng, Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) Trong những công trình trên, các tác giả ngoài việc mô tả những động

thái trong biến đổi văn hóa ở nông thôn Việt Nam, từ văn hóa thường ngày đến các sinh hoạt cộng đồng như tôn giáo, hội hè, dòng họ, phường hội còn chỉ ra xu hướng biến đổi văn hóa phụ thuộc vào yếu tố phát triển kinh tế - xã hội, mặt khác, biển đổi văn hóa có tính độc lập và đôi khi độc lập với yếu tố biến đổi kinh tế Đặc biệt, công trình của Nguyễn Thị Phương Châm còn là một bản tổng hợp, giới thiệu các luận điểm về biến đổi văn hóa từ các lý thuyết nghiên cứu văn hóa trên thế giới Những thông tin như vậy có giá trị tham khảo rất lớn trong luận văn này

Bên cạnh đó, biến đổi văn hóa còn là chủ đề của nhiều khóa luận, luận văn, luận án liên quan đến những biến đổi chung, cụ thể Ví dụ về biến đổi chung như Khóa luận tốt nghiệp khoa Lịch sử (ĐHKHXHNVHN) của Trần Thanh Hoa (2004)

“Biến đổi văn hóa của một cộng đồng làng ven đô (trường hợp thôn Yên Duyên,

phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội)”, biến đổi một loại hình cụ thể với luận

án “Biến đổi văn hóa gia đình ở vùng tái định cư huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh” của

Nguyễn Thị Nguyệt (2015) (NCS của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam)

Như vậy, qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thông qua 3 nhóm công trình nêu trên, có thể đưa ra một mối liên hệ phân tích: Di dân, dù là di dân tự do hay di dân “cưỡng bức” đều đưa đến những thay đổi về môi trường sống, là cú hích tạo ra những biến đổi về sinh kế, văn hóa để thích ứng, đối phó và xa hơn nữa là hòa nhập vào môi trường sống với với những thách thức mới

Văn hóa ngư dân vạn chài Hạ Long dù có nét riêng nhưng cơ bản cũng mang những nét văn hóa chung của cư dân miền biển do quy định của môi trường tự nhiên và hoạt động kinh tế, chưa kể do sự di cư, hòa trộn của các nhóm ngư dân từ các vùng khác nhau Bởi vậy, khi nghiên cứu con người, văn hóa của cư dân vạn chài Hạ Long không thể bỏ qua những công trình nghiên cứu chung về văn hóa ngư

dân Trong số này có thể kể ra như: “Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam”, “Vai trò của

Trang 13

môi trường biển đảo trong việc hình thành tính cách người miền biển” của Nguyễn

Duy Thiệu Nghiên cứu trên cho thấy vai trò của môi trường biển trong việc hình thành những lối sống, tập quán, tín ngưỡng của ngư dân cũng như phác thảo những nét cơ bản về văn hóa của họ

Riêng về văn hóa ngư dân vạn chài Hạ Long, đề tài này xuất hiện trên những bài báo quảng bá về du lịch Hạ Long, các luận văn về phát huy di sản phục vụ du lịch, sách địa chí của tỉnh Quảng Ninh và một số sách của Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch tỉnh Quảng Ninh Chẳng hạn, Địa chí Quảng Ninh (tập 2) trong mục Thủy

sản có nhắc tới lịch sử nghề cá ở Quảng Ninh, trong đó có điểm qua một số làng Hùng Thắng, Tuần Châu, Thành Công Nội dung này mô tả quá trình phát triển nghề cá của Quảng Ninh nói chung theo diễn trình lịch sử và chỉ tập trung mô tả cải tiến kỹ thuật đánh bắt cùng việc nâng cao mức sống của ngư dân Trong tập 3 của

Địa chí Quảng Ninh, tại mục Văn học, Nghệ thuật, Phong tục tập quán, có nhắc tới

những nét văn hóa riêng của ngư dân vạn chài của tỉnh Quảng Ninh nói chung và

Hạ Long nói riêng Những thông tin này chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt trong phong tục tập quán của ngư dân Vạn chài với những người Việt ở trên bờ do

hoàn cảnh sống khác biệt và giới thiệu loại hình nghệ thuật của dân cài như Hát

cưới trên thuyền, Hát chèo đường Tuy vậy, thông tin còn ít và giản lược Nói

chung, các thông tin từ địa chí cung cấp đã khái quát được quá trình hình thành cộng đồng cư dân chài ở Hạ Long, sự thay đổi địa danh hành chính, phương thức quản lý của làng chài qua các thời kỳ, cung cấp một số thông tin về đặc điểm dân

số, phong tục, văn hóa và một số nội dung khác liên quan

Tác phẩm “Di sản văn hóa làng chài thủy cư trên Vịnh Hạ Long” của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh xuất bản năm 2003 cũng đã đề cập

tới mảng văn hóa của cộng đồng cư dân biển Quảng Ninh một cách sơ lược, khái quát Vào năm 2010, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xuất bản cuốn sách chuyên

khảo “Di sản văn hóa làng chài vịnh Hạ Long” phục vụ công tác nghiên cứu, quảng

bá du lịch Đây là những công trình được đầu tư và trình bày khá công phu và phong phú về tư liệu, cung cấp những thông tin về các giá trị văn hóa truyền thống của ngư dân vạn chài Hạ Long và một số vùng khác ở Yên Hưng (Quảng Yên), Cẩm Phả, Móng Cái Liên quan đến cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long, sách này cung cấp hơn 100 bài dân ca giao duyên tiêu biểu của ngư dân làng chài vịnh

Trang 14

Hạ Long và kịch bản phục dựng sinh hoạt hát giao duyên, hát đám cưới trên thuyền của làng chài Cửa Vạn; Lễ hội đình Giang Võng

Cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long cũng là khách thể nghiên cứu được nhiều khóa luận, luận văn của sinh viên, học viên các trường đại học, đặc biệt là

khối trường liên quan tới lĩnh vực du lịch Trong số này, có thể kể đến “Đời sống

ngư dân thủy cư vùng Vịnh Hạ Long” của Nguyễn Thị Thùy Dương, khóa luận tốt

nghiệp chuyên ngành lịch sử Văn hóa, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) năm 2001 Khóa luận này đã mô tả lịch sử cộng đồng, đời sống kinh tế, văn hóa khá chi tiết, cung cấp cái nhìn tổng quát về đời sống của ngư dân vạn chài Hạ Long Đây là một tư liệu điền dã dân tộc học có ích khi so sánh những biến đổi về sinh kế - văn hóa của ngư dân vạn chài Hạ Long hiện nay

Khóa luận tốt nghiệp năm 2015 “Xây dựng đời sống văn hóa của ngư dân làng chài

Vịnh Hạ Long tại khu tái định cư phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Minh Huyền, sinh viên khoa Quản lý văn hóa, trường

Đại học Văn hóa Hà Nội cũng có những thông tin hữu ích về một số vấn đề đời sống văn hóa hiện tại tại khu tái định cư nhưng bởi theo hướng quản lý văn hóa, nên đời sống văn hóa được mô tả liên quan chủ yếu tới các thiết chế văn hóa cơ sở, đời

sống văn hóa cơ sở như cưới xin, tang ma Luận văn “Làng chài Cửa Vạn thành

phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh” của Trần Thu Thảo (Đại học Thái Nguyên) đã trình

bày được khá chi tiết về lịch sử hình thành, quá trình sinh sống, tương tác để sản sinh ra những đặc trưng của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long như về cơ bản,

nội dung này cũng không khác nhiều so với khóa luận “Đời sống ngư dân thủy cư

vùng Vịnh Hạ Long” của Nguyễn Thị Thùy Dương Điểm mới của luận văn là có đề

cập đến quá trình chuyển cư của người dân và phản ánh một số khó khăn của người dân trên khu TĐC nhưng còn khái quát và chưa tập trung vào những biến đổi các thực hành văn hóa và sự thích ứng của người dân trong môi trường sống mới Một

số khóa luận, luận văn khác tập trung giới thiệu giá trị di sản của cộng đồng ngư dân làng chài với mục đích quảng bá du lịch, phát huy tiềm năng di sản nhân văn của Hạ Long

Có khá nhiều bài báo mạng có đề cập tới văn hóa của ngư dân vạn chài Hạ Long và chủ yếu nhằm quảng bá du lịch Những bài viết này thường ở dạng bài viết

Trang 15

ngắn, giới thiệu một cách tổng quan hoặc giới thiệu một loại hình văn hóa nào đó nhằm thu hút du khách Hiện tại, trên báo VOV online (http://www.vov.vn) có hai

số báo phản ánh hiện trạng đời sống của ngư dân vạn chài Hạ Long ở khu TĐC nhưng những thông tin phản ánh còn sơ lược, tập trung vào một số vấn đề nổi cộm như mất an ninh trật tự, hiện tượng người ngoài cộng đồng đến “cướp” nhà TĐC của ngư dân

Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu, chúng tôi thấy công việc nghiên cứu về văn hóa của ngư dân vạn chài Hạ Long từ khi họ chuyển tới một không gian sống mới trên đất liền hiện chưa có công trình nào cụ thể, tập trung vào tìm hiểu những biến đổi ngoại trừ một vài bài báo mạng phản ánh tình trạng hiện thời tại “phố làng chài” Một phần lý giải cho điều này là bởi chính sách này của tỉnh Quảng Ninh mới thực hiện được gần hai năm Do đó, đây là khoảng trống khoa học mà chúng tôi lựa chọn thực hiện với những mục tiêu nghiên cứu cụ thể được thể hiện qua nội dung luận văn

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là nghiên cứu quá trình biến đổi văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài trên vịnh Hạ Long bắt nguồn từ việc thay đổi môi trường sống và sinh kế

