1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn viện hàn lâm khoa học và công nghệ việt nam

83 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có một nội dung rất quan trọng là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội với cán bộ, công chức làm việ

Trang 1

1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ THÁI THANH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC

TỪ THỰC TIỄN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Chính sách công

Mã số : 60 34 04 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Thực hiện Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” luận văn này là kết quả của sự

cố gắng nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo của bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Hồ Việt Hạnh

Tôi xin cam đoan trong công trình nghiên cứu này không có bất kỳ sự sao chép nào mà không có trích dẫn nguồn, tác giả Những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Phạm Thái Thái Thanh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC 10

1.1 Hệ thống các khái niệm chính sách 10

1.2 Nội dung của chính sách phát triển viên chức 18

1.3 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển viên chức 20

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 36

2.1 Khái quát đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ của nước ta 36

2.2 Khái quát về đội ngũ viên chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 42

2.3 Thực hiện chính sách phát triển viên chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - thực trạng và đánh giá 46

2.4 Đánh giá chung việc thực hiện phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam .52

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC 57

3.1 Hoàn thiện chính sách phát triển viên chức 57

3.2 Hoàn thiện giải pháp và công cụ chính sách phát triển viên chức 50

3.3 Nâng cao năng lực chủ thể của chính sách phát triển viên chức 67

3.4 Tăng cường nguồn lực để phát triển viên chức 68

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO… 78

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Năm 1998, Nhà nước ban hành pháp lệnh cán bộ, công chức, theo đó những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp cũng nằm trong nội hàm

“cán bộ, công chức” và sự điều chỉnh của Pháp lệnh cùng với văn bản hướng dẫn thực hiện Theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, hệ thống thể chế quản lý viên chức (Khi đó vẫn gọi chung cụm từ “cán bộ, công chức”) đều hoàn toàn được quy định giống như đối với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung

“Sau thời gian thực hiện, đến năm 2003, Chính phủ đã sửa đổi , bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức Trong đó có một nội dung rất quan trọng là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội với cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp Điều này đã tạo ra cơ sở pháp lý trong việc đổi mới một bước cơ chế quản lý cán bộ, công chức trong các đơn

vị sự nghiệp

Đến năm 2008, Chính phủ ban hành luật cán bộ, công chức; Nghị định

số 06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức; Thông tư số 08/2011/TT-BNV hướng đẫn một số điều của nghị định số 06/2010/NĐ-CP; Luật cán bộ, công chức đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, ban hành loạt chính sách đối với cán bộ, công chức Trong khi đó vị trí pháp lý của viên chức nói chung và viên chức khoa học nói riêng vẫn là vấn đề bỏ ngỏ, chế độ chính sách đối với viên chức vẫn thực hiện theo quy định đã lạc hậu

Ngày 01/01/2012, Luật Viên chức chính thức có hiệu lực là một dấu mốc quan trọng, mang một ý nghĩa to lớn khẳng định vị trí pháp lý, quyền và nghĩa vụ của viên chức; tạo cơ sở cho việc ban hành chính sách sử dụng,

Trang 6

Nghị Quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường đề ra định hướng phát triển khoa học và công nghệ đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030 hình thành đồng bộ đội ngũ cán bộ khoa học

và công nghệ có trình độ cao, tâm huyết, trung thực, tận tụy”; nêu rõ quan điểm “Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ”

Có thể nói chưa bao giờ việc phát triển khoa học và công nghệ dành được sự quan tâm đặc biệt của cả hệ thống chính trị như hiện nay Trong đó, việc thực hiện chính sách đối với các nhà khoa học nói chung, viên chức khoa học nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng, được trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến qua quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ tại các văn bản nói trên

Khoa học và công nghệ (KH&CN) luôn được xác định giữ vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới của nước ta, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Khoa học và công nghệ đã trực tiếp tác động nâng cao năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất, giảm rõ rệt tỷ lệ tiêu hao vật chất tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm,…

Trang 7

Chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu phát triển Khoa học và công nghệ Một trong những giải pháp đó chính là việc xây dựng đồng bộ chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ cán bộ Khoa học và Công nghệ

Trong những năm gần đây, chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta đã từng bước được hoàn thiện và áp dụng vào thực tế Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề chưa phù hợp và chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Do vậy, việc tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta hiện nay là vấn đề cấp bách vì: Thứ nhất, tiềm lực Khoa học và công nghệ nước ta được tăng cường một bước đáng kể Hiện nay

cả nước ta có khoảng 2,4 triệu người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên, gần đây mỗi năm sinh viên ra trường trên dưới 200 nghìn người là lực lượng tiềm năng tham gia hoạt động Khoa học và công nghệ Thứ hai, đội ngũ nghiên cứu khoa học còn hạn chế về trình độ, cơ cấu chưa hợp lý, hiện chưa

đủ mạnh để tạo ra nhiều hơn nữa các sản phẩm Khoa học và công nghệ có chất lượng, đến ngưỡng để có thể thương mại hóa, đáp ứng nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp Thứ ba, hiện nay, cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật trong và ngoài nước tham gia

và các hoạt động nghiên cứu khoa học; việc thực hiện chính sách phát triển

Trang 8

4

nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ vẫn còn chưa hiệu quả, chưa tạo được môi trường và động lực thúc đẩy đội ngũ viên chức khoa học đem hết tài năng cống hiến cho đất nước

Chính vì trên tình hình thực trạng thực tế như vậy, nên tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”, góp phần ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta nhằm nâng cao hiệu quả việc thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học góp phần mục tiêu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như đường lối của Đảng đã

đề ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài “ thực hiện Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” cho thấy đây là vấn đề mới mẻ, một số nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp

