LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực ở các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương” là công trình
Trang 1NGUYỄN THỊ NHÂN ÁI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NHÂN ÁI
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐẾN BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN THỊ THÙY LINH
TP Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực ở các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương” là công trình nghiên cứu của tôi cùng với sự hỗ trợ của Giảng viên hướng dẫn PGS.TS Trần Thị Thùy Linh và chưa từng được công bố trước đây
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Tôi sẽ chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này
TP Hồ Chí Minh, Ngày tháng 10 năm 2016
Người thực hiện
Nguyễn Thị Nhân Ái
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chính 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4
1.6 Bố cục bài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Cơ sở lý thuyết 5
2.1.1 Lý thuyết về tỷ giá 5
2.1.2 Lý thuyết về đầu tư nước ngoài 6
2.1.3 Lý thuyết đầu tư nước ngoài tác động tới biến động tỷ giá 8
2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 53.1 Dữ liệu nghiên cứu 15
3.2 Mô tả biến nghiên cứu 15
3.2.1 Biến phụ thuộc 15
3.3 Mô hình nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp kiểm định và ước lượng hồi quy 22
3.4.1 Kiểm định các trường hợp khuyết tật của mô hình 24
3.4.2 Phương pháp ước lượng hồi quy GMM 27
3.4.2.1 Ưu điểm của GMM 27
3.4.2.2 Tính chất của phương pháp ước lượng GMM 29
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Phân tích thống kê mô tả 31
4.2 Kiểm định tự tương quan và đa cộng tuyến 34
4.2.1 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến 34
4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến 36
4.3 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled OLS, FEM, REM 37
4.3.1 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled OLS và FEM 38
4.3.2 Kiểm định lựa chọn mô hình Pooled OLS và REM 39
4.3.3 Kiểm định lựa chọn mô hình FEM và REM 39
4.4 Kiểm định các giả thiết cổ điển định lượng 40
4.4.1 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liệu bảng - Greene (2000) 40
4.4.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng– Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 41
4.5 Phân tích kết quả hồi quy bằng phương pháp Pooled OLS, FEM và REM 42
4.6 Hồi quy đối chiếu bằng phương pháp GMM 47
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 56
Trang 6CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Gợi ý chính sách 58
5.3 Hạn chế 59
5.4 Hướng mở rộng 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI : Đầu tư gián tiếp nước ngoài
FEM : Mô hình các ảnh hưởng cố định
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GMM : Phương pháp moment tổng quát
IMF : Quỹ tiền tệ quốc tế
ODA : Viện trợ nước ngoài không hoàn lại
REM : Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên
WB : Ngân hàng thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
Bảng 3.1 Tổng hợp các biến số trong mô hình nghiên cứu
Bảng 3.2 Sự kỳ vọng các biến số hồi quy
Bảng 4.1 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.2 Ma trận tương quan tuyến tính giữa các cặp biến trong mô hình Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai Bảng 4.4 Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM
Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi của các mô hình
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra tự tương quan trong các mô hình
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mô hình 1, 2, 3, 4 bằng phương pháp FEM và REM Bảng 4.10 Kết quả hồi quy mô hình 5, 6, 7, 8, 9 bằng phương pháp Pooled OLS
và FEM Bảng 4.11 Kết quả hồi quy mô hình 1, 2, 3, 4 bằng phương pháp sai phân GMM Bảng 4.12 Kết quả hồi quy mô hình 5, 6, 7, 8, 9 bằng phương pháp sai phân
GMM
Trang 9TÓM TẮT
Bài nghiên cứu xem xét rằng đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài và nợ nước ngoài có làm thay đổi độ biến động tỷ giá hối đoái thực hay không với dữ liệu từ 8 quốc gia châu Á Thái Bình Dương Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy trên dữ liệu bảng GMM cho giai đoạn 1991- 2014
Kết quả tìm thấy nghĩa vụ nợ, tổng nợ nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài,đầu tư gián tiếp nước ngoài tác động ngược chiều tới chỉ tiêu đo lường độ bất
ổn tỷ giá hối đoái thực Ngoài ra, với các yếu tố kiểm soát tác giả tìm thấy độ biến động GDP có tác động tới độ biến động tỷ giá hối đoái thực theo hướng tích cực
Độ mở thương mại có tác động ngược chiều, độ mở thương mại càng lớn thì độ biến động trong tỷ giá hối đoái thực càng giảm Cuối cùng, sự thay đổi của chính sách tỷ giá liên tục tác động nghịch biến tới biến động của chính tỷ giá
Từ khóa: Biến động tỷ giá, đầu tư trực tiếp nước ngoài, mô hình dữ liệu
bảng
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1Lý do chọn đề tài
Trong 5 năm trở lại đây, thị trường châu Á đã nhận được dòng tiền đầu tư đáng kể do lợi suất của chiến trường phương Tây ngày càng kém hấp dẫn Với dòng vốn đầu tư mới, rất nhiều nước đã dành thời gian để giảm bớt những rào cản đối với đầu tư, giảm tham nhũng hoặc giảm thiểu vai trò chi phối của khối doanh nghiệp nhà nước.Không thể phủ nhận rằng các nền kinh tế mới nổi ở châu Á đã có thể trạng tốt hơn so với thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn châu Á năm 1997 – 1999
Nợ được niêm yết bằng đồng nội tệ thay vì USD có nghĩa là đồng nội tệ yếu đi sẽ không khiến chi phí nợ tăng vọt như trước Các ngân hàng châu Á cũng có tiềm lực hơn so với những năm 1990 Và, các nước cũng đã trang bị cho mình nguồn dự trữ ngoại hối lớn hơn Thêm vào đó, Nhật Bản – nền kinh tế đã trì trệ trong nhiều thập
kể – giờ đây đã xuất hiện những đột phá hứa hẹn tăng trưởng Dẫu vậy, một số chuyên gia phân tích vẫn cho rằng nhiều nền kinh tế đang phát triển trong khu vực cần phải hành động để đảm bảo chắc chắn dòng vốn đầu tư – nhân tố ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng – sẽ tiếp tục chảy vào Và thực sự, vấn
đề này là khác nhau ở từng nước Các dòng vốn đầu tư chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tỷ giá hối đoáithực - là chỉ số quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, nó gắn liền với hoạt động giao thương quốc tế nói chung và các dòng tiền đầu tư nước ngoài đổ vào nói riêng.Do đó, các nhà hoạnh định chính sách cần phải nắm bắt một cách rõ ràng về tính biến động tỷ giá hiện nay để đưa ra các chính sách đối nội và đối ngoại phù hợp, thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, vượt qua các giai đoạn khó khăn Vấn đề đặt ra là có quá nhiều yếu tố tác động đến chỉ số này, nhưng đâu là yếu tố chính tác động mạnh mẽ tới nó, đâu là yếu tố không quan trọng Đặc biệt là trong nền kinh tế toàn cầu hóa, nhiều tác động dẫn truyền với nhau, có thể xảy ra sự biến đổi đột ngột dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc cần phải được xem xét
Trang 11Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cung cấp các quan điểm trái chiều về ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực Một mặt, việc bãi bỏ kiểm soát ngoại hối và sự gia tăng đầu tư nước ngoài (đặc biệt là trong ngắn hạn) có thể khuếch đại các tác động của các cú sốc cho nền kinh tế và cũng có thể gây ra sự đảo chiều đột ngột, tạo ra biến động không mong muốn trong cả tỷ giá hối đoái thực và nền kinh tế thực (Corden, 2002; Reinhart và Smith, 2002) Mặt khác, đầu tư nước ngoài lớn hơn có thể làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực tế bằng cách tăng tính thanh khoản, cải thiện năng suất các nhân tố, ổn định chi tiêu trong nước và chi tiêu đầu tư thông qua chia sẻ rủi ro toàn cầu (Agenor, 2003) Trong đó, đầu tư nước ngoài lớn hơn có thể cải thiện việc chia sẻ rủi ro bằng cách buộc tỷ lệ sinh lời trên khoản nợ bên ngoài với điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước (Aguirre và Calderón, 2005; Le Fort, 2000) Jongwanich, Kohpaiboon (2013) và Athukorala và Rajapatirana (2003) cho rằng hình thức đầu tư nước ngoài có tác động khác nhau về