Để làm được điều đó, luận văn tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:

- Đánh giá những thay đổi về không gian sống và sinh kế tác động đến đời sống văn hóa của người dân trong môi trường sống mới

- Nhận diện những biến đổi về văn hóa của một giai đoạn văn hóa trong tổng thể tiến trình lịch sử văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long

- Chỉ ra những thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển của ngư dân tại khu tái định cư

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài xác định đối tượng nghiên cứu là những biến đổi văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long trong quá trình thay đổi môi trường sống và sinh kế do tác động của chính sách di dân Trong đề tài này, khách thể nghiên cứu sẽ là cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long tại khu TĐC

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 16

+ Thời gian nghiên cứu: Những biến đổi hiện tại được quan sát, nhận định

trên cơ sở nghiên cứu của tôi trong thời gian điền dã thực tế trong những đợt khảo sát vào tháng 4-5-7/2016 Giai đoạn văn hóa trước đây tôi nghiên cứu dựa trên cơ

sở kế thừa những ghi chép về văn hóa cộng đồng ngư dân vạn chài của các công trình đi trước và thông qua phỏng vấn ngư dân tại khu TĐC

+ Không gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu chính là khu TĐC làng

chài thuộc Khu phố 8, phường Hà Phong, Tp Hạ Long, nơi sinh sống của các hộ dân chài khi chuyển lên bờ Bên cạnh đó, luận văn cũng chú ý tới không gian định

cư nguồn cội, nơi cộng đồng hình thành, gắn bó, tương tác với môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội để hình thành các giá trị văn hóa của mình

5 Giả thuyết khoa học

Chính sách đưa ngư dân vạn chài Hạ Long lên khu TĐC là một yếu tố bước ngoặt trong lịch sử phát triển cộng đồng, tạo lực tác động làm thay đổi không gian sống và các thực hành sinh kế và khiến cộng đồng này về cơ bản đã mất đi bản sắc

và gặp nhiều khó khăn, thách thức trong cuộc sống mới

6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cách tiếp cận

Tiếp cận biến đổi văn hóa dựa trên sự thay đổi về môi trường sống và phân tích sinh kế như một yếu tố tác động đến biến đổi văn hóa

6.2 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp điền dã dân tộc học: Việc đến địa bàn và thâm nhập vào cộng đồng là một yếu tố quan trọng trong một cuộc nghiên cứu Do đó, cần nắm rõ phương pháp điền dã dân tộc học để tránh được những khúc mắc với chính quyền địa phương cũng như học cách tạo thiện cảm với cộng đồng để thuận lợi cho việc khai thác thông tin Phương pháp này được nghiên cứu trên một địa bàn cụ thể Do

đó cũng có thể coi phương pháp này đồng nghĩa với nghiên cứu trường hợp

 Phương pháp phân tích tài liệu: Các tài liệu được sử dụng bao gồm các tài liệu liên quan đến du lịch và sinh kế - văn hóa, tài liệu liên quan đến địa bàn nghiên cứu Các tài liệu này được thu thập, khai thác từ hệ thống thư viện Quốc gia,

Trang 17

thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Ban quản lý Vịnh Hạ Long

Trên đây là hai phương pháp chính trong nghiên cứu này và chúng được thực hiện thông qua các kỹ thuật chủ yếu sau:

Quan sát: Bao gồm quan sát không tham gia và quan sát tham gia Phương

pháp quan sát không tham gia giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về việc người dân thực hiện sinh kế và thực hành văn hóa như thế nào Từ đó thấy được có những loại hình sinh kế gì, cách người dân thực hiện sinh kế và thực hành văn hóa ra sao cũng như dễ dàng quan sát được những thay đổi về đời sống vật chất của họ Quan sát tham gia giúp tác giả có cơ hội trải nghiệm việc thực hiện vai trò của người trong cuộc, để hiểu được khó khăn họ gặp phải cũng như hiểu được tâm lý người trong cuộc về ước muốn, tiếng nói tham gia của họ

Phỏng vấn: Được sử dụng để phỏng vấn những người dân vạn chài ở vùng

tái định cư để có những thông tin cần thiết về đời sống văn hóa, xã hội cũng như công việc của họ

Thống kê: Được sử dụng để thu thập các số liệu cần thiết làm cơ sở để chứng

minh cho một số nhận định có trong luận văn

7 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài có những đóng góp nhất định trong việc mô tả văn hóa, sinh kế của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long và chỉ ra xu hướng biến đổi trong bối cảnh sống mới của người dân Từ đó cho thấy chính sách của tỉnh Quảng Ninh về di dân

và TĐC đã đem lại cho cộng đồng ngư dân những gì, cộng đồng được gì và mất gì Ngoài ra, đề tài này cũng sẽ cố gắng tìm hiểu nguyện vọng, tiếng nói của cộng đồng đối với sự phát triển của chính họ

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu ( 10 trang), Kết luận 3 trang), Tài liệu tham khảo (7 trang), Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan về cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long (26 trang)

Chương 2 Quá trình chuyển cư và những biến đổi văn hóa (30 trang)

Chương 3 Những thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển (17 trang)

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯ DÂN

VẠN CHÀI HẠ LONG 1.1 Di dân và tái định cư

1.1.1 Khái niệm

Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính quy luật, một cấu thành gắn với sự phát triển [6, tr.13], một hiện tượng nhân khẩu học chịu tác động tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau như tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo, tâm lý [64, tr.63] Hiện tượng này tạo ra những tác động tới sự phân bố dân cư, phân

bố lại lao động và các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội Bởi vậy, đây là một chủ đề được quan tâm nghiên cứu và chú trọng trong hoạch định chính sách, đưa đến việc

có nhiều cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau

Vào năm 1958, Liên Hợp Quốc định nghĩa: “Di dân là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này vào một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định” Cách giải thích này chưa chú ý đến vấn đề thời gian di dân, bởi vậy vào năm

1973 Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm di dân dài hạn và di dân ngắn hạn Di dân dài hạn là người di dân đến nơi ở mới từ 12 tháng trở lên, ngược lại di dân ngắn hạn dưới 12 tháng [11, tr.9-10]

Theo Đặng Nguyên Anh, di dân theo nghĩa rộng là “sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong không gian và thời gian nhất định, kèm theo thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư”; di dân theo nghĩa hẹp là “sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới, trong một khoảng thời gian nhất định Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển và thiết lập nơi

cư trú mới” [6, tr.36]

Trong công trình Di dân tự do đến Hà Nội, thực trạng và giải pháp quản lí,

Hoàng Văn Chức cho rằng: di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và

sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới Di dân làm thay đổi bức tranh phân bố dân cư trên trái đất, nó ảnh hưởng

Trang 19

tới sự phân bố loại lao động theo lãnh thổ và ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội, cũng như môi trường [11, tr.8] Tác giả cũng đưa ra các cách hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp của thuật ngữ “di dân” Theo đó, với nghĩa rộng: di dân được hiểu là sự chuyển động cơ học của dân cư Như vậy, bất cứ sự chuyển động nào của con người trong không gian gắn với sự thay đổi theo vị trí lãnh thổ cũng được coi là di dân Theo nghĩa hẹp: Di dân được hiểu là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cư Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự chuyển dịch nào của dân cư cũng là di dân, mà di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú, gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ [11, tr.9]

Còn theo Nguyễn Đình Hòe, di cư ( hay di dân) là sự chuyển đổi chỗ ở vĩnh viễn Đối với nơi ở cũ, người di cư được gọi là người xuất cư (out – migrant) còn nơi đến gọi họ là dân nhập cư (in – migrant) Tác giả cũng khẳng định rằng, di dân

là một quá trình khách quan, gây biến động lớn về xã hội và tác động đáng kể đến tài nguyên và môi trường, đặc biệt là nơi tiếp nhận người di cư [21, tr.17]

Nhìn chung, di dân gắn với việc con người chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi xác định với một khoảng cách giữa hai không gian gọi là độ dài

di chuyển và phải thay đổi nơi cư trú, thiết lập nơi cư trú mới Dấu hiệu rõ ràng nhất của di dân là sự dịch chuyển dân số: làm tăng dân số cơ học ở nơi đến và làm giảm dân số cơ học ở nơi đi Cũng cần chú ý đến vấn đề thời gian của di dân Tùy theo từng loại hình di dân mà thời gian có thể là vài tuần, vài tháng thậm chí là vĩnh viễn Ngoài ra có thể nhận biết di dân qua một đặc điểm nữa đó là sự di chuyển nơi

ở và thay đổi nơi làm việc, nghề nghiệp, các hoạt động sinh sống hằng ngày và thay đổi các mối quan hệ xã hội

Hiện tượng di dân xuất phát từ những lực đẩy từ vùng gốc nơi đang sinh sống khiến cư dân phải chuyển cư, từ lực hút bởi sự hấp dẫn của nơi đến hoặc do cả hai yếu tố này Tuy vậy, có trường hợp thuần túy chỉ từ lực đẩy tại nơi đi, đó là những cuộc di dân có yếu tố “cưỡng bức”, chẳng hạn như từ chính sách của chính quyền như trường hợp di dân khỏi lòng hồ thủy điện

Về phân loại loại hình di dân, có thể dựa vào các tiêu chí khác nhau, tùy mục đích và hướng tiếp cận của nhà nghiên cứu hoặc nhà hoạch định chính sách

Trang 20

Xét theo tiêu chí tổ chức, di dân có hai loại:

+ Di dân có tổ chức: là hình thái dịch chuyển dân cư theo sự quản lý điều chỉnh, tổ chức, thay đổi cấu trúc dân số, nhằm phục vụ những mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa của Nhà nước Nói chung, loại hình di dân này gắn với chính sách của chính quyền, thậm chí mang tính chất “cưỡng bức” Ví dụ như di dân phục vụ

dự án thủy điện Sơn La, ban đầu đã gặp phải nhiều sự phản đối của cộng đồng tộc người vì gây tác động tới mức xáo trộn đời sống kinh tế, văn hóa tộc người Dẫn theo Mitchell (1985), Hoàng Văn Chức giải thích việc di dân của con người dựa vào: các yếu tố liên quan đến môi trường tự nhiên như năng suất đất đai, khí hậu, điều kiện môi trường; các yếu tố về kinh tế như các cơ hội việc làm, sự tương quan giàu - nghèo; các yếu tố cản trở hay thúc đẩy người dân ra đi và các yếu tố chính trị như vấn đề pháp luật khuyến khích hay bắt buộc họ phải di chuyển đến một nơi nhất định hay bất cứ đâu [11, tr.16]

+ Di dân tự do: các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng di cư theo ý muốn chủ quan của mình Trường hợp này có thể gặp ở các thành phố lớn, nơi người di cư

tự do đến, đi để thực hiện các mục đích kinh tế, giáo dục của mình Loại hình di dân tự do này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích trong bối cảnh chênh lệch về mức sống và các điều kiện kinh tế - xã hội giữa nông thôn – đô thị để chỉ ra những tương tác nông thôn – đô thị và những tác động đến những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội

Nếu xét theo không gian, có thể chia di dân thành các loại hình: Di dân nông thôn – nông thôn; Di dân nông thôn – đô thị; Di dân đô thị - đô thị; Di dân đô thị - nông thôn Trong đó phổ biến là loại hình Di dân nông thôn - đô thị; Hiện nay, có nhiều người dân từ các vùng nông thôn chuyển lên các thành phố lớn, các trung tâm

để tìm kiếm việc làm, gây dựng cuộc sống

Nếu xét tiêu chí về tính chất, có thể chia thành di dân tự nguyện và di dân ép buộc Di dân tự nguyện là trường hợp người di cư được thực hiện việc di chuyển theo đúng nguyện vọng của mình Di dân ép buộc hay cưỡng bức là loại hình di dân trái với ý muốn, nguyện vọng của người di cư Có thể do sức ép về chính sách hoặc các sức ép khác để buộc cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng phải rời bỏ nơi

cư trú của mình

Trang 21

Ngoài ra, xét theo tiêu chí thời gian, di dân có thể được phân chia thành các

bộ phận sau:

+ Di dân “con lắc”: là kiểu di cư luân chuyển nông thôn – đô thị mà người

di cư không nhất thiết phải thay đổi chỗ ở Loại hình di dân này xuất hiện ngày càng nhiều bởi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Quá trình này một mặt mở rộng ảnh hưởng của tính đô thị và làm thay đổi diện mạo vật chất của những làng quê ven đô, mặt khác tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp cho nông dân Những người nông dân này vẫn ở lại làng quê nhưng thường xuyên di chuyển giữa nông thôn –

đô thị Mật độ dân số cao ở vùng đồng bằng và chênh lệch đô thị - nông thôn là nguyên nhân cơ bản của các hiện tượng này

+ Di dân tạm thời: người di cư có thay đổi chỗ ở, chỗ làm việc nhưng mang tính chất tạm thời, có thể di chuyển chỗ khác hoặc quay lại nơi ở ban đầu

+ Di dân theo mùa vụ: người di cư tranh thủ mùa nông nhàn để đến các đô thị hoặc các địa phương có các điểm du lịch nổi tiếng hoặc lễ hội lớn để tranh thủ tìm kiếm công việc, cải thiện kinh tế

+ Di dân lâu dài: Sự thay đổi nơi cư trú này mang tính chất ổn định, lâu dài

Họ chỉ trở về nơi xuất cư để thăm viếng nhưng không có ý định quay trở lại quê gốc sống nữa [27]

Như vậy, nếu xét các tiêu chí về di dân nêu trên thì có thể sắp xếp việc di dân làng chài Hạ Long thuộc vào các loại hình: di dân có tổ chức bởi chính sách tổ chức lại không gian dân cư theo hướng nông thôn (cụ thể là dân cư từ các làng chài) – đô thị (khu TĐC nằm trong không gian đô thị Hạ Long), mang tính chất “cưỡng bức”

và là di dân lâu dài, thậm chí là di dân vĩnh viễn Như vậy, ngư dân phải chuyển đổi không gian sống và rời bỏ nơi cư trú đã gắn bó hàng trăm năm, nơi đã biến thành quê hương, là môi trường sinh thái mà ngư dân tương tác, qua đó tạo nên những giá trị văn hóa tiêu biểu, độc đáo của mình Về cơ bản, việc đưa ngư dân lên bờ sẽ giúp cho những nhà quản lý dễ dàng kiểm soát về dân số cũng như môi trường Vịnh Hạ Long, hơn là việc đầu tư cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật để đảm bảo xử lý tốt rác thải từ sinh hoạt của ngư dân

Trang 22

1.1.2 Tái định cư và các vấn đề văn hóa – xã hội

TĐC là việc thiết lập một chỗ ở mới cho một cộng đồng đã di cư khỏi nơi cư trú trước đây của họ Đối với cộng đồng du cư, có thuật ngữ “định cư” để chỉ việc cộng đồng này lập cư tại một địa điểm xác định

Theo Nguyễn Đình Hòe, TĐC cũng là một đặc thù của quá trình dân cư trong lịch sử nhân loại Hiện tượng này giúp xã hội sử dụng được nguồn tài nguyên

đa dạng của trái đất, làm tăng khả năng tải của lãnh thổ và khởi động quá trình văn minh trên cơ sở hội nhập các nền văn hóa và kinh nghiệm sử dụng tài nguyên Nhưng TĐC cũng đưa đến những thất bại, gây ra những hậu quả về phương diện xã hội và môi trường nếu thiếu cân nhắc mối quan hệ giữa động lực dân cư và môi trường cư trú Đòi hỏi phải có sự quy hoạch hợp lý, xử lý tốt mối quan hệ sinh thái học và khai thác hợp lý tài nguyên môi trường [21, tr.29] Về phương diện văn hóa, TĐC cũng đặt ra các vấn đề trong khả năng hội nhập về văn hóa, phong tục tập quán giữa cộng đồng nhập cư và cộng đồng địa phương Thậm chí, các dự án TĐC

có nhiều khả năng sẽ thất bại nếu người nhập cư không có những kinh nghiệm để thích ứng với môi trường sinh thái tại khu TĐC, không có các kỹ thuật và hoạt động canh tác tương tự và không có các kinh nghiệm quản lý môi trường cũng như lối sống phù hợp ở môi trường mới [21, tr.34] Khu vực TĐC hiếm trường hợp có điều kiện sinh thái giống quê hương của người chuyển cư, do đó cần hướng dẫn, có các

cơ chế, chính sách hỗ trợ người chuyển cư trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường của nơi ở mới và hội nhập văn hóa với môi trường văn hóa – xã hội xung quanh Đồng thời, cũng cần có những hình thức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn cộng đồng địa phương biết cách ứng xử, không định kiến, tôn trọng và hòa nhập với văn hóa của cộng đồng định cư

Khi thực hiện dự án TĐC, ngoài việc đánh giá chi phí cho di dân và xây dựng khu TĐC, “ngoài những chi phí và hoàn bị nơi đến, điều quan trọng là đo lường, dự báo và có phương án phù hợp, cái giá phải trả về mặt tinh thần, sự cắt rời các mối quan hệ, thói quen, tập quán có khả năng tạo nên những cú sốc văn hóa khi phải rời bỏ quê cũ” “Con người sống trong không gian quen thuộc, họ có tức thì và thường xuyên sự hiểu biết gắn với môi trường sống, dễ dàng điều chỉnh mọi sự cố bất thường, thì đến vùng đất mới, điều đó họ hoàn toàn không thể sớm có được

Trang 23

Kiến thức về nơi ở mới của người di dân luôn gặp phải nhiều thử thách, trải nghiệm lâu dài mới có thể nhận biết được những điểm thuận lợi, bất lợi Sự lúng túng, hoang mang tại nơi ở mới trong giai đoạn đầu là điều dễ hiểu”.[20, tr.16]

Một vấn đề cần quan tâm là sự phai nhạt các giá trị văn hóa làm nên bản sắc của cộng đồng chuyển cư và quá trình biến đổi văn hóa Hay nói cách khác, đó là sự tan rã và biến mất cộng đồng về mặt văn hóa Hiện tượng này không hiếm trong các

dự án TĐC như trường hợp người Thái sau TĐC thủy điện Sơn La, người Katu sau TĐC thủy điện A Vương (Quảng Nam)[54][20] Nguyên nhân chính theo các phân tích là sự thay đổi môi trường sống và các điều kiện, phương thức sản xuất và sự cộng cư xen kẽ với cộng đồng bản địa Các thực hành văn hóa và sinh kế được sáng tạo trong mối tương tác giữa con người và môi trường được tích lũy qua hàng trăm năm sẽ phải biến dạng bởi cần một quá trình thích ứng dần với bối cảnh sống mới Cũng cần chú ý đến những nhóm tuổi khác nhau trong cộng đồng di dân Người già thường thiệt thòi và khó hòa nhập vào môi trường mới bởi họ đã tích lũy kinh nghiệm để thích ứng với môi trường sống cũ một cách sâu sắc

Ở một khía cạnh khác, vấn đề đảm bảo sinh kế sau TĐC cũng cần được quan tâm nhằm tạo ra được những điều kiện về mặt vật chất để làm cơ sở đảm bảo cho sự

