bình đẳng giới trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và cơ hội đào tạo đã hạn chế khả năng cạnh tranh của phụ nữ và củng cố thêm những nguyên nhân tạo nên sự cách biệt về thu nhập g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HUY TOÀN
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGUYỄN HUY TOÀN
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn
và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sự cảm kích sâu sắc đến quý Thầy Cô đã tham gia giảng dạy, hỗ trợ nghiên cứu thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright vì sự hỗ trợ, hướng dẫn tận tình và khích lệ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu;
Đặc biệt cảm ơn Giảng viên Đinh Vũ Trang Ngân và Tiến sĩ Dwight Perkins, những người đã hướng dẫn khoa học tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Trang 5Mục lục
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
Mục lục v
Danh mục chữ viết tắt và ký hiệu viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục đồ thị, hình vẽ x
TÓM TẮT xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG 5
THU NHẬP 5
1.1 Bất bình đẳng giới trong thu nhập 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Tác động của bất bình đẳng giới trong thu nhập đối với sự phát triển kinh tế xã hội 6
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập 7
1.1.3.1 Yếu tố phi kinh tế 7
1.1.3.2 Các yếu tố kinh tế 8
1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm 11
1.2.1 Phương pháp định tính 11
1.2.2 Phương pháp định lượng 11
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP Ở
VIỆT NAM 13
2.1 Tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam 13
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam 18 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 26
3.2 Phương pháp phân tích 26
3.2.1 Mô hình hàm thu nhập Mincer 26
3.2.2 Phương pháp phân tích Oaxaca 27
3.2.3 Mô hình thực nghiệm và giải thích biến 29
3.2.3.1 Mô hình thực nghiệm 29
3.2.3.2 Các biến số quan sát 31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 32
4.1 Kết quả hồi quy hàm thu nhập Mincer 32
4.2 Khoảng cách tiền lương hay mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập – Phương pháp phân tích Oaxaca 36
4.3 Kết quả hồi quy mô hình tương tác 38
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Gợi ý chính sách 42
5.3 Hạn chế của đề tài 44
Tài liệu tham khảo 45
Phụ lục 47
Phụ lục 1: Thu nhập bình quân của các cá nhân theo các đặc điểm thống kê 47
Phụ lục 2: Thống kê trình độ học vấn 48
Phụ lục 3: Tỷ suất dân số hoạt động kinh tế chia theo vùng và giới tính 49
Trang 7Phụ lục 4 Cỡ mẫu và cơ cấu mẫu theo các tính chất quan sát 50
Phụ lục 5 Các biến độc lập của mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer 52
Phụ lục 6: Kết quả hồi quy mô hình Mincer cho cả hai giới 55
Phụ lục 7 : Kết quả hồi quy mô hình Mincer cho lao động nam 56
Phụ lục 8: Kết quả hồi quy mô hình Mincer cho lao động nữ 57
Phụ lục 9: Thống kê mô tả các biến trong mô hình Mincer – lao động nam 58
Phụ lục 10: Thống kê mô tả các biến trong mô hình Mincer – lao động nữ 59
Phụ lục 11: Hệ số tương quan 60
Phụ lục 12: Kết quả hồi quy mô hình Mincer sau khi đã loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê 61
Phụ lục 13: Kết quả hồi quy mô hình Mincer với các biến tương tác 62
Trang 8Danh mục chữ viết tắt và ký hiệu
CEDAW : Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ - Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against women) ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
GDI : Chỉ số phát triển giới
KHXH : Khoa học xã hội
KSMS2004 : Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004
KSMS2006 : Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2006
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
Tp HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UNDP : Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
VHLSS 2006 : Bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2006
Trang 9Danh mục các bảng
Bảng 2.1: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu, tỷ trọng đã từng kết hôn của các nhóm
tuổi Việt Nam 1989-2006 20
Bảng 4.1: Kết quả hồi quy mô hình hồi quy hàm Mincer 32
Bảng 4.2: Kết quả hồi quy hàm Mincer đối với lao động nam, nữ 36
Bảng 4.3 Kết quả phân tích Oaxaca 37
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình Mincer với các biến tương tác 39
Trang 10Danh mục đồ thị, hình vẽ
Hình 2.1 Tỷ lệ thời gian lao động bình quân nam/nữ theo nhóm tuổi 14
Hình 2.2 Tỷ lệ thu nhập bình quân giờ nam/nữ theo nhóm tuổi 16
Hình 2.3 Tỷ lệ thu nhập bình quân theo giờ nữ/nam theo trình độ học vấn 17
Hình 2.4: Thu nhập trung bình/giờ theo nhóm tuổi 18
Hình 2.5: Tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm tuổi liền kề 19
Hình 2.6 Tỷ lệ đi học chung ở trung học phổ thông 2000-2004 21
Hình 2.7 Tỷ lệ thu nhập bình quân giờ nữ/nam theo lĩnh vực kinh tế 22
Hình 2.8 Cơ hội việc làm cho phụ nữ còn hạn chế 23
Trang 11TÓM TẮT
Bài viết này đóng góp vào dòng nghiên cứu về vấn đề bất bình đẳng giới trong thu nhập tiền lương của người lao động Việt Nam Kết quả tổng hợp số liệu thống kê và phân tích mở rộng sử dụng phương pháp tách biệt Oaxaca, dựa trên một mẫu chọn lọc trong bộ số liệu điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 cho thấy bằng chứng về sự phân biệt đối xử theo giới trong khoảng cách thu nhập của người lao động ở Việt Nam Cụ thể, mặc dù có các đặc tính năng suất tốt hơn lao động nam nhưng lao động nữ làm việc với thời gian dài hơn và nhận được thu nhập thấp hơn so với nam giới Bài viết đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện tình trạng phân biệt đối xử và khác biệt giới trong thu nhập của người lao động trong khu vực làm công ăn lương nói riêng và trên thị trường lao động nói chung
