1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học sinh trong hai mô hình dạy học

16 387 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 445,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh...3 a.. Những nhân tố ảnh hưởng tới tích tích cực nhận thức của người học...5 3.. Phân tích mức độ tích cực trong hoạt động

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LÊ VĂN HỮU PHÚ MSSV: 35604022



TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Hãy phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học

sinh trong hai mô hình dạy học sau:

Mô hình 1: Thầy dùng phương pháp thuyết giảng là chính,

soạn bài kỹ lưỡng rồi trình bày trên lớp Trò nghe và tự ghi vào vở những ý cần thiết (trò phải nhận ra các điểm chính yếu và ghi lại).

Mô hình 2: Thầy tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện

các nhiệm vụ cụ thể trong những hình thức hoạt động do Thầy chọn lựa, qua đó chiếm lĩnh các tri thức cần phải lĩnh hội trong tiết học.

Anh, chị hãy đưa ra những những lý lẽ và nếu có minh họa

1 tiết giảng (một bài học) thực tế càng tốt để chứng minh

mô hình 2 đem lại hiệu quả lĩnh hội bài học nhiều hơn.

THUỘC HỌC PHẦN/MÔN

TLH SƯ PHẠM

Giảng viên ThS Lý Minh Tiên

Tp Hồ Chí Minh tháng 1/2011

Trang 2

Mục lục A Nội dung 2

I Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của người học 2

1 Khái niệm tính tích cực (TTC) 2

a Về mặt thuật ngữ 2

b Về mặt nội hàm, khái niệm 2

2 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh 3

a Định nghĩa 3

b Biểu hiện 4

c Đặc điểm 4

d Những nhân tố ảnh hưởng tới tích tích cực nhận thức của người học 5

3 Bản chất của hoạt động học 6

II Phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học sinh trong hai mô hình dạy học 7

1 Phân tích, so sánh 7

2 Các biện pháp phát huy tính tích cực cho người học 11

3 Minh họa một tiết học chứng minh Mô hình 2 đem lại hiệu quả lĩnh hội bài học nhiều hơn! (Clip minh họa) 12

B Kết luận sư phạm 12

Tài liệu tham khảo

Trang 4

A Nội dung

I Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của người học

1 Khái niệm tính tích cực (TTC)

a Về mặt thuật ngữ

B TTC theo tiếng Anh là Activity, tiếng Latinh là Activus đều chỉ hoạt động của con người

C Theo từ điển tiếng Việt 2003 có nghĩa là :

+ Có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển

+ Tỏ ra chủ động tạo ra sự thay đổi, biến đổi

+ Hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ công việc

Như vậy theo quan điểm của từ điển tiếng Việt chủ yếu hiểu TTC như một tác nhân xúc tác mọi quá trình thay đổi, biến đổi

b Về mặt nội hàm, khái niệm

Trang 5

TTC được biểu hiện một cách cụ thể qua hoạt động nhận thức của con người Trong Tâm lý học Liên Xô, TTC là một phạm trù được quan tâm nghiên cứu một cách sâu sắc

Có nhiều quan điểm khác nhau song các nhà TLH Liên Xô đều gặp nhau ở quan điểm coi “ TTC gắn liền với hoạt động, như điều kiện hoàn thành hiện thực hoá hoạt động Thậm chí khi nêu ra ý nghĩa to lớn của TTC, Leochiep đồng nhất TTC với hình thức cao – Hoạt động” Tất cả các dạng TTC ở động vật được coi như tiền sử hoạt động của con người Nghiên cứu của các tác giả rất đa dạng nhưng vẫn tập trung chủ yếu ở những phương diện

- Phương diện phát sinh cá thể

TTC ở con người biểu hiện theo các mức độ khác nhau từ khi sinh ra đến lúc lớn lên, từ bắt chước đến lúc hoạt động độc lập và sáng tạo Như vậy con người trong quá trình sống phải có quá trình tự học ( chú ý chủ định, không chủ định ) nhận thức ( tính hiếu kỳ, tò mò…) mới có thể từng bước thích ứng với hoàn cảnh môi trường mới Chỉ có sự thích ứng ngày càng cao, do đòi hỏi của xã hội, cá nhân mới không bị đào thải