ổn định của cộng đồng di cư

Sinh kế là kế sinh nhai, tức là các hoạt động, các công việc giúp tạo ra tiền bạc, vật chất để duy trì cuộc sống Theo từ điển tiếng Việt, sinh kế là cách thức, kế sách thực hiện kiếm sống Trong tiếng Anh, từ livelihood (sinh kế) được định nghĩa

“a means of earning money in order to live (phương tiện, cách thức kiếm tiền để

sống)” (Oxford Advanced Learner’s Dictionary) Theo định nghĩa của DFID

(Department for International Development – Bô ̣ Phát triển Quốc tế Anh), “sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” Dù hiểu thế nào thì khái niệm sinh kế cũng đều có mẫu chung là “kiếm sống”, tức là phương tiện để đảm bảo, duy trì cho cuộc sống con người

Để nghiên cứu sinh kế, các học giả thường sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững bởi lý thuyết này được đánh giá là “mô ̣t cách phân tích toàn diê ̣n về phát triển và giảm nghèo Cách tiếp cận này giúp chúng ta hiểu được viê ̣c con người sử

Trang 24

dụng các loại vốn mình có để kiếm sống , thoát nghèo, hay tránh bị rơi vào đói nghèo như thế nào, vì nó không chỉ minh họa các chiến lược tìm kiếm thu nhập, mà

nó còn phân tích và lý giải v ề việc tiếp cận, sử dụng và phân phối các nguồn lực mà các cá thể và hộ gia đình sử dụng để biến các nguồn lực đó thành sinh kế” [40, 10] Sinh kế bền vững có thể được hiểu như sau: “Một sinh kế sẽ phải tùy thuộc vào khả năng và của cải (cả nguồn lực vật chất và xã hội) và những hoạt động mà tất cả là cần thiết để mưu sinh Sinh kế của một người hoặc của một gia đình chỉ có thể là bền vững khi họ có thể đương đầu và phục hồi trước những căng thẳng và biến động, và tồn tục được hoặc nâng cao thêm các khả năng và của cải của mình hiện này và của cả trong tương lai mà không làm tổn hại đến các nguồn lực môi trường” [66, tr.104] Như vậy, yếu tố bền vững liên quan đển khả năng đương đầu trước khủng hoảng và phục hồi sau khủng hoảng Bởi cuộc sống có nhiều bối cảnh dễ tổn thương như việc thiên tai, mất mùa, dịch bệnh, thậm chí là một căn bệnh hiểm nghèo xuất hiện cũng tác động mạnh mẽ đến kinh tế của cá nhân, gia đình, do đó, sinh kế không chỉ là việc lo những vấn đề trước mắt mà còn phải tạo tích lũy, làm công cụ bảo đảm cho cuộc sống

Về cơ bản, khung phân tích sinh kế bền vững gồm 5 điểm chính: Bối cảnh dễ

bị tổn thương; Nguồn vốn sinh kế; Chính sách, tiến trình và cơ cấu; Các chiến lược sinh kế; Kết quả sinh kế Mô hình sau đây sẽ cụ thể hóa khung phân tích này:

Nguồn:DFID (2001)

Trong đó:

Vốn sinh kế (capital) là những năng lực vật chất và phi vật chất mà con người

có được để đảm bảo cho hoạt động sinh kế Theo khung phân tích sinh kế bền vững, vốn này gồm 5 loại: vốn nhân lực, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tự nhiên và vốn tài chính Như vậy, vốn vừa là cái hữu hình, cụ thể, cũng vừa là những thứ vô hình như năng lực của con người Trong đó:

Trang 25

- Vốn nhân lực (Human capital) là những kĩ năng, kiến thức, sức khỏe và những năng lực của con ngươi giúp họ có thể theo đuổi chiến lược sinh kế Có thể hiểu nguồn vốn này trên khía cạnh chất lượng nguồn lao động

- Vốn xã hội (Social capital) thường được hiểu là những mối quan hệ xã hội, các mạng lưới, các nhóm tạo điều kiện cho người dân có thể theo đuổi sinh kế và đảm bảo lợi ích của mình

- Vốn vật chất (Physical capital) bao gồm cơ sở hạ tầng, hàng hóa sản xuất để

bổ trợ sinh kế

- Vốn tự nhiên (natural capital) nhắc đến các nguồn tài nguyên như đất đai, nước, các loại khoáng sản,… nói chung là các yếu tố từ tự nhiên có khả năng phục

vụ cho các hoạt động và khả năng sinh kế

- Vốn tài chính (Financial capital) bao gồm các nguồn tài chính có sẵn để con người tiếp tục hoạt động sinh kế, bao gồm khoản tiền dự trữ hiện tại, khoản tiết kiệm hay khả năng huy động, tiếp cận các nguồn tín dụng từ người thân, bạn bè, các

tổ chức tín dụng

Với mỗi chiến lược sinh kế khác nhau, các nguồn vốn có vai trò khác nhau

Ví dụ đối với nông nghiệp thì nguồn vốn đất đai là yếu tố quan trọng bậc nhất Việc thu hồi đất nông nghiệp do đó đã gây ra những tác động mạnh mẽ đến sinh kế và cuộc sống nông dân Tuy nhiên, đối với một cộng đồng làm nghề chài lưới, nguồn vốn tự nhiên mà cụ thể ở đây là trữ lượng thủy hải sản, khả năng phục hồi của các loài cá, tôm lại là một nguồn vốn quan trọng Tuy vậy, thậm chí một vùng đất nông nghiệp, nơi mà người nông dân có thể mở rộng đất đai và đàn gia súc cũng vẫn dễ

bị tổn thương do nhiều yếu tố khác như việc thiếu cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội Theo nhiều nghiên cứu, nguồn vốn xã nhân lực lại là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xóa bỏ vòng luẩn quẩn do nghèo đói gây ra Một số nghiên cứu thì chỉ ra tầm quan trọng của mạng lưới xã hội, các mối quan hệ xã hội trong việc cộng đồng thực hiện chiến lược sinh kế và duy trì khả năng sinh kế của mình

Do đó, cần có những sự nghiên cứu cụ thể để đánh giá tầm quan trọng của các loại vốn

Nguồn vốn sinh kế không bất biến, nó có thể thay đổi theo xu hướng tăng lên hoặc giảm đi trong tương lai

Trang 26

Các tiến trình và cấu trúc (Structure and processes) là khái niệm chỉ yếu tố

thể chế, chính sách, luật pháp, có khả năng ảnh hưởng đến cách tiếp cận nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và các chiến lược sinh kế khác nhau Do đó nó

có thể thúc đẩy hoặc hạn chế đến các chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế là các mục tiêu và lựa chọn của cộng đồng nhằm thực

hiện sinh kế một cách hiệu quả nhất từ các nguồn vốn hiện có, còn kết quả của sinh

kế là tiêu chí quan trọng để đánh giá việc thực hiện sinh kế bền vững, nó cho thấy

những thay đổi, những điều mà các tổ chức, cá nhân và cộng đồng thực hiện sinh kế mong muốn đạt được

Một yếu tố quan trọng nữa của khung sinh kế chính là bối cảnh dễ bị tổn

thương Đây là những nhân tố có thể coi là khách quan, nằm ngoài và hầu như

không thể điều chỉnh được trong ngắn hạn Có thể đó là những chấn động thời vụ, một cơn thiên tai hay cú sốc từ thị trường tài chính khiến sản phẩm mất giá

1.2 Biến đổi văn hóa

1.2.1 Thuyết Sinh thái học văn hóa

Những năm 60 của thế kỉ XX, Julian Steward đã khởi xướng phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa quan trọng khác trong nhân học Bắc Mỹ là vấn đề sinh thái học văn hóa Lý thuyết này có khái niệm trung tâm là “sự thích ứng” (adaptation) Đó là sự thích ứng với môi trường tự nhiên để sáng tạo ra văn hóa Hay nói cách khác, môi trường tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau [36, tr.23]

Thuyết sinh thái văn hóa nghiên cứu mối quan hệ giữa một xã hội nhất định

và môi trường tự nhiên của nó cũng như hình thức cuộc sống (life – form) và hệ sinh thái Điều này có thể là ở lịch đại (nghiên cứu các thực thể qua các kỉ nguyên)

và đồng đại (kiểm tra hệ thống hiện tại và các thành phần của nó) Lý lẽ trung tâm của thuyết này là môi trường tự nhiên, trong một hệ thống nhỏ hoặc sinh kế xã hội dựa vào một phần trên nó, là yếu tố chính tác động tới tổ chức xã hội và các thể chế khác của loài người [70] Julian Steward (1902 - 1972) là người đầu tiên tạo ra khái

niệm “Cultural Ecological” Trong “Lý thuyết về biến đổi văn hóa – Phương pháp

luận về tiến hóa đa tuyến” (Theory of Cuture Change – The Methodology of

Multilinear Evolution, 1955), sinh thái học văn hóa (Cultural ecological) được định

Trang 27

nghĩa: “là con đường mà văn hóa thay đổi có nguyên nhân bởi sự thích ứng với môi trường” Đó là một sự khẳng định rằng môi trường vật lý và sinh học ảnh hưởng tới văn hóa Điều này đã từng gây ra tranh cãi, bởi vì nó bao hàm cả yếu tố của quyết định luận môi trường trên tất cả hành động của con người, với một vài vấn đề mà một số nhà xã hội học đã tìm thấy, đặc biệt từ quan điểm của một số nhà Marxist Sinh thái học văn hóa công nhận rằng nền sinh thái địa phương có vai trò đáng kể trong việc định hình nền văn hóa của nó Mặc dù môi trường là một nhân tố quan trọng trong học thuyết nhưng Steward không phải là là người theo trường phái duy môi trường (xem môi trường là nhân tố không thể thiếu) Và với việc tập trung nghiên cứu mối lên hệ giữa con người - môi trường - văn hóa của Juliant Steward, ông được công nhận là người tiên phong và dẫn đầu trong việc nghiên cứu Sinh thái học văn hóa

