1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Ứng dụng mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của edward i altman để hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam

118 504 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, BIDV còn sử dụng hiệu quả HTXHTDDN trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách khách hàng, quy trình cho vay, giám sát rủi ro danh mục tín dụng, lập

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

PHẠM THANH HÀ

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP

CỦA EDWARD I ALTMAN ĐỂ HOÀN THIỆN

HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

PHẠM THANH HÀ

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP

CỦA EDWARD I ALTMAN ĐỂ HOÀN THIỆN

HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS TRẦN HOÀNG NGÂN

Trang 3

2 Mục tiêu nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG

DOANH NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA EDWARD I ALTMAN

1.1 Tổng quan về Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái niệm về Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1 1.1.2 Đối tượng của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 2 1.1.3 Vai trò của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 2 1.1.4 Mục đích của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 3

1.2 Tìm hiểu Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các Ngân

hàng thương mại Việt Nam hiện nay

4

Trang 4

1.2.1.2 Đối với doanh nghiệp mới thành lập 8 1.2.2 HTXHTDDN của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 9 1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp lần đầu quan hệ và doanh nghiệp thông

thường

10 1.2.2.2 Đối với doanh nghiệp mới thành lập 13 1.2.2.3 Đối với doanh nghiệp đầu tư dự án 141.2.3 HTXHTDDN của Ngân hàng TMCP Á Châu 151.2.4 Bài học kinh nghiệm từ Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

17

1.3 Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman 19

1.3.1 Tổng quan về Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp 191.3.2 Sự tương đồng giữa Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của

Edward I Altman với Hệ thống định mức tín nhiệm của Standard &

Trang 5

2.1.2.2 Nhóm các chỉ tiêu cơ cấu – chất lượng 33 2.1.2.3 Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả 352.1.3 Kế hoạch phát triển của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

2.3 Nghiên cứu tình huống xếp hạng tín dụng thực tế tại BIDV 45

2.3.1 Doanh nghiệp được xếp loại AA nhưng có xu hướng phát sinh nợ xấu 462.3.2 Doanh nghiệp được xếp loại A nhưng phát sinh nợ cần chú ý 49

2.4 Đánh giá Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại BIDV 51

2.4.1 Những kết quả đạt được 512.4.2 Những tồn tại cần khắc phục 53

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ TÍN DỤNG DOANH

NGHIỆP CỦA EDWARD I ALTMAN ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Trang 6

3.2.1 Doanh nghiệp xếp loại AA nhưng phát sinh nợ dưới tiêu chuẩn 603.2.2 Doanh nghiệp xếp loại A nhưng phát sinh nợ cần chú ý 633.2.3 Các doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu 66

3.3 Một số giải pháp khác góp phần hoàn thiện HTXHTDDN tại BIDV 67

3.3.1 Xây dựng Hệ thống xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp siêu nhỏ 673.3.2 Hoàn thiện hệ thống ngành kinh tế 743.3.3 Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng 753.3.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát 763.3.5 Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 76

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

TT Ký hiệu Diễn giải

1 HTXHTDDN Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

2 VCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

3 Vietinbank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

4 ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu

5 TMCP Thương mại Cổ phần

6 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

7 DN Doanh nghiệp

8 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

9 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

10 TNDN Thu nhập doanh nghiệp

11 IAS Chuẩn mực kế toán Quốc tế

12 VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

13 EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Trang 8

Bảng Trang

1.1 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp thông thường tại HTXHTDDN VCB

6

1.2 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp siêu nhỏ tại HTXHTDDN VCB

7 1.3 Hệ số rủi ro của doanh nghiệp siêu nhỏ tại HTXHTDDN VCB 7

1.4 Hệ số rủi ro của doanh nghiệp mới thành lập tại HTXHTDDN

VCB

8

1.5 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của Quy trình

chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Vietinbank

10

1.6 Xác định quy mô doanh nghiệp của Quy trình chấm điểm và xếp

hạng tín dụng doanh nghiệp Vietinbank

11

1.7 Hệ số rủi ro của doanh nghiệp siêu nhỏ tại Quy trình chấm điểm

và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Vietinbank

13

1.8 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp tại HTXHTDDN ACB

17

1.9 Sự tương đồng giữa Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của

Edward I Altman với Hệ thống định mức tín nhiệm trái phiếu

của Standard & Poor’s

22

1.10 Chỉ số Z của Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết 26 1.11 Chỉ số Z’ của Công ty Công trình Giao thông An Giang 28

1.12 Chỉ số Z” của Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông 29

1.13 Mở rộng kiểm định Mô hình đối với một số doanh nghiệp 30

Trang 9

2.2 Tỷ trọng chỉ tiêu tái chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp trong HTXHTDDN của BIDV

43 2.3 Thang xếp hạng doanh nghiệp trong HTXHTDDN của BIDV 44

2.4 Chi tiết hạng tín dụng và nợ xấu thực tế phát sinh của nhóm

doanh nghiệp được lựa chọn nghiên cứu

46 2.5 Tổng hợp điểm chỉ tiêu phi tài chính của Công ty Cổ phần A 47 2.6 Tổng hợp điểm xếp hạng tín dụng của Công ty Cổ phần A 47 2.7 Tổng hợp điểm chỉ tiêu phi tài chính của Công ty TNHH B 50 2.8 Tổng hợp điểm xếp hạng tín dụng của Công ty TNHH B 50

3.1 Chấm điểm chỉ tiêu dự báo nguy cơ phá sản của doanh nghiệp

trong Mô hình đề xuất sửa đổi

58

3.2 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính, dự báo nguy cơ phá sản và phi tài

chính của doanh nghiệp trong Mô hình đề xuất sửa đổi

59

3.3 Hệ số tài sản bảo đảm của doanh nghiệp có quy mô nhỏ trong Mô

hình đề xuất sửa đổi

60

3.4 Chi tiết điểm chỉ tiêu dự báo nguy cơ phá sản của Công ty Cổ

phần A trong Mô hình đề xuất sửa đổi

61

3.5 Tổng hợp điểm xếp hạng tín dụng của Công ty Cổ phần A theo

Mô hình đề xuất sửa đổi

62

3.6 Chi tiết điểm chỉ tiêu dự báo nguy cơ phá sản của Công ty TNHH

B trong Mô hình đề xuất sửa đổi

63

3.7 Tổng hợp điểm xếp hạng tín dụng của Công ty TNHH B theo Mô

hình đề xuất sửa đổi

64

Trang 10

3.9 Các chỉ tiêu phi tài chính dùng để chấm điểm doanh nghiệp quy

mô siêu nhỏ

69

3.10 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính, dự báo nguy cơ phá sản và phi tài

chính của doanh nghiệp trong Mô hình đề xuất xây dựng

73

3.11 Hệ số tài sản bảo đảm và Hệ số quan hệ tín dụng của doanh

nghiệp quy mô siêu nhỏ trong Mô hình đề xuất xây dựng

73

Trang 11

Hình Trang

2.1 Các chỉ tiêu tăng trưởng của BIDV giai đoạn 2006 – 2010 33 2.2 Các chỉ tiêu cơ cấu – chất lượng của BIDV giai đoạn 2006 – 2010 34 2.3 Các chỉ tiêu hiệu quả của BIDV giai đoạn 2006 – 2010 35

Trang 12

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế, Ngân hàng và doanh nghiệp có mối quan hệ hỗ tương lẫn nhau, nếu như Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng trong việc tài trợ vốn cho các doanh nghiệp thì sự hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình quan

hệ tín dụng luôn là nền tảng cho sự phát triển vững chắc của Ngân hàng Chính vì yếu tố quan trọng đó mà các Ngân hàng rất cẩn trọng trước khi xét duyệt cho vay, tăng cường các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng như kiểm tra chặt chẽ quá trình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp Từ thực tế đó, HTXHTDDN tại các Ngân hàng thương mại được hình thành và trở thành một công cụ phòng ngừa rủi ro tín dụng hiệu quả

Là Ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tiên phong xây dựng, thí điểm triển khai và ứng dụng thành công HTXHTDDN trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro Bên cạnh đó, BIDV còn sử dụng hiệu quả HTXHTDDN trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách khách hàng, quy trình cho vay, giám sát rủi ro danh mục tín dụng, lập báo cáo quản trị rủi ro, chính sách dự phòng rủi ro tín dụng, phân tích hiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng, xác định khung lãi suất tiêu chuẩn…