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Phần mở đầu trình bày bối cảnh cũng như tính cần thiết của đề tài, mục tiêu
và đối tượng nghiên cứu, phương hướng, cách thức và các bước mà tác giả sẽ thực hiện để tìm ra kết quả và các kết luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam
1 Đặt vấn đề
Trong những thập kỷ qua Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển nâng cao điều kiện sống người dân và giảm bất bình đẳng giới Song song với việc thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam đã có những chính sách phù hợp đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ và nam giới và đã
có những tiến bộ đáng kể nhằm giảm khoảng cách về giới trong lĩnh vực y tế và giáo dục cũng như cải thiện tình hình của phụ nữ nói chung Bằng nỗ lực đó, sau 20 năm đổi mới và phát triển không ngừng từ một quốc gia có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển - năm 2006 Việt Nam đã đứng vào nhóm các quốc gia trung bình về phát triển con người và xếp thứ 80 về phát triển giới (trong số 136 quốc gia), được xem
là quốc gia có sự chuyển biến nhanh nhất về xóa bỏ khoảng cách giới ở khu vực Đông Á trong vòng 20 năm qua1 Những thành tựu này đã phản ánh nỗ lực không ngừng của đất nước trong tiến trình hội nhập phát triển kinh tế và những cam kết của chính phủ nhằm thực hiện bình đẳng giới
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn phải đứng trước nhiều vấn đề lớn cần giải quyết trong đó bất bình đẳng giới trong thu nhập là một trong những thách thức lớn nhất, lâu dài và khó khăn nhất Hơn thế, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ngày càng mở rộng, những thách thức của bình đẳng giới cũng đang biến đổi song hành với sự biến đổi của cơ cấu thị trường lao động nhằm đáp ứng quá trình tăng trưởng kinh tế với tốc độ như hiện nay Trong khi sự tăng trưởng mang đến các cơ hội mới, bất
Trang 13
bình đẳng giới trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và cơ hội đào tạo đã hạn chế khả năng cạnh tranh của phụ nữ và củng cố thêm những nguyên nhân tạo nên sự cách biệt về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ trên thị trường lao động Như vậy, yêu cầu hiện nay là phải có những tính toán, phân tích chính xác, đầy đủ hơn về bất bình đẳng trong thu nhập để có thể dự đoán được xu thế cũng như đưa ra được những chính sách, thể chế và chương trình cho phù hợp nhằm đảm bảo cho phụ nữ có thể được hưởng lợi ngang bằng với nam giới trong điều kiện phát triển nhanh chóng như hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là trên cơ sở đánh giá, phân tích định tính và định lượng số liệu kết quả điều tra Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006 để đo lường mức độ khác biệt về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ năm 2006 và tìm ra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hướng đến thực hiện bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập từ công việc chính của các cá nhân người lao động làm công ăn lương được hưởng hàng tháng trong vòng 12 tháng trước thời gian điều tra, các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương, mức chênh lệch giữa thu nhập của lao động nam và nữ ở Việt Nam Thu nhập ở đây bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản nhận được khác ngoài tiền lương tiền công như: tiền lễ, Tết, trợ cấp xã hội, tiền lưu trú đi công tác (Bao gồm cả các khoản nhận được bằng tiền và giá trị hiện vật được quy đổi)
b Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này tìm hiểu về mức độ bất bình đẳng giới và trả lời câu hỏi: Có
sự phân biệt đối xử trong khoảng các thu nhập của người lao động ở Việt Nam hay không?
Trang 14c Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam năm 2006, bao gồm: các yếu tố kinh tế: đặc điểm cá nhân người lao động như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân , các yếu
tố liên quan đến việc làm của người lao động: kinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp, khả năng tiếp cận việc làm trong khu vực chính thức, trình độ giáo dục, nhóm ngành nghề; các yếu tố về vị trí địa lý
c Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004 và 2006 (VHLSS 2004, VHLSS2006) của Tổng cục Thống kê Ngoài phương pháp mô tả thống kê, diễn dịch so sánh, nghiên cứu này dựa vào phương pháp định lượng bằng mô hình kinh tế lượng - hồi qui hàm thu nhập Mincer và kết hợp phương pháp phân tích Oaxaca Mục tiêu của phương pháp nhằm tách biệt khoảng cách thu nhập giữa hai giới thành hai phần: phần có thể giải thích được dựa trên các đặc tính nằn suất như trình độ giáo dục hay thâm niên lao động, và cấu phần “không thể giải thích được, hay là sự phân biệt đối xử giới trên thị trường lao động
4 Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu trình bày bối cảnh và tính cần thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng nghiên cứu cũng như phương hướng, cách thức và các bước mà tác giả sẽ thực hiện để tìm ra kết quả và các kết luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam
Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày những phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập Phần cuối chương 1 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập đã được thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam
Bằng phương pháp phân tích thống kê mô tả Chương 2 sẽ đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam thông qua
Trang 15phân tích các số liệu thống kê về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm… qua đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập
Chương 3 trình bày diễn dịch toán học mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer và phương pháp phân tích Oaxaca đồng thời trình bày phương pháp chọn mẫu và cách thức tính toán các biến giải thích
Chương 4 trình bày kết quả ước lượng và tính toán các hệ số hồi quy, khoảng cách thu nhập và các hệ số từ mô hình phân tích Oaxaca
Chương 5 kết thúc đề tài bằng việc tóm tắt lại những phát hiện chính của nghiên cứu từ chương 2 đến chương 4 Từ đó tác giả đưa ra những gợi ý chính sách
và hạn chế của đề tài nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG
THU NHẬP
Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày những phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập Phần cuối chương 1 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới trong thu nhập đã được thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam
1.1 Bất bình đẳng giới trong thu nhập
1.1.1 Một số khái niệm
Giới: Là một thuật ngữ xã hội học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quan hệ xã hội
giữa nam và nữ Giới đề cập đến việc phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể Giới được hình thành qua quá trình học tập và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nước, mỗi địa phương, thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội2
Lợi ích giới: Là những lợi ích của phụ nữ và nam giới mà khi được áp dụng sẽ biến
đổi thực tế phân công lao động giới theo hướng tiến bộ, góp phần nâng cao bình đẳng giới
Bình đẳng giới:
Theo CEDAW (1978) bình đẳng giới là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc ) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó
Như vậy, bất bình đẳng giới hay thuật ngữ "phân biệt đối xử với phụ nữ" có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản
Trang 17
trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ
sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào
Bất bình đẳng giới trong thu nhập
Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ
Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu vào vấn đề bất bình đẳng trong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể ở đây là bất bình đẳng giới trong thu nhập Với quan điểm lấy con người làm trung tâm, bất bình đẳng giới về thu nhập đề cập tới mối quan hệ phân phối thu nhập và giới Theo đó sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là phân biệt trong thu nhập được hưởng của lao động nam và lao động nữ mặc
dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động như nhau3
là những nguyên nhân làm cho tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn, sức khoẻ gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em ít được đi học hơn, đặc biệt là trẻ em gái
3
Del Rio, C., Gradin, C., and Canto, O (2006) The Measurement of Gender Wage Discrimination
The Distributional Approach Revisited
Trang 18Bên cạnh những cái giá phải trả mang tính cá nhân đó, bất bình đẳng giới trong thu nhập còn làm giảm năng suất trong các nông trại và doanh nghiệp, do đó hạn chế tiềm năng xóa đói giảm nghèo và duy trì tiến bộ kinh tế Bằng cách cản trở quá trình tích lũy vốn con người, hạn chế quyền tiếp cận các nguồn lực sản xuất, quyền tham gia vào các hoạt động sản xuất dẫn đến không hiệu quả trong phân bổ các nguồn lực xã hội Thu nhập thấp hơn nam giới còn là nguyên nhân hạn chế khả năng sáng tạo cũng như động lực cải tiến và nâng cao năng suất lao động ở người phụ nữ
Bình đẳng giới, đặc biệt bình đẳng giới trong thu nhập là mục tiêu hướng đến của mọi quốc gia Bình đẳng giới trong thu nhập cho phép duy trì một xã hội tiến
bộ, phồn thịnh và phát triển ổn định, nó thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả và cách mạng trong cam kết và thực hiện đường lối cũng như chính sách của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu này Hay nói cách khác Bất bình đẳng giới trong thu là một trong những nguyên nhân làm suy yếu khả năng quản lý nhà nước của một quốc gia- qua đó đã giảm bớt hiệu lực của các chính sách phát triển
Giải quyết bất bình đẳng giới trong thu nhập là tạo quyền cho phụ nữ bị thiệt thòi và thay đổi các quan hệ và cơ cấu bất bình đẳng Phụ nữ và nam giới được coi
là có vị thế bình đẳng nghĩa là để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình; để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển; được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Như vậy, giải quyết vấn đề này nhằm mục tiêu tiến tới công bằng trong thu nhập để góp phần phát triển kinh tế và phát triển xã hội
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập
1.1.3.1 Yếu tố phi kinh tế
Theo Ngân hàng Thế Giới (2001), những quan niệm bất bình đẳng giới hay những định kiến xã hội về giới đang là những cản trở đối với sự phát triển cân bằng giới, quan hệ bình đẳng nam nữ Bất bình đẳng giới truyền thống thường xuất phát
từ những quan niệm sai lầm và cố hữu về vai trò giới, theo đó nam giới thường tập trung vào vai trò sản xuất, làm kinh tế và có thu nhập nên được xã hội coi trọng, họ