Theo J Steward, văn hóa là đa dạng và phát triển theo các cách khác nhau tùy thuộc vào từng hoàn cảnh môi trường cụ thể của văn hóa đó Các nền văn hóa giống nhau ở các vùng địa lý khác nhau trên thế giới là do chúng đều được xây dựng và phát triển trong bối cảnh môi trường tự nhiên giống nhau Trong các nghiên cứu của mình, J Steward hướng tới nghiên cứu các cộng đồng biệt lập có những tương đồng về văn hóa, xã hội như có cùng kiểu tổ chức bộ tộc, chế độ tù trưởng hay đã có nhà nước hiện đại để tránh ảnh hưởng của giao thoa văn hóa, từ đó chứng minh những tác động của môi trường tới văn hóa, hay văn hóa là sự thích ứng với môi trường tự nhiên Nếu như trước đây, các nhà nhân học nghiên cứu động lực thúc đẩy phát văn hóa bằng nội lực tự thân, bên trong thì sinh thái văn hóa chuyển chú ý đến mối quan hệ giữa bên trong và bên ngoài; nó triển khai quan điểm cho rằng sự qua lại giữa văn hóa và môi trường như là xu thế chủ đạo của quá trình tiến hóa [65]

Áp dụng sinh thái văn hóa vào nghiên cứu, theo J Steward, các bước để nghiên cứu văn hóa theo lý thuyết này bao gồm:

 Chứng minh được các kỹ thuật và phương pháp được dùng để khai thác môi trường và sống trong môi trường đó

 Xem xét những mô thức ứng xử văn hóa của con người liên quan đến việc

sử dụng môi trường

Trang 28

 Đánh giá sức tác động của những mô thức kể trên đối với các bình diện khác của văn hóa

Sinh thái học văn hóa của Steward tập trung vào chứng minh con đường tiến hóa đa hệ Có một biến thể khác của sinh thái học văn hóa xuất hiện muộn hơn một chút với luận điểm dựa trên thuyết hệ thống, nhấn mạnh vào sự thích nghi của các mảng cụ thể của văn hóa trong việc tính ổn định của hệ thống và bảo vệ sinh thái địa phương Điều này thể hiện rõ trong tác phẩm của Marvin Harris và Roy Rapaport

Marvin Harris, nhà nhân học nổi tiếng của Mỹ trong tác phẩm “Sinh thái học văn hóa về bò thiêng ở Ấn Độ” đã từ quan điểm của lý thuyết này và những lập luận của duy vật văn hóa để hiểu được những tập tục, nghi lễ, những điều cấm kị liên quan tới đàn bò ở Ấn Độ mà không dựa vào thuyết Ahimsa (cấm sát sinh trong đạo Hindu) và coi bò là linh vật Ông lý giải hệ thống quản lý đàn bò của người dân Ấn

Độ có thể nằm ở quá trình “thích nghi” với hệ sinh thái mà những điều cấm kị, tập tục, nghi lễ là một phần của hệ thống này chứ không phải do chịu ảnh hưởng của đạo Hindu Quan điểm này rõ ràng đã chịu ảnh hưởng của Sinh thái học văn hóa của

J Steward Từ những lập luận về đóng góp của đàn bò trên các mặt: 1.Sản xuất sữa, 2.Sức kéo, 3.Phân bò, 4.Bò và da bò, 5.Chăn thả, 6.Bò hữu dụng và bò vô dụng, 7.Giết mổ bò, 8.Pháp chế hóa việc cấm giết mổ bò, 9.Nhà dưỡng lão, 10.Chọn lọc

tự nhiên, Harris cho rằng: có thể việc cấm giết mổ bò đến từ những áp lực sinh thái chứ không phải do thuyết ahimsa và tính thiêng của bò ở Ấn Độ đã “bảo vệ mối liên

hệ sống còn trong chuỗi lương thực nông nghiệp”[65]

Rapaport với tác phẩm Sự quy định nghi lễ của mối quan hệ giữa môi trường

và người dân New Guinea (Ritual Regulation of Environmental Relations among a

New Guinea People) (1967) đã thể hiện quan điểm sinh thái văn hóa của mình

Theo đó, nghi lễ Kaiko của người Maring đã giúp ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường tự nhiên [69] Điều này cũng tương tự như cách lập luận của Harris bởi cho thấy những thực hành văn hóa đến từ những áp lực sinh thái

Bên cạnh đó, còn có nhiều phân tích khác theo quan điểm sinh thái học văn hóa Robert Netting, một nhà nhân học hiện đại ở nửa cuối thế kỉ XX cũng đã áp dụng sinh thái văn hóa vào nghiên cứu của mình để kiểm chứng mối quan hệ giữa

Trang 29

văn hóa và môi trường tự nhiên Khi nghiên cứu người Koyfar ở Nigeria, ông nhận thấy nhóm người Koyfar ở vùng đồi và vùng rừng thấp có thực hành văn hóa khác nhau với biểu hiện về quy mô gia đình mở rộng của người Koyfar ở vùng thấp thích hợp hơn cho việc phát triển mùa vụ theo tính thương mại Khi nghiên cứu các tộc người ở Trung Đông, Đông Nam Á, châu Phi, ông cũng chứng minh mô hình canh tác nhỏ của các tộc người nơi đây thích hợp với môi trường tự nhiên, cho hiệu quả

và giảm thiểu rủi ro hơn so với các nông trang lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất Netting thực hiện những nghiên cứu trên với mục đích nhấn mạnh vai trò của văn hóa với quá trình thích nghi với môi trường

Tuy môi trường là yếu tố quan trọng định hình văn hóa nhưng sinh thái học văn hóa phủ nhận thuyết quyết định luận môi trường khi đề cao vai trò của con người trong sự lựa chọn cách thức ứng xử với các vấn đề của mình Và với ý nghĩa như vậy, sinh thái học văn hóa đã truyền cảm hứng trong vấn đề phát triển một nền văn hóa bền vững trong mối quan hệ với đối với môi trường Hiện nay, trong mối quan tâm nhiều hơn về vấn đề của sự gia tăng xung đột tài nguyên và suy thoái môi trường, các nhà nhân học một mặt chỉ ra những hạn chế của thuyết sinh thái văn hóa, một mặt bổ sung thêm yếu tố mới và cho ra đời thuyết sinh thái chính trị Thuyết này chú ý đến những phân tích về chính sách và những mâu thuẫn, xung đột giữa cơ quan nhà nước với các cộng đồng địa phương và giữa chính các cơ quan nhà nước, các giai tầng xã hội ở nông thôn trong cuộc tranh giành tự nhiên [36, tr.26-27]

Với việc phân tích mối liên hệ, tương tác giữa văn hóa và môi trường, Sinh thái học văn hóa cung cấp cơ sở lý luận cho việc phân tích những biến đổi văn hóa của ngư dân vạn chài Hạ Long, bởi yếu tố thay đổi đột ngột, mạnh mẽ nhất trong quá trình sinh sống tại khu TĐC chính là yếu tố môi trường sinh thái Các thực hành văn hóa và sinh kế tạo ra những quan niệm giá trị, lối sống và kinh nghiệm gắn với việc khai thác môi trường sinh thái vịnh hàng trăm năm qua của ngư dân đang phải thay đổi để thích ứng với điều kiện sống mới Điều này một mặt tạo ra tính chọn lọc

và biến đổi, cùng với đó là du nhập những cách thực hành mới để hòa nhập, thích ứng Tiếp cận biến đổi văn hóa trên cơ sở thay đổi môi trường sống và sự thay đổi

Trang 30

sinh kế là cách mà chúng tôi thực hiện để lý giải những chuyển đổi của cộng đồng ngư dân làng chài tại khu TĐC

1.2.2 Đô thị hóa và biến đổi văn hóa

Đô thị hóa có thể hiểu là một quá trình tập trung dân cư đô thị, những người lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị và đồng thời là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng cường tỉ lệ của các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là ngành dịch vụ Một cách đầy đủ hơn, đô thị hóa là một quá trình biến chuyển kinh tế - xã hội - văn hoá và không gian với sự phát triển nghề nghiệp mới, chuyển dịch cơ cấu lao động, sự mở rộng của lãnh thổ đô thị và mang tính chất làm phai nhạt tính nông thôn, nông nghiệp Đây là một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển xã hội

Quá trình đô thị hóa thường diễn ra theo hai giai đoạn:

i Đô thị hóa theo chiều rộng: Là sự sự tăng lên về số lượng đô thị, sự mở rộng lãnh thổ của các đô thị và sự gia tăng dân số Đô thị hóa theo chiều rộng có thể thấy ở những ví dụ về sự chuyển đổi về không gian, nhân khẩu, kinh tế, văn hóa ở các vùng ven đô Hà Nội

ii Đô thi hóa theo chiều sâu: Là kiểu đô thị hóa theo gắn với việc nâng cao chất lượng tiêu chuẩn sống, tính đa dạng của các kiểu mẫu văn hóa và nhu cầu hưởng thụ của cư dân đô thị Đô thị hóa dạng này chủ yếu diễn ra ở các quốc gia phát triển, nơi từng trải qua đô thị hóa theo chiều rộng