Những tháng cuối năm 2011 và dự báo cả năm 2012, tình hình kinh tế thế giới sẽ vẫn còn tồn tại nhiều bất ổn như sự mất ổn định chính trị tại các nước Bắc Phi và Trung Đông, khủng hoảng nợ tại khu vực châu Âu tiếp tục lan rộng, khả năng phục hồi chậm chạm của kinh tế Mỹ khi thị trường việc làm tại Mỹ vẫn chưa

có dấu hiệu bứt phá… Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với những tồn tại cần phải giải quyết như cơ cấu nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng không bền vững, hiệu quả đầu tư công thấp, lạm phát tăng cao, lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại vẫn duy trì ở mức cao … Tất cả những khó khăn đó đã và đang ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp, qua đó, tác động nghiêm trọng đến

hệ thống Ngân hàng – biểu hiện ở tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng đang tăng cao

Trang 13

hiện và hạn chế phát sinh nợ xấu là việc làm cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay Với mong muốn vận dụng những kiến thức về kinh tế tài chính – ngân

hàng, người viết chọn đề tài “Ứng dụng Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp

của Edward I Altman để hoàn thiện Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để nghiên cứu, qua đó, góp phần

đưa HTXHTDDN trở thành một cấu phần quan trọng và là một công cụ đắc lực trong quản trị kinh doanh của BIDV

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào những vấn đề sau:

- Thứ nhất, tìm hiểu và rút ra bài học kinh nghiệm từ HTXHTDDN tại một

số Ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam hiện nay Đồng thời, trình bày và kiểm chứng tính hữu dụng của Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward

I Altman trong việc dự báo nguy cơ phá sản đối với các doanh nghiệp Việt Nam

- Thứ hai, trình bày thực trạng HTXHTDDN tại BIDV, từ đó, cho thấy kết quả đạt được cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục trong thời gian tới

- Thứ ba, đề xuất ứng dụng Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman trong việc sửa đổi HTXHTDDN hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện HTXHTDDN tại BIDV

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi hữu hạn của đề tài, người viết tập trung nghiên cứu phương pháp và hệ thống các chỉ tiêu được sử dụng để chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam cũng như BIDV, từ đó, đưa ra giải pháp hoàn thiện HTXHTDDN của BIDV

Ngoài ra, do giới hạn của thời gian nghiên cứu và khả năng tiếp cận tài liệu tại một số Ngân hàng nên các vấn đề liên quan đến HTXHTDDN như: điểm số từng chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, trọng số từng chỉ tiêu của mỗi ngành nghề, điểm

Trang 14

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính để nghiên cứu các mô hình chấm điểm tín dụng doanh nghiệp tại các Ngân hàng và Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman

Sau đó sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp nghiên cứu tình huống

để làm rõ thực trạng HTXHTDDN tại BIDV hiện nay và tính khả thi khi ứng dụng

Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman trong đề xuất hoàn thiện HTXHTDDN của BIDV

Trong quá trình khảo sát và thu thập ý kiến của cán bộ tín dụng, phương pháp thống kê cũng được sử dụng nhằm tổng kết các thông tin thu thập được

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu theo ba phần chính sau:

- Chương 1: Tổng quan Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp và Mô

hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman

- Chương 2: Thực trạng Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Ngân

hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

- Chương 3: Ứng dụng Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward

I Altman để hoàn thiện Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại BIDV

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả của đề tài nghiên cứu này có thể được ứng dụng vào thực tiễn để phục vụ cho công tác quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng tại BIDV Đặc biệt, trong năm 2011 và dự kiến hết năm 2012, số lượng doanh nghiệp có nguy cơ phá sản tăng cao thì một HTXHTDDN hoàn thiện sẽ giúp cho BIDV phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro chính xác hơn, đồng thời, trở thành một công cụ hữu hiệu giúp các nhà quản trị xây dựng định hướng chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng ngành nghề

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH

NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA EDWARD I ALTMAN

1.1 Tổng quan về Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Thuật ngữ “credit ratings” do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn

“Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “credit ratings” được tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau như: xếp hạng tín dụng; xếp hạng tín nhiệm; định hạng tín dụng hay xếp hạng khách hàng… và vì vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau:

- Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam: “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là đánh giá khả năng của doanh nghiệp thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính”

- Theo Công ty Cổ phần Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Việt Nam thì định nghĩa “Xếp hạng tín nhiệm có nghĩa là việc phân loại, sắp xếp một đối tượng trên

cơ sở đo lường rủi ro tín dụng”

- Theo Từ điển Thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là cách ước tính chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của doanh nghiệp về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng doanh nghiệp”

Trước nhiều tên gọi và định nghĩa khác nhau khi nói đến thuật ngữ “credit ratings” tại Việt Nam, trong phạm vi của đề tài này sẽ sử dụng thống nhất và xuyên suốt cụm từ “xếp hạng tín dụng” như trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 đã sử dụng tại Khoản 2 Điều 93 khi yêu cầu các Tổ chức tín dụng phải ban hành quy định về Hệ thống “xếp hạng tín dụng” nội bộ Do vậy, từ các định nghĩa trên có thể định nghĩa như sau: “Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là tập hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính nhằm đánh giá năng

Trang 16

lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng, từ đó, xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai”

1.1.2 Đối tượng của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Đối tượng của HTXHTDDN tại Ngân hàng bao gồm doanh nghiệp cũ và doanh nghiệp mới có báo cáo tài chính đầy đủ từ hai năm trở lên tính đến thời điểm xếp hạng, trong đó doanh nghiệp cũ là doanh nghiệp đã và đang quan hệ tín dụng với Ngân hàng; còn doanh nghiệp mới là doanh nghiệp trước đây chưa từng có quan

hệ tín dụng với Ngân hàng hoặc doanh nghiệp mới có quan hệ tín dụng và chưa đến

kỳ hạn trả nợ gốc hoặc/và nợ lãi đầu tiên Bên cạnh đó, để phục vụ cho chính sách khách hàng trong hoạt động tín dụng một số Ngân hàng đã xây dựng được mô hình chấm điểm cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp đầu tư dự án

Ngoài ra, có một số trường hợp không cần xếp hạng tín dụng để phân loại nợ

và trích lập dự phòng rủi ro nhưng Ngân hàng vẫn tiến hành xếp hạng tín dụng doanh nghiệp thường xuyên, liên tục để Cán bộ tín dụng tham khảo trong quá trình quản lý chặt chẽ khách hàng để thu hồi nợ cũng như phục vụ cho công tác tiếp thị, tìm kiếm khách hàng tiềm năng:

- Doanh nghiệp có dư nợ ngoại bảng tại thời điểm đánh giá mà khoản nợ này trước đây đã được Ngân hàng xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro;

- Doanh nghiệp bị âm vốn chủ sở hữu và kinh doanh thua lỗ trong năm tài chính gần nhất;

- Doanh nghiệp có nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng với Ngân hàng nhưng được Ngân hàng xác định là tiềm năng có thể hướng tới

1.1.3 Vai trò của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Đặc điểm chung của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là danh mục tín dụng vẫn chiếm phần lớn trong tổng tài sản, khoảng từ 60% đến 70% tổng tài sản của Ngân hàng Do vậy, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp đang ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng đối với công tác quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi

Trang 17

ro tín dụng nói riêng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, theo Khoản 2 Điều 93 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 thì

Hệ thống xếp hạng tín dụng là một trong những quy định nội bộ mà các Ngân hàng thương mại bắt buộc phải xây dựng, điều đó càng cho thấy vai trò quan trọng của HTXHTDDN trong các Ngân hàng thương mại

Ngoài ra, HTXHTDDN còn có vai trò rất hữu ích đối với nhiều đối tượng trong nền kinh tế như:

- Đối với bản thân doanh nghiệp được xếp hạng cao sẽ gia tăng vị thế và uy tín, khi có nhu cầu vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh thì việc thu hút nguồn vốn của nhà đầu tư sẽ thuận lợi hơn, bên cạnh đó cũng giúp cho doanh nghiệp tiếp cận vốn của Ngân hàng được dễ dàng hơn, chi phí sử dụng vốn thấp hơn