Trang 19có quyền tham gia việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình Trong khi phụ nữ đảm nhận vai trò tái sản xuất và cộng đồng, chăm sóc và tái tạo sức lao động, ví dụ như việc nội trợ, việc chăm sóc con cái, chăm nom người
ốm và các hoạt động cải thiện cộng đồng như: vệ sinh thôn xóm, đi thăm hỏi, dự các đám cưới, công tác hòa giải Đây là các việc "không tên", không tạo ra thu nhập và thường do người phụ nữ phải đảm nhận và ít được xã hội đánh giá đúng mức, họ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định đoạt gì kể cả đối với bản thân
Quan niệm bất bình đẳng giới truyền thống hay định kiến giới qua quá trình
xã hội hóa về giới đã có những biến chuyển tích cực hơn song vẫn là rào cản gây khó khăn cho phụ nữ trong tiếp cận công việc, tiếp cận các hoạt động kinh tế- xã hội
và là nguyên nhân tạo nên bất bình đẳng giới trong thu nhập
1.1.3.2 Các yếu tố kinh tế
Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động
Nhóm yếu tố đặc điểm của người lao động gồm những yếu tố liên quan mặt thể chất và giới tính gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ
Bojas (2005)4 qua các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy thu nhập của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó Tiền lương tương đối thấp đối với người lao động trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người, rồi có thể giảm nhẹ đối với những người lao động lớn tuổi Đặc biệt, thu nhập của những lao động nam trẻ thường tăng nhanh hơn thu nhập của người nữ trẻ
Tình trạng hôn nhân tác động đến thu nhập của lao động nam và lao động nữ tương tự nhau: khi đã lập gia đình và có con cái do những nhu cầu cuộc sống phát sinh làm tăng nhu cầu làm việc để kiếm thêm thu nhập ở cả nam giới và phụ nữ Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa hai giới: do áp lực chăm sóc gia đình đè nặng trách
4
Bojas , George J (2005),Labor Economics, McGraw-Hill, Third Edition
Trang 20nhiệm lên người phụ nữ làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất và làm thu nhập của
họ thấp hơn nam giới
Sức khỏe cũng là một trong những yếu tố tạo nên khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ Những đặc điểm giới tính quy định thể trạng khác nhau ở nam và nữ, những khác biệt này dẫn đến sự phân chia công việc trong đó sự tập trung của phụ
nữ vào một số ngành nghề tương đối ít làm cho mức lương của những việc phụ nữ làm không tránh khỏi sụt giảm và gây ra khác biệt tiền lương giữa nam và nữ
Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo
Giáo dục - đào tạo là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức tạp có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc mang tính giản đơn Do vậy người được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có cơ hội tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn
Borjas [2005] đã trình bày mối quan hệ giữa thu nhập và số năm đi học của
một người bằng “đường tiền lương theo học vấn” cho thấy tiền lương các doanh
nghiệp sẵn sàng trả tương ứng mỗi trình độ học vấn, thể hiện mối quan hệ giữa lương và số năm đi học Đường này có ba tính chất quan trọng sau :
1 Đường tiền lương theo học vấn dốc lên do “lương đền bù” cho học vấn
2 Độ dốc của đường tiền lương theo học vấn cho thấy mức tăng thu nhập khi người lao động có thêm một năm học vấn
3 Đường tiền lương theo học vấn là đường cong lồi cho thấy mức gia tăng biên của tiền lương giảm dần khi tăng thêm số năm đi học
Theo Mincer [1974]5, sự đầu tư của cá nhân được đo bằng sự tiêu tốn thời gian Chi phí thời gian cộng với số tiền chi trực tiếp cho việc đi học được xem là tổng chi phí đầu tư Vì những chi phí này, việc đầu tư sẽ không diễn ra nếu như không có khả năng đem lại những khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai Mô hình ước lượng suất sinh lợi từ giáo dục của Mincer cũng thể hiện quan hệ giữa thu nhập
5
Mincer, Jacob (1974), Schooling, Experience and Earning, Nation Bureau of Economic
Research,Colombia University Press
Trang 21với số năm đi học, số năm kinh nghiệm … theo đó một năm đi học tăng thêm sẽ mang lại cho người lao động một khoản thu nhập tăng thêm nhất định
Nhóm yếu tố lao động, công việc
Nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề, chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc
Theo Borjas (2005) Thông thường người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp được trả lương thấp hơn những người làm trong ngành công nghiệp và dịch vụ do yêu cầu về kỹ năng, trình độ của ngành này thấp Bản thân trong cùng một ngành nghề thì thu nhập của người lao động còn phụ thuộc vào chuyên môn (loại hình công việc) và kinh nghiệm công tác của người lao động do những công việc phức tạp được trả lương cao hơn những công việc giản đơn và những người có thời gian tiếp xúc với công việc dài hơn thì có khả năng hoàn thành công việc nhanh
và tốt hơn những người ít kinh nghiệm nên được trả lương cao hơn
Bất bình đẳng giới trong thu nhập còn xuất phát từ sự phân biệt có tính nghề nghiệp giữa nam và nữ trên thị trường lao động Bojas đã giải thích dựa trên giả thiết về sự tập trung theo nghề, cho rằng phụ nữ muốn chọn riêng những nghề nhất định Sự tập trung theo nghề này không nhất thiết là kết quả phân biệt đối xử của người sử dụng lao động mà do môi trường xã hội Sự tập trung theo nghề này làm hạn chế cơ hội tiếp cận việc làm và gây ra khác biệt tiền lương giữa nam và nữ