tỷ giá hối đoái thực Như vậy, không chỉ có quy mô mà thành phần của đầu tư nước ngoài có thể đóng một vai trò quan trọng
Cho đến thời điểm hiện tại, nội dung nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp của các dòng vốn nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thựcmới chỉ được tìm thấy nghiên cứu đầu tiên của tác giả Almukhtar Al-Abri Hamid Baghestani (2015)
Trong bối cảnh các nghiên cứu ở thị trường châu Á Thái Bình Dương vẫn còn hạn chế vàđể bổ sung cho các bằng chứng thực nghiệm nêu trên, tác giả quyết
định nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực ở các quốc gia châu Á Thái Bình Dương”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chính
Bàinghiên cứu tập trung xem xét mối quan hệ giữađầu tư nước ngoàibao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài và nợ nước ngoài ảnh hưởng như thế nào đến độ biến động tỷ giá hối đoái thựcđể thấy được mức ý nghĩa
Trang 12tác động và dấu tác động với thực nghiệm ở 8 quốc gia thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nội dung nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi cụ thể sau:
(1) Gia tăng dòng vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức như đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài và nợ nước ngoài có làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực hay không
(2) Khi xem xét tác động trực tiếp và gián tiếp thông qua dòng vốn FDI thì các yếu tố vĩ mô như phát triển tài chính, chi tiêu của chính phủ, sự ổn định và chất lượng thể chế, dự trữ tài sản nước ngoài và chính sách tiền
tệ độc lập có tác động đến biến động tỷ giá hối đoái thực hay không
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm biến động tỷ giá hối đoáithực, đầu tư nước ngoài
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả thực hiện nghiên cứu với dữ liệu từ 8 quốc gia thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương bao gồm Australia, China, Japan, Malaysia, New Zealand, Pakistan, Philippines, Singapore trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2014 Đây là các quốc gia có đầy đủ dữ liệu quan sát trong mẫu giai đoạn nghiên cứu
1.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng dạng cân bằng (balanced data) Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, sử dụng phần mềm Stata 13
để tiến hành kiểm định các khiếm khuyết định lượng như hiện tượng đa cộng tuyến,
tự tương quan, phương sai thay đổi, áp dụng mô hình tác động cố định (FEM), mô
Trang 13hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình moment tồng quát (GMM, 1991) để thực hiện hồi quy phân tích quan hệ giữa các biến nghiên cứu
1.5Ý nghĩa của nghiên cứu
Về lý luận, đề tài củng cố các luận điểm của các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của các dòng vốn nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực
Về thực tiễn, đề tài cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các dòng vốn nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực, từ đó cung cấp những cơ
sở để góp phần đưa ra các chính sách phù hợp điều hành tỷ giá
1.6Bố cục bài nghiên cứu
Bố cục bài nghiên cứu bao gồm 5 chương được trình bày như sau:
Chương 1 - Giới thiệu đề tài nghiên cứu Trong chương này tác giả trình bày lý
do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài
Chương 2 - Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này tác giả
trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối tương quan giữa đầu tư nước ngoài và biến động tỷ giá
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu Trong chương này tác giả sẽ làm rõ mô
hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách các biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng
Chương 4 - Nội dung và kết quả nghiên cứu Trong chương này tác giả phân
tích thống kê mô tả, kiểm định tính dừng, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và phân tích hồi quy
Chương 5 - Kết luận Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được
và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 14CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN
CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết về tỷ giá
Theo O'Sullivan, Arthur; Steven M Sheffrin (2003) sách Nguyên lý kinh tế học, tỷ giá hối đoái giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Tỷ giá cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác
Việc trao đổi mua bán không chỉ giới hạn trong phạm vi một nước mà có sự tham gia của nhiều quốc gia khác nhau Khi đó, các quan hệ thanh toán, tín dụng trong giao dịch ngoại thương giữa các bên đòi hỏi phải sử dụng đơn vị tiền tệ của một trong hai nước nhưng cũng có thể là đồng tiền của nước thứ ba Vì vậy vấn đề chuyển đổi đồng tiền nước này sang nước khác để xác định giá trị giao dịch, thanh toán có ý nghĩa rất quan trọng Để thực hiện việc chuyển đổi đó phải dựa vào một mức quy đổi xác định Điều này đã nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái trong nền kinh
tế Về hình thức, tỷ giá hối đoái là giá đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng đồng tiền nước khác, là hệ số quy đổi của một đồng tiền này sang đồng tiền khác Về nội dung, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ và quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá hối đoái có thể phân loại như sau:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được yết và có thể trao đổi giữa hai đồng tiền mà không đề cập đến tương quan sức mua giữa chúng
- Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã được điều chỉnh theo
sự thay đổi trong tương quan giá cả của nước có đồng tiền yết giá và giá cả của nước có đồng tiền định giá
Trang 15Trong nghiên cứu và thực tế, tỷ giá hối đoái thực cũng như tính biến động của của tỷ giá hối đoái thực là chỉ số được quan tâm xem xét vì nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hay nắm giữ tiền
Theo sách “Academic Dictionaries and Encyclopedias” định nghĩa về biến động tỷ giá hối đoái, một tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường sẽ thay đổi bất cứ khi nào các giá trị của một trong hai tiền tệ thành phần thay đổi Một đồng tiền sẽ có xu hướng trở nên có giá trị hơn bất cứ khi nào nhu cầu cho nó lớn hơn cung cấp có sẵn
Nó sẽ trở nên ít có giá trị bất cứ khi nào nhu cầu thấp hơn cung cấp có sẵn.Điều này không có nghĩa là người ta không còn muốn tiền, nó chỉ có nghĩa là họ muốn nắm giữ của cải của họ trong một số hình thức khác, có thể là một đồng tiền khác
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái như lãi suất, lạm phát, nợ công, thâm hụt tài khoản vãng lai, chính sách tiền tệ… Tuy nhiên, ở góc độ bài nghiên cứu này tác giá chỉ tập trung xem xét tác động nhân đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực Vì vậy các yếu tố còn lại được xem xét trong mối quan hệ tương tác với đầu tư nước ngoài mà không xem xét độc lập khỏi mô hình nghiên cứu chính
2.1.2 Lý thuyết về đầu tư nước ngoài
Đầu tưnước ngoài bao gồm các dòng vốn từ một quốc gia khác để đổi lấy cổ phần sở hữu đáng kể ở các công ty trong nước hoặc các tài sản khác trong nước Thông thường, đầu tư nước ngoài biểu thị rằng người nước ngoài có vai trò khá tích cực trong quản lý như là một trách nhiệm cho đầu tư của họ
Theo như Almukhtar Al-Abri Hamid Baghestani (2015) tiếp cận, đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp FDI, đầu tư gián tiếp nước ngoài và nợ nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước chủ nhà hay
Trang 16nước nhận đầu tư) Có rất nhiều khái niệm khác nhau trên thế giới, nhưng có thể kể đến các khái niệm sau:
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF định nghĩa “đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó.”