- Đối với nhà đầu tư thì kết quả xếp hạng tín dụng doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng để lựa chọn hay cơ cấu lại danh mục đầu tư khi cần thiết Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán thì một kết quả xếp hạng tín dụng cao tại một tổ chức hay Ngân hàng uy tín sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm, lựa chọn

- Đối với cơ quan chức năng thì kết quả xếp hạng sẽ là công cụ để nhận biết được thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như có thêm thông tin để đánh giá “sức khỏe” nền kinh tế, qua đó tăng cường công cụ giám sát rủi ro, điều chỉnh chính sách vĩ mô, ban hành các chính sách hỗ trợ nền kinh tế khi cần thiết… nhằm đưa kinh tế phát triển ổn định và bên vững

1.1.4 Mục đích của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp

Mục đích chính của sự ra đời HTXHTDDN tại các Ngân hàng thương mại nhằm đánh giá về rủi ro tín dụng của doanh nghiệp tại ngân hàng, rủi ro do doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả vốn vay hoặc rủi ro do ngân hàng phải thực hiện thay các nghĩa vụ cam kết bảo lãnh cho doanh nghiệp với một bên thứ ba

Bên cạnh đó, các Ngân hàng còn sử dụng HTXHTDDN trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách khách hàng; quy trình cho vay; giám sát rủi ro danh mục tín dụng; lập báo cáo quản trị rủi ro; phân loại nợ và trích

Trang 18

lập dự phòng rủi ro tín dụng; xác định mức vốn an toàn tối thiểu; phân tích hiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng và xác định khung lãi suất tiêu chuẩn… Tóm lại, HTXHTDDN là một cấu phần quan trọng và là một công cụ đắc lực trong quản trị kinh doanh ngân hàng hiện nay

1.2 Tìm hiểu Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

1.2.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

HTXHTDDN của VCB hiện nay được ban hành tại Quyết định số VCB.CSTD ngày 17/03/2010 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Đây là công cụ đo lường rủi ro tín dụng đối với từng doanh nghiệp theo phương pháp dựa vào một thang điểm thống nhất để đánh giá các chỉ tiêu tài chính

117/QĐ-và chỉ tiêu phi tài chính của doanh nghiệp Trên cơ sở kết quả tổng điểm cuối cùng, doanh nghiệp được xếp vào một trong 16 hạng, đây là cơ sở để VCB xem xét cấp hạn mức tín dụng; phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; quản lý rủi ro theo danh mục khách hàng

HTXHTDDN của VCB phân chia doanh nghiệp thành nhiều đối tượng khác nhau: doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp tiềm năng và doanh nghiệp mới thành lập; tương ứng với mỗi đối tượng là một mô hình chấm điểm riêng biệt:

1.2.1.1 Đối với doanh nghiệp thông thường, tiềm năng

Đây là doanh nghiệp có báo cáo tài chính đầy đủ từ hai năm trở lên kể từ khi

có doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh và hiện đang có quan hệ tín dụng với VCB Trước tiên, doanh nghiệp được chia theo 52 nhóm ngành kinh tế, tương ứng với 52 bộ chỉ tiêu chấm điểm riêng Các bộ chỉ tiêu này khác nhau về danh mục các chỉ tiêu cũng như khác nhau về bộ giá trị chuẩn – thang điểm và trọng số của mỗi chỉ tiêu Việc xác định ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp dựa vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính theo nguyên tắc: hoạt động kinh doanh chính là hoạt động đem lại doanh thu lớn nhất trong tổng doanh thu hàng năm của khách hàng

Trang 19

Sau khi xác định được ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tiến hành xác định quy mô của doanh nghiệp dựa trên các tiêu chí: vốn chủ sở hữu, số lượng

lao động, doanh thu thuần và tổng tài sản được trình bày như trong Bảng 1.1 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này) Mỗi chỉ tiêu về quy mô có 8 giá trị chuẩn và thang

điểm từ 1 – 8 điểm, điểm quy mô được tính bằng tổng điểm của 4 chỉ tiêu này Doanh nghiệp có điểm về quy mô càng lớn thì quy mô của doanh nghiệp càng lớn: quy mô lớn (từ 22 điểm đến 32 điểm), quy mô trung bình (từ 12 đến 21 điểm), quy

mô nhỏ (từ 6 điểm đến 11 điểm) và quy mô siêu nhỏ (dưới 6 điểm)

Trên cơ sở xác định quy mô của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có điểm từ

6 đến 32 điểm thì áp dụng Bộ chỉ tiêu doanh nghiệp thông thường; nếu doanh nghiệp có điểm chỉ tiêu dưới 6 điểm thì áp dụng Bộ chỉ tiêu doanh nghiệp siêu nhỏ

để chấm điểm xếp hạng tín dụng Hai bộ chỉ tiêu này khác nhau ở tỷ trọng của từng chỉ tiêu còn số lượng các chỉ tiêu tương đối giống nhau, được kết cấu như sau:

- Chỉ tiêu tài chính gồm: nhóm chỉ tiêu thanh khoản (khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời); nhóm chỉ tiêu hoạt động (vòng quay vốn lưu động, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu, hiệu suất sử dụng tài sản cố định), nhóm chỉ tiêu cân nợ (tổng nợ phải trả/tổng tài sản, nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu), nhóm chỉ tiêu thu nhập (lợi nhuận gộp/doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu, lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản bình quân, lợi nhuận trước thuế và lãi vay/lãi vay phải trả) Tuy nhiên, Bộ chỉ tiêu doanh nghiệp siêu nhỏ bỏ qua các chỉ tiêu tài chính sau: khả năng thanh toán tức thời, hiệu suất sử dụng tài sản cố định,

nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu, lợi nhuận gộp/doanh thu thuần, lợi nhuận trước thuế và lãi vay/lãi vay phải trả Do tính chất của từng ngành kinh tế nên mỗi nhóm chỉ tiêu

sẽ khác nhau về tỷ trọng, nhưng tổng tỷ trọng của các nhóm chỉ tiêu luôn là 100% Mỗi nhóm chỉ tiêu lại bao gồm các chỉ tiêu khác nhau, mỗi chỉ tiêu có điểm số khác nhau: 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90 và 100 điểm; và có tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào mức độ quan trọng của mình và phụ thuộc vào ngành kinh tế mà doanh

Trang 20

nghiệp đang hoạt động Tổng điểm tài chính = ∑[(Điểm từng chỉ tiêu tài chính) x (Trọng số của chỉ tiêu đó)]

- Chỉ tiêu phi tài chính đối với doanh nghiệp thông thường và doanh nghiệp siêu nhỏ là như nhau, bao gồm 5 nhóm chỉ tiêu: đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, trình độ quản lý và môi trường nội bộ, quan hệ với ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng đến ngành, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp; tỷ trọng của từng nhóm chỉ tiêu sẽ khác nhau đối với từng loại hình doanh nghiệp

được trình bày tại Bảng 1.2 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này) Mỗi nhóm chỉ

tiêu sẽ bao gồm các chỉ tiêu khác nhau, số lượng, giá trị chuẩn và tỷ trọng của các chỉ tiêu phụ thuộc vào ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động Các chỉ tiêu phi tài chính có từ 1 đến 5 giá trị chuẩn tương ứng với điểm số khác nhau: 20, 40,

60, 80, 100 điểm Tổng điểm phi tài chính = ∑ [(Điểm từng chỉ tiêu phi tài chính) x (Trọng số của chỉ tiêu đó) x (Trọng số nhóm chỉ tiêu lớn)]

VCB còn xác định doanh nghiệp được kiểm toán hay chưa được kiểm toán

để ấn định tỷ trọng của chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính cho doanh nghiệp

thông thường, tiềm năng như trong Bảng 1.1 Trường hợp báo cáo tài chính của

doanh nghiệp không được kiểm toán thì tổng điểm xếp hạng của doanh nghiệp mất 5% điểm tài chính Điểm của doanh nghiệp thông thường, tiềm năng = (Điểm của phần tài chính x Tỷ trọng của phần tài chính) + (Điểm của phần phi tài chính x Tỷ trọng của phần phi tài chính)

Bảng 1.1 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp thông thường tại HTXHTDDN VCB