Loại hình tổ chức cũng là một trong những yếu tố tác động đến sự khác biệt thu nhập giữa nam và nữ Những tổ chức chịu sự chi phối chặt chẽ của pháp luật, thực thi tốt các chính sách bình đẳng giới người phụ nữ sẽ nhận được mức thu nhập bình đẳng hơn và ngược lại
Nhóm yếu tố địa lý: vùng, thành thị/nông thôn
Thu nhập được trả cho người lao động phải đảm bảo cho cuộc sống của bản thân họ và gia đình Do mức sống, mức chi tiêu ở các vùng khác nhau là khác nhau nên thu nhập của người lao động tại các địa phương khác nhau sẽ khác nhau
Bên cạnh sự khác biệt do yếu tố vùng miền lãnh thổ, mức sống và thu nhập của người lao động còn phụ thuộc khu vực sinh sống là thành thị hay nông thôn
Trang 22Người lao động ở thành thị có mức thu nhập cao hơn với người lao động nông thôn, xét theo công việc có tính chất và độ phức tạp tương đương
1.2 Các nghiên cứu thực nghiệm
l) Phân công lao động theo giới (the sexual/gender division of labor);
2) Loại công việc (types of work);
3) Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực (access to and control over resources and benefits);
4) Những nhân tố ảnh hưởng (influencing factors);
5) Tình trạng và địa vị (condition and position);
6) Nhu cầu thực tế và lợi ích chiến lược (practical needs and strategic interests);
7) Các cấp độ tham gia (levels of participation);
8) Khả năng biến đổi (potential for transformation)
Tuy nhiên, sử dụng các công cụ phân tích trên vào thực tiễn ở Việt Nam gặp phải một số khó khăn Việc sử dụng thời gian của người phụ nữ trong một ngày và địa điểm thực hiện công việc là những yếu tố giúp cho việc phân tích các loại công việc mà người phụ nữ cũng như các thành viên trong gia đình tham gia thực hiện Chúng ta thường gặp khó khăn khi đo các đại lượng này
1.2.2 Phương pháp định lượng
Về các nghiên cứu thực nghiệm, Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng giới thu nhập đều dựa trên hoặc phát triển từ mô hình cơ bản về chênh lệch thu nhập của nam và nữ lao động theo giờ mà Oaxaca đã lập năm 1973
Trang 23Yolanda Pena-Boquete và cộng sự (2007) trong nghiên cứu về Bất bình đẳng giới trong thu nhập của Ý và Tây Ban Nha 2007 đã sử dụng phương pháp Oaxaca
để tính toán và đưa ra kết quả: thu nhập của lao động nữ ở Ý bằng 93,9% thu nhập của nam, phần trăm khoảng cách lương do khác biệt các đặc tính năng suất của người lao động là -57,90% và do sự phân biệt đối xử là 157,9%;
Trong nghiên cứu về Lao động nhập cư trong các doanh nghiệp ở khu vực đô thị Trung Quốc, Ngan Dinh (2002) đã sử dụng mô hình Oaxaca để tính toán mức độ phân biệt đối xử và đã đưa ra kết quả: thu nhập của lao động nữ Trung Quốc ở khu vực thành thị bằng 94,2% thu nhập lao động nam, phần trăm khoảng cách thu nhập
do khác biệt về đặc tính năng suất là -25,55% và do phân biệt đối xử là 125,55%
Trong nghiên cứu về khoảng cách thu nhập giới của Việt Nam giai đoạn
1993 - 1998 (Amy Y.C.Liu, Journal of Comparative Economics, 2004), Liu đã sử dụng mô hình của Juhn (1991) phát triển từ mô hình của Oaxaca để xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố như: kinh nghiệm, nhóm ngành nghề, di cư, tình trạng hôn nhân, yếu tố khu vực đến biến độc lập là log của tỷ lệ thu nhập
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP
Ở VIỆT NAM
Chương 2 sẽ đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam thông qua phân tích các số liệu thống kê về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm Tiếp theo đề tài sẽ phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập
2.1 Tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam
Từ những cuộc cải cách quan trọng thông qua công cuộc Đổi mới từ năm
1986, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội, thể hiện bước tiến dài trong cải thiện các chỉ báo xã hội, cụ thể: Việt Nam xếp hạng 109 trong số 177 quốc gia về chỉ số phát triển con người của UNDP, đặt đất nước vào nhóm các quốc gia trung bình về phát triển con người Những nỗ lực trong thu hẹp khoảng cách giới và đầu tư vào nguồn vốn con người đã đưa đất nước đứng hàng thứ 80 trên thế giới (trong tổng số136 quốc gia) về chỉ số phát triển giới (GDI) và trở thành quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất trong xóa bỏ khoảng cách giới trong vòng 20 năm trở lại đây ở khu vực Đông Á (UNDP, 2006)
Theo Ngân hàng Thế Giới (2006), phụ nữ chiếm 52% trong lực lượng lao động Việt Nam Tuy có tỷ lệ tham gia lao động tương đương nhau, nhưng phụ nữ
và nam giới vẫn tập trung vào những ngành nghề khác biệt nhau Sự đa dạng của các ngành nghề ở đô thị đã đặc biệt hỗ trợ cho sự phân công lao động theo giới Ở khu vực nông thôn, có tới 80% công việc thuộc về lĩnh vực nông nghiệp, do đó sự lựa chọn nghề nghiệp là hạn chế, và sự phân biệt giới trong nghề nghiệp không nhiều ở khu vực đô thị, phụ nữ tập trung rất nhiều vào buôn bán, công nghiệp nhẹ (đặc biệt là dệt may), công sở nhà nước và dịch vụ xã hội, còn nam giới lại chiếm
ưu thế trong các ngành nghề có kỹ năng như khai thác mỏ, cơ khí và chế tạo Những lĩnh vực có ít đại diện của phụ nữ là quản lý hành chính và các lĩnh vực khoa học Thậm chí cả ở những nghề nơi mà phụ nữ chiếm số đông, như công nghiệp dệt may hay giảng dạy tiểu học, nam giới vẫn chiếm một tỷ lệ lớn trong các vị trí lãnh đạo cao hơn
Trang 25Theo số liệu KSMS 1998 cho thấy phụ nữ ở tất cả các độ tuổi có thời gian gian làm việc dài gấp đôi nam giới6 Tuy nhiên, theo số liệu của điều tra KSMS năm
