1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than từ thực tiễn tỉnh quảng ninh

121 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐTM Đánh giá tác động môi trường KT - XH Kinh tế - Xã hội ISED Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về năng lượng ICME Hội đồng Kim loại và Môi trường quốc tế PTBV P

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN MẠNH HÙNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HOÀNG VĂN THỨC

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Mạnh Hùng

Trang 4

Bên cạnh đó, tôi cũng gửi lời cảm ơn của mình đến lãnh đạo, các đồng nghiệp trong Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, bạn bè, gia đình, luôn quan tâm, tạo điều kiện, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn

Trong khuôn khổ của một luận văn, đề tài này không thể giải quyết toàn bộ các vấn đề một cách trọn vẹn, vì vậy kết quả nghiên cứu của đề tài không tránh khỏi có nhiều hạn chế, thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN 7

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững 7 1.2 Phát triển bền vững về môi trường trong hoạt động khai thác than tại Việt Nam 14 1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản 20

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN Ở TỈNH QUẢNG NINH 28

2.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Ninh 28 2.2 Hiện trạng khai thác than tại Quảng Ninh 30 2.3 Hiện trạng hoạt động khai thác than gắn với phát triển bền vững về môi trường tại tỉnh Quảng Ninh 32 2.4 Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh trên quan điểm phát triển bền vững về môi trường 55

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN 63

3.1 Đề xuất quan điểm, định hướng phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than 63 3.2 Đề xuất một số giải pháp thực hiện hướng đến mục tiêu phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than 69

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTM Đánh giá tác động môi trường

KT - XH Kinh tế - Xã hội

ISED Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững về năng lượng

ICME Hội đồng Kim loại và Môi trường quốc tế

PTBV Phát triển bền vững

TKV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam TN&MT Tài nguyên và Môi trường

UNEP Chương trình môi trường Liên Hợp quốc

UN CSD Hội đồng phát triển bền vững của Liên Hợp quốc

WBCSD Hội động doanh nghiệp Thế giới về Phát triển bền vững

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn 9 Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác 9 Hình 1.3 Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác 10 Hình 1.4 Cấu trúc bộ chỉ tiêu PTBV năng lượng (ISED) 18

Hình 2.1 So sánh GRDP bình quân đầu người giai đoạn

2011-1015 tại tỉnh Quảng Ninh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển bền vững về môi

trường theo bộ ISED

19

Bảng 1.2 Đề xuất các chỉ tiêu PTBV môi trường trong hoạt

động khai thác than

20

Bảng 2.2 Bảng tổng khối lượng đất đá đổ thải của các mỏ

Bảng 3.1 Đề xuất quan điểm quản lý gắn với PTBV môi

trường trong hoạt động khai thác than

68

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khai thác tài nguyên khoáng sản phần lớn mang lại lợi ích kinh tế cho một số doanh nghiệp, nhưng các địa phương đã phải đánh đổi bởi sự ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến các ngành công nghiệp khác như du lịch, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông lâm nghiệp… và đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế - xã hội (KT - XH) của cộng đồng dân cư nơi có khai thác khoáng sản

Ở Việt Nam, các Tập đoàn, doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản có quy mô công nghiệp đang từng bước nâng cao năng lực công nghệ, thiết bị và quản lý; đã có ý thức hơn trong việc tuân thủ quy định của pháp luật, gắn mục tiêu lợi ích sản xuất, kinh doanh khoáng sản với mục tiêu Phát triển bền vững (PTBV) KT - XH, bảo vệ môi trường (BVMT), đảm bảo an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản còn bộc lộ không ít hạn chế với một số vấn đề chủ yếu nổi bật là: Công nghệ khai thác khoáng sản nói chung còn lạc hậu vừa ít tạo ra giá trị gia tăng, vừa gây tổn thất tài nguyên cao và gây nhiều tác động xấu đến môi trường; quá trình khai thác khoáng sản nói chung còn gây ô nhiễm và tác động xấu tới môi trường

và cộng đồng dân cư; vấn đề hoàn hoàn nguyên, hoàn thổ do khai thác và chế biến

Lấy bối cảnh từ thực tiễn khai thác khoáng sản than tại tỉnh Quảng Ninh với một số vấn đề nổi cộm hiện nay như:

- Công tác khai thác khoáng sản than đôi khi còn chưa thực hiên tốt công tác đảm bảo an toàn lao động, BVMT; việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đối với người dân địa phương còn nhiều hạn chế; điều kiện làm việc trong quá trình khai thác, chế biến khoáng sản rất nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm đã gây nhiều tác hại đến sức khỏe của người lao động và nhiều vấn đề xã hội nảy sinh;

- Quá trình khai thác than đã gây ô nhiễm đến một số vùng của tỉnh Quảng Ninh đến mức báo động, đến nay phần lớn các diện tích này vẫn còn

bị để hoang hoá chưa được cải tạo, phục hồi ;