Thông tin tài chính không được kiểm toán

Thông tin tài chính được kiểm toán

(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín dụng của VCB)

Trang 21

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp siêu nhỏ cũng được xác định kiểm toán hay chưa kiểm toán để ấn định tỷ trọng của chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài

chính như trong Bảng 1.2; trường hợp báo cáo tài chính không được kiểm toán thì

tổng điểm xếp hạng của doanh nghiệp cũng mất 5% điểm tài chính

Bảng 1.2 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp siêu nhỏ tại HTXHTDDN VCB

Thông tin tài chính không được kiểm toán

Thông tin tài chính được kiểm toán

(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín dụng của VCB)

Do có tính đến yếu tố rủi ro được trình bày tại Bảng 1.3., vì vậy, Điểm của

doanh nghiệp siêu nhỏ = (Điểm của phần tài chính x Tỷ trọng của phần tài chính) + (Điểm của phần phi tài chính x Tỷ trọng của phần phi tài chính x Hệ số rủi ro)

Bảng 1.3 Hệ số rủi ro của doanh nghiệp siêu nhỏ tại HTXHTDDN VCB Tiêu chí Hệ số Căn cứ xác định hệ số

1,00 Luôn trả nợ đúng hạn

0,98 Đã từng cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong vòng 12

tháng qua nhưng dư nợ hiện tại không có nợ xấu

0,93 Đã từng bị chuyển nợ quá hạn trong vòng 12

tháng qua nhưng hiện tại không có dư nợ quá hạn

0,90 Đã từng cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong vòng 12

tháng qua và dư nợ hiện tại có nợ cơ cấu

0,80 Đã từng bị chuyển nợ quá hạn trong vòng 1 tháng

qua, tổng dư nợ hiện tại đang có nợ quá hạn

(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của VCB)

Trang 22

Căn cứ vào tổng điểm đạt được đã nhân trọng số như đã trình bày nêu trên, doanh nghiệp được xếp hạng tín dụng theo 16 nhóm, giảm dần từ AAA đến D như

trình bày trong Bảng 1.3 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này)

1.2.1.2 Đối với doanh nghiệp mới thành lập

Doanh nghiệp mới thành lập là những doanh nghiệp chưa có báo cáo tài chính đủ hai năm kể từ khi có doanh thu hoạt động; hoặc đơn vị hành chính sự nghiệp có thu, không có báo cáo tài chính VCB xếp hạng tín dụng doanh nghiệp mới thành lập dựa trên tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, có tính đến yếu tố rủi ro trong quá trình hoạt động Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp gồm 4 chỉ tiêu lớn: đánh giá rủi ro liên quan đến vận hành doanh nghiệp (9 chỉ tiêu), đánh giá khả năng suy giảm của phương án kinh doanh (8 chỉ tiêu), đánh giá rủi ro từ thị trường (12 chỉ tiêu) và đánh giá rủi ro từ yếu tố tài chính của phương án kinh doanh (6 chỉ tiêu) Mỗi chỉ tiêu có một trong năm giá trị chuẩn, ứng với điểm số: 20, 40,

60, 80 và 100 điểm; có tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào mức độ quan trọng Điểm tình hình kinh doanh của doanh nghiệp = ∑(Điểm chỉ tiêu x Tỷ trọng của chỉ tiêu)

Sau khi xác định được Điểm tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, kết hợp

với Hệ số rủi ro được trình bày trong Bảng 1.4 sẽ có Điểm của doanh nghiệp mới

thành lập = Điểm tình hình kinh doanh x Hệ số rủi ro 1 x Hệ số rủi ro 2

Bảng 1.4 Hệ số rủi ro của doanh nghiệp mới thành lập tại HTXHTDDN

VCB Chỉ tiêu Tỷ trọng Căn cứ đánh giá

100% Lý lịch tư pháp tốt, chưa từng có tiền án,

tiền sự 60% Đã từng có tiền án, tiền sự 40% Đang là đối tượng nghi vấn pháp luật

thành viên, Trưởng ban

Kiểm soát, Tổng giám

đốc/Giám đốc) 20% Đang bị pháp luật truy tố

Trang 23

100% Tính khả thi của phương án chưa bị ảnh

hưởng bởi sự kiện bất thường nào

60% Tính khả thi của phương án đang bị ảnh

hưởng bởi sự kiện bất thường

Hệ số rủi ro 2: Các sự

kiện bất thường có ảnh

hưởng đến tính khả thi

của phương án (tai nạn

lao động, tai nạn công

trình, cháy, nổ, lũ lụt…) 20%

Phương án kinh doanh hoàn toàn không còn khả thi do ảnh hưởng bởi sự kiện bất thường

(Nguồn: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của VCB)

Căn cứ vào tổng điểm đạt được đã nhân trọng số như đã trình bày nêu trên, doanh nghiệp mới thành lập cũng được xếp hạng tín dụng theo 16 nhóm, giảm dần

từ AAA đến D như trình bày trong Bảng 1.3 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này) 1.2.2 HTXHTDDN của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Quy trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Vietinbank hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 702/QĐ-NHCT35 ngày 31/03/2011 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 28/07/2011 Trên cơ sở đánh giá các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh nghiệp, Vietinbank sẽ xếp hạng tín dụng doanh nghiệp cho mục đích: hỗ trợ quá trình ra quyết định cấp giới hạn tín dụng; hỗ trợ quá trình phân loại nợ; hỗ trợ xây dựng chính sách khách hàng và ứng xử quan hệ tín dụng với khách hàng; hỗ trợ định giá khoản tín dụng

Quy trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Vietinbank áp dụng cho doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập, gồm các bước sau:

- Bước 1 – Xác định ngành kinh tế: dựa vào ngành nghề sản xuất kinh doanh chính đăng ký trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; hoặc hoạt động kinh doanh chính đem lại trên 50% tổng doanh thu của doanh nghiệp; hay ngành nghề

mà doanh nghiệp có tiềm năng phát triển nhất mà Vietinbank xếp loại doanh nghiệp vào một trong 34 ngành nghề kinh tế

- Bước 2 – Xác định loại hình doanh nghiệp: căn cứ vào hình thức sở hữu mà doanh nghiệp có các loại hình sau: doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp khác

Trang 24

- Bước 3 – Xác định đối tượng doanh nghiệp: khi đã xác định được ngành kinh tế và loại hình doanh nghiệp, Quy trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Vietinbank phân chia doanh nghiệp thành nhiều đối tượng khác nhau: doanh nghiệp lần đầu quan hệ với ngân hàng, doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp đang lập dự án đầu tư, doanh nghiệp đặc biệt và doanh nghiệp thông thường; tương ứng với mỗi đối tượng là một phương pháp chấm điểm riêng

Việc chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Vietinbank được tự động hóa hoàn toàn trên chương trình INCAS với tính bảo mật rất cao, điểm số và trọng số của các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính được tích hợp sẵn trong chương trình, người sử dụng không thể nhận biết Do vậy, trong phạm vi đề tài này người viết không đề cập đến cách thức chấm điểm từng chỉ tiêu mà chỉ đề cập đến phương pháp chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp của Vietinbank

1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp lần đầu quan hệ và doanh nghiệp thông thường

Đây là doanh nghiệp đang quan hệ tín dụng tại Vietinbank hoặc lần đầu quan

hệ tín dụng nhưng chưa trả nợ gốc lần nào, đồng thời, có báo cáo tài chính đầy đủ từ hai năm trở lên Quy trình chấm điểm và xếp hạng tín dụng được thực hiện như sau:

Bước 1 – Khai báo thông tin tài chính: trước khi khai báo thông tin tài chính của doanh nghiệp, Vietinbank xác định doanh nghiệp được kiểm toán hay chưa được kiểm toán để ấn định tỷ trọng của chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính

cho doanh nghiệp như trình bày trong Bảng 1.5

Bảng 1.5 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của Quy

(Nguồn: Quy trình chấm điểm và XHTDDN của Vietinbank)