Trong luận văn này, đô thị hóa được nhấn mạnh là sự lan tỏa tính đô thị ở một địa bàn, một không gian sống cụ thể Theo Nguyễn Văn Sửu, vấn đề mấu chốt được xem xét là tính đô thị (urbanity/urbanism) để phân biệt giữa đô thị và nông thôn, giữa thị dân và nông dân [41, tr.76] Sở dĩ cần quan tâm đến đô thị hóa bởi khu TĐC cho ngư dân vạn chài Hạ Long được quy hoạch tại phường Hà Phong, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và được tổ chức với thiết chế một khu phố (khu phố 8) Trong khi đó, Hạ Long là đô thị loại I, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và có khu vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ phát triển năng động của tỉnh Quảng Ninh nên cần phân tích ảnh hưởng của tính đô thị khi bàn về những biến đổi trong các thực hành văn hóa của ngư dân tại khu TĐC Trong trường hợp này,

Trang 31

quá trình đô thị hóa chủ yếu được xét trên phương diện lan tỏa văn hóa, lối sống đô thị và ảnh hưởng của nó tới văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn chài trong không gian sống mới

Từ việc phân tích lý thuyết và thực tế tại khu TĐC của ngư dân vạn chài Hạ Long, chúng tôi mô hình hóa khung phân tích của mình như sau:

Biểu đồ 1 Mô hình phân tích về biến đổi văn hóa của cộng đồng ngư dân vạn

Trang 32

đồng, là một biểu thị có tính tổng hợp khi nhận biết các cộng đồng, trong đó đặc biệt chú ý đến các khía cạnh như truyền thống-lịch sử, tộc người, tôn giáo-tín ngưỡng, hệ thống giá trị-chuẩn mực, phong tục tập quán

Nếu xét trên các phương diện như vậy, có thể gọi tập hợp ngư dân ở các làng thủy cư trên vịnh Hạ Long là một cộng đồng với những đặc điểm chung về môi trường sống, về thực hành sinh kế và chia sẻ các giá trị văn hóa chung trong đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, trong thờ cúng thần linh

Cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long là một cộng đồng đặc biệt và được biết đến rộng rãi do nhu cầu quảng bá du lịch sinh thái và nhân văn trên Vịnh Hạ Long Tính chất đặc biệt của con người và cuộc sống nơi đây được quy định bởi điều kiện cư trú - môi trường, điều kiện kinh tế - xã hội và những giá trị văn hóa được những ngư dân vạn chài sáng tạo, tương tác, chia sẻ

Khi bàn về cội nguồn của ngư dân vạn chài Hạ Long, một số bài viết thường phân tích về một thời kì lịch sử xa xôi, thời kì của nền văn hóa Soi Nhụ - Cái Bèo -

Hạ Long để chỉ ra nguồn gốc cư dân và đặc tính văn hóa biển Theo đó, vào 1967, các nhà khảo cổ Việt Nam tiến hành khai quật khảo cổ học đầu tiên ở tỉnh Quảng Ninh tại hang Soi Nhụ (thị trấn Cái Rồng, huyện đảo Vân Đồn, Quảng Ninh ngày nay) Các di vật tìm thấy bao gồm 400 đốt xương sống cá và vô số các vỏ ốc các loại như ốc lợn, ốc đĩa, ốc tai, vỏ hà, vỏ vạng, vỏ sò… được giải thích là những tàn tích của người cổ Hạ Long để lại trong khoảng niên đại 7000 năm cách ngày nay Tuy sống dựa vào biển nhưng do không tìm thấy xe chỉ, lưới nên các nhà khảo cổ học kết luận, vào thời kì này, cư dân khai thác biển chủ yếu bằng phương thức thu lượm

Sớm hơn 30 năm, vào năm 1937, nhà khảo cổ người Pháp M Colani đã tìm đến khảo sát tại đảo Ngọc Vừng và phát hiện ra những dấu tích của người tiền sử từng cư trú Sau đó, bà Colani đi khảo sát một loạt các đảo và ven bờ Vịnh Hạ Long như Hà Giắt, Tuần Châu, Cái Dăm… và đưa ra kết luận về một thời kì xa xôi từng

có con người cư ngụ và khai thác trên Vịnh Hạ Long thuộc hậu kỳ đá mới (niên đại cách ngày nay khoảng 7.000 đến 4.000 năm) Nền văn hóa cổ này đã có những đặc trưng trong hoạt động kinh tế biển, trong trao đổi thương mại, phát triển nghề thủ công (đặc biệt là nghề gốm với tính biểu tượng hóa sóng biển trong hoa văn trên

Trang 33

gốm) Các tác giả của cuốn sách Hạ Long thời tiền sử cho rằng, ở giai đoạn văn hóa

Hạ Long (3500 – 5000 năm trước), môi trường biển lúc đó đã có nhiều thay đổi với hiện tượng mực nước biển dâng cao Trong lúc này, kỹ thuật đi biển cũng đã đạt đến trình độ cao hơn thì phương thức sinh sống chủ yếu của cư dân Hạ Long là khai thác nguồn hải sản ven bờ với các ngư cụ truyền thống kết hợp săn bắt hái lượm tự nhiên trên các vách đá Khi khai quật các di chỉ khảo cổ, các nhà khoa học đã tìm được các di vật xương cá, chì lưới để chứng minh rằng cư dân ở đây còn biết tới nghề trồng cây lấy sợi để se sợi đan lưới hoặc dây câu để bắt cá Không chỉ khai thác nguồn lợi biển ở hải sản, tôm cá mà người Hạ Long còn khai thác biển bằng giao lưu trao đổi trên biển Nơi đây trở thành đầu mối tiếp nhận và di truyền những yếu tố văn hóa của hai khu vực lớn Đông Bắc Á và Đông Nam Á [34, tr.234-235]

Từ đó có ý kiến cho rằng, ngư dân vạn chài Hạ Long là hậu duệ của chủ nhân nền văn hóa cổ này [46, tr.17] Quá trình phát triển văn hoá tiền sử ở khu vực Hạ Long

là liên tục, không đứt đoạn và có nguồn gốc bản địa Nhiều di chỉ khảo cổ tìm được cho thấy người Hạ Long sống chủ yếu nhờ vào nghề biển, sống và thích nghi với việc khai thác nguồn lợi từ biển, giao lưu trao đổi để làm phong phú cho cuộc sống của mình Theo Địa chí Quảng Ninh (tập 2), nghề cá ở Quảng Ninh đã có từ thời kỳ văn hóa Soi Nhụ với ngư dân gốc bản địa, sau đó có thêm luông di dân từ các vùng biển khác (Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh – Nghệ - Tĩnh) đến quần cư, cũng có cả ngư dân từ Trung Quốc kéo sang Vốn dĩ như vậy bởi vùng biển Quảng Ninh nói chung, Hạ Long nói riêng có những điều kiện cho phát triển ngư nghiệp, bên cạnh đó, đây là vùng biên viễn, là nơi đày ải phạm nhân, nơi dung thân của những người chạy nạn chính trị nên cư dân vùng này đa dạng, đa nguồn Theo Nguyễn Văn Kim, “thực tế cho thấy, các hoạt động kinh tế biển đã đem lại nguồn lợi lớn cho các chính thể và nhiều cộng đồng cư dân sống ven biển, trên biển Sức mạnh kinh tế và tiềm năng to lớn của đại dương đã trở thành động lực cuốn hút nhiều dòng người quyết tâm dứt bỏ những níu kéo của làng thôn để tiến ra khai phá vùng duyên hải, biển đảo Trong hành trình lịch sử đó, họ đã đem theo, đến các không gian văn hóa biển những dấu ấn văn hóa đặc trưng của châu thổ thậm chí của

cả các vùng trung du và miền núi Ngược lại, qua các đợt biển tiến, biển lùi và các cuộc chuyển cư, dấu ấn của biển, văn hóa biển cũng được khắc ghi trong đời sống văn hóa của cư dân châu thổ, thậm chí ở cả những vùng núi cao Sự giao thoa văn

Trang 34

hóa đó cho thấy sức hút và sức sống tiềm tàng của các truyền thống văn hóa trong

đó có văn hóa biển” [29, tr.26] Điều này cũng lý giải cho một số nét văn hóa tương đồng trong tương quan so sánh với văn hóa của các làng nông nghiệp Việt Nam của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long

Hiện nay, cách lý giải phổ biến về nguồn gốc cư dân tại các làng chài thủy

cư trên vịnh là con cháu của cư dân làng chài cổ Giang Võng, Trúc Võng, tuy nhiên các ghi chép về hai làng này không nhiều Theo đó, vào thế kỉ XIX, có những ghi chép về ngư dân vạn chài Hạ Long ở hai làng Trúc Võng và Giang Võng (Tổng An Khoái và Tổng Vạn Yên, Huyện Hoành Bồ,Phủ Hoài Đông, Trấn An Quảng), nằm tại Cửa Lục (dưới cầu Bãi Cháy hiện nay) Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, hai làng này đều là hai phường thuỷ cơ, thuộc huyện Hoành Bồ Vào năm 1926, dân số hai làng lên tới 2.017 người (Giang Võng đông hơn với 1.036 người, Trúc Võng là 981 người), dân số mỗi làng tương đương với các làng trên bờ nhưng so với các làng chài khác thì số dân tại đây đông đúc hơn [72]