Trang 10

- Đặc biệt, kết thúc các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, hầu hết diện tích các khu mỏ và khu chế biến đã không được cải tạo và phục hồi môi trường, điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, gây mất an toàn và bức xúc cho cộng đồng xung quanh

Tại Việt Nam, PTBV đã được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển KT - XH và được khẳng định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI, XII trong đó Nghị quyết Đại hội XII đã chỉ rõ: “Phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững

ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển KT - XH phải luôn đi cùng với bảo vệ và cải thiện môi trường Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế-xã hội” Trong Chiến lược phát triển KT - XH giai đoạn 2011 - 2020 đã khẳng định “Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt của chiến lược” Rõ ràng, với quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, mọi các hoạt động phát triển KT - XH phải gắn với PTBV và ngành công nghiệp khai thác khoáng sản cũng phải tuân thủ theo quan điểm này

Thời gian tới, các vấn đề môi trường liên quan tới hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là khai thác than ngày càng trở lên nghiêm trọng hơn khi Việt Nam phải nhập khẩu than và năng lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH của đất nước Từ các lý do trên cho thấy PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than là đòi hỏi hết sức quan trọng và cấp thiết, vì

vậy, học viên lựa chọn đề tài: “Phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sỹ

PTBV với mong muốn góp phần hiện thực hóa chủ trương và chiến lược

Trang 11

PTBV của Đảng và Nhà nước trong ngành công nghiệp than, hướng tới phát triển một ngành công nghiệp khai thác khoáng sản bền vững nói chung

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Ngay sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu liên quan đã được tiến hành, một số nghiên cứu tiêu biểu

liên quan tới PTBV môi trường như: “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội, “Quản

lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do tác giả Lưu Đức Hải và

cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản

lý môi trường cho PTBV Vấn đề PTBV môi trường cũng đã được nghiên cứu

và thảo luận trong các hội nghị, diễn đàn cả trong nước và quốc tế

Đối với vấn đề liên quan tới các vấn đề môi trường liên quan tới hoạt động khai thác khoáng sản, Tổng cục Môi trường (trước đây là Cục Bảo vệ môi trường), cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai nhiều giải pháp, nhiệm vụ để tăng cường quản lý bảo vệ môi trường, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu cho công tác khai thác khoáng sản gắn với PTBV, như sau:

- Nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường lưu vực sông Cầu do các hoạt động khai thác khoáng sản” thực hiện năm 2007 Nội

dung của nhiệm vụ này là đưa ra hiện trạng ô nhiễm môi trường của một số khu vực khai thác khoáng sản tác động đến đến lưu vực sông Cầu Trên cơ sở

đó, nhiệm vụ đã đưa ra một số giải pháp và những định hướng chung để kiểm soát tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra trên lưu vực sông Cầu

- Nhiệm vụ: “Rà soát, đánh giá tình hình thực hiện ký quỹ cải tạo, phục

hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản và xây dựng thông tư hướng dẫn lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản” thực hiện năm 2009 Kết quả thực hiện nhiệm vụ này đã rà soát

Trang 12

đánh giá tình hình thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường của một số

tổ chức, cá nhân trên địa bàn một số tỉnh trên phạm vi toàn quốc, từ đó trình

Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Quy định về lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi

trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản

- Nhiệm vụ “Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường” thực hiện năm 2012 Kết

quả thực hiện nhiệm vụ này đã rà soát văn bản quy phạm pháp luật tại một số địa phương; những khó khăn, vướng mắc và đề xuất sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường gắn với hoạt động khai thác khoáng sản, phục vụ yêu cầu của Đoàn giám sát Quốc hội

Đối với nghiên cứu khoa học, tác giả Nguyễn Thị Ngân đã lựa chọn đề

tài “Quản lý môi trường mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh”, luận văn thạc sỹ

khoa học Mã số: 60 85 02 đã nghiên cứu và đưa ra các giải cho công tác quản

lý môi trường Mạo Khê, tỉnh Quảng Ninh

Tóm lại, các công trình nghiên cứu nêu trên đều liên quan đến BVMT trong hoạt động khai thác khoáng sản nhưng nhìn chung các nghiên cứu chỉ tập trung vào một khía cạnh về môi trường hoặc cho một điểm mỏ cụ thể, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện những tác động hoạt động khai thác than đến môi trường và PTBV, từ đó đề ra những giải pháp BVMT hướng đến PTBV ngành khai thác than Vì vậy, đề tài mà học viên lựa chọn không trùng với các nghiên cứu đã công bố mà có sự kế thừa, chọn lọc từ những nghiên cứu đã có để đưa ra những giải pháp toàn diện cho PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có các mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Làm rõ những vấn đề chủ yếu về lý luận và thực tiễn về hoạt động khai thác than ở Việt Nam trên quan điểm PTBV;

Trang 13

- Phân tích thực tiễn công tác bảo vệ môi trường gắn với PTBV trong hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh;

- Khuyến nghị một số đề xuất các giải pháp hướng tới PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các khía cạnh về BVMT gắn với PTBV trong hoạt động khai thác than