Trang 9

5

Cuốn sách “Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công nghệ trong các cơ quan nghiên cứu – phát triển”, TS Nguyễn Thị Anh Thu NXB Khoa học xã hội, Hà Nội – 2000 đã phân tích những điểm hợp lý và bất hợp lý trong chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công nghệ hiện hành,

từ đó đưa ra những khuyến nghị đổi mới chính sách sử dụng nhân lực Khoa học và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu - phát triển

Bài viết “Thực hiện tốt Luật viên chức để tiếp tục đổi mới cơ chế quản

lý và nâng cao chất lượng phục vụ của khu vực sự nghiệp công lập” của TS Trần Văn Tuấn trên Tạp chí tổ chức nhà nước, số 1 năm 2011 đã nêu lên tầm quan trọng của đội ngũ viên chức nói chung và viên chức khoa học nói riêng trong việc nâng cao chất lượng của dịch vụ công từ đó khuyến nghị tăng cường chính sách quản lý, phát triển đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể là triển khai áp dụng Luật viên chức vào thực tế một cách hiệu quả

Chuyên đề nghiên cứu khoa học “Đánh giá tình hình thực hiện phân cấp tuyển dụng viên chức ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay” của TS Trần Nghị, 2015, đã phân tích, làm rõ thực trạng phân cấp tuyển dụng viên chức tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ đó đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện việc phân cấp tuyển dụng viên chức tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay

Luận án Tiến sĩ: “Thể chế quản lý viên chức Khoa học và công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Lê Thị Thu Hằng 2014, đã đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện thể chế quản lý viên chức Khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay

Bài viết: “ Chính sách phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ” của ThS Nguyễn Thúy Hà, 2013, trên cổng thông tin điện tử viện nghiên cứu lập pháp đã đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Khoa học và công

Trang 10

6

nghệ của nước ta, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế; từ đó đề ra định hướng phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ nhằm đáp ứng mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

Bài viết: “Giải pháp phát triển Khoa học và công nghệ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” đăng trên Cổng thông tin Khoa học và công nghệ thành phố Hải Phòng đã nêu rõ 8 giải pháp phát triển Khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thành phố Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình nghiên cứu biên soạn luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản

và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam

- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Trang 11

7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt thời gian: Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2013 ( năm Luật Khoa học và Công nghệ bắt đầu được ban hành) đến nay Luận văn cũng có thể đề cập đến những giai đoạn trước trong chừng mực làm rõ giai đoạn này

- Về mặt không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Luận văn cũng sẽ có đề cập đến

ở một số cơ quan nghiên cứu khoa học khác trong chừng mực để so sánh làm bật lên đối tượng nghiên cứu chính là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

- Vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách phát triển viên chức đối với các đối tượng như theo luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động Khoa học và công nghệ, chức danh nghiên cứu khoa học (sau đây gọi tắt là chức danh khoa học) gồm: trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp; chức danh công nghệ gồm: Kỹ thuật viên và tương đương, kỹ sư và tương đương, kỹ sư chính và tương đương, kỹ sư cao cấp và tương đương Trong khuân khổ nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến chính sách phát triển viên chức

Luận văn tập trung đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và đề

Trang 12

8

xuất định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên cơ sở các phương pháp luận đó, luận văn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt các Nghị quyết chính sách của Việt Nam về đổi mới đội ngũ viên chức và kinh nghiệm lịch sử đã đúc kết thành lý luận trong vấn đề thực hiện chính sách phát triển viên chức

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp – diễn dịch, thống kê xem xét các văn bản kết hợp gắn lý luận với thực tiễn để làm rõ các nội dung luận văn cũng như chọn lọc những kinh nghiệm thực tiễn sát với những vấn đề cần giải quyết của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp trên cả lý luận

và thực tiễn:

- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề về thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, góp phần bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng

- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách, luận văn sẽ chỉ ra được những bất cập, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viên Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; từ đó đề ra các yêu cầu, giải pháp cơ bản

Trang 13

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chính sách phát triển viên chức

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách phát triển viên chức

Trang 14

10

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC 1.1 Hệ thống các khái niệm

1.1.1 Khái niện chính sách, chính sách công

Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm

vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lính vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa

Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được

và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - Văn hóa - xã hội – môi trường

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là trương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Chính sách công là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Hiện nay có nhiều các khái niệm về chính sách công trên thế giới vì các hình thái nhà nước, hệ thồng chính trị khác nhau

Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin,1971)

Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa

Trang 15

Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn,1992)

Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt đươc những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran and Eloise F Malone,1995)

Nói một cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó

có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999)

Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ chính quyền và những ý định, quyết định hành động này, hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai dành được cái gì (Clarke E Cochran, et al,1999)

Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003 )

Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức,

Trang 16

HV Hành chính Quốc gia)

Chính sách công là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và thực tế mà đề ra (Nguyễn Thị Như Mai, 2010 – Văn phòng Chính phủ)

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp, nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó Do đó, khái niệm chính sách được hiểu như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm

vụ chính trị, kinh tế, văn hóa ”

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công Như vậy: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” (Đỗ Phú Hải, 2012)

Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước Chính sách công được thể hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến

Trang 17

13

pháp, Luật, Nghị quyết, Nghị định, Thông tư, Quyết định Mục đích cuối cùng là để phát triển và quản lý sự phát triển của xã hội Cấu trúc của chính sách gồm 3 bộ phận: i, Những định hướng hành động ứng xử (là quan điểm

và định hướng chính sách) ii, Biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách iii, Mục tiêu mà chính sách hướng tới

1.1.2 Khái niệm phát triển

Một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội phương Tây, đặc biệt là Pháp,