Theo tổ chức thương mại thế giới WTO “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác ( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý
là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp,
cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay các chi nhánh công ty”
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
Các nhà đầu tư nước ngoài xúc tiến mua và nắm giữ cổ phiếu theo danh mục đầu tưđược phát hành từ các công ty nội địa
Trang 17Theo như Almukhtar Al-Abri Hamid Baghestani (2015) nợ nước ngoài được hiểu đơn giản là các khoản vay mượn của công ty, chính phủ và các ngân hàng trong nội địa
Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó hoặc những đồng tiền mạnh nên khi tỷ giá hối đoái thựctăng lên cũng đồng nghĩa với sự tăng lên của gánh nặng nợ nước ngoài Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngày càng tự do thì các nước, đặc biệt các nước đang phát triển vay nợ nhiều càng phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo được tăng trưởng và khả năng trả nợ nước ngoài của quốc gia mình
2.1.3 Lý thuyết đầu tư nước ngoài tác động tới biến động tỷ giá
Tỷ giá về cơ bản thể hiện giá trị của đồng tiền các nước, mà tiền tệ cũng là một loại hàng hóa đặc biệt cho nên tỷ giá hối đoáicũng bị ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với cung của một loại hàng hoá bất kỳ nào thì sự thay đổi cung của hàng hoá đó luôn chịu giới hạn nhất định nhưng cung của tiền có thể tăng đến vô hạn do ngân hàng trung ương có thể phát hành tiền với một số lượng rất lớn Ngược lại cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, tích trữ, đầu cơ nên chúng ta có thể lượng ước được và tính toán được lượng cầu hàng hoá nhưng đối với tiền thì không, cầu tiền là vô hạn do nhu cầu về tiền của người dân luôn lớn Do vậy, cung và cầu của tiền luôn thay đổi ảnh hưởng, tác động tới sự thay đổi của tỷ giá hối đoái:
Khi cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ tăng
tỷ giá hối đoái tăng
Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ giảm
tỷ giá hối đoáigiảm
Mọi sựthay đổi về cung và cầu ngoại tệ trên thị trường đều dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng và tác động mạnh tỷ giá hối đoái Cung ngoại tệ trên thị trường được cung cấp bởi nhiều cách thức như: nguồn vốn ODA, FDI, FPI, dự trữ ngoại
Trang 18hối của ngân hàng trung ương, kiều hối Cầu ngoại tệ trên thị trường là nhu cầu ngoại tệ sử dụng cho các hoạt động xuất khẩu, du lịch,… Bên cạnh đó sự tác động của các hàng hóa thay thế trên thị trường như vàng với dầu mỏ cũng ảnh hưởng tới cung, cầu của ngoại tệ do yếu tố đầu tư Quan hệ cung cầu là một nhân tố chính và quan trọng nhất tác động mạnh mẽ tới tỷ giá hối đoái Thông qua cung cầu tỷ giá có thể được xác định một cách rõ ràng và nhanh chóng Vì vậy, ngân hàng trung ương cần có những quyết định phù hợp tác động tới cung cầu ngoại tệ trên thị trường để đảm bảo chính sách duy trì được một tỷ giá hối đoáihợp lý để nền kinh tế phát triển được ổn định
Như vậy, xét trên góc độ lý thuyết cơ bản, FDI tăng kéo theo cung ngoại tệ tăng dẫn đến tỷ giá giảm, đồng nội tệ chịu sức ép tăng giá
Ngược lại, tỷ giá hối đoái tác động tới giá trị phần vốn mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư hoặc góp vốn liên doanh Vốn ngoại tệ hoặc tư liệu sản xuất được đưa vào nước sở tại thường được chuyển đổi ra đồng nội tệ theo tỷ giá chính thức Bên cạnh đó tỷ giá còn có tác động tới chi phí sản xuất và hiệu quả các hoạt động đầu tư nước ngoài Do đó sự thay đổi tỷ giá hối đoáicó ảnh hưởng nhất định tới hành vi của các nhà đầu tư nước ngoài trong việc quyết định có đầu tư vào nước sở tại hay không
2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
Có khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tỷ giá, ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy nhiên đối với mối quan hệ chiều từ đầu tư nước ngoài tác động tới biến động tỷ giá thì không được phổ biến Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng đầu tư nước ngoài lớn hơn có thể dẫn đến ổn định tài chính
và kinh tế vĩ mô bằng việc quá trình tiêu thụ thanh thoát, tính thanh khoản gia tăng, cải thiện các nhân tố năng suất và thúc đẩy đầu tư trong nước (Agenor, 2003) Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy những lợi ích tiềm năng của đầu tư nước ngoài là gián tiếp và thể hiện thông qua những cải tiến trong các biến số đại diện chính sách về cơ
Trang 19cấu, thể chế và kinh tế vĩ mô, trong đó có biến động tỷ giá (Kose et al, 2009), Lane
và Milesi-Ferretti, 2004)
Đầu tư nước ngoài rộng hơn cho phép các quốc gia đi mượn trong thời gian xấu và cho vay trong thời gian tốt, giảm sự biến động trong nhu cầu tiêu dùng Bằng cách làm giảm bớt các vấn đề gây ra bởi tỷ lệ tiết kiệm thấp ở một số nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài gia tăng có thể nâng vốn vật chất bình quân người lao động và do đó cải thiện cả về thu nhập quốc gia và tiêu chuẩn sống Đầu tư nước ngoài lớn hơn cũng có thể đẩy nhanh quá trình phát triển và hiệu quả của thị trường tài chính trong nước, dẫn đến năng suất các nhân tố cao hơn (Levine, 2001)
Đặc biệt, tăng số lượng các ngân hàng nước ngoài cải thiện chất lượng và tính linh động của các dịch vụ tài chính Nó cũng góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính trong nước bằng cách đưa người gửi tiền tới nơi trú ẩn thay thế trong thị trường nội địa, do đó ngăn cản sự tháo vốn ồ ạt thông qua việc đưa tài sản
ra nước ngoài Goldstein và Turner (2004) lập luận rằng các quốc gia có thể thu hút đầu tư nước ngoài có thể tốt hơn để đối mặt với thách thức toàn cầu hóa tài chính Obstfeld (1998) ghi nhận rằng, để những nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài hiệu quả, các quốc gia cần có chính sách kinh tế vĩ mô kỷ luật hơn bằng cách điều chỉnh các sai lầm trong chính sách
Trong các hình thức đầu tư nước ngoài, các lợi ích tiềm năng từ FDI được dự kiến sẽ lớn hơn trong việc giảm biến động tỷ giá hối đoái thực
Markusen và Venables (1999) cho rằng FDI làm tăng mức độ cạnh tranh và hội nhập trong cả thị trường sản phẩm và thị trường nhân tố sản xuất