2004 và năm 2006, chênh lệch thời gian lao động trong công việc chính (công việc nhận tiền công, tiền lương) giữa nam và nữ ở các nhóm tuổi đều ở mức <10% (Hình 2.1)
Hình 2.1 Tỷ lệ thời gian lao động bình quân nam/nữ theo nhóm tuổi
Nguồn: Tính toán của tác giả theo KSMS2004, 2006 Mặc dù vậy, kết quả khảo sát cho thấy sự bất bình đẳng trong thu nhập vẫn tồn tại, phụ nữ phải làm việc trong thời gian dài hơn nhưng lại chỉ được nhận mức tiền lương, tiền công cho các công việc chính này thấp hơn nhiều so với nam giới cùng
độ tuổi Theo số liệu KSMS 2006, khoảng cách tiền lương giữa lao động nam và lao động nữ đã rút ngắn tương đối so với năm 2004, đặc biệt trong các nhóm tuổi từ 15 đến 25 và nhóm tuổi từ 46 đến 55 (Hình 2.2) Tuy nhiên ở từng độ tuổi khác nhau thì khoảng cách thu nhập có sự chêch lệch Thu nhập bình quân theo giờ của nữ so với nam giới ở độ tuổi từ 15 đến 25 và độ tuổi từ 36 đến 45 lần lượt là 92,2% và
6
Desai, Jaiki (2000) Việt Nam qua lăng kính giới: Phân tích số liệu Khảo sát mức sống dân
cư 1997-1998 UNDP & FAO
Trang 2692,5% Mức chêch lệch về thu nhập bình quân theo giờ ở 2 độ tuổi này là không cao Tuy nhiên, ở độ tuổi từ 26 đến 35 và độ tuổi từ 46 đến 55, phân tích cho thấy
có sự chêch lệch đáng kể Khoảng cách thu nhập khác nhau theo từng độ tuổi là do nhiều nguyên nhân trong đó quan trọng nhất có thể là do sự khác biệt về cơ cấu ngành nghề của từng độ tuổi Theo KSMS 2006, lao động nữ ở nhóm tuổi từ 15 đến
25 và nhóm tuổi từ 36 đến 45 tập trung làm việc ở các ngành có thu nhập trung bình không thấp hơn nhiều so với nam giới: 51% làm việc trong lĩnh vực công nghiệp chế biến (thu nhập trung bình bằng 86% thu nhập của nam giới); 11% làm việc trong lĩnh vực giáo dục (thu nhập bằng 93.5% thu nhập nam giới; 8.8% làm việc trong lĩnh vực thương nghiệp (thu nhập bằng 100.7% thu nhập nam giới) và 6.3% làm việc trong lĩnh vực phục vụ cồng đồng (thu nhập bằng 125.3% thu nhập nam giới) Thêm vào đó, lao động nam cũng tập trung nhiều ở các lĩnh vực có thu nhập không cao hơn, thập chí thấp hơn thu nhập trung bình lao động nữ: 12.9% làm việc trong lĩnh vực thương nghiệp (thu nhập bằng 99.3% thu nhập lao động nữ); 7.7% làm việc trong lĩnh vực vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc (thu nhập bằng 89.5% thu nhập lao động nữ) Do vậy thu nhập trung bình chung của lao động nữ ở nhóm tuổi từ 15 đến 25 và nhóm tuổi từ 36 đến 45 trong năm 2006 không cách biệt nhiều
so với lao động nam Ngược lại, ở nhóm tuổi từ 26 đến 35, phân tích cho thấy có đến 32.2% lao động nữ và 26% lao động nam làm việc trong lĩnh vực công nghiệp chế biến (thu nhập nữ chỉ bằng 73.8% thu nhập lao động nam), 13.9% lao động nam làm việc trong lĩnh vực xây dựng (thu nhập nữ bằng 42% thu nhập nam) Tương tự như vậy, ở nhóm tuổi từ 46 đến 55, phân tích cho thấy 15.6% lao động nữ và 15.5% lao động nam làm việc trong lĩnh vực công nghiệp chế biến (thu nhập nữ trong ngành này chỉ bằng 65% thu nhập nam), 23.5% lao động nam và 11.3% lao động nữ làm việc ở lĩnh vực quản lý nhà nước và an ninh quốc phòng (thu nhập nữ bằng 86% thu nhập nam) (Nguồn: tính toán của tác giả theo KSMS 2004,2006)
Trang 27Hình 2.2 Tỷ lệ thu nhập bình quân giờ nam/nữ theo nhóm tuổi
Nguồn: Tính toán của tác giả theo KSMS2004, 2006 Xét thu nhập bình quân giữa nam và nữ theo trình độ học vấn, phân tích cho thấy lao động nữ đều có thu nhập thấp hơn lao động nam ở mọi trình độ đào tạo So với 2004, thu nhập của lao động nữ năm 2006 đã có những cải thiện đáng kể giúp rút ngắn khoảng cách thu nhập với nam giới, tuy nhiên bất bình đẳng giới trong thu nhập vẫn thể hiện rõ rệt Ở các bậc học dưới đại học, chênh lệch thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ có xu hướng giảm dần theo từng bậc học, lao động nữ có trình độ cao hơn, có mức chênh lệch thu nhập với lao động nam ít hơn Tuy nhiên, ở các bậc học từ cao đẳng trở lên lại có xu hướng ngược lại Tuy có cùng trình độ đại học với nam giới nhưng lao động nữ chỉ nhận được 85.82% thu nhập nam giới năm
2006 (81.05% năm 2004), ở trình độ thạc sĩ mức chênh lệch càng lớn hơn khi lao động nữ chỉ nhận được 35.84% thu nhập của nam năm 2006 (44.44% năm 2004) hay nói cách khác thu nhập của lao động nữ chưa bằng ½ thu nhập lao động nam cùng trình độ thạc sĩ (Hình 2.3) Như vậy, dù có cùng trình độ giáo dục như nam giới thì phụ nữ vẫn không nhận được mức thu nhập ngang bằng với nam giới
Trang 28Hình 2.3 Tỷ lệ thu nhập bình quân theo giờ nữ/nam theo trình độ học vấn
Nguồn: Tính toán của tác giả theo KSMS2004, 2006
Kết quả KSMS 2006 cũng cho thấy phụ nữ có thu nhập ít hơn nam giới trong mọi ngành nghề Thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ ở khu vực nông nghiệp bằng 89,9% so với thu nhập của nam giới và bằng 86% ở khu vực phi nông nghiệp (Phụ lục 1) Xét về khu vực kinh tế tham gia, ở hầu hết loại hình doanh nghiệp lao động nữ đều có thu nhập thấp hơn so với lao động nam Khu vực kinh tế nhà nước được kỳ vọng mức lương bình đẳng hơn cho lao động nữ vì khu vực kinh tế nhà nước chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật, lao động nữ được hưởng các khoản trợ cấp và chế độ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế số liệu thống kê cho thấy ở khu vực nhà nước thu nhập của lao động nữ vẫn chỉ bằng 89,2% thu nhập của lao động nam Mức độ chênh lệch thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ càng tăng đối với khu vực kinh tế hộ gia đình và đặc biệt cao ở khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, ở khu vực này tỷ lệ lương của nữ