Trang 25

Bước 2 – Xác định chỉ tiêu tài chính: trên cơ sở số liệu tài chính thu thập được tại Bảng cân đối kế toán, Bảng kết quả kinh doanh và Bảng lưu chuyển tiền tệ

sẽ chấm điểm tài chính gồm các chỉ tiêu: chỉ tiêu thanh khoản (khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh), chỉ tiêu hoạt động (vòng quay vốn lưu động, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu), chỉ tiêu cân nợ (tổng nợ phải trả/tổng tài sản), chỉ tiêu thu nhập (lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh/doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu bình quân, lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản bình quân) Mỗi chỉ tiêu có điểm số và tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào mức độ quan trọng của mình và phụ thuộc vào ngành kinh tế cũng như loại hình mà doanh nghiệp đang hoạt động

- Bước 3 – Xác định quy mô doanh nghiệp: dựa vào các tiêu chí: vốn chủ sở hữu, số lượng lao động bình quân, doanh thu thuần và tổng tài sản được trình bày

trong Bảng 1.6 mà Hệ thống INCAS sẽ tự động tính toán để cho biết quy mô của

doanh nghiệp: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ

Bảng 1.6 Xác định quy mô doanh nghiệp của Quy trình chấm điểm và

xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Vietinbank

3 Doanh thu thuần Bảng kết quả hoạt động kinh doanh

(Nguồn: Quy trình chấm điểm và XHTDDN của Vietinbank)

Trang 26

- Bước 4 – Chấm điểm chỉ tiêu tài chính: sau khi biết được quy mô doanh nghiệp và trên cơ sở số liệu tài chính của doanh nghiệp đã nhập vào chương trình tại Bước 1, Hệ thống sẽ tự động tính toán điểm tài chính Tổng điểm tài chính =

∑[(Điểm từng chỉ tiêu tài chính) x (Trọng số của chỉ tiêu đó)]

- Bước 5 – Chấm điểm chỉ tiêu phi tài chính: Hệ thống INCAS chấm điểm chỉ tiêu phi tài chính đối với doanh nghiệp lần đầu quan hệ và doanh nghiệp thông thường theo 5 nhóm chỉ tiêu: khả năng trả nợ của doanh nghiệp (3 chỉ tiêu), trình độ quản lý và môi trường nội bộ (13 chỉ tiêu), quan hệ với ngân hàng (16 chỉ tiêu), các nhân tố ảnh hưởng đến ngành (6 chỉ tiêu), các nhân tố liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp (11 chỉ tiêu); tỷ trọng của từng nhóm chỉ tiêu sẽ khác nhau đối với từng loại hình doanh nghiệp Số lượng, giá trị chuẩn và tỷ trọng của các chỉ tiêu phụ thuộc vào ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động Tổng điểm phi tài chính

= ∑[(Điểm từng chỉ tiêu phi tài chính) x (Trọng số của chỉ tiêu đó) x (Trọng số nhóm chỉ tiêu lớn)]

- Bước 6 – Chấm điểm doanh nghiệp: sau khi đã xác định được điểm chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính, đồng thời, căn cứ vào chất lượng báo cáo tài

chính như trình bày tại Bảng 1.5 (trang 10) sẽ xác định được Điểm của doanh

nghiệp = (Điểm của phần tài chính x Tỷ trọng của phần tài chính) + (Điểm của phần phi tài chính x Tỷ trọng của phần phi tài chính)

Nếu doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, Vietinbank xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu khác để chấm điểm chỉ tiêu phi tài chính, bao gồm các nhóm chỉ tiêu: trình độ quản lý và điều hành của doanh nghiệp (8 chỉ tiêu), quan hệ với ngân hàng (14 chỉ tiêu), đánh giá ngành và các yếu tố ảnh hưởng đến ngành (6 chỉ tiêu), đánh giá tình hình kinh doanh của doanh nghiệp (8 chỉ tiêu) Bên cạnh đó, phải xác định

Hệ số rủi ro doanh nghiệp thông qua lịch trả nợ của doanh nghiệp (bao gồm cả gốc

và lãi trong 12 tháng qua) như trình bày tại Bảng 1.7 (trang 13) Khi đó, Điểm của

doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ = (Điểm của phần tài chính x Tỷ trọng của phần tài chính) + (Điểm của phần phi tài chính x Tỷ trọng của phần phi tài chính x Hệ số rủi ro)

Trang 27

Bảng 1.7 Hệ số rủi ro của doanh nghiệp siêu nhỏ tại Quy trình chấm

điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Vietinbank Tiêu chí Hệ số Căn cứ xác định hệ số

(Nguồn: Quy trình chấm điểm và XHTDDN của Vietinbank)

Căn cứ vào tổng điểm đạt được đã nhân trọng số như đã trình bày nêu trên, doanh nghiệp được xếp hạng tín dụng theo 10 nhóm, giảm dần từ AAA đến D như

trình bày trong Bảng 1.4 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này)

1.2.2.2 Đối với doanh nghiệp mới thành lập

Doanh nghiệp mới thành lập là những doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, chưa có báo cáo tài chính hoặc báo cáo tài chính chưa đủ số liệu hai năm Vietinbank xếp hạng tín dụng doanh nghiệp mới thành lập dựa trên hệ số rủi ro doanh nghiệp và chỉ tiêu phi tài chính Hệ số rủi ro của doanh nghiệp được đo lường qua hai tiêu chí: lý lịch tư pháp của lãnh đạo doanh nghiệp và các sự kiện bất thường có thể xảy ra Chỉ tiêu phi tài chính được chấm điểm dựa vào hai nhóm chỉ tiêu: hệ số dấu hiệu rủi ro (2 chỉ tiêu) và đánh giá tình hình kinh doanh của doanh nghiệp (đánh giá rủi ro liên quan đến vận hành doanh nghiệp – 9 chỉ tiêu; đánh giá khả năng suy giảm của phương án kinh doanh – 8 chỉ tiêu; đánh giá rủi ro thị trường – 13 chỉ tiêu; đánh giá rủi ro từ yếu tố tài chính – 5 chỉ tiêu) Mỗi chỉ tiêu có điểm

Trang 28

số và tỷ trọng khác nhau tùy thuộc ngành kinh tế và loại hình doanh nghiệp Điểm chỉ tiêu phi tài chính = ∑[(Điểm chỉ tiêu) x (Tỷ trọng của chỉ tiêu)]

Khi đó, Điểm của doanh nghiệp mới thành lập = (Hệ số rủi ro của doanh nghiệp) x (Điểm chỉ tiêu phi tài chính) Căn cứ vào tổng điểm đạt được, doanh nghiệp mới thành lập cũng được xếp hạng tín dụng theo 10 nhóm, giảm dần từ

AAA đến D như trình bày trong Bảng 1.4 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này) 1.2.2.3 Đối với doanh nghiệp đầu tư dự án

Doanh nghiệp đang lập dự án đầu tư là những doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, chưa có báo cáo tài chính hoặc báo cáo tài chính chưa đủ số liệu hai năm; đang triển khai dự án đầu tư và chưa bắt đầu hoạt động kinh doanh chính Hệ thống INCAS của Vietinbank sẽ chấm điểm đối với doanh nghiệp đầu tư dự án như sau:

- Thực hiện chấm điểm và xếp hạng tín dụng như đối với doanh nghiệp mới thành lập nếu doanh nghiệp đang trong giai đoạn dự án đầu tư thuộc một trong các ngành kinh tế sau: lâm nghiệp và các sản phẩm liên quan; nông nghiệp và các sản phẩm liên quan; ngư nghiệp và các sản phẩm liên quan; thương mại công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng; thương mại công nghiệp nặng; dịch vụ tư vấn, hỗ trợ khoa học công nghệ, kỹ thuật; dịch vụ y tế, giáo dục đào tạo, công ích

- Trường hợp còn lại, Vietinbank xếp hạng tín dụng doanh nghiệp dựa trên

hệ số rủi ro doanh nghiệp và chỉ tiêu phi tài chính Hệ số rủi ro của doanh nghiệp được đo lường qua hai tiêu chí: lý lịch tư pháp của lãnh đạo doanh nghiệp và các sự kiện bất thường có thể xảy ra Chỉ tiêu phi tài chính được chấm điểm dựa vào hai nhóm chỉ tiêu: hệ số dấu hiệu rủi ro (2 chỉ tiêu) và đánh giá tình hình kinh doanh của doanh nghiệp (đánh giá rủi ro liên quan đến vận hành doanh nghiệp – 7 chỉ tiêu; đánh giá khả năng suy giảm của phương án kinh doanh – 9 chỉ tiêu; đánh giá rủi ro thị trường – 13 chỉ tiêu; đánh giá rủi ro từ yếu tố tài chính – 5 chỉ tiêu) Mỗi chỉ tiêu

có điểm số và tỷ trọng khác nhau tùy thuộc ngành kinh tế và loại hình doanh nghiệp Điểm chỉ tiêu phi tài chính = ∑(Điểm chỉ tiêu x Tỷ trọng của chỉ tiêu) Khi