đã nêu khái niện phát triển chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX; cụ thể là những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất Từ phát triển ba lần được sử dụng trong bản báo cáo gồm 14 điểm của tổng thống Mỹ Willson Trong các tài liệu của Hội Quốc liên năm 1919, khái niệm phát triển được sử dụng đi đôi với khái niệm không phát triển, chậm phát triển Khái niệm phát triển lúc này gắn với khái niệm văn minh Chính là với khái niệm đó mà chủ nghĩa thực dân phương tây đã tự cho mình nhiệm vụ lịch sử đem ánh sáng văn minh đến khai hóa cho các dân tộc lạc hậu, dã man

Mãi sau này đến những năm 30, khái niệm phát triển mới gắn với kinh

tế, và lúc này người ta sử dụng nó gần như đồng nhất với phát triển kinh tế Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Khi đã thành lập Liên hợp quốc, các chuyên gia của tổ chức quốc tế nay mới bắt đầu nêu ra lý thuyết về phát triển Diễn văn của tổng thống Mỹ Truman năm 1949 nêu vấn đề trách nhiệm của Mỹ trong chương trình mang chủ đề phát triển các vùng chậm phát triển

Nhìn một cách khái quát, về căn bản trong mấy thập kỷ qua, các lý thuyết về phát triển dù có khác nhau ở điểm này hay ở điểm khác , nhưng vẫn lấy châu Âu làm trung tâm hoặc phương Tây làm trung tâm Chính theo quan điểm đó mà trong một thời gian dài người ta lấy thu nhập tính theo đầu người/năm để xét một nước nào đó thuộc loại phát triển hay kém phát triển

Trang 18

14

Như vậy “Phát triển là một tiến trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ” (GS Bùi Đình Thanh, 2015)

1.1.3 Khái niện Viên chức, viên chức khoa học

Trước khi Luật viên chức năm 2010 được ban hành, khái niệm về viên chức chưa được phân biệt một cách rõ ràng với cán bộ, công chức (CBCC) Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp Nhà nước quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.”

Theo điều 2, Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức khoa học là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Viên chức khoa học có nhiệm vụ xây dựng hoặc tham gia xây dựng kế hoạch nghiên cứu các đề tài, dự án, bao gồm việc xác định mục tiêu, nội dung, phương hướng, phương pháp nghiên cứu, tiến độ thực hiện và các điều kiện

về nhân lực, vật tư, tài chính; trực tiếp nghiên cứu và hướng dẫn, kiểm tra

Trang 19

15

thực hiện các nội dung nghiên cứu, thí nghiệm được phân công; xử lý tổng hợp các thông tin, dữ liệu thu được Tổ chức triển khai thực hiện nhằm hoàn thiện kết quả nghiên cứu trước khi đưa vào sản xuất và đời sống (Điều 2, Chương I)

Quan niệm về viên chức được thay đổi theo từng thời kỳ nhưng viên chức được hiểu là những đối tượng được tuyển dụng và làm việc tại các đơn

vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc và được hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị công lập đó theo quy định của pháp luật Và hiện nay, khái niệm về viên chức được quy định và áp dụng thực hiện một cách cụ thể, rõ ràng theo quy định của Luật Viên chức

Căn cứ vào luật viên chức số 58/2010/QH12 và Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, có thể quan niệm: Viên chức khoa học là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, giữ các chức danh nghiên cứu khoa học tại các đơn vị sự nghiệp Khoa học và công nghệ công lập Viên chức khoa học được tuyển dụng và quản lý theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị này theo quy định của pháp luật

Với khái niệm ở trên thì viên chức khoa học được hiểu là những người làm công tác nghiên cứu khoa học tại các đợn vị sự nghiệp Nhà nước như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các nghiên cứu trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; được hưởng theo chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (tại Nghị định 204/NĐ-

CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương đối với công chức, viên chức và lực lượng vũ trang)

Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, chức danh nghiên cứu khoa học là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực nghiên cứu khoa học của cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khoa học, gồm: trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu

Trang 20

16

viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp Theo Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động Khoa học và công nghệ và Thông tư liên tịch số 24/2014/TTLT-BKHCN-BNV ngày 01/10/2014, chức danh nghiên cứu khoa học gồm: trợ lý nghiên cứu (hạng IV), nghiên cứu viên (hạng III), nghiên cứu viên chính (hạng II), nghiên cứu viên cao cấp (hạng I)

Viên chức khoa học được tuyển dụng, quản lý và sử dụng như viên chức hoạt động trong các lĩnh vực chuyên môn khác; hoạt động của họ là nghiên cứu khoa học , nghiên cứu cơ bản để đưa ra các luận cứ, luận điểm làm cơ sở lý luận phục vụ cho việc xây dựng và ban hành chính sách phục vụ cho hoạt động quản lý của nhà nước , phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội,

an ninh, quốc phòng mà nhà nước đặt ra

Trang 21

17

1.1.4 Khái niệm chính sách phát triển viên chức

Từ quan niệm chính sách công như trên, có thế định nghĩa chính sách phát triển viên chức khoa học như sau: Chính sách phát triển viên chức khoa học là tập hợp các quyết định chính trị của nhà nước có liên quan đến đội ngũ viên chức khoa học với các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, tạo môi trường và động lực để thu hút thúc đẩy đội ngũ viên chức khoa học ở cả trong và ngoài nước phát huy tốt nhất khả năng nghiên cứu, cống hiến hết mình cho việc nghiên cứu khoa học góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Như vậy đối tượng hưởng lợi từ việc thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học và năng lực, phẩm chất của họ trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình

1.1.5 Khái niệm thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học

Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định Thực hiện chính sách

là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống Việc đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp và có nhiều biến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định

và tổ chức thực hiện chính sách có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách

Thực hiện phát triển chính sách viên chức khoa học là việc triển khai những quan điểm, quyết sách của Nhà nước vào thực tiễn nhắm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức khoa học; trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể cũng như trình độ, năng lực thực tế của đội ngũ viên chức khoa học tìm ra những công cụ, giải pháp phù hợp nhất nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Đối tượng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học là các cơ quan quản

Trang 22

Hoạt động của đội ngũ viên chức là hoạt động mang tính phục vụ, cung cấp các dịch vụ công cho xã hội Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương thực hiện xã hội hóa cung ứng dịch vụ công Tuy nhiên, hoạt động này đang diễn ra còn chậm và đạt kết quả thấp, do đó, cản trở không nhỏ đến công cuộc cải cách tiền lương cho viên chức

Mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng vẫn còn thấp, tốc độ tăng lương không đi kịp với tốc độ tăng của giá cả thị trường, dẫn đến, đời sống của người lao động nói chung và đội ngũ viên chức nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, chính sách tiền lương chưa thực sự là đòn bẩy khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phát huy năng lực, nâng cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ

- Vấn đề phụ cấp

Bên cạnh tiền lương thì phụ cấp cũng là yếu tố quan trọng để kích

Trang 23

19

thích người lao động hăng hái làm việc Hiện nay, đội ngũ viên chức cũng

đã có các loại phụ cấp như: phụ cấp thâm niên, phụ cấp ngành, phụ cấp chức vụ, phụ cấp trong trường hợp làm việc ở những nơi có điều kiện đặc biệt khó khăn

Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu thực tế công việc,

vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Tuyển dụng phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, tuyển đúng người, đúng việc, ưu tiên người có tài, người dân tộc thiểu số và người

có công với cách mạng

1.2.3 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình

độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả công việc của viên chức Trên thực tế hiện nay, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập nói chung cũng đã và đang quan tâm nhiều đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức, tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa cao, đào tạo, bồi dưỡng nhiều khi lãng phí, không phù hợp với thực tiễn công việc

1.2.4 Vấn đề thu hút, trọng dụng, đãi ngộ viên chức, nhà khoa học trẻ

Thực hiện Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị

về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán

bộ khoa học trẻ Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng được xét tuyển làm công chức, viên chức, được phát huy tài năng

Trang 24

1.3 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển viên chức

1.3.1 Chủ thể của chính sách phát triển viên chức

Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như: Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành thực hiện chức năng quản

lý Nhà nước Chính sách phát triển viên chức cũng là một trong những chính sách công của Nhà nước, do đó, chủ thể ban hành chính sách phát triển viên chức cũng do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ Ngoài ra, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đơn vị sự nghiệp công lập cũng ban hành các văn bản phục vụ cho hoạt động quản lý của đơn vị mình Trong các cơ quan nói trên thì Quốc hội ban hành Luật Viên chức; Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật;

Bộ Nội vụ là cơ quan đóng vai trò chính trong việc tham mưu, tổng hợp và trực tiếp xây dựng chính sách Cụ thể, Bộ Nội vụ có những chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức như sau (theo Nghị định số 58/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2014 của Chính phủ): Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực; Tổ chức hành chính,

sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính, quản lý hành chính nhà nước

Tại Điều 45 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP có quy định nhiệm vụ và

Trang 25

21

quyền hạn của Bộ Nội vụ trong lĩnh vực quản lý viên chức như sau: Xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về viên chức để Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển đội ngũ viên chức; phân công, phân cấp quản lý viên chức; xác định

vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp; chiến lược,

kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức; chế độ tiền lương; chính sách đối với người có tài năng; các quy định về bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, biệt phái,

từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, chấm dứt hợp đồng làm việc, thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức; Quy định mã số chức danh nghề nghiệp của viên chức; thẩm định việc xây dựng và kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; ban hành quy chế tổ chức thi tuyển, xét tuyển viên chức; phối hợp với các Bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành ban hành quy chế thi, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; thẩm định chương trình khung bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; quy định việc thực hiện hoặc áp dụng chức danh công chức đối với viên chức làm việc ở các bộ phận hành chính, tổng hợp, quản trị văn phòng, kế hoạch, tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; Chủ trì, phối hợp với các Bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành quy định về lập hồ sơ, quản lý hồ sơ; số hiệu viên chức; thẻ và chế độ đeo thẻ của viên chức; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ viên chức; Phối hợp với các Bộ quản lý chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tổ chức và công nhận kết quả thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức từ hạng II lên hạng I; giám sát, kiểm tra việc tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; bổ nhiệm chức danh nghề

Trang 26

22

nghiệp viên chức hạng I; Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chế độ báo cáo về quản lý viên chức; Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về viên chức

1.3.2 Khách thể của chính sách phát triển viên chức

Năm 1998, Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong cơ chế quản lý, sử dụng cán bộ, công chức và viên chức ở nước ta Hệ thống các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cán bộ, công chức cũng được ban hành từ năm

1998, như: Nghị định số 116/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 10/10/2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong

các đơn vị sự nghiệp công lập Điều 1 của Nghị định quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật”;

Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Nghị định số 121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 sửa đổi một số điều của Nghị định 116/2003/NĐ-CP; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ban hành ngày 24/9/2007 về chính sách tinh giản biên chế

Dấu mốc đặc biệt quan trọng trong thể chế chính sách phát triển viên chức hiện nay phải tính đến sự ra đời của Luật Viên chức Việt Nam được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 Đối tượng điều chỉnh của Luật Viên chức là viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Sau khi Luật viên chức