Như đã chỉ ra bởi Hull và Tesar (2001), dòng vốn tạo ra tăng nhu cầu cho cả hàng thương mại và phi thương mại, dẫn đến một mức giá của hàng hóa phi thương mại và việc định giá thực sự cao tương ứng Kể từ khi FDI có xu hướng chung tập trung hơn trong cả hai lĩnh vực hàng hóa giao thương và các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu, áp lực tăng tỷ giá hối đoái thực hóa thành áp lực giá hàng hóa phi thương mại dự kiến sẽ thấp hơn nhờ FDI so với các hình thức đầu tư nước
Trang 20ngoài khác Ngoài ra, FDI có thể mang lại những cải tiến năng suất trong lĩnh vực giao thương và do đó làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực thông qua bình ổn giá
cả của hàng hóa thương mại và phi thương mại tương ứng
FDI cũng giúp đơn giản các ràng buộc tài chính, đặc biệt là đối với các nước
có thu nhập thấp (Harrison et al., 2004) Hơn nữa, Blalock và Gertler (2005) cho rằng FDI giảm nhẹ những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính bằng cách giúp công ty duy trì liên kết tín dụng liên tục thông qua công ty mẹ của họ.Trong bối cảnh đó, Albuquerque (2003) thấy rằng các quốc gia có nền tài chính hạn chế nên vay thêm thông qua FDI bởi vì FDI có ảnh hưởng tích cực đến năng suất thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tốt từ các nhà đầu tư nước ngoài
So với các hình thức khác của dòng vốn như đầu tư gián tiếp nước ngoài và
nợ, FDI giúp các nước nhận dòng tiền đầu tưít bị tổn thương bởi tác động tiêu cực của các nhà đầu cơ từ nước ngoài Như vậy tương đối hợp lý để hy vọng rằng tác động của FDI lớn hơn trong việc giảm biến động tỷ giá thực so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác
Đầu tư gián tiếp nước ngoài thúc đẩy sự phát triển của ngành tài chính trong nước và tạo ra lợi nhuận hiệu quả giữa các doanh nghiệp trong nước bằng cách đặt chúng với sự cạnh tranh từ các nhà đầu tư nước ngoài
Hull và Tesar (2001) thảo luận về những lợi ích chia sẻ rủi ro của dòng vốn
từ danh mục đầu tư, Chari và Henry (2008) đã chỉ ra rằng sự tự do hóa thị trường chứng khoán cung cấp cho các doanh nghiệp trong thị trường mới nổi tiếp cận với các kênh tài chính mới, do đó làm giảm chi phí vốn và tăng cơ hội để đầu tư Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng đòi hỏi tiêu chuẩn quản trị cao hơn, có thể có một tác động tích cực đến lợi nhuận, hiệu quả, và các biện pháp khác về thành quả hoạt động
Dòng vốn từ nợ được dự kiến sẽ có ít lợi ích trong việc giảm biến động tỷ giá hối đoái thực Điều này là do dòng vốn từ nợ không giải quyết được vấn đề chi phí
Trang 21đại diện nhất định và có thể dẫn đến phân bổ vốn không hiệu quả nếu ngân hàng vẫn chưa được giám sát Các khoản vay ngân hàng ngắn hạn để phát triển quốc gia
có xu hướng tăng trong thời gian bùng nổ kinh tế và nhanh chóng giảm trong thời
kỳ suy thoái Trong cùng chu kỳ của dòng nợ có thể dẫn đến phân bổ vốn hiệu quả Ngoài ra, phụ thuộc quá nhiều vào nợ nước ngoài có thể đưa các nước đối mặt với những cú sốc lãi suất thế giới, do đó dẫn tới sự biến động sản lượng cao hơn Wei (2006) lập luận rằng các nước có sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn nợ từ danh mục đầu tư (bao gồm cả các khoản vay ngân hàng), càng nhiều thì càng dễ bị tổn thương khi các nhà đầu tư rút vốn đột ngột Hơn nữa, việc gia tăng đáng kể dòng vốn, đặc biệt là hình thức nợ, có thể làm cho hệ thống tài chính dễ bị tổn thương bằng cách tạo ra sai lệch kỳ hạn giữa tài sản ngân hàng và nợ phải trả bất xứng giữa các đồng tiền ngoại tệ mà các ngân hàng cho vay và đi vay
Cuối cùng, liên quan đến nghiên cứu thực nghiệm là những quan điểm trái ngược về vệc đầu tư nước ngoài lớn hơn ảnh hưởng đến biến động tỷ giá hối đoái thực như thế nào Biến động tỷ giá hối đoái thực có thể giảm nếu toàn cầu hóa tài chính tận dụng việc chia sẻ rủi ro quốc tế và do đó dẫn đến mô hình nhu cầu tập hợp mang tính tương quan hơn giữa các quốc gia (Lane và Milesi-Ferretti, 2004) Tuy nhiên, như đã đề cập bởi Kalemli-Ozcan et al (2003), nếu chia sẻ rủi ro qua biên giới lớn hơn dẫn đến tăng chuyên môn hoá trong sản xuất, cú sốc ngành trong trường hợp này sẽ chuyển thành biến động trong tỷ giá hối đoáithực thực tế lớn hơn Chia sẻ rủi ro lớn hơn cũng có thể dẫn đến sự phân tán lớn hơn ở các vị trí đầu tư quốc tế (Hau, 2002)
Bảng 2.1:Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm Nghiên cứu Kết luận chính
Quan điểm gia tăng đầu tư nước ngoài làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực
Markusen và
Venables (1999)
FDI làm tăng mức độ cạnh tranh và hội nhập trong cả thị trường sản phẩm và nhân tố sản xuất
Trang 22Albuquerque
(2003)
Các quốc gia tài chính hạn chế nên vay thêm thông qua FDI, bởi vì FDI có ảnh hưởng tích cực đến năng suất thông qua chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tốt từ các nhà đầu tư nước ngoài
Agenor(2003)
Đầu tư nước ngoài lớn hơn có thể làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực bằng việc gia tăng tính thanh khoản, cải thiện các nhân tố năng suất, ổn định tiêu dùng nội địa và thúc đẩy đầu tư trong nước thông qua chia sẻ rủi ro quốc tế
Chari và Henry
(2008)
Sự tự do hóa thị trường chứng khoán cung cấp cho các doanh nghiệp tiếp cận các kênh tài chính mới, làm giảm chi phí vốn
và tăng cơ hội đầu tư
Quan điểm gia tăng đầu tư nước ngoài làm tăng biến động tỷ giá hối đoái thực
Trang 23Bảng tóm tắt ở trên cho thấy không có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng
từ đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực Có những quan điểm cho rằng đầu tư nước ngoài làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực.Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng đầu tư nước ngoài làm tăng biến động tỷ giá hối đoái thực.Vấn đề đặt ra là cần một nghiên cứu kiểm chứng về ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực Chính vì vậy tác giả lựa chọn bài nghiên cứu của Al-Abri, A., và Baghestani, H (2015) làm bài nghiên cứu gốc vì:
- Tác giả của bài nghiên cứu gốc đã có kiểm chứng ảnh hưởng trực tiếp của đầu