đó, Điểm của doanh nghiệp đầu tư dự án = (Hệ số rủi ro của doanh nghiệp) x (Điểm chỉ tiêu phi tài chính)

Trang 29

Căn cứ vào tổng điểm đạt được, doanh nghiệp mới thành lập cũng được xếp

hạng tín dụng theo 10 nhóm, giảm dần từ AAA đến D như trình bày trong Bảng 1.4 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này)

1.2.3 HTXHTDDN của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu

HTXHTDDN của ACB được ban hành tại Quyết định số BCS&QLTD.10 ngày 29/11/2010 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu nhằm mục đích phân loại nợ Ngoài ra, HTXHTDDN của ACB còn được sử dụng trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng như: ban hành chính sách tín dụng, quy trình cho vay, giám sát rủi ro danh mục tín dụng, lập báo cáo quản trị rủi ro, chính sách dự phòng rủi ro tín dụng, xác định mức vốn an toàn tối thiểu, phân tích hiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng và xác định khung lãi suất tiêu chuẩn… Tóm lại, HTXHTDDN là một cấu phần quan trọng và là một công cụ đắc lực trong quản trị kinh doanh tại ACB, được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp đã và đang quan hệ tín dụng tại ACB, doanh nghiệp mới có báo cáo tài chính từ hai năm trở lên, trừ trường hợp đơn vị hành chính sự nghiệp; doanh nghiệp có báo cáo tài chính chưa đủ hai năm; khách hàng bị giải thể, phá sản; khách hàng có nợ quá hạn trên 360 ngày

1226/NVQĐ-Dựa vào ngành nghề sản xuất kinh doanh đem lại trên 50% tổng doanh thu trong ba năm liên tục; hoặc ngành có tiềm năng phát triển nhất của doanh nghiệp để xác định ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động Điều này rất quan trọng,

vì tỷ trọng và tiêu chuẩn chấm điểm các chỉ tiêu sẽ khác nhau tương ứng với sự khác nhau của 27 nhóm ngành kinh tế

Sau khi xác định được ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tiến hành xác định quy mô của doanh nghiệp dựa trên các tiêu chí: số lượng lao động, doanh thu thuần, nguồn vốn chủ sở hữu và tổng tài sản Mỗi chỉ tiêu về quy mô có 8 giá trị chuẩn và thang điểm từ 1 – 8 điểm, điểm quy mô được tính bằng tổng điểm của 4 chỉ tiêu này Doanh nghiệp có điểm về quy mô càng lớn thì quy mô của doanh nghiệp càng lớn: quy mô lớn (từ 22 điểm đến 32 điểm), quy mô vừa (từ 12 đến 21 điểm), quy mô nhỏ (dưới 12 điểm)

Trang 30

Trên cơ sở ngành kinh tế và quy mô hoạt động của doanh nghiệp mà ACB tiến hành chấm điểm chỉ tiêu tài chính, bao gồm: nhóm chỉ tiêu thanh khoản (khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời), nhóm chỉ tiêu hoạt động (vòng quay vốn lưu động, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu, hiệu suất sử dụng tài sản cố định), nhóm chỉ tiêu cân

nợ (tổng nợ phải trả/tổng tài sản, nợ dài hạn/vốn chủ sở hữu), nhóm chỉ tiêu thu nhập (lợi nhuận gộp/doanh thu thuần, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu bình quân, lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản bình quân, lợi nhuận trước thuế và chi phí lãi vay/chi phí lãi vay) Các chỉ tiêu tài chính được phần mềm tự động xác định thông qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp, Tổng điểm tài chính = ∑[(Điểm từng chỉ tiêu tài chính) x (Trọng số của chỉ tiêu đó)]

Chỉ tiêu phi tài chính bao gồm 5 nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu trình độ quản

lý và môi trường nội bộ của doanh nghiệp, nhóm chỉ tiêu đặc điểm hoạt động kinh doanh, nhóm chỉ tiêu khả năng trả nợ của doanh nghiệp, nhóm chỉ tiêu quan hệ với

tổ chức tín dụng, nhóm chỉ tiêu đánh giá ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động; tỷ trọng của từng nhóm chỉ tiêu sẽ khác nhau đối với từng loại hình sở hữu của doanh

nghiệp được trình bày tại Bảng 1.5 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này) Mỗi nhóm

chỉ tiêu sẽ bao gồm các chỉ tiêu khác nhau, số lượng, giá trị chuẩn; đồng thời, tỷ trọng của các chỉ tiêu cũng sẽ khác nhau, tùy thuộc vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp Tổng điểm phi tài chính = ∑[(Điểm từng chỉ tiêu phi tài chính) x (Trọng số của chỉ tiêu đó)]

ACB còn xác định tính chất của báo cáo tài chính (đã được kiểm toán hay chưa được kiểm toán) để ấn định tỷ trọng của chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài

chính cho doanh nghiệp như trong Bảng 1.8 (trang 17) Trường hợp báo cáo tài

chính của doanh nghiệp không được kiểm toán thì tổng điểm xếp hạng của doanh nghiệp mất 5% điểm tài chính Điểm của doanh nghiệp = (Điểm của phần tài chính

x Tỷ trọng của phần tài chính) + (Điểm của phần phi tài chính x Tỷ trọng của phần phi tài chính)

Trang 31

Bảng 1.8 Tỷ trọng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh

nghiệp tại HTXHTDDN ACB

Thông tin tài chính không được kiểm toán hoặc được kiểm toán nhưng không có ý kiến chấp nhận toàn phần

Thông tin tài chính được kiểm toán, ý kiến chấp nhận toàn phần

(Nguồn: Quy trình chấm điểm và XHTDDN của ACB)

Căn cứ vào tổng điểm đạt được đã nhân trọng số như đã trình bày nêu trên, doanh nghiệp được xếp hạng tín dụng theo 10 nhóm, giảm dần từ AAA đến D như

trình bày trong Bảng 1.6 của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này)

1.2.4 Bài học kinh nghiệm từ Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

Qua tìm hiểu HTXHTDDN của VCB, Vietinbank và ACB có thể thấy các Ngân hàng đều sử dụng chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính để chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp Tuy nhiên, tùy vào điều kiện thu thập thông tin, phương pháp xử lý số liệu, mục đích của việc xếp hạng… mà HTXHTDDN của mỗi Ngân hàng khác nhau về cơ cấu các chỉ tiêu đánh giá, trọng số của các chỉ tiêu, số lượng các mức xếp hạng… cụ thể như sau:

- VCB phân chia doanh nghiệp thành 52 nhóm ngành kinh tế, tương ứng với từng nhóm ngành kinh tế là một mô hình chấm điểm Nếu so với Vietinbank (34 ngành kinh tế) và ACB (27 ngành kinh tế) thì việc chia nhiều nhóm ngành kinh tế chứng tỏ VCB chú trọng đến đặc điểm ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp khi xây dựng HTXHTDDN Điều này cho phép VCB đi sâu phân tích, chấm điểm

và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực khác nhau một cách phù hợp hơn

Trang 32

- HTXHTDDN của VCB và Vietinbank không chỉ áp dụng cho doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ như ACB, mà còn áp dụng đối với doanh nghiệp siêu nhỏ Việc chia nhỏ quy mô doanh nghiệp thành 4 loại sẽ giúp cho việc chấm điểm và xếp hạng chính xác hơn Ngoài ra, thông tin tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp siêu nhỏ không đầy đủ nên VCB và Vietinbank còn dựa vào lịch

sử trả nợ của doanh nghiệp để xác định hệ số rủi ro cho các chỉ tiêu phi tài chính

- VCB và Vietinbank xây dựng mô hình chấm điểm cho doanh nghiệp mới thành lập trên cơ sở đánh giá các chỉ tiêu phi tài chính, lý lịch tư pháp của lãnh đạo doanh nghiệp và các sự kiện bất thường có thể xảy ra, trong khi đó ACB lại không xếp hạng đối với doanh nghiệp mới thành lập