Trang 27

1.3.3 Môi trường của chính sách phát triển viên chức

1.3.3.1 Yếu tố trong nước

- Vai trò của công luận và truyền thông

Đối tượng điều chỉnh của chính sách phát triển viên chức chính là đội ngũ viên chức – những người có trình độ học vấn cao và kiến thức hiểu biết rộng, do đó, những phản ứng, quan điểm, bình luận của họ về vấn đề chính sách đóng vai trò quan trọng cho cơ quan lập sách xây dựng chính sách phát triển viên chức hiệu quả

Truyền thông là những phương tiện truyền tải, phản ánh những thông tin hay hiện tượng xã hội ảnh hưởng nhiều đến quá trình xây dựng và thực hiện chính sách công nói chung và chính sách phát triển viên chức nói riêng

- Hệ thống các giá trị xã hội

Hệ thống các giá trị xã hội bao gồm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, nghề nghiệp, dân tộc, tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích Chính sách phát triển viên chức cũng nằm trong sự tồn tại của hệ thống các giá trị xã hội Các giá trị

xã hội nghề nghiệp hiện nay thì viên chức có nghề nghiệp mang tính ổn định,

có trình độ nhận thức cao, được xã hội tôn trọng, do đó, hệ thống các giá trị

xã hội này cũng có tác động lớn đến chính sách phát triển viên chức

- Hệ thống chính trị

Trang 28

24

Môi trường chính trị trong nước là thuật ngữ nhằm nhấn mạnh đến phạm vị các nội bộ quốc gia của các yếu tố của môi trường chính trị

Một hệ thống chính trị thường bao gồm ba bộ phận hợp thành là chính đảng, nhà nước và xã hội Như vậy, môi trường chính trị trong nước chứa đựng các yếu tố nội bộ quốc gia quy định mối quan hệ giữa ba bộ phận hợp thành ấy

Thành phần quan trọng của môi trường chính trị trong nước chính là

hệ thống thể chế chứa đựng các văn bản quy phạm pháp luật xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chính đảng, nhà nước và tổ chức xã hội trong mối quan hệ lẫn nhau giữa ba bộ phận này

Môi trường chính trị trong nước còn hàm chứa cả những tập quán truyền thống, văn hóa chính trị, ý thức công dân… Đây là những yếu tố khó nhận dạng nhưng chúng có vai trò, sức ảnh hưởng không kém phần quan trọng

- Hệ thống kinh tế

Hệ thống kinh tế là yếu tố quan trọng tác động đến quá trình hoạch định chính sách công nói chung và chính sách đối với viên chức nói riêng Yếu tố kinh tế được xác định vừa là mục tiêu vừa là động lực của chính sách,

do đó, chính sách đối với viên chức phải thay đổi phù hợp với quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế và sự thay đổi của yếu tố kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay

1.3.3.2 Yếu tố nước ngoài

Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị có tác động trực tiếp đến việc xây dựng chính sách công của một quốc gia, phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội

Trang 29

Môi trường chính trị quốc tế bao gồm các yếu tố sau:

• Sự ổn định hay phức tạo trong quan hệ giữa các quốc gia

• Quan hệ kinh tế, chính trị bình dẳng, hữu nghị và hợp tác

• Các quan hệ văn hóa, sắc tộc, tôn giáo

• Nền tự do, dân chủ xã hội dân sự Các yếu tố cảu môi trường chính trị quốc tế có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ thống chính trị một quốc gia Ảnh hưởng trực tiếp thông qua sự thay đổi thể chế pháp luật của mỗi nước cho phù hợp với luật chơi chung được quốc tế thừa nhận Ảnh hưởng gián tiếp thông qua sự thay đổi nhận thức của cán bộ, công chức và công dân về các mối quan hệ cơ bản với Nhà nước, chính đảng từ việc so sánh nội tình chính trị của các quốc gia khác

Vì thế, môi trường chính trị quốc tế và trong nước ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn, tác động qua lại sâu sắc hơn với những ranh giớ đang dần bị xóa

Trang 30

26

Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung

và chính sách đối với viên chức nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức chính trị của viên chức, thúc đẩy viên chức hành động theo hướng tích cực, nâng cao chất lượng phục vụ xã hội, góp phần ổn định trật tự an toàn

xã hội

- Hiến pháp

Hiến pháp là đạo luật tối cao của một quốc gia, hiến định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Do đó, chính sách phát triển viên chức cũng được xây dựng và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp

1.3.3.3 Môi trường thực hiện chính sách phát triển viên chức

Môi trường là yếu tố tác động rất lớn đến chính sách, nếu có một môi trường tốt thì chính sách sẽ dễ dàng thực hiện và ngược lại nếu có một môi trường không thuận lợi sẽ làm cho việc thực hiện chính sách gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả Với chính sách phát triển viên chức thì môi trường ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách chính là trình độ nhận thức, thái độ của đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách đối với vai trò của đội ngũ viên chức, Tất cả những môi trường này đều có những tác động tích cực và tiêu cực đến việc thực hiện chính sách

Trang 31

27

- Từ góc độ lý luận Nhà nước là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống chính trị của một quốc gia với vị trí được xác định thông qua mối quan hệ với chính đảng và xã hội Vì vậy, hoạt động quản lý Nhà nước là trục chính cho hệ thống chính trị của mỗi quốc gia Môi trường chính trị trong nước và quốc tế tác động và xác định trạng thái tồn tại của hệ thống chính trị như là cái toàn thê, thì đồng thời cũng ảnh hưởng đến Nhà nước và hoạt động quản lý của nó như là cái bộ phận