so với nam chỉ đạt 57,8% Sự khác biệt về thu nhập giữa nam và nữ ở khu vực kinh
tế hộ gia đình và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể là do các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ít chịu sự điều chỉnh của pháp luật về tiền lương và các chế độ phụ cấp lao động đối với lao động
nữ, lao động nữ tuy có được hưởng các khoản trợ cấp theo các quy định của luật lao
Bằng tiểu học
Bằng THCS Bằng THPT Bằng Cao
đẳng
Bằng Đại học
Bằng Thạc sĩ
Trang 29động, nhưng không phải mọi người lao động nữ đều được nhận Tuy vậy, cho dù được nhận thêm các khoản phụ cấp nhưng tổng thu nhập của lao động nữ vẫn thấp hơn lao động nam, vì tiền lương cơ bản của họ thấp hơn lao động nam Như vậy, tính gộp cả tiền lương và các khoản trợ cấp của lao động nữ thì tổng thu nhập của lao động nữ cũng chỉ tương đương với 84.94% so với lao động nam
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam Đặc tính người lao động
Nhóm yếu tố đặc tính người lao động bao gồm các yếu tố sau: tuổi, tình trạng hôn nhân
Tỷ lệ giới tính (tỷ lệ số nam/100 nữ) của Việt Nam theo số liệu thống kê năm
2006 là 96,6% và dao động theo các nhóm tuổi Tỷ lệ giới tính là cao nhất ở nhóm dưới 19 tuổi, tỷ lệ 2 giới cân bằng nhất trong độ tuổi 40 -49 Sau độ tuổi 50, tỷ lệ giới tính giảm dần và thấp nhất ở nhóm tuổi trên 65 (Điều tra dân số - tổng cục thống kê 2006)
Hình 2.4: Thu nhập trung bình/giờ theo nhóm tuổi
Nguồn: Tính toán của tác giả theo KSMS 2006 Hình 2.4 thể hiện xu hướng của đường thu nhập theo độ tuổi, độ tuổi càng cao thu nhập càng cao, tuy nhiên tăng đến độ tuổi cao nhất định (46-55), thu nhập
có xu hướng giảm xuống cho cả lao động nam và lao động nữ Với mức thu nhập
Trang 30bình quân theo giờ (giá trị tuyệt đối) một lần nữa kết quả thống kê lại thể hiện khác biệt giữa thu nhập nam giới và phụ nữ Ở mọi độ tuổi thu nhập lao động nữ đều thấp hơn thu nhập nam giới Xu hướng thay đổi thu nhập giữa hai nhóm tuổi của lao động nam và nữ là khá gần nhau Hình 2.4 và 2.5 đều thể hiện khá rõ: ở nhóm tuổi trẻ (15-35) nam giới có mức thu nhập tăng nhanh hơn nữ giới Hay nói cách khác, thu nhập của lao động nam trẻ tăng nhanh hơn thu nhập lao động nữ trẻ
Hình 2.5: Tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm tuổi liền kề
Nguồn: Tính toán của tác giả theo KSMS 2006
Về tình trạng hôn nhân, tỷ lệ kết hôn ở Việt Nam ở mức cao nhưng có sự khác biệt nhất định về tỷ lệ kết hôn của dân số đối với nam và nữ Phần trăm dân số
đã từng kết hôn theo các nhóm tuổi thể hiện ở bảng 2
Bảng 2.1 cho thấy độ tuổi kết hôn ở cả hai giới đều ngày càng cao Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể, nữ giới có độ tuổi có gia đình trẻ hơn so với nam giới Năm 2006, có 21,1% nam giới ở độ tuổi 20-24 đã tưng kết hôn, con số này chỉ bằng ½ ở nữ Trong khi, việc có gia đình làm giảm cơ hội tham gia lao động tạo ra thu nhập thì sự chênh lệch khá cao trong tỷ lệ kết hôn thể hiện sự bất lợi hơn cho nữ giới trong việc san bằng khoảng cách thu nhập
Trang 31Bảng 2.1: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu, tỷ trọng đã từng kết hôn của các nhóm tuổi Việt Nam 1989-2006
Nguồn: Báo cáo điều tra biến động dân số 2006 – Tổng cục Thống kê
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Người lao động có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức tạp sẽ
có mức lương cao hơn nhiều so với người lao động có trình độ chuyên môn thấp, kỹ năng giản đơn Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể trong việc mở rộng cơ hội học tập cho nữ giới tuy nhiên trình độc học vấn giữa nam và nữ vẫn tồn tại khoảng cách Khoảng cách trong trình độ học vấn với nam giới là trở lực ngăn cản phụ nữ tiếp cận với công việc đòi hỏi trình độ và có mức thu nhập tương đương với nam giới Tỷ lệ đi học chung ở các cấp học, vùng miền và bằng cấp đạt được được sử dụng để phân tích cho sự tồn tại khoảng cách trong cách tiếp cận giáo dục giữa nam
và nữ
Theo Tổng Cục thống kê (2006), tỷ lệ đi học chung ở trung học phổ thông năm học 2003-2004 của nữ là 45,2% và của nam là 45,7% Tỷ lệ này đã tăng liên
Trang 32tục trong những năm gần đây Khoảng cách về tỷ lệ đi học chung của nữ và nam ở trung học phổ thông đang dần được thu hẹp kể từ năm 2000 đến nay (Hình 2.6)
Hình 2.6 Tỷ lệ đi học chung ở trung học phổ thông 2000-2004
Nguồn Tổng Cục Thống kê (2006)
Tỷ lệ đạt bằng cấp cao nhất của nữ giới đạt mức khá ở nhiều cấp học và bậc học Năm 2006, cứ 100 dân số nữ từ 15 tuổi trở lên thì có 42.09 người tốt nghiệp tiểu học, 34.7 người tốt nghiệp trung học cơ sở và 18.1 người tốt nghiệp trung học phổ thông; các tỷ lệ tương ứng ở dân số nam là 38.54; 35.83 và 19.9 Bậc cao đẳng
và đại học tỷ lệ này ở nam và nữ có sự khác biệt đáng kể, tỷ lệ nữ đi học cao đẳng/100 dân số nữ cao hơn tỷ lệ này ở nam thì ở bậc đại học lại ngược lại Ở bậc học càng cao tỷ lệ nữ tốt nghiệp/100dân số nữ càng giảm và càng có sự cách biệt với tỷ lệ này ở nam(Phụ lục 2)
Trang 33lệ này ở lao động nam là một phần ba Trong khi thu nhập trung bình theo giờ của lao động nữ trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ bằng 86,1% thu nhập nam; tỷ lệ này ở các ngành công nghiệp, dịch vụ lần lượt là: 73,7% và 92,9% (Hình 2.7) Ở các lĩnh vực khác nhau, tỷ lệ phần trăm phụ nữ lao động làm việc trong nông nghiệp và thương mại lớn hơn so với tỷ lệ phần trăm nam giới lao động, và tình hình ngược lại trong lĩnh vực công nghiệp thứ cấp và dịch vụ Nam giới chiếm