Sau Cách mạng tháng Tám, làng Giang Võng đổi tên thành xã Độc Lập, còn Trúc Võng đổi tên thành xã Thành Công Vào những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1946), ngư dân hai làng này dạt ra vùng Bái Tử Long và Vịnh Hạ Long Số đông di dân đến khu vực Cửa Vạn, Vung Viêng, Hoa Cương, Ba Hang, Đầu Bê, Cặp Dề và Cặp La, hình thành lên các làng chài trên Vịnh Hạ Long và cộng đồng này vẫn sinh sống thủy cư, dựa vào những chỗ kín gió được bao bọc bởi các thành núi đá, thực hành sinh kế truyền thống Gọi là các làng chài nhưng trên thực tế, các vụng khuất gió này chỉ là nơi các thuyền cư ngụ khi về đêm, tránh gió bão và dân

số luôn luôn biến động Trong thời kì hình thành các hợp tác xã, Nhà nước đã vận động ngư dân lên bờ nhưng ngư dân vẫn xuống thuyền bởi tính chất kém hiệu quả của các hợp tác xã và không phù hợp với tập quán sản xuất của mình Sau khi giải thể các hợp tác xã, ngư dân vạn chài Hạ Long xuống luôn thuyền sống thủy cư vì không còn ràng buộc gì với quản lý hành chính trên bờ nữa Sau này, ngư dân cho xây dựng những nhè bè nổi để mở rộng không gian sống, không gian sản xuất Theo báo cáo của UBND TP Hạ Long, trước khi tiến hành di dời, trên Vịnh Hạ Long có tổng số 614 bè (597 nhà bè của cá nhân, 17 nhà bè của tổ chức) [73] Trong đó bao gồm lớp học, nhà văn hóa và một số nhà của ngư dân Nhiều nhà bè do những

Trang 35

người ở nơi khác (122 nhà bè của những người có hộ khẩu ngoài thành phố Hạ Long) hoặc của những cá nhân trên đất liền đầu tư xây dựng nuôi trồng hải sản (đa

số có hộ khẩu tại phường Hồng Hà, Hùng Thắng, thành phố Hạ Long) [74]

Về sau có một bộ phận ngư dân chuyển lên bờ sinh sống, chủ yếu tại các phường của TP Hạ Long hiện nay như Cao Xanh, Hồng Hà, Hùng Thắng Có một

bộ phận di dời qua các vùng biển khác tại Cẩm Phả, Vân Đồn, Yên Hưng (Quảng Yên), tiếp tục sống cuộc sống thủy cư Một bộ phận khá lớn di chuyển ra khu vực Vịnh Hạ Long, tụ cư tại các làng chài như Ba Hang, Cặp Dè, Cửa Vạn… Tuy nhiên, những cách lý giải nguồn gốc này chỉ mang tính chất tham khảo bởi tính chất phức tạp về tộc người, về nguồn gốc tụ cư cũng như thời gian tụ cư của ngư dân các làng chài trên Vịnh Hạ Long

Vào tháng 6/2014, ngư dân vạn chài được di cư lên bờ tại khu TĐC Khe Cá, thuộc phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Đây là một sự kiện

có tính bước ngoặt trong quá trình phát triển của cộng đồng bởi nó gây ra những xáo trộn về môi trường sống và các thực hành văn hóa, sinh kế Sự kiện này đã làm tan rã các làng chài trên Vịnh và đưa cư dân của những làng này tập trung vào một khu

1.3.2 Đặc điểm cư trú và dân cư

Ngư dân làng chài về cơ bản sinh sống trong khu vực địa lý riêng biệt Bao quanh họ là khung cảnh thiên nhiên Vịnh Hạ Long cùng các điều kiện về môi trường, ngư trường cho các hoạt động kinh tế và thực hành lối sống, các sinh hoạt văn hóa ở các cấp độ cộng đồng, gia đình dòng họ và cá nhân

Ở vùng Vịnh Hạ Long, biển ăn sâu vào đất liền với bờ khúc khuỷu và với dạng địa hình đảo, núi xen kẽ các trũng biển với những đảo đá vôi vách đứng Các hườm đá, hang động được hình thành do quá trình phong hóa núi đá vôi và bào mòn bởi sóng biển trở thành nơi cư trú an toàn cho thuyền nhỏ Điều kiện khí hậu, thời tiết cũng khá ôn hòa với nhiệt độ không quá khắc nghiệt (nằm trong vùng nhiệt đới nên nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27 – 29 C, mát và khô vào mùa đông với nhiệt

độ xuống thấp khoảng 16 – 18 C), vịnh không có sóng lớn Các đảo đá và những dãy núi đá vôi tạo ra một cảnh quan chia vịnh Hạ Long ra thành những ao chuôm

Trang 36

khổng lồ, là nơi cư ngụ của nhiều loài tôm cá với lượng thức ăn phong phú từ các cửa sông đổ ra vịnh Do đó, đây là vùng Vịnh giàu tài nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác hải sản và phát triển kinh tế biển Theo thống kê, tại Vịnh Hạ Long

có khoảng 1.000 loài cá biển, trong đó có 730 loài đã định tên; 140 loài động vật phù du; gần 500 loài động vật đáy; 326 loài động vật tự du; 130 loài động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ; hơn 230 loài san hô và một số loài linh trưởng quý hiếm cùng nhiều thực vật đặc hữu [75]

Xét về cảnh quan, những làng chài trên Vịnh Hạ Long được “bao bọc” bởi những dãy núi đá vôi với nhiều dãy núi đá vôi cao từ 80 đến 100 mét, dốc xuống từ

100 đến 200, được hình thành do quá trình chuyển đổi CO2 có tuổi đời hàng nghìn năm Sinh sống trong các vụng được núi đá bao bọc, ngư dân vạn chài Hạ Long tránh được những ảnh hưởng từ các con sóng đại dương và những trận bão lớn Điển hình cho đặc điểm cư trú này được thể hiện qua làng chài Cửa Vạn Làng chài này nằm trong một vụng biển kín, xung quanh được bao bọc bởi các đảo đá tự nhiên, trở thành một địa điểm hiệu quả để tránh gió bão và giao thông đường biển

an toàn, thuận lợi

Trước đây, ngư dân cư trú trên thuyền Thuyền vừa là nhà, vừa là công cụ sản xuất – một phương tiện thiết yếu trong sinh hoạt và thực hành sinh kế của ngư dân vạn chài Hạ Long Các hộ gia đình thường có vài thế hệ cùng chung sống nên không gian sinh hoạt trên thuyền rất chật chội Trong một không gian như vậy, ngư dân phải có cách thích ứng bằng việc chia thuyền ra làm nhiều khoang, thông thường từ 5-7 với 3 phần: khoang đằng mũi, khoang ở và khoang đằng lái Các khoang đằng lái được tận dụng để làm bếp Không gian sống dưới thuyền chật hẹp nên vào đầu thế kỉ XX, ngư dân dựng những ngôi nhà nổi tạm bằng gỗ, tre, lá khai thác từ các đảo đá trên vịnh Sau này họ đã thay bè mái lá, vách gỗ bằng bè mái bằng, mái úp Hiện đại hơn các gia đình có điều kiện đã lợp mái tôn, mái lá bọc lưới

cũ lên chống gió Về sau, có nhiều hộ có điều kiện xây nhà bè, nuôi thủy hải sản nên không gian sinh hoạt có phần được mở rộng hơn và cho thu nhập cao hơn nhưng về cơ bản vẫn gắn chặt với môi trường biển Dân cư của các làng chài trên vịnh Hạ Long chiếm 93 % là dân gốc từ dân làng Giang Võng và Trúc Võng và Hà

Trang 37

Nam (Yên Hưng (Quảng Yên) – Quảng Ninh); còn lại là 7% các hộ dân từ vùng khác đến sinh cơ lập nghiệp như, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hải Dương

Trong một không gian lênh đênh sóng nước, đời sống kinh tế của ngư dân bấp bênh nên về cơ bản, từ xưa cho đến nay, người dân làng chài vẫn luôn nghèo khổ Họ bám biển, làm nghề, vừa lo tránh thiên tai vừa lo chạy địch họa1 “Người dân chài không cư ngụ ở nơi cố định, không có quê hương Mỗi nhà một thuyền, chồng mũi vợ lái, quăng chài, kéo lưới, thả câu, chắn đăng Gom được ít tôm cá lại cập bờ lên bán vội, mua vội ít gạo, muối rồi xuống thuyền Họ xa lạ với mọi chuyện trên bờ, khi lên bờ họ ngu ngơ như người thiểu số vùng cao xuống thành phố Họ sống thật thà, chất phác, luôn chịu mua đắt bán rẻ, thường bị bắt nạt” [59, tr.349].Các điều kiện về y tế (chữa bệnh bằng tri thức dân gian), giáo dục đều không được đảm bảo, tỉ lệ mù chữ cao (trên 80%) Ngư dân chài còn có tâm lý tự ti khi bị người trên bờ xa lánh, coi khinh với quan niệm ngư dân là những kẻ “sống vô gia

cư, chết không địa táng” bởi họ không có nhà cửa cố định, thậm chí không có hộ khẩu, chết không có đất chôn Hiện tại, sau nhiều năm sinh sống ở dưới biển nay lên định cư trên bờ, ngư dân vạn chài ở khu TĐC có việc làm chưa ổn định, phần lớn không biết chữ, tình hình dân trí thấp, cần có thời gian để hội nhập với môi trường sống mới Ngư dân khi lên bờ gặp nhiều khó khăn bởi khó ổn định cuộc sống do họ chỉ biết nghề biển: sinh hoạt, tập tục trên biển đã gắn bó, ăn sâu trong tiềm thức

1.3.3 Tổ chức chính trị - xã hội truyền thống

Vạn là một tổ chức truyền thống của ngư dân xưa Vì không có đất để định

cư trên bờ, nên vạn có thể coi là “làng- xã” của cộng đồng ngư dân vạn chài

Theo các nghiên cứu về làng xã thì làng là đơn vị cốt lõi và cơ bản nhất của

tổ chức chính trị - xã hội truyền thống của các cộng đồng cư dân ở Việt Nam nói chung Kết cấu làng xã của Việt Nam (chính xác hơn là người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ) cùng với tính đa nguyên và chặt của nó là cơ sở để bảo lưu nhiều thành tố văn hóa làng trong tính bảo thủ của làng xã Văn hóa làng vẫn tồn tại đến ngày nay với sự ngưng kết trong các giá trị tinh thần, biểu hiện ra trong lối sống, phong tục tập quán, văn hóa dân gian, tín ngưỡng tôn giáo Văn hóa làng còn có cả một cơ sở