- Phương diện xã hội

TTC thực hiện chức năng không chỉ biểu hiện sự thích nghi của cá thể mà còn là sự thích ứng, sự cải tạo và sáng tạo thế giới bên ngoài của chủ thể đó

Cơ sở nghiên cứu trong nước

TTC cũng được các nhà TLH Việt Nam quan tâm nghiên cứu Theo từ điển Tâm lý học – Tác giả Vũ Dũng chủ biên :

“ TTC là động lực cá nhân của các cơ thể sống với tư cách là nguồn gốc của mọi hành động cải cách hay duy trì các mối liên hệ có ý nghĩa sống còn mà chúng tiến hành với môi trường xung quanh Khả năng tự phân của các cơ thể sống trở thành

“ lực lượng độc lập của phản ứng ” ( P Angghen ) TTC là đặc điểm chung của các cơ thể sống trong mối tương quan với hoạt động TTC đóng vai trò là điều kiện động lực của các quá trình hình thành thực hiện và thay đổi về loại hình của hoạt động, nó là thuộc tính quan trọng của sự vận động nội sinh của hoạt động TTC được đặc trưng bởi sự chi phối mạnh mẽ của các hành động đang diễn ra, tính đặc thù của những trạng thái bên trong của chủ thể ở thời điểm hành động, tính quy định của mục đích hành động trong hiện tại, tính siêu hoàn cảnh ( tức sự

Trang 6

vượt quá giới hạn của mục đích ban đầu ) và tính bền vững tương đối của hành động trong sự tương quan với mục đích đã thông qua ”

Các tác giả thống nhất cho rằng TTC là quá trình 2 mặt :

* TTC tạo ra bằng hoạt động

* TTC quay trở lại tham gia vào việc thực hiện hoạt động

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng : “ TTC được tạo ra bằng hoạt động đồng thời là thành tố tham gia vào việc thực hiện hoạt động”

1 Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh

a Định nghĩa

 TTC học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

 TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập

b Biểu hiện

 TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn,

thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn

đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải

thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ

động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để

nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào

vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài

tập, không nản trước những tình huống khó khăn…

 TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao như:

- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…

Trang 7

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một số vấn đề…

- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu

c Đặc điểm

i Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:

 Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học

 Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học

ii TTC nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng

d Những nhân tố ảnh hưởng tới tích tích cực nhận thức của người học

Bản thân học sinh

 Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo )

 Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống )

 Tình trạng sức khỏe

 Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí )

 Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo đức)

 Môi trường tự nhiên, xã hội

Nhà trường

Trang 8

 Chất lượng QTDH - GD (nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra đánh giá )

 Quan hệ thầy trò

 Không khí đạo đức nhà trường

Gia đình

Xã hội

Từ đó, việc phát huy TTC của học sinh đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động của gia đình, nhà trường và xã hội

2 Bản chất của hoạt động học

1 Đối tượng của hoạt động học là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với tri thức ấy Có thể nói hoạt động học là một loại hoạt động ( bình đẳng với các loại hoạt động khác ) chuyên hướng vào lĩnh hội các tri thức kỹ năng, kỹ xảo của xã hội nhờ sự tái tạo của cá nhân Việc tái tạo này sẽ không thực hiện được nếu người học chỉ là

khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu các tri thức kỹ năng kỹ xảo chỉ

truyền lại cho người học theo kiểu “đổ nước vào bình” Trái lại muốn học có kết quả

người học phải tích cực tiến hành những hoạt động học tập chuyên biệt bằng chính khối óc và bàn tay mình