Bên cạnh đó, quyền lực Nhà nước là trung tâm của quyền lực chính trị, là đích ngắm của các chính đảng, Hoạt động quản lý Nhà nước, ở góc độ này, được coi là công cụ của các chính đảng thực hiện các mục tiêu chính trị của mình Có thể nói rằng, nếu Nhà nước được sinh để quản lý xã hội thì chính đảng sinh ra để dành, giữa và sử dụng quyền lực Nhà nước Môi trường chính trị, với hệ thống chế quy định cách thức hoạt động của chính đảng, sự cạnh tranh giữa các đảng phải thông qua tranh cử, bầu cử… cũng như các tập quán sinh hoạt chính trị, ý thức chính của công dân…sẽ ảnh hưởng một cách gián tiếp đến hoạt động quản lý Nhà nước thông qua các đảng chính trị

Hơn thế nữa, môi trường chính trị còn xác lập vị thế của công dân, - đối tượng chính của hoạt động quản lý Nhà nước thông qua các quyền hiến định và truyền thông văn hóa chính trị của mỗi quốc gia Đây là những yếu tố rất quan trọng có thể hạn chế hoặc tăng cường hiệu lực hoạt động quản lý Nhà nước

Ở khía cạnh phân chia của hoạt động quản lý Nhà nước thành hai khu vực đổi nội và đối ngoại thì rõ ràng, môi trường chính trị trong nước sẽ đặt ra những vấn đề cho quản lý đối nội và môi trường chính trị quốc tế sẽ đặt ra các

Trang 32

28

vấn đề trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước Sự phức tạp hay đơn giản, ổn định hay bất ổn định của môi trường chính trị trong nước và quốc tế đều ảnh hưởng to lớn đến hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý của Nhà nước

Như vây, môi trường chính trị trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến hoạt dộng quản lý trong khu vực công trên tất cả các phương diện, từ chủ thể quản lý, nhà nước đến đối tượng quản lý – công dân và xã hội, từ phương thức quản lý – quyền lực nhà nước đến mục tiêu quản lý – mục tiêu chính trị của đảng chính trị

- Từ góc độ thực tiễn

Môi trường chính trị trong nước và quốc tế bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, ảnh hưởng trên tất cả các phương diện của hoạt động quản lý Nhà nước Sau đây là một số yếu tố chính của môi trường chính trị ảnh hưởng đến hoạt động quản lý khu vực công:

• Môi trường chính trị:

Sự ổn định chính trị thường được cho là một ưu điểm của Việt nam gắn với chế độ độc đảng Chúng ta đều biết, ổn định có thể dẫn đến hai trạng thái trái ngược nhau, phát triển hoặc trí tuệ

Ổn định chính trị được tạo ra nhờ giải quyết có tình có lý các xung đột

xã hội , làm cơ sở cho phát triển là trạng thái mà xã hội Việt nam và hoạt động quản lý nhà nước cần hướng đến Ngược lại, ổn định chính trị bằng cách kìm nén các xung đột xã hội, hạn chế tiếp cận thông tin, mất dân chủ xã hội là trạng thái mà Việt Nam cần tránh Một xã hội ổn định mà ở đó không

có dân chủ, bình đẳng, người dân bị hạn chế những quyền cơ bản của mình không thể là một xã hội văn minh, phát triển và điều này sẽ rất tệ hại cho cả công dân lẫn quản lý nhà nước

• Thể chế chính trị:

Trang 33

• Sự thiết lập cơ chế phản ánh đầy đủ quan điểm của các nhóm lợi ích trong xã hội và chính sách được hình thành từ sự tương tác, thỏa hiệp của các nhóm lợi ích

• Chính phủ, hơn bất cứ một tổ chức quyền lực nào khác, phải được hình thành một cách hợp pháp và chính đảng Chính phủ phải được hình thành bằng phương pháp bầu cử công khai và công bằng, phải là người đại diện cho lợi ích của số đông trong xã hội; nhân dân phải là người quyết định các vấn đề quan trọng của cộng đồng thông qua hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện

• Tuyển chọn được những người thật sự tài đức giữ các cương vị quản lý nhà nước, loại bỏ kịp thời những công chức không đủ trình độ, năng lực, thoái hóa, biến chất

• Có cơ chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả từ cơ chế kiểm tra, giám sát đến tòa án độc lập, người dân có được quyền tự do, dân chủ

Ban yếu tố giúp tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước vì chính sách đề ra sẽ thích ứng cao và nhận được sự ủng hộ của toàn xã hội; những người quản lý có khả năng hoàn thành được chức trách, nhiệu vụ Yếu

tố cuối bảo đảm sự trong sạch của bộ máy nhà nước bằng cách ngăn chặn có hiệu quả việc tạm dụng quyền lực nhà nước “Quyền lực luôn có xu hướng bị tha hóa, quyền lực quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối” Vấn đề có tính quy luật này không thể được giải quyết bằng sự tự giác của chủ thể nắm

Trang 34

30

giữ quyền lực nhà nước mà nhất định phải bằng sự chế ước quyền lực từ các chủ thể khác ngoài nhà nước

• Truyền thống văn hóa chính trị - pháp lý:

Truyền thông văn hóa chính trị - pháp lý là một yếu tố của môi trường chính trị trọng nước khó nhận dạng nhưng có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động quản lý nhà nước Như là một yếu tố định hình ý thức pháp luật, ý thức chính trị, tập quán pháp lý của cá cán bộ, công chức nhà nước lẫn công dân, truyền thống văn hóa chính trị - pháp lý có sức ảnh hưởng tràn lắp, tạo ra động lực hay chướng ngại cho hoạt động quản lý của nhà nước ở những quan

hệ xã hội bình thường nhất, những nội hàm quản lý nhỏ nhất

Xây dựng nhà nước pháp quyền ở phương Tây với truyền thống dân chủ, ý thức tôn trọng pháp luật đã có từ hàng trăm năm trước chắc hẳn sẽ dễ dàng hơn nhiều so với các quốc gia mà không có nền dân chủ hay nếp nghĩ “ Phép vua thua lệ làng” “Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” đã ăn sâu vào tâm trí của người dân như ở Việt nam