(cái sọt – bọn giặc chuyên đeo sọt để chia của cải cướp được)

Trang 38

vật chất là đình chùa, miếu, lũy tre, bến nước, cây đa Những làng chài ở Hạ Long không có những tính chất nổi bật như vậy bởi do quy định của điều kiện tự nhiên nhưng cũng có những nét phản ánh kết cấu chung của làng thể hiện qua những ghi chép về hai làng chài Giang Võng, Trúc Võng xưa Kiểu tổ chức này biểu hiện qua việc quần cư thành làng đông đúc, đôi khi phân tán, song đã có tổ chức tự quản, có

bộ máy hành chính riêng, có hội đồng kỳ mục riêng, tức là đã hình thành đơn vị hành chính cấp xã với hệ thống lý dịch, có con dấu riêng, hoàn toàn tách biệt với cư dân trên bờ Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Dương [16] về cấu trúc làng chài truyền thống trên Vịnh Hạ Long thì làng được chia thành nhiều thôn, đứng đầu mỗi thôn là thôn trưởng (nhiệm kỳ 3 năm) do lý trưởng cắt cử từ những người tương đối khá giả với độ tuổi từ 30 trở lên, có nhiệm vụ thu thuế, điều động phu dịch, quản lý nhân khẩu, an ninh và các công việc hành chính khác trong cụm dân

cư do ông ta quản lý Trưởng thôn về cơ bản không có quyền lợi gì Ngoài thôn còn

có giáp Hai làng Giang Võng và Trúc Võng đều có các giáp Đông và giáp Nam, mỗi giáp có một trưởng giáp quản lý nhân đinh trong giáp mình Nhiệm kỳ của trưởng giáp là 3 năm và có quyền lợi được miễn một lần tế đám Về cơ bản, giáp ở làng chài cũng là một thiết chế tổ chức theo lớp tuổi, tuy nhiên, giáp ở làng chài khác với giáp ở làng nông nghiệp bởi do không có ruộng nên giáp ở đây không phải

là đơn vị để phân công và quản lý công điền, không phải nơi để gửi hậu của những người không có con trai, cũng không phải là đơn vị thu thuế Giáp ở làng chài chỉ đơn thuần có chức năng quản lý nhân đinh để cắt cử người làm đăng cai hay tế đám trong các dịp lễ hội, tế thần trong năm

Bộ máy quản lý hành chính của làng chài trên Vịnh Hạ Long cũng bao gồm hai thiết chế là kỳ mục và lý dịch Những người tham gia hai thiết chế này có phẩm hàm không nhiều bởi do tính chất quy định của ngư dân chài Họ chủ yếu là những cựu binh đã khao vọng và những người đã làm trong hội đồng chức dịch Hội đồng này cũng trải qua các đợt cải lương hương chính vào những năm 1921, 1927 và

1941 Hội đồng lý dịch cũng bao gồm lý trưởng, phó lý và các nhân sự giúp việc khác như xã đoàn, hộ lại, thủ quỹ, thư lại nhưng không có trưởng bạ vì do tính chất của làng chài nên không có ruộng để chịu thuế Ở làng chài có việc khác biệt trong đăng kí sổ thuyền Mỗi gia đình có thuyền được cấp cho một cuốn sổ, giống như sổ

Trang 39

hộ khẩu bây giờ vì yêu cầu thông tin về chủ thuyền, số nhân khẩu, tình trạng thuyền Sổ này mỗi năm đổi một lần, có lệ phí Nếu đăng kí thuyền mới thì phải nộp thuế 3 đồng Lý trưởng phải có sổ này để quản lý dân trong địa vực của mình

Về đảm bảo an ninh cho làng chài, các giang tuần (khoảng 4-5 người/ làng, chọn từ những người từ 18-50 tuổi, không có thứ vị trong làng) được thành lập và

sử dụng thuyền công hoặc cắt cử lần lượt các thuyền của hộ ngư dân để thực hiện tuần phòng Nhiệm kỳ của mỗi giang tuần là một năm Chỉ huy giang tuần là xã đoàn, một nhân vật có vị trí trong bộ máy hành chính, có nhiệm kỳ là 3 năm Nhiệm

vụ của giang tuần là đảm bảo an ninh cho làng chài, có thưởng nếu lập công và bị phạt nếu bỏ nhiệm vụ và không được hưởng phụ cấp Đây là nghĩa vụ phải làm và cũng do thân phận thấp kém buộc họ phải thực hiện công việc này Hết năm sẽ có đợt chọn giang tuần mới Khi tiến hành lựa chọn người mới, Lý trưởng sẽ dán thông báo ở đình, một bản gửi lên quan trên hoặc lưu lại tại xã để mọi người cùng biết và thực hiện Riêng với xã đoàn, nếu làm tốt công việc có thể được xếp ngôi thứ tương đương với phó lý

Như vậy, kết cấu tổ chức làng truyền thống ở các làng chài Giang Võng, Trúc Võng về cơ bản cũng khá chặt chẽ, cũng theo mô hình của các làng nông nghiệp trên bờ nhưng có một số đặc điểm khác biệt do quy định của tính chất làng chài Ngoài ra còn có kiểu tổ chức dạng mới, gồm dân chài sống trong các vụng không thành phe giáp, không có bộ máy tự quản Về bộ máy hành chính, họ phụ thuộc vào cư dân trên bờ Cả vạn chỉ có một trưởng vạn do lý trưởng trên bờ chọn

để gánh vác trách nhiệm về sưu thuế, phu dịch

1.3.4 Thực hành tín ngưỡng, tôn giáo

Đa thần giáo là thực hành tín ngưỡng truyền thống của ngư dân vạn chài nói riêng cũng như phổ biến trong các thực hành tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng người ở Việt Nam, trừ những cộng đồng theo đạo độc thần giáo như Thiên Chúa, Tin Lành Cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long sinh sống và thực hành sinh

kế trong một môi trường thiên nhiên có nhiều thuận lợi nhưng cũng lắm biến động

Do đó, họ cho rằng có nhiều thần linh liên quan đến đời sống của cá nhân, gia đình, cộng đồng mình và thực hành những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để xoa dịu, trao đổi với lực lượng siêu nhiên này bởi các vị thần có thể gây ảnh hưởng đến đời sống

Trang 40

của con người trần thế Người nào kính trọng, thành tâm với thần linh sẽ nhận được

sự giúp đỡ, hỗ trợ và ngược lại sẽ bị quở trách, trừng phạt nếu có những hành vi sai trái hoặc không tôn kính

Ngư dân vạn chài Hạ Long tin vào sự hiện hữu của tổ tiên, của thần biển, của các vị thánh và những vị thần có thể gây ảnh hưởng đến con thuyền - công cụ lao động quan trọng nhất của họ Mỗi vị thần sẽ trú ngụ ở những nơi khác nhau: linh hồn tổ tiên trú ngự ở bàn thờ được dựng trang trọng ở ngăn chính của thuyền; Thủy thần (hà bá) cư ngụ trên biển và được thờ trong miếu; thành hoàng làng (của ngư dân làng Giang Võng, Trúc Võng xưa và hậu duệ của họ hiện nay) ngụ ở đình (Đình Giang Võng thờ thần núi, thần biển, Đức Thánh Trần, Đức ông Cửa Suốt, Đức ông Lục Đầu giang, Đức vua Cao Minh và quan cụ Hà Ráng cùng 3 quan giúp việc thần thánh và 7 cụ tổ của 7 dòng họ lớn trong làng, cũng là thành hoàng làng) Ngư dân tổ chức lễ cúng các thần linh tại nơi trú ngự của họ đều đặn theo lịch tiết Trong cộng đồng ngư dân có một số người có khả năng và tri thức để có thể

“thương lượng” với các lực lượng siêu nhiên thông qua cầu cúng

Trong một khoảng thời gian dài (từ những năm 1960 đến những năm 1980), nhiều thực hành tín ngưỡng, tâm linh bị coi là lạc hậu, mê tín nên không được khuyến khích duy trì Hiện nay, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh

đã cho tiến hành khôi phục lại Lễ hội Đình làng Giang Võng và một số thực hành văn hóa khác như hát giao duyên trên biển, hát đón dâu trên thuyền , tạo điều kiện cho sự tái tạo truyền thống và phục hồi lại các tín ngưỡng tâm linh

1.3.5 Hoạt động kinh tế truyền thống

Các hoạt động kinh tế truyền thống của cộng đồng ngư dân vạn chài Hạ Long được hình thành và phát triển dựa trên sự quy định của các đặc điểm môi trường tự nhiên, sinh thái Vịnh Hạ Long Trải qua hàng trăm năm tương tác với môi trường, ngư dân đúc kết cho mình một khối tri thức bản địa, đó là một khối các kiến thức, các tập quán và những thực hành văn hóa, sinh kế được hình thành, duy trì và phát triển bởi những ngư dân có lịch sử tương tác lâu dài với môi trường tự nhiên, tạo ra một phức hệ văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tên gọi, các hệ thống phân loại, các thói quen sử dụng tài nguyên, các nghi lễ, tín ngưỡng và thế giới quan tạo cơ sở cho việc ra những quyết định trong hoạt động đánh bắt hải sản, đấu tranh chống lại

Ngày đăng: 16/05/2017, 09:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w