đa số lực lượng lao động trong các ngành công nghiệp nặng như xây dựng và khai thác mỏ (thu nhập 12 nghìn đồng/giờ), trong khi phụ nữ lại chiếm đa số trong công nghiệp nhẹ như dệt may (thu nhập7,6 nghìn đồng/giờ) Ở lĩnh vực dịch vụ, nam giới chiếm đa số trong giao thông vận tải, kinh doanh và dịch vụ tài chính (thu nhập từ 9,4 đến 15,46 nghìn đồng/giờ), còn nữ giới lại chiếm đa số trong giáo dục, y tế và văn hóa (thu nhập từ 7,09 đến 9 nghìn đồng/giờ) Phân tích cho thấy việc phân bổ
cơ cấu việc làm như vậy mang lại bất lợi cho lao động nữ, giảm bớt đi cơ hội để thu nhập người nữ ngang bằng với lao động nam
Hình 2.7 Tỷ lệ thu nhập bình quân giờ nữ/nam theo lĩnh vực kinh tế
Nguồn: Tính toán của tác giả theo KSMS 2006 Xét theo trình độ chuyên môn được phân chia thành lao động kỹ thuật bậc cao, lao động kỹ thuật bậc thấp, lao động giản đơn Theo đó, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và giáo dục đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới
Có vài lý do giải thích cho sự hình thành của các nhóm việc làm này Lý do thứ nhất
là sự khác biệt trong tiếp cận đào tạo kỹ thuật làm hạn chế khả năng thích ứng với một số nghề nghiệp của phụ nữ Một điều tra trong năm 2005 (Viện KHXH Việt
Trang 34Nam, 2006) cho thấy về vấn đề “kỹ năng chuyên môn”, 16% nam giới đã từng được đào tạo kỹ thuật thông qua học tập ở trường, con số này ở nữ là 10% Có 14% nam giới được đào tạo trong quá trình làm việc và tỷ lệ này ở nữ giới là 10% Tỷ lệ tự đào tạo ở nữ giới cao hơn một chút so với nam giới (38% và 37%)
Hình 2.8 Cơ hội việc làm cho phụ nữ còn hạn chế
Nguồn: tính toán của tác giả từ KSMS2006 Thêm vào đó, một cách biệt lớn khác giữa lao động nam và lao động nữ đó là
cơ hội tham gia vào các công việc làm công ăn lương Năm 2006, chỉ có 26,8% phụ
nữ có thu nhập chính từ công việc làm công ăn lương trong khi con số này ở nam là 43.26% (Nguồn: tính toán của tác giả từ KSMS2006) Lao động nữ chiếm 52% lực lượng lao động tuy nhiên chỉ có ¼ có công việc làm công ăn lương và gần ½ làm công việc thuộc nông nghiệp Như vậy nữ giới có ít hơn rất nhiều so với nam giới
về cơ hội tiếp cận công việc nhận tiền lương, tiền công và do vậy cũng sẽ là một nguyên nhân tạo nên khoảng cách về thu nhập so với lao động nam (Hình 2.8)
Vùng địa lý
Mức sống và thu nhập của người lao động còn phụ thuộc khu vực sinh sống
là thành thị hoặc nông thôn hoặc vùng miền Theo báo cáo điều tra biến động dân số
Trang 35(2006), tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nước ta duy trì ở mức cao, tỷ lệ này ở
nữ là 64,4%, còn ở nam là 78,2% Đáng chú ý là giữa các vùng có sự khác biệt lớn
về tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế Tỷ lệ nữ hoạt động kinh tế là cao nhất ở Tây Bắc, đạt 78.3%, tiếp theo là Đông Bắc đạt 73.9% và Tây Nguyên, đạt 72.5% Tỷ lệ
nữ tham gia hoạt động kinh tế thấp nhất được ghi nhận ở Đông Nam Bộ, đạt 55.2%, theo sau là đồng bằng sông Cửu Long, đạt 56.2%.Đặc biệt, đây cũng là hai vùng có mức chênh lệch lớn nhất về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nam và nữ (Phụ lục 3)
Nếu phân biệt theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ có việc làm thường xuyên ở thành thị thấp hơn ở nông thôn Năm 2006, tỷ lệ nữ ở thành thị tham gia hoạt động kinh tế là 56.7% còn ở nông thôn là 67.5%; các tỷ lệ tương ứng
ở nam là 74% và 79.8% (Phụ lục 3) Như vậy, với tỷ lệ tham gia vào hoạt động kinh
tế thấp hơn nam giới, phụ nữ có ít cơ hội hơn nam giới trong việc tạo ra nguồn thu nhập và do vậy đồng nghĩa với việc thu nhập của họ cũng sẽ có thể thấp hơn thu nhập nam giới
Môi trường chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới
Trong lao động và việc làm, bình đẳng giới thể hiện ở các mặt: cơ hội có việc làm và tự do lựa chọn; thăng tiến, bảo hộ lao động, thụ hưởng phúc lợi, phương tiện làm việc; đào tạo nâng cao trình độ; bình đẳng về tiền lương, thu nhập và đánh giá đối với mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý Trong nhiều năm qua Việt Nam đã ban hành và thực thi nhiều chính sách về lao động- việc làm, tiền lương nhằm thực thi, hướng tới làm giảm dần khoảng cách giới và tạo ra sự bình đẳng Điều 63 Hiến pháp Việt Nam (1992) quy định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ
nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản… Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; … ”
Trang 36Các chính sách khác về lao động (Bộ Luật lao động), về dạy nghề, về chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ …và các biện pháp khuyến khích cho doanh nghiệp sử dụng động lao động nữ như tín dụng ưu đãi, giảm thuế và cải thiện điều kiện việc làm cho lao động nữ đã có những tác động tích cực trong thực thi bình đẳng giới trong thu nhập nói riêng và bình đẳng giới nói chung Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc làm chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm Ví dụ, trong khi các chính sách lao động nhằm bảo vệ phụ nữ có thai là hoàn toàn cần thiết và vì lợi ích của phụ nữ cũng như xã hội, thì các chính sách bảo vệ toàn diện không nên tạo ra chi phí quá cao để còn khuyến khích giới chủ thuê, tuyển, đào tạo hoặc đề bạt phụ nữ Ví dụ, Bộ luật Lao động không cho phép tuyển phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực được coi là độc hại cho sức khoẻ phụ nữ Tuy nhiên luật pháp không nên hạn chế lựa chọn về ngành nghề của phụ nữ