- Vietinbank chấm điểm và xếp hạng tín dụng đối với doanh nghiệp đầu tư

dự án, nhưng VCB và ACB không xếp hạng đối với doanh nghiệp này

- Để xác định tỷ trọng các chỉ tiêu phi tài chính, VCB phân chia hình thức sở hữu của doanh nghiệp thành 5 loại (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài thuộc khối OECD, doanh nghiệp nước ngoài khác, công ty cổ phần và công ty khác); Vietinbank chỉ phân chia doanh nghiệp theo hình thức sở hữu thành 3 loại (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp khác); ACB cũng phân chia doanh nghiệp theo hình thức sở hữu như Vietinbank nhưng có tính đến lịch sử quan hệ tín dụng của doanh nghiệp tại Ngân hàng

- Vietinbank và ACB xếp hạng doanh nghiệp thành 10 nhóm, trong khi đó VCB xếp hạng doanh nghiệp thành 16 nhóm

- Trong HTXHTDDN của Vietinbank người chấm điểm chỉ có nhiệm vụ nhập số liệu tài chính và thông tin phi tài chính của doanh nghiệp mà không biết được tỷ trọng của các chỉ tiêu chấm điểm, Hệ thống sẽ tự động chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp Vì vậy, tính bảo mật của HTXHTDDN Vietinbank rất cao so với VCB và ACB

Thông qua việc tìm hiểu và nhận biết sự khác nhau giữa HTXHTDDN của VCB, Vietinbank và ACB đã cho thấy các ưu điểm mà HTXHTDDN của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cần bổ sung để hoàn thiện, cụ thể:

Trang 33

- Cần phân chia nhóm ngành kinh tế chi tiết hơn và xây dựng một số bộ chỉ tiêu mới cho các ngành kinh tế mới

- Xem xét bổ sung bộ chỉ tiêu đánh giá xếp hạng đối với doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ và các doanh nghiệp mới thành lập chưa có báo cáo tài chính đủ 2 năm liên tục

- Thay đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp Nhà nước trong HTXHTDDN cho phù hợp với Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 12/12/2005

- Nâng cao tính bảo mật của HTXHTDDN, tránh sự nhận biết về cho chế chấm điểm và tỷ trọng từng chỉ tiêu nhằm hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp chủ quan của cán bộ nghiệp vụ trong quá trình chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp

Bên cạnh đó, người viết cũng nhận thấy Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman chưa được VCB, Vietinbank và ACB ứng dụng, do

đó, việc nghiên cứu ứng dụng Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward

I Altman đối với HTXHTDDN của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam sẽ

mở ra một hướng mới để hoàn thiện việc chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp trong Ngân hàng

1.3 Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman

1.3.1 Tổng quan về Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp

Do lợi nhuận phụ thuộc nhiều vào hoạt động tín dụng nên vấn đề kiểm soát rủi ro trong hoạt động cho vay được đặt lên hàng đầu Để nhận biết tình hình tài chính một khách hàng là tốt hay xấu trước khi quyết định cho vay, các ngân hàng thường sử dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau để kiểm tra và theo dõi thường kỳ Một trong những tiêu chí để ngân hàng nhận biết sức khỏe tài chính khách hàng đó là dấu hiệu báo trước sự phá sản Hoạt động của doanh nghiệp được xem như chấm hết khi phá sản, dẫn đến toàn bộ những khoản vay của khách hàng sẽ

là khoản nợ khó đòi đối với ngân hàng Do vậy, tìm ra công cụ nhận biết dấu hiệu phá sản được nhiều ngân hàng và nhà nghiên cứu tài chính doanh nghiệp quan tâm

Trong những năm 1946 – 1965, Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp được giáo sư Edward I Altman, trường kinh doanh Leonard N Stern, Đại học New

Trang 34

York phát minh thông qua việc phân tích một số lượng lớn các công ty tại Mỹ Dạng tổng quát của mô hình là Z = c + ∑ciri (trong đó: c là hằng số, ri là các tỷ suất tài chính và chỉ tiêu phi tài chính được sử dụng như những biến số, ci là các hệ số của mỗi biến số trong mô hình) Các biến số trong hàm thống kê Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman bao gồm:

- CA: Tài sản lưu động

- TA: Tổng tài sản

- SL: Doanh thu thuần

- TL: Tổng nợ

- CL: Nợ ngắn hạn

- MV: Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu

- BV: Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu

- EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

- RE: Lợi nhuận giữ lại

Mô hình điểm số dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp được Edward I Altman xây dựng áp dụng cho doanh nghiệp cổ phần thuộc ngành sản xuất như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5 Trong đó:

X1 = (CA – CL)/TA: đây là Tỷ số Vốn lưu động trên Tổng tài sản, đo lường

tỷ trọng tài sản lưu động của doanh nghiệp trong tổng tài sản

X2 = RE/TA: đây là Tỷ số Lợi nhuận giữ lại trên Tổng tài sản, đo lường hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp

X3 = EBIT/TA: đây là Tỷ số Lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên Tổng tài sản, đo lường khả năng sinh lời của tổng tài sản, kết quả chỉ tiêu này cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo

ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận

X4 = MV/TL: đây là Tỷ số Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu trên Giá trị

sổ sách của Tổng nợ, cho biết khả năng chịu đựng của doanh nghiệp đối với những sụt giảm trong giá trị tài sản

Trang 35

X5 = SL/TA: đây là Tỷ số Doanh thu thuần trên Tổng tài sản, cho biết khả năng tạo doanh thu của tài sản

§ Nếu Z > 2,99: Doanh nghiệp trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

§ Nếu 1,80 < Z < 2,99: Doanh nghiệp trong vùng cảnh báo, có thể có nguy

cơ phá sản

§ Nếu Z < 1,80: Doanh nghiệp trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao Đối với doanh nghiệp không cổ phần thuộc ngành sản xuất thì Z’ = 0,717X1+ 0,847X2 + 3,107X3 + 0,420X4 + 0,998X5 Các biến số X1, X2, X3, X5 tính như trên nhưng riêng X4 = BV/TL Sau khi có kết quả Z’, có thể biết được trạng thái của doanh nghiệp:

§ Nếu Z’ > 2,90: Doanh nghiệp trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

§ Nếu 1,23 < Z’ < 2,90: Doanh nghiệp trong vùng cảnh báo, có thể có nguy

cơ phá sản

§ Nếu Z’ < 1,23: Doanh nghiệp trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao Đối với các doanh nghiệp không thuộc ngành sản xuất, do sự khác nhau khá lớn của biến số X5 giữa các ngành nên X5 được loại ra Công thức tính chỉ số Z” lúc này: Z” = 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4 Các biến số X1, X2, X3 tính như trên nhưng đối với doanh nghiệp cổ phần thì X4 = MV/TL, nếu doanh nghiệp không cổ phần thì X4 = BV/TL

§ Nếu Z” > 2,60: Doanh nghiệp trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản

§ Nếu 1,10 < Z” < 2,60: Doanh nghiệp trong vùng cảnh báo, có thể có nguy

Trang 36

sản không hoạt động, tiết kiệm chi phí hợp lý, gia tăng lượng tiền mặt, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu để tăng doanh số…

1.3.2 Sự tương đồng giữa Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman với Hệ thống định mức tín nhiệm của Standard & Poor’s

Ngoài tác dụng cảnh báo dấu hiệu phá sản, Giáo sư Edward I Altman đã phát minh tiếp hệ số Z”-điều chỉnh Chỉ số này bằng với chỉ số Z” + 3,25, công thức Z”-điều chỉnh được xác định như sau: Z” = 3,25 + 6,56X1 + 3,26X2 + 6,72X3 + 1,05X4, các biến số X1, X2, X3, X4 tính như trên, nếu doanh nghiệp cổ phần thì X4 = MV/TL, nếu doanh nghiệp không cổ phần thì X4 = BV/TL Sở dĩ các vùng cảnh báo phá sản sẽ tăng thêm 3,25 nhằm mục đích để xếp hạng rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp Ông đã nghiên cứu trên 700 công ty và tìm ra sự tương đồng giữa chỉ số Z”-điều chỉnh này với Hệ thống định mức tín nhiệm trái phiếu của Standard & Poor’s

như trình bày tại Bảng 1.9

Bảng 1.9 Sự tương đồng giữa Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp

của Edward I Altman với Hệ thống định mức tín nhiệm trái phiếu của Standard & Poor’s