tư nước ngoài đến biến động tỷ giá hối đoái thực nên biến nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu phù hợp hơn
- Bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí được xếp hạng uy tín về kinh tế nên phương pháp, nội dung và kết quả nghiên cứu đã được kiểm duyệt một cách nghiêm ngặt
Trang 24CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệunghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu từ các quốc gia thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương với khoản thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 1991-2014 Tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi 8 quốc gia bao gồm Australia, China, Japan, Malaysia, New Zealand, Pakistan, Philippines, Singapore vì thỏa mãn các điều kiện:
- Đây là các quốc gia điển hình tiếp nhận lượng đầu tư nước ngoài lớn trong khu vực
- Các quốc gia này có đầy đủ dữ liệu trong giai đoạn nghiên cứu
3.2 Mô tả biến nghiên cứu
3.2.1 Biến phụ thuộc
Biến động tỷ giá hối đoái thực (ký hiệu là exv): tác giả chọn chỉ số tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER) với nguồn dữ liệu được lấy từ Ngân hàng thế giới, sau đó tính toán độ biến động của REER bằng cách lấy độlệch chuẩn 3 năm liền kề của logarit REER
3.2.2 Biến độc lập
- Biến đầu tư nước ngoàiđược đo lường dưới các hình thức:
Đầu tiên là các nghĩa vụ nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được tính toán theo tỷ lệ phần trăm của GDP (ký hiệu là dl)
Thứ hai là đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được tính toán theo tỷ lệ phần trăm của GDP (ký hiệu là fdi)
Thứ ba là đầu tư gián tiếp nước ngoài được tính toán theo tỷ lệ phần trăm của GDP (ký hiệu là pel)
Thứ tư là tổng nợ nước ngoài ròng được tính bằng tổng của dl, fdi, và pel theo tỷ lệ phần trăm của GDP (ký hiệu là tfl)
Tác giả thu thập dữ liệu có sẵn từ nguồn của Lane và Milesi-Ferretti (2007)
Trang 25- Biến đo lường biến động cơ bản bao gồm:
Biến động tỷ lệ thương mại (ký hiệu là totv), được đo lường bằng cách lấy giá trị độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của logarit tự nhiên tỷ lệ thương mại hàng hóa trao đổi ròng Tác giả thu thập và tính toán từ nguồn số liệu của WB Biến động tăng trưởng GDP (ký hiệu là gdpv), được đo lường bằng cách lấy giá trị độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của logarit tự nhiên giá trị GDP thực Tác giả thu thập và tính toán từ nguồn số liệu của WB
Biến động tín dụng khu vực tư nhân (ký hiệu là fdv) được đo lường bằng cách lấy giá trị độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của logarit tự nhiên giá trị tín dụng khu vực tư nhân.Tác giả thu thập và tính toán từ nguồn số liệu của WB
Độ mở thương mại(ký hiệu là to) được đo lường bằng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu (%GDP).Tác giả thu thập và tính toán từ nguồn số liệu của WB Tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái (ký hiệu là exf) được đo lường bằng cách gán giá trị 1= cố định, 2= neo tỷ giá, 3= quản lý thả nổi, 4 = thả nổi Tác giả thu thập dữ liệu có sẵn từ nguồn của Reinhart and Rogoff (2004)
Biến giả khủng hoảng (crisis) được đưa vào mô hình nhằm kiểm tra xem có tác động đến biến động tỷ giá hối đoái thực hay không Trong thời kỳ xem xét biến crisis được gán cho giá trị bằng 1 đối với các năm xảy ra khủng hoảng gồm cuộc khủng hoảng 1997-1999 và cuộc khủng hoảng năm 2007-
2008, các năm còn lại được gán cho giá trị bằng 0 do không xảy ra khủng hoảng
- Biến đại diện cho các yếu tố vĩ mô như:
Phát triển tài chính (ký hiệu là fd) được tính toán bằng cách lấy giá trị logarit
tự nhiên của tín dụng nội địa của khu vực tư Tác giả thu thập dữ liệu và tính toán từ nguồn WB
Trang 26Biến động chi tiêu chính phủ (gsv) được đo lường bằng cách lấy độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của giá trị logarit tự nhiên của chi tiêu chính phủ Tác giả thu thập dữ liệu và tính toán từ nguồn WB
Biến động lạm phát (infv) được đo lường bằng cách lấy độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của giá trị logarit tự nhiên của chỉ số lạm phát Tác giả thu thập dữ liệu và tính toán từ nguồn WB
Dự trữ tài sản nước ngoài chính thức (ofar) được đo lường bằng giá trị ròng tài sản nước ngoài không tính vàng dự trữ quốc gia Tác giả thu thập dữ liệu
có sẵn từ nguồn của Lane và Milesi-Ferretti (2007)
Độc lập tiền tệ (mi) được đo lường bằng giá trị lãi suất hàng tháng của nước chủ nhà và nước cơ sở tương quan đối ứng theo năm Tác giả thu thập dữ liệu từ nguồn Aizenman, Chinn and Ito (2008)
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến số trong mô hình nghiên cứu
Tính toán từ chỉ số của WB
Biến độc lập
dl
Nghĩa vụ nợ
nước ngoài của
khu vực tư nhân
Danh mục nợ + tiền gởi ngân hàng + công cụ nợ khác (% GDP)
Lane and Ferretti (2007), available at www.philiplane.org/ewn.html
Milesi-fdi Đầu tư trực tiếp
Trang 27Milesi-available at www.philiplane.org/ewn.html
pel Đầu tư gián tiếp
Milesi-totv Biến động tỷ lệ
thương mại
Độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của logarit tỷ lệ thương mại hàng hóa trao đổi ròng
Tính toán từ chỉ số của WB, WDI
Tính toán từ chỉ số của WB, WDI
Trang 28crisis Khủng hoảng
kinh tế
Nhận giá trị 1 trong thời gian khủng hoảng xảy ra (năm 1997-1999 và 2007-2008) và nhận giá trị 0 trong các giai đoạn còn lại của kỳ xem xét
fd Phát triển tài
chính
Logarit của giá trị tín dụng của khu vực tư nhân thị trường nội địa (% GDP)
WB, WDI
gsv Độ biến động chi
tiêu chính phủ
Độ lệch chuẩn 3 năm liền kề của logarit tổng chi tiêu của chính phủ
Tính toán từ chỉ số của WB, WDI
Tính toán từ chỉ số của WB, WDI
Aizenman, Chinn and Ito (2008), available at http://web.pdx.edu/
~ito/trilemma_indexes.htm
Trang 293.3 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cách tiếp cận mô hình thực nghiệm Al-Abri, A., và Baghestani, H (2015), bài nghiên cứu thực hiện hồi quy dữ liệu bảng có kiếm soát các khác biệt các quốc gia, tính dị biệt giữa các quốc gia trong mối quan hệ giữa các biến