Hay như tâm lý cục bộ địa phương, “ dĩ hòa vi quý”, sinh bằng cấp

…ở Việt nam đang đặt ra vô vàn vấn đề cho hoạt động quản lý nhà nước để hướng đến tính hiệu lực, hiệu quả

Từ thực tiễn, bài học rút ra cho mọi thay đổi về chính sách cũng như các cuộc cải cách, đổi mới hoạt động quản lý xã hội là cần xem xét, phân tích

kỹ lưỡng truyền thống văn hóa chính trị - pháp lý của xã hội thì mới mong tránh khỏi sự thất bại

• Xã hội dân sự:

Ra đời trong thời đại khai sáng, khái niệm xã hội dân sự giờ đây đã mang những nội hàm khác hẳn so với khi nó mới xuất hiệu Mặc dù các học giả vẫn chưa thống nhất được một định nghĩa chung nhất nhưng tổng hợp

Trang 35

• Xã hội dân sự canh chừng những biểu hiện lạm quyền của nhà nước và hạn chế các tác động xấu của kinh tế thị trường đối với xã hội

Xã hội dân sự biểu hiện sự cố lết xã hội của con người, tồn tại như một thực tế dẫu có hoặc không sự công nhận của nhà nước Góp phần tạo ra những cơ chế vận hành cho xã hội, bên cạnh định hướng mà nhà nước đã thiết lập, xã hội dân sự cần được nhìn nhận như là một đối tác hơn là một đối thủ cạnh tranh của nhà nước trong hoạt động quản lý ở khu vực công Nhà nước

có thể nhỏ đi khi xã hội dân sự lớn lên, nhưng là nhỏ đi để mà mạnh hơn, phục vụ tốt hơn cho lợi ích công cộng Vì như tại nước Đức, sự tồn tại của khoảng 280 nghìn hội đoàn đã đảm trách vô vàn công việc mà nhà nước thị trường và gia đình không thể thực hiện vì nhiều lý do khác nhau Các hội đoàn này hình thành nhằm thỏa mãn nhu cầu của các nhóm thiểu số, phản ánh nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi của các bộ phận yếu thế trong xã hội, chống lại hành vi lạm quyền của nhà nước và sự tha hóa của thị trường

Thực tế ở Việt nam, xã hội dân sự tồn tại dưới tên gọi là các tổ chức chính trị - xã hội Các tổ chức này tồn tại rộng khắp trên các lĩnh vực trong cả nước Mỗi người Việt nam đều là thành viên của ít nhất một đoàn thể như vậy, từ đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân, Tổng liên đoàn lao động đến hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi, hội người nuôi ong….Tuy nhiên,

xã hội dân sự chỉ có thể phát huy được vai trò như đã nêu khi mà không gian

Trang 36

Hay sự sụp đổ của bức tường Berlin năm 1989 hay nước Nga Xô Viết năm 1990 đã làm thay đổi cách nhìn nhận của chính giới và nhân dân nhiều nước về một mô hình xã hội cũ kỹ, không còn phù hợp, mở đường cho những cải cách, đỏi mới tiến bộ diễn ra nhanh hơn

Đảng và nhà nước ta chủ trương mở rộng quan hệ hữu nghị hòa bình với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ… Chủ trương này là rất đúng, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại

Chính sách ra đời từ nhận thức, vì thế nó cũng mang tính chất bất nhất, do đó, yêu cầu đặt là Nhà nước cần định vị như thế nào vị thê của Việt Nam trong lòng thế giới để từ đó thấy được đâu là nguy cơ, thách thức, đâu là thuận lợi và cơ hội Hoạt động quản lý nhà nước cũng vì thế mà có hiệu quả hơn nhờ không phải hao tổn nhân lực, vật lực chống lại những nguy cơ không

rõ ràng, nắm bắt được các cơ hội nhờ tránh những nghi ngờ không đáng có

Sự phát triển của Việt nam hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào cách mà Nhà nước nhận thức và ứng xử đối với môi trường chính trị trong nước và quốc tế Thấy rõ thách thức, nắm bắt cơ hội, trong bối cảnh của sự thay đổi sẽ tạo ra hiệu quả cho hoạt động của Nhà nước, từ đó xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn… đất nước phát triển hơn

Nội lực từ môi trường chính trị trong nước và ngoại lực từ môi trường chính trị quốc tế cần được xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học,

Trang 37

33

hội tụ đầy đủ các yếu tố, thuận lợi và khó khăn, tạo ra sức mạnh cho sự phát triển Việt nam và điều này chỉ có thể diễn ra từ một nhận thức đúng đắn, bắt đầu chính từ phía Nhà nước

1.3.3.4 Yếu tố năng lực thực thi, điều kiện vật chất, tổ chức quản

lý viên chức

Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý trí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong thực hiện chính sách: thực hiện hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Chất lượng hiệu quả thực hiện phụ thuộc nhiều vào năng lực của các chủ thể trong thực hiện chính sách Với chính sách phát triển viên chức, việc thực hiện chính sách phụ thuộc vào năng lực các chủ thể chính sách như: Các cơ quan quản lý Nhà nước, các cán bộ, công chức thực hiện chính sách và đối tượng hưởng lợi của chính sách là đội ngũ viên chức

Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, người chủ động tổ chức thực hiện chính sách là thẩm quyền quyết định, năng lực về nguồn tài chính và con người Dựa vào năng lực này, các cơ quan quản lý có thể chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới

Đối với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức thực hiện chính sách thì năng lực thực hiện chính sách là : kiến thức, kỹ năng và thái độ của họ trong thực hiện Để có thể thực hiện chính sách một cách hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách phải nẵm vững kiến thức chuyên môm, am hiểu mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đồng thời phải có kỹ năng tác nghiệp, phổ biến tuyên truyền chính sách, có tinh thần, thái độ trách nhiệm trong thực hiện chính sách Có thể nói, chính sách có thực hiện hiệu quả hay không, một phần lớn phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức thực hiện chính sách

Trang 38

34

Trong các yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách thì điều kiện vật chất là một trong những điều kiện cơ bản để hoàn thành nhiệm vụ thực hiện chính sách vất chất ở đây được hiểu là hệ thống trang thiết bị, phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, nguồn tài chính phục

vụ cho việc nghiên cứu Đồng thời, nó cũng là chế độ tiền lương, thưởng, các ưu đãi đối với đội ngũ viên chức nghiên cứu và đội ngũ viên chức thực hiện chính sách Những điệu kiện về vật chất có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiện chính sách, nó giúp cho thực hiện chính sách được thuận tiện nhanh chóng, giúp cho các nhà nghiên cứu có thể triển khai những ý tưởng sáng tạo của mình thành hiện thực, giúp cho đội ngũ viên chức thực hiện chính sách cũng như nhà nghiên cứu yên tâm làm việc, tâm huyết với nhiệm vụ được giao góp phần đạt được mục tiêu đã đề ra của chính sách

Trang 39

35

Kết luận chương 1

Qua những nội dung của chương 1, ta thấy một cách toàn diện cơ bản về vai trò của đội ngũ viên chức nói chung, viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng đối với mục tiêu phát triển của nước ta hiện nay, đồng thời những nội dung của chương 1 cũng cho ta hiểu được thế nào là chính sách phát triển viên chức ở nước ta Qua đó, ta cũng thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển nguồn nhân lực viên chức khoa học nói chung và đối với đội ngũ viên chức Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng phù hợp với điều kiện hiện nay cũng như phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức Từ đó, chúng ta có cơ sở để so sánh, đánh giá việc triển khai thực hiện chính sách này trong các nội dung nghiên cứu ở chương tiếp theo

Trang 40

36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

VIÊN CHỨC TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

2.1 Khái quát đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ của nước ta

- Về số lượng

Theo kết quả điều tra tại 25 bộ, ngành, cơ quan Trung ương và 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hiện nay, tổng số viên chức Khoa học và công nghệ là 43.849 người Trong đó, số viên chức khoa học là 11.801 người (26,92%) gồm có 11.706 là viên chức khoa học thuộc khối Trung ương và 95 người là viên chức khoa học thuộc khối địa phương

Thời gian qua, nguồn lực khoa học và công nghệ của đất nước ta đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao, khoa học mới Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, đến cuối năm 2010, cả nước có 1.513 tổ chức khoa học và công nghệ, trong

đó có 1.001 tổ chức ở trung ương và 512 tổ chức tại địa phương Trong số đó,

có 949 tổ chức khoa học và công nghệ công lập (63%) và 564 tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập (37%)

Trong số 949 tổ chức khoa học và công nghệ công lập, có 356 tổ chức được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, chiếm 37,5%

Có 274 tổ chức đã tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, chiếm 28,9% Còn lại 319 tổ chức đã tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, chiếm 33,6% Riêng đối với 564 tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, 100% các tổ chức này tự trang trải toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và tự chủ về nhiệm vụ, tài chính, tài sản, hợp tác quốc tế, quản lý nhân lực và tổ chức bộ máy Ngoài ra, số lượng các tổ chức và doanh

Ngày đăng: 15/05/2017, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Thúy Hà, (2013), “Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ”, Trung tâm Thông tin Khoa học - Viện Nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thúy Hà
Năm: 2013
4. Đỗ Phú Hải, (2012), “Những vấn đề cơ bản của Chính sách công”, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của Chính sách công
Tác giả: Đỗ Phú Hải
Năm: 2012
6. Phan Trọng Hào, (2014), “Chính sách đối với viên chức khoa học từ thực tiến Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối với viên chức khoa học từ thực tiến Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Tác giả: Phan Trọng Hào
Năm: 2014
7. Lê Thị Thu Hằng, (2014), “Thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế quản lý viên chức khoa học, công nghệ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Thị Thu Hằng
Năm: 2014
8. Nguyễn Thị Huế, (2016), “Thực hiện Chính sách phát triển viên chức Khoa học ở nước ta hiện nay”, Luận án thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Chính sách phát triển viên chức Khoa học ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Huế
Năm: 2016
18. Bùi Đình Thanh, (2015), “Khái niệm Phát triển”, Viện Nghiên cứu Truyền thống và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm Phát triển
Tác giả: Bùi Đình Thanh
Năm: 2015
19. Nguyễn Duy Thăng, phát biểu tại Hội thảo, (2011) “Định hướng cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2013 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ công chức, viên chức giai đoạn 2013 – 2020
21. Tần Anh Tuấn, (2011) “Về Chính sách phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng”, Tạp chí Xây Dựng Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Chính sách phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng
22. Nguyễn Văn Tuyên, (2015), “Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Học viện hành chính Quốc gia”, Luận văn thạc sỹ.23. http: //tadri.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Học viện hành chính Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Năm: 2015
1. Báo cáo thường niên, (2016), Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Khác
2. Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-2020 Khác
9. Nguyễn Thị Như Mai, (2010), Văn phòng Chính phủ 10. Luật Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13 11. Luật Viên chức số 58/2010/QH12 Khác
12. Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức , viên chức và lực lượng vũ trang Khác
13. Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ quy định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Khác
14. Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức Khác
15. Nghị định số 108/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Khác
16. Nghị quyết số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ quy định về sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN Khác
17. Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020 Khác
24. Website: www.vast.ac.vn 25. Website: www.vass.gov.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w