Z”-điều chỉnh

Hệ thống định mức tín nhiệm trái phiếu của Standard & Poor’s

Trang 37

-Doanh nghiệp nằm trong

vùng nguy hiểm, nguy cơ

phá sản cao

(Nguồn: Edward I.Altman (2003), The use of credit scoring models and the

importance of a credit culture, New York University, pp.27)

Sự tương đồng giữa chỉ số Z”-điều chỉnh với Hệ thống định mức tín nhiệm trái phiếu của Standard & Poor’s theo Edward I Altman là khá lớn, nhưng điều đó không có nghĩa là tuyệt đối và có độ lệch chuẩn nằm trong khoảng cho phép

1.3.3 Ứng dụng của Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman tại các thị trường mới nổi

Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới trong việc dự báo nguy cơ phá sản doanh nghiệp, trong phạm vi bài viết này chỉ nêu ra một số ứng dụng tác các nước đang phát triển:

- Tanti Irawati Muchlis và Kurniasari Dian Jayanti của Đại học Widyatama, Indonesia đã sử dụng Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman để nghiên cứu rủi ro phá sản đối với các doanh nghiệp bất động sản trên thị trường chứng khoán Indonesia Tanti Irawati Muchlis và Kurniasari Dian Jayanti nghiên cứu đối với 19 công ty bất động sản trong giai đoạn năm 2004 – 2008, thông

Trang 38

qua việc phân tích từng biến số X1, X2, X3, X4, X5 trong Mô hình Z = 1,2X1 + 1,4X2+ 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5 và chỉ số Z của từng Công ty qua 5 năm, cho thấy:

§ 2 Công ty có tình hình tài chính lành mạnh liên tục suốt 5 năm;

§ 1 Công ty trong tình trạng nguy cơ phá sản cao liên tục suốt 5 năm;

§ các Công ty còn lại có sự thay đổi giữa các năm

So sánh với quá trình hoạt động thực tế của doanh nghiệp, Tanti Irawati Muchlis và Kurniasari Dian Jayanti nhận thấy: Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman có thể được dùng để đánh giá đối với những Công ty

có bất ổn về tài chính; những Công ty nào rơi vào vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao trong Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman thì thực thế đã ở trong tình trạng phá sản về mặt pháp lý của Indonesia

- Anup Chowdhury của Trường kinh doanh BRAC và Suborna Barua của Đại học Quốc tế United đã sử dụng Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman để nghiên cứu tình trạng rủi ro suy thoái tài chính của 53 doanh nghiệp tại thị trường chứng khoán Dhaka, Bangladesh từ năm 2000 – 2004 Kết quả

là 5 trong số 53 Công ty được nghiên cứu có tình hình tài chính lành mạnh, 7 Công

ty nằm trong vùng nguy hiểm và 41 Công ty đang hoạt động với rủi ro suy thoái tài chính cao Do đó, Anup Chowdhury và Suborna Barua kết luận rằng 90% các Công

ty đang phải gánh chịu rủi ro suy thoái tài chính xuất phát từ khả năng quản lý kém

và hoạt động không hiệu quả, mặc dù những vấn đề này không được phản ánh thông qua thị giá cổ phiếu của các Công ty này trên thị trường chứng khoán Dhaka Bên cạnh đó, bài viết còn chỉ ra Ban lãnh đạo Công ty không được trang bị khả năng quản lý tài sản và không đưa ra được biện pháp quản lý hữu hiệu hơn, cũng như tác động của cán cân nợ quá cao có thể dẫn đến rủi ro khủng hoảng tài chính

Nghiên cứu này cũng đề nghị Ủy ban chứng khoán Bangladesh cần đề nghị các Công ty trong vùng nguy hiểm và có độ rủi ro suy thoái tài chính cao phải tái cấu trúc vốn và đề ra các biện pháp nhằm hoạt động hiệu quả hơn

Mặc dù vậy, nghiên cứu cũng cho rằng Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman chưa phải là công cụ hiệu quả nhất trong việc dự đoán

Trang 39

khả năng phá sản của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất ở Bangladesh, nguyên nhân là do hệ thống kế toán của Bangladesh chưa phù hợp hoàn toàn trong việc tính toán các chỉ số trong Mô hình Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra điểm hạn chế của

Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman khi không thể dự đoán nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai xa và không thể giải thích được khả năng phá sản của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ

- Sarbapriya Ray tại Đại học Calcutta, Ấn Độ đã nghiên cứu tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ô tô của Ấn Độ và sử dụng

Mô hình điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman để ước lượng một cách chính xác rủi ro suy thoái tài chính đối với các doanh nghiệp này trong giai đoạn từ năm 2003 – 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp này chỉ nằm ở mức trung bình, và có xu hướng giảm dần kể từ sau khi suy thoái toàn cầu năm 2007 – 2008 diễn ra Sarbapriya Ray cũng cho thấy tình hình tài chính của ngành ô tô Ấn Độ vẫn ổn định nhưng có thể dẫn đến tình trạng phá sản nếu như các biện pháp điều chỉnh không được thực thi

So sánh với tình hình phát triển của ngành công nghiệp ô tô Ấn Độ giai đoạn

2007 – 2008 đang trong xu hướng giảm dần, nghiên cứu đã cho thấy tính hữu ích của Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman trong việc xác định các Công ty đang gặp khó khăn về tài chính có thể dẫn đến phá sản Mô hình này cũng giúp cho bộ phận bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp trong việc sử dụng thông tin tài chính để lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định Đồng thời, nếu như nguy cơ phá sản được dự báo trước từ 3 đến 4 năm trước khi khủng hoảng xảy

ra thì bộ phận quản lý doanh nghiệp sẽ có những hành động thích hợp như tái cấu trúc lại doanh nghiệp nhằm tránh chi phí phá sản có thể xảy ra

1.3.4 Kiểm định Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp

Ở phần trên chúng ta thấy được sự tương đồng giữa Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp của Edward I Altman với Hệ thống định mức tín nhiệm trái phiếu của Standard & Poor’s nhưng đây chỉ là sự tương đồng trong môi trường

Trang 40

nghiên cứu của doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên, đó là tiền đề để tiến hành kiểm định Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp Việt Nam

1.3.4.1 Đối với doanh nghiệp cổ phần thuộc ngành sản xuất

Trước tiên, người viết sử dụng Mô hình Điểm số tín dụng doanh nghiệp để

dự báo nguy cơ vỡ nợ cho doanh nghiệp cổ phần thuộc ngành sản xuất được Edward I Altman xây dựng áp dụng như sau: Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,999X5, trong trường hợp này là Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết

Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết bắt đầu bộc lộ những khó khăn trong hoạt động kinh doanh từ giữa quý I năm 2008 khi không thực hiện được việc phát hành

cổ phiếu để bổ sung vốn lưu động đang thiếu hụt, do đó sản xuất bị ngưng trệ và cầm chừng, nên ngày công giảm, sản lượng giảm và tiền lương của công nhân viên giảm Đến giữa quý II năm 2008, tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn, biểu hiện như cuộc đình công của 200 công nhân vào ngày 19/05/2008; dây chuyền sản xuất băng vệ sinh đã ngưng sản xuất từ ngày 26/06/2008 và dây chuyền sản xuất bông ngưng sản xuất từ ngày 12/07/2008 do thiếu tiền mua nguyên vật liệu… Đến ngày 05/08/2009, Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định hủy niêm yết cổ phiếu của Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết theo yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước tại Công văn số 1497/UBCK-PTTT ngày 24/07/2009 và hiện nay, tình hình sản xuất của Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết rơi vào tình trạng trì trệ, gần như tạm ngừng hoạt động và đang tìm kiếm những phương án sản xuất kinh doanh mới để vực dậy Công ty thoát khỏi nguy cơ phá sản

Bảng 1.10 Chỉ số Z của Công ty Cổ phần bông Bạch Tuyết

Năm Chỉ tiêu Ký hiệu Đơn vị

Ngày đăng: 15/05/2017, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w