Ưu điểm nghiên cứu trên dữ liệu liệu bảng cho phép tăng số quan sát, cũng như kiểm soát được các yếu tố không thể quan sát được trên dữ liệu thời gian và không gian Ngoài ra, dữ liệu bảng cũng đo lường và loại bỏ sự dị biệt giữa các quốc gia trong cỡ mẫu trong mối quan hệ giữa các biến độc lập đến biến phụ thuộc thông qua việc tách thành phần riêng θi cho từng quốc gia riêng biệt Do đó nếu tồn tại bằng chứng trên dữ liệu bảng có nghĩa là tồn tại mối quan hệ nghiên cứu trong toàn bộ cỡ mẫu quốc gia nghiên cứu, Baltagi (2008)
Mô hình sử dụng dữ liệu bảng được thể hiện như sau:
Vol(reerit) = ƞt+ θi + γ (Fit) + ГZt + t (2)
Trong đó:
Vol (reert) là độ biến động của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực
ƞtlà các tác động hiệu chỉnh năm không quan sát được
θi là các tác động đã hiệu chỉnh quốc gia không quan sát được
Fit là đầu tư nước ngoài
Zt là một vec-tơ đo lường các biến động cơ bản, bao gồm biến động tỷ lệ thương mại, biến động tăng trưởng sản lượng, và biến động khu vực tư nhân Và các biến điều khiển khác như mức độ mở cửa thương mại, tỷ giá hối đoái danh nghĩa linh hoạt và một biến giả đại diện cho khủng hoảng châu Á 1997-1999 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2008
Các mô hình nghiên cứu lần lượt thay thế các các dòng vốn nước ngoài trong phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập đến biến động tỷ giá hối đoái thực Bài nghiên cứu lần lượt ước lượng các mô hình sau nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu
đã được nêu ra
Trang 30Mô hình từ 1 đến 4 nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu từ số 1 Tác giả lần lượt thay thế các biến đại diện cho các hình thức khác nhau của đầu tư nước ngoài bao gồm nợ nước ngoài (dl), đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi), đầu tư gián tiếp nước ngoài (pel) và sau cùng là tổng nợ nước ngoài (tfl) vào mô hình để xem tác động của nó đến biến biến động tỷ giá hối đoái thực (exv)
Mô hình 1: exv = f (dltotvgdpvfdvtoexfcrisis)
Mô hình 2: exv = f (fditotv gdpv fdv to exf crisis)
Mô hình 3: exv = f (pel totv gdpv fdv to exf crisis)
Mô hình 4: exv = f (tfl totv gdpv fdv to exf crisis)
Mô hình nghiên cứu từ 5 đến 9 nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu số 2 Các biến
vĩ mô như phát triển tài chính (fd), biến động chi tiêu chính phủ (gdpv), biến động của lạm phát (infv), dự trữ tài sản nước ngoài chính thức (ofar), độc lập tiền tệ (mi) có tác động đến biến động tỷ giá hối đoái thực khi xem xét chúng trong mối quan hệ trực tiếp đến biến động tỷ giá hối đoái thực và xem xét chúng trong mối quan hệ gián tiếp thông qua tương tác với biến đầu tư trực tiếp nước ngoài (fdi) hay không
Mô hình 5: exv = f (fdi fdifd fd totv gdpv fdv to exf)
Mô hình 6: exv = f (fdi fdigsv gsv totv gdpv fdv to exf)
Mô hình 7: exv = f (fdi fdiinfv infv totv gdpv fdv to exf)
Mô hình 8: exv = f (fdi fdiofar ofar totv gdpv fdv to exf)
Mô hình 9: exv = f (fdi fdimi mi totv gdpv fdv to exf)
Tác giả kỳ vọng dấu của các hệ số hồi quy chính thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.2:Sự kỳ vọng các biến số hồi quy chính
Nghiên cứu của Wei (2006) cho thấy rằng các quốc gia có sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn nợ nước ngoài thì nền tài chính càng dễ bị tổn thương
Trang 31khi các dòng vốn này biến đổi tăng giảm đột ngột
Do đó, tác giả kỳ vọng gia tăng đầu tư nước ngoài dưới hình thức nợ sẽ làm tăng biến động tỷ giá hối đoái thực
Các nghiên cứu của Hull và Tesar (2001), Chari và Henry (2008) cho thấy rằng dòng vốn gián tiếp nước ngoài giúp cho doanh nghiệp trong nước có nhiều cơ hội tiếp cận với các kênh tài chính mới, giúp phát triển thị trường tài chính nội địa và tạo ra kết quả kinh doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước Tác giả kỳ vọng gia tăng đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ có tác động tích cực đến nền kinh tế nội địa và do đó làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực
Tổng nợ nước ngoài ròng được dự kiến có tác động tích cực đến nền kinh tế nội địa do đó làm giảm biến động tỷ giá hối đoái thực
3.4 Phương pháp kiểm định và ước lượng hồi quy
Dữ liệu bảng (panel data) là dữ liệu kết hợp dữ liệu cho theo không gian (cross – section, tức là giá trị của các biến được thu thập cho một đơn vị mẫu tại
Trang 32cùng một thời điểm) và dữ liệu theo chuỗi thời gian (time series, tức là giá trị của các biến được quan sát theo thời gian) Dữ liệu bảng khác với dữ liệu chéo gộp chung bởi vì dữ liệu chéo gộp chung gộp những quan sát trong nhiều năm nhưng chỉ là các quan sát dữ liệu thuần túy và bỏ qua yếu tố thời gian Việc kết hợp hai loại dữ liệu có nhiều thuận lợi trong phân tích các mối quan hệ kinh tế, đặc biệt khi muốn quan sát, phân tích sự biến động của các đối tượng nghiên cứu sau các biến
cố hay theo thời gian, cũng như phân tích sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu Có hai loại dữ liệu bảng: dữ liệu bảng cân bằng (balaned panels) và dữ liệu bảng không cân bằng (unbalaned panels) Dữ liệu bảng cân bằng khi các đơn vị chéo có cùng số quan sát theo thời gian, dữ liệu bảng không cân bằng khi các đơn vị chéo không có cùng số quan sát theo thời gian Trong luận án này, tác giả sử dụng
dữ liệu bảng cân bằng cho các quốc gia theo chuỗi thời gian (năm) Việc nghiên cứu các mô hình với dữ liệu bảng có những ưu điểm theo Baltagi (2008):
Nhờ kết hợp dữ liệu chuỗi thời gian của các quốc gia khác nhau, dữ liệu bảng sẽ chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, giảm hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến, tăng số quan sát - từ đó tăng số bậc tự do, và có thể đem lại ước lượng vững, hiệu quả và không chệch;
Dữ liệu bảng có liên quan đến nhiều doanh nghiệp, quốc gia theo thời gian, mỗi doanh nghiệp, quốc gia lại có những đặc trưng riêng Tuy nhiên, các kỹ thuật ước lượng dựa trên dữ liệu bảng có thể tính đến sự không đồng nhất này, cho phép kiểm soát sự khác biệt không quan sát được giữa các thực thể, ví dụ như khả năng quản lý, triết kinh doanh, văn hoá, khoáng sản giữa các doanh nghiệp