2 Hoạt động học là hoạt động hướng vào thay đổi chính chủ thể của hoạt động Theo lý thuyết của TLH hoạt động, hoạt động hướng vào làm thay đổi khách thể, trong khi đó hoạt động học tập lại làm thay đổi chính chủ thể, còn tri thức - “ đối tượng ” của hoạt động học lại không hề thay đổi sau khi nó bị chủ thể hoạt động chiếm lĩnh

3 Hoạt động học là hoạt động tiếp thu lĩnh hội những nội dung và hình thức lí luận của tri thức, kỹ năng kỹ xảo xã hội

Trong những hoạt động khác sự tiếp thu thường diễn ra sau khi chủ thể hoàn thành một công việc nào đó Các hoạt động này lại thường diễn ra trong những hoàn cảnh, tình huống giống nhau Do đó sự tiếp thu kinh nghiệm trong hoạt động diễn ra riêng lẻ,

Trang 9

không có hệ thống và không được lý giải trên cơ sở khoa học

Ngược lại với một hệ thống tri thức đồ sộ của loài người đã được chọn lọc tinh chế và chia thành những chuyên ngành khác nhau, con người với hoạt động học một cách có ý thức tiếp thu hệ thống tri thức này một cách chủ động có hệ thống

Như vậy trong hoạt động học chủ thể tiếp thu hệ thống tri thức có chọn lọc và làm thay đổi không phải là tri thức mà chính là bản thân chủ thể

4 Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới mà còn hướng vào việc tiếp thu những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói

cách khác là tiếp thu được cả những phương pháp giành được tri thức đó (cách học).

Do đó trong khi tổ chức hoạt động cho học sinh, người dạy vừa phải ý thức được những

tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nào cần được hình thành ở học sinh, vừa phải có một quan niệm rõ ràng thông qua tổ chức sự tiếp thu tri thức, kỹ năng kỹ xảo đó thì học sinh sẽ lĩnh hội được cách học gì, con đường giành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó như thế nào (nói cách khác là những tri thức về hoạt động học)

II Phân tích mức độ tích cực trong hoạt động của học sinh trong hai

mô hình dạy học

1 Phân tích, so sánh

Mô hình 1: Thầy dùng phương pháp thuyết giảng là chính, soạn bài kỹ lưỡng rồi trình bày trên lớp Trò nghe rồi tự ghi vào tập (trò phải nhận ra các điểm chính yếu và ghi lại)

Mô hình 2: Thầy tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong những hình thức hoạt động do thầy lựa chọn, qua đó chiếm lĩnh tri thức cần phải lĩnh hội trong từng tiết học

Để có thể phân tích, so sánh một các cách khoa học, chúng ta dựa vào các tiêu chí sau:

Đối tượng

Như chúng ta đã biết, đối tượng sẽ quy định cách thức chúng ta hành động

Đối tượng học tập cũng vậy sẽ quy định cách thức người học chiếm lĩnh nó

Trang 10

Ở mô hình thứ nhất, đối tượng chủ yếu mà người học cần chiếm lĩnh chính là những tri thức mà người Thầy truyền đạt bằng phương pháp thuyết giảng và phương cách để chiếm được nó chính là nghe, lọc ý chính và ghi vào vở

Ở mô hình thứ hai, đối tượng của hoạt động học không chỉ là những tri thức mà còn là những kỹ năng, kỹ xảo được hình thành thông qua các hoạt động do người Thầy tổ chức, hướng dẫn Ở đây, đối tượng học tập được thể hiện một cách đầy đủ nhất Phương cách để chiếm lĩnh chúng chính là người học sẽ tham gia vào những hình thức hoạt động học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của Thầy

Giáo sư Lê Văn Hồng trong quyển Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cũng đã từng lên tiếng “Việc chiếm lĩnh những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo sẽ không thể

thực hiện được, nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư

phạm, nếu như những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ được truyền cho người học theo

cơ chế “máy phát” (người dạy) – “máy thu” (người học) và muốn học cho có kết

quả người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình

Tính chủ thể

Tình chủ thể của học sinh ở mô hình thứ nhất quá mờ nhạt trong khi đó tính chủ thể của người Thầy lại khá đậm nét Người học “ghi âm kiến thức” chắt lọc những ý chính và ghi vào vở Nghe – lọc ý chính và ghi, đó là công việc mà người học phải làm ở mô hình thứ nhất này