Như vậy, nhờ những lợi thế trên, việc sử dụng dữ liệu bảng trong các mô hình nghiên cứu của luận văn được kỳ vọng có thể đem lại hiệu quả cao hơn so với phân tích dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian
Tác giả thực hiện các bước phân tích để lựa chọn mô hình phù hợp cụ thể như sau:
Bước 1: Tác giả sử dụng phép toán và các câu lệnh trong phần mềm STATA
tiến hành thực hiện phân tích phương pháp hồi quy Pooled OLS và FEM, sau đó so
Trang 33sánh kết quả để lựa chọn 1 một mô hình phù hợp nhất trong 2 mô hình này Sau khi ước lượng với FEM, sử dụng kiểm định F để kiểm định giả thuyết H0: α1 = α2 = …
αN = α Nếu kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0, chúng ta nên chọn FEM, ngược lại, chọn Pooled OLS
Bước 2: Tác giả so sánh giữa 2 mô hình Pooled OLS với REM, phương pháp
nhân tử Lagrange (LM) với kiểm định Breusch-Pagan được sử dụng để kiểm chứng tính phù hợp của ước lượng Theo đó, giả thuyết H0 cho rằng sai số của ước lượng thô không bao gồm các sai lệch giữa các quốc gia hoặc các năm (phương sai giữa các doanh nghiệp) là không đổi Bác bỏ giả thuyết H0, cho thấy sai số trong ước lượng có bao gồm cả sự sai lệch giữa các nhóm, và phù hợp với mô hình REM, ngược lại, Pooled OLS là phù hợp hơn REM
Sau khi thực hiện xong 2 bước trên, nếu kết quả kiểm định cho thấy, cả 2 bước này Pooled OLS đều phù hợp hơn FEM và REM, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp hồi quy Pooled OLS Nếu không phải kết quả này, tác giả sẽ thực hiện tiếp bước thứ 3 như sau:
Bước 3: Tác giả thực hiện ước lượng với FEM và REM, sử dụng kiểm định
Hausman dưới giả thuyết H0: Cov(Xit, ui) = 0 Nếu kết quả kiểm định bác bỏ giả thuyết H0, tác giả chọn FEM Nếu kết quả kiểm định không bác bỏ giả thuyết H0, tác giả sẽ chọn REM
Bởi vì, một mô hình chỉ có ý nghĩa giải thích khi các giả định của nó đã được thỏa mãn Do vậy, tác giả sẽ phải kiểm tra các giả định trước khi diễn giải các kết quả của mô hình Quá trình kiểm tra các giả định có thể được thực hiện thông qua việc phát hiện khuyết tật có thể có của mô hình Nội dung kế tiếp sẽ thực hiện các kiểm định này
3.4.1 Kiểm định các trường hợp khuyết tật của mô hình
(1) Giả định phương sai của sai số không đổi
Trang 34Phương sai thay đổi nghĩa là phương sai của các phần dư không phải hằng
số, nghĩa là chúng khác nhau ở các quan sát khác nhau Điều này sẽ dẫn đến vấn đề nếu các phương sai không bằng nhau thì độ tin cậy tương đối của mỗi quan sát (dữ liệu) sẽ không bằng nhau Phương sai càng lớn thì mức độ quan trọng gán cho quan sát càng nhỏ Vấn đề sẽ rõ ràng hơn khi giá trị của phương sai có mối quan hệ với một hoặc một số biến giải thích Điều này vi phạm giả định rằng các phân phối của phần dư phải không có tương quan với bất kì biến giải thích nào
Hiện tượng phương sai thay đổi sẽ dẫn đến một số hậu quả như: các ước lượng OLS vẫn là không chệch nhưng không còn hiệu quả nữa, ước lượng của các phương sai sẽ bị chệch, như vậy sẽ làm mất hiệu lực của kiểm định hệ số hồi quy
Trong quá trình hồi quy, tác giả sẽ tập trung xem xét lại bản chất của vấn đề nghiên cứu, đồ thị phần dư và dùng một số kiểm định Goldfeld-Quandt, Breusch-Pagan, White, Park trên OLS và phương pháp Greene (2000) trên dữ liệu bảng để kiểm tra xem mô hình có vi phạm giả thiết hồi quy - hiện tượng phương sai thay đổi
(2) Giả định không có sự tương quan giữa các phần dư
Tự tương quan là sự tương quan giữa các thành phần của chuỗi các quan sát được sắp xếp theo thứ tự thời gian trong các số liệu chuỗi thời gian, hoặc sắp xếp theo thứ tự không gian, đối với các số liệu theo không gian
Để kiểm tra xem mô hình có vi phạm giả thiết hồi quy - hiện tượng tự tương quan Trong quá trình hồi quy, tác giả sẽ dùng phương pháp đồ thị và kiểm định d (Durbin-Watson) để phát hiện tượng tự tương quan trong mô hình hồi quy OLS (pooled regression) Ở khía cạnh kiểm tra tự tương quan dữ liệu bảng, tác giả sử dụng kiểm định được đề xuất bởi Wooldrige (2002) và Drukker (2003)
Hiện tượng tự tương quan sẽ dẫn đến một số hậu quả như: ước lượng OLS vẫn là ước lượng tuyến tính không chệch, nhưng không là ước lượng hiệu quả nữa; phương sai các ước lượng OLS là bị chệch, đôi khi quá thấp so với phương sai thực
và sai số tiêu chuẩn, dẫn đến phóng đại tỷ số t; các kiểm định t và F không đáng tin
Trang 35cậy; công thức thông thường để tính phương sai của sai số là ước lượng chệch của phương sai thực và trong một số trường hợp dường như ước lượng thấp của phương sai thực; có thể hệ số xác định không đáng tin cậy và dường như là nhận giá trị ước lượng cao; các phương sai và số tiêu chuẩn của dự đoán không có hiệu quả
(3) Giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (không xảy
ra hiện tượng đa cộng tuyến)
Đa cộng tuyến nghĩa là hai hay nhiều biến giải thích trong biểu thức hồi quy
có mối quan hệ tuyến tính với nhau Nếu các biến có mối quan hệ tuyến tính thì các
hệ số ước lượng và thống kê T sẽ không còn hợp lý
Trong quá trình hồi quy, kết quả hồi quy có hệ số xác định R2 cao nhưng tỷ
số t thấp, tương quan cặp giữa các biến giải thích cao, xét tương quan riêng, hồi quy phụ thấy có tồn tại hiện tượng tương quan giữa các biến độc lập thì mô hình đã vi phạm giả thiết hồi quy - hiện tượng đa cộng tuyến
Hiện tượng đa cộng tuyến sẽ dẫn đến một số hậu quả như: phương sai và hiệp phương sai của các ước lượng OLS lớn, khoảng tin cậy rộng lớn, tỷ số t mất ý nghĩa,hệ số xác định cao nhưng tỷ số t mất ý nghĩa, các ước lượng OLS và sai số chuẩn trở nên rất nhạy với những thay đổi trong số liệu,dấu của các ước lượng của các hệ số hồi quy có thể sai lệch, thêm vào hay bớt đi các biến cộng tuyến với các biến khác thì hệ số của các biến còn lại có thể thay đổi rất lớn và thay đổi cả dấu của chúng
Đa cộng tuyến giữa các biến luôn tồn tại và khuyết tật chỉ xảy ra nếu mức độ
đa cộng tuyến đủ lớn để gây ra sự thiên chệch các kết quả ước lượng
Theo Gujarati (2004), một số cách kiểm tra vấn đề đa cộng tuyến như sau:
Nhiều trường hợp mô hình có R2 lớn hơn 0.8 nhưng | t | thấp
Hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập cao Nếu giá trị tuyệt đối của
hệ số tương quan giữa 2 biến lớn hơn 0.8 cho thấy có tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến giữa 2 biến này
Trang 36 Sử dụng hệ số khuếch đại phương sai (VIF), nếu VIF của một biến lớn hơn 10 thì tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến giữa biến đó với các biến giải thích còn lại Trong luận văn này, tác giả sẽ thực hiện tính toán hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập và sử dụng hệ số khuếch đại phương sai (VIF)
Trong luận văn tác giả sử dụng hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập kết hợp với sử dụng hệ số khuếch đại phương sai (VIF) Tuy nhiên, cũng theo Baltagi (2008), việc sử dụng dữ liệu bảng cũng đã hạn chế được hiện tượng đa cộng tuyến này nhưng nếu có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra thì tác giả sẽ khắc phục bằng cách bỏ các biến có đa cộng tuyến hoặc tăng thêm số quan sát bằng cách thu thập thêm số liệu
(4) Hiện tượng nội sinh
Hiện tượng nội sinh xảy ra khi giả thiết về sự không tương quan giữa biến độc lập và sai số bị vi phạm Biến độc lập trong mô hình vừa đóng vai trò là biến
ngoại sinh (do tác động đến Y) vừa là biến nội sinh (do bị sai số tác động)
Để phát hiện vi phạm giả thiết hồi quy - hiện tượng nội sinh, tác giả sẽ sử dùng kiểm định phương pháp Hansen, Sargan để kiểm tra sự phù hợp của việc thay thế biến nội sinh bởi biến công cụ
3.4.2 Phương pháp ước lượng hồi quy GMM
3.4.2.1 Ưu điểm của GMM
Thông thường ước lượng theo phương pháp OLS (Pooled Regress Model) sẽ không chệch, vững và hiệu quả khi không tồn tại các vi phạm về phương sai thay đổi, tự tương quan và biến nội sinh Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) là phương pháp được dùng rất phổ biến trong lĩnh vực kinh tế lượng Ưu điểm của phương pháp này không quá phức tạp nhưng hiệu quả Với một số giả thiết ban đầu, phương pháp này sẽ dễ dàng xác định các giá trị ước lượng hiệu quả, không chệch và vững
Trang 37Tuy nhiên, khi nghiên cứu về chuỗi dữ liệu thời gian, có nhiều chuỗi vi phạm một hoặc một số giả định của OLS Khi đó, các ước lượng thu được sẽ bị bóp méo, mất tính vững và sẽ là sai lầm nếu sử dụng chúng để phân tích Một trong những dạng vi phạm giả định phổ biến là hiện tượng nội sinh, một trường hợp khi hệ số ước lượng (hoặc biến) tương quan với phần dư
Với những vi phạm trên làm cho kết quả ước lượng theo phương pháp OLS không còn đáng tin cậy và hiệu quả nhất Để khắc phục phương pháp ước lượng GMM hệ thống do Arellano and Bover (1995) and Blundell and Bond (1998) được
sử dụng vì cỡ mẫu đủ lớn Việc sử dụng mô hình GMM sẽ cho phép khắc phục cả
vi phạm tự tương quan, phương sai thay đổi và biến nội sinh nên kết quả ước lượng lúc này sẽ không chệch, vững và hiệu quả nhất Thêm vào đó, phương pháp Arellano - Bond cũng được thiết kế để khắc phục hiệu ứng tác động cố định hàm chứa trong sai số của mô hình (do đặc điểm của các biến quốc gia nghiên cứu không thay đổi theo thời gian như vị trí địa lý và nhân khẩu học có thể tương quan với các biến giải thích trong mô hình), được phản ánh vào trong phần sai số, sẽ giảm dần theo thời gian (Roodman, 2006)
Phương pháp cơ bản trong trường hợp các biến độc lập tương quan với phần
dư là ước lượng một phương trình có dùng các biến công cụ (Instrumental Variables – hồi quy IV) Ý tưởng của phương pháp hồi quy này là tìm một bộ biến, được gọi
là biến công cụ, thõa mãn cả hai điều kiện: (1) tương quan với các biến giải thích trong phương trình và (2) không tương quan với phần dư Những biến công cụ như vậy được dùng để loại vỏ sự tương quan giữa các biến giải thích và phần dư
Có nhiều phương pháp hồi quy dựa trên nền tảng của hồi quy IV như phương pháp Bình phương bé nhất hai giai đoạn (2SLS), phương pháp Maximum Likelihood trong điều kiện giới hạn thông tin (LIML), phương pháp ước lượng Moment tổng quát (GMM)
Làm thế nào để một hồi quy IV ước lượng ra hệ số với sự tham gia của biến công cụ?
Xem xét mô hình đơn giản sau:
Trang 38= + € Trong đó: i là quan sát thứ i, y i là biến phụ thuộc, x i là biến độc lập, € là
phầndư của mô hình Khi đó hệ số ước lượng sẽ được xác định như sau:
= ′
′( + €)
′
Với x, y, là các ma trận cột × 1 Nếu x và không tương quan với
nhau thì ước lượng được là vững và không chệch Tuy nhiên nếu điều ngược lại xảy ra, hệ số ước lượng sẽ bị chệch và không vững, mô hình không còn hiệu quả,
tác động của biến x lên biến y không đáng tin cậy
Một biến công cụ z, tương quan với biến giải thích x nhưng không tương
quan với phần dư sẽ được đưa vào mô hình, phương pháp hồi quy IV sử dụng biến giả đó để xác định hệ số ước lượng như sau:
= ′
′
Vì biến z không tương quan với nên hệ số ước lượng là vững và không
chệch Phương pháp này có thể tổng quát lên với một mô hình nhiều biến Ta gọi X
là ma trận ×K các biến giải thích, Z là ma trận ×L các biến công cụ với K là số lượng biến giải thích, L là số lượng biến công cụ và n là số quan sát của mỗi biến
Khi đó phương pháp IV có thể được dùng để ước lượng mô hình và hệ số ước lượng
sẽ được xác định như sau:
Điều kiện để xác định được giá trị ước lượng là L ≥ K
3.4.2.2 Tính chất của phương pháp ước lượng GMM
Khi số lượng mẫu phù hợp giá trị β ước lượng được sẽ vững, khi đó giá trị ước lượng được sẽ càng gần với giá trị thực của nó Ước lượng GMM sẽ cho ra các giá trị ước lượng tuân theo phân phối chuẩn, đây là thuộc tính rất quan trọng vì đó
Trang 39là cơ sở để chúng ta xây dựng giá trị dự đoán ở các độ tin cậy (confidence bands) và thực hiện các kiểm định khác Phương pháp GMM cũng cho ra kết quả là các giá trị ước lượng hiệu quả, nghĩa là giá trị phương sai trong mô hình ước lượng là nhỏ nhất
Trang 40CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Phân tích thống kê mô tả
Kết quả thực hiện thống kê bằng phần mềm Stata chỉ ra phạm vi khoảng giá trị, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến sử dụng trong nghiên cứu của các biến độc lập và phụ thuộcđược trình bày theo bảng thống kê mô tả trong bảng 4.1 dưới đây
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình Biến Cỡ
mẫu
Trung bình
Độ lệch chuẩn
GT nhỏ nhất
GT lớn nhất