Cũng theo Giáo sư Lê Văn Hồng: “Trong hoạt động dạy, người Thầy không nhằm làm nhiệm vụ sáng tạo ra tri thức mới cũng không làm nhiệm vụ tái tạo tri thức cũ

mà nhiệm vụ chủ yếu, đặc trưng là tổ chức quá trình tái tạo những tri thức đó ở

người học Muốn làm được điều đó, cái cốt lỗi trong hoạt động dạy học là làm sao

tạo ra được tính tích cực trong hoạt động học của học sinh, làm cho các em vừa ý

thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh cái lĩnh hội đó Tính tích

cực này của học sinh quyết định chất lượng học tập” Như vậy, có thể thấy rằng

việc khơi dậy niềm say mê, hứng thú trong học tập cho học sinh đặc biệt là khơi dậy tính tích cực trong nhận thức là một trong những việc làm có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học Tính tích cực của học sinh ở mô hình này hầu như không hề lộ

Trang 11

diện Mức độ tích cực có thể nói là rất thấp vì đa phần học sinh không ý thức được đầy đủ đối tượng mà mình cần chiếm lĩnh trong tiết học là gì chỉ biết một điều khi

“công tắc” của người Thầy được bật lên thì “dây chuyền” học tập bắt đầu khởi động: Thầy giảng - trò nghe - lọc ý chính - ghi vào vở

Trong khi đó ở mô hình 2, tính chủ thể của học sinh lại được phát huy rõ rệt Học sinh dưới sự tổ chức của người Thầy sẽ tham gia những hoạt động học tập và qua những hoạt động đó nội dung và mục đích học tập được lĩnh hội, chất lượng học tập cũng ngày càng được nâng cao

Mục đích học tập

Mục đích học tập gắn với đối tượng của hoạt động học tập, có đối tượng của hoạt động học tập chủ thể sẽ theo đích đó mà nhắm tới Nói như vậy có nghĩa là mục đích học tập của học sinh chính là chiếm lĩnh cho được những hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo qua từng tiết học Một điều đáng lưu ý đó là mục đích học tập chỉ bắt đầu được hình thành khi chủ thể bắt tay vào thực hiện hành động học tập Lúc đó chủ thể xâm nhập vào vào đối tượng, nội dung của mục đích ngày càng được hiện hình, lại càng định hướng cho hành động và nhờ đó chủ thể chiếm lĩnh được tri thức mới, năng lực mới

Như vậy, để đạt được mục đích học tập người học cần phải được phát huy tính tích cực, chủ động của mình Như chúng ta đã thấy:

Ở mô hình 1: mức độ tích cực của học sinh trong việc giành được những tri thức mà người Thầy truyền dạy còn khá thấp Có thể trong khoảng thời gian đầu, học sinh sẽ ngồi nghe và gạn lọc những ý chính để ghi vào tập, người Thầy vẫn làm được nhiệm vụ khơi dậy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh vì để có được tri thức đó người học cần phải chăm chú lắng nghe, phân tích thông tin, rút ra ý chính và sau đó ghi vào vở Nhưng nếu như các hành động này cứ lặp đi lặp lại trong suốt tiết học thì sẽ gây nhàm chán và việc đi được đến cùng để giành được mục đích học tập là cả một vấn đề Và thực sự ở mô hình này người học đang ở trong tình trạng đó! Nghiên cứu cho thấy, người nghe chỉ có thể tập trung tốt khoảng 15 phút đầu của buổi thuyết giảng Nếu như người dạy không có những hoạt động khác kèm theo để kích thích tư duy, sự chú ý nơi người học thì dễ lắm họ sẽ rơi vào trạng thái “bị gây mê”

Ngày đăng: 15/05/2017, 16:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w