- Về số liệu: Nghiên cứu trong 05 năm gần đây, giai đoạn 2011-2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp luận chung Trên cơ sở kết hợp nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn, nghiên cứu điều tra thực tiễn, từ đó khái quát hóa, nêu lên những đề xuất, kiến nghị các mục tiêu, giải pháp hướng đến phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than

Nội dung nghiên cứu được giải quyết theo trình tự sau đây: nghiên cứu

lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về PTBV; phân tích thống kê đặc điểm và thực trạng hoạt động khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh trên quan điểm phát triển bền vững; trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than ở Việt Nam

Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn,

Trang 14

phương pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá

- Phương pháp tổng hợp, thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thực hiện nghiên cứu nhằm thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu, số liệu, đề tài, dự án có liên quan tại Việt Nam và các nước trên thế giới

- Phương pháp kế thừa: khai thác các nguồn tài liệu, số liệu từ Internet, kế thừa kết quả, số liệu của các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp phân tích, đánh giá: Trên cơ sở đánh giá hiện trạng và nguyên nhân, việc phân tích, làm rõ mối quan hệ, những tác động qua lại giữa khai thác khoáng sản và PTBV là điều cần thiết, từ đó đưa ra những nhận định

và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác BVMT trong khai thác khoáng sản gắn với PTBV trong khai thác than ở Quảng Ninh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung, làm phong phú thêm các cơ sở lý luận về PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than Kết quả đạt được của đề tài có giá trị tham khảo cho cơ quan quản lý nhà nước hoạch định chính sách PTBV nói chung và PTBV trong ngành công nghiệp

khai thác khoáng sản than nói riêng

7 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phần phụ lục nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than

Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Một số giải pháp phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “Phát triển bền

vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và

được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về PTBV vì nó mang tính khái quát hoá cao về mối quan hệ giữa các thế hệ về thoả mãn các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, từ đó tạo ra PTBV, vì suy cho cùng, bản chất của PTBV tức

là sự tồn tại bền vững của loài người trên trái đất không phân biệt quốc gia, dân tộc và trình độ kinh tế, xã hội, ở đây sự tồn tại của loài người luôn gắn với sự tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên mà con người cần phải có

Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó

là: “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế

hệ tương lai” Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc

giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường Tuy vậy, định nghĩa này vẫn chưa đề cập được tính bản chất của các quan hệ giữa các yếu tố của PTBV và chưa đề cập đến các nhóm nhân tố cụ thể mà quá trình PTBV phải đáp ứng cùng một lúc,

đó là nhóm nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế, nhóm nhân tố tác động thay đổi

Trang 16

xã hội, bao gồm thay đổi cả văn hoá và nhóm nhân tố tác động làm thay đổi tài nguyên, môi trường tự nhiên Theo hướng phân tích đó, Luận văn đề xuất một cách định nghĩa cụ thể hơn về PTBV, đó là: PTBV là một phương thức phát triển kinh tế- xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Định nghĩa này có thể mở rộng với ba cấu thành cơ bản về sự PTBV:

– Về mặt kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

– Về mặt xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được

sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y

tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân

– Về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học (ĐDSH), sự

ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế

PTBV có thể được minh hoạ theo các mô hình sau đây:

Trang 17

Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn

Nguồn: Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển

bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công Thương, Hà Nội [18]

Hình 1.2 Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác

Nguồn: Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển

bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công Thương, Hà Nội [18]

Hình 1.1 và hình 1.2 được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về PTBV thời gian gần đây, chúng có điểm giống nhau và được gọi chung là mô hình “ba trụ cột” do đều được xây dựng dựa trên ba trụ cột của PTBV là: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và BVMT Tuy nhiên giữa hai mô hình này cũng có những điểm khác biệt nhất định: trong khi mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn nhấn mạnh đến việc để PTBV nhất thiết phải đảm bảo cả ba mục

Trang 18

tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường thì mô hình tam giác lại nhấn mạnh vào sự ràng buộc, chi phối và tác động thuận nghịch giữa ba thành tố: mục tiêu kinh

tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường để PTBV Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng hai mô hình này chưa tính toán một cách đầy đủ, rõ ràng đến yếu tố “chất lượng cuộc sống của con người”

Hình 1.3 Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác

Nguồn: Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển

bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công Thương, Hà Nội [18]

Mô hình PTBV kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994 Mô hình này minh hoạ mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác, giống như lòng đỏ và lòng trắng của một quả trứng gà Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau Giống như một quả trứng chỉ thực sự tốt khi cả lòng đỏ và lòng trắng đều tốt, lòng trắng là môi trường để lòng đỏ phát triển, một xã hội chỉ PTBV khi cả con người và hệ sinh thái ở điều kiện tốt

Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định Luận văn cho rằng mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn phản ánh rõ nhất PTBV là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT Nói cách khác, PTBV đạt được trên cơ sở đảm bảo hài hoà được cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường

Trang 19

1.1.2 Các nguyên tắc phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển do Liên hợp quốc tổ chức vào tháng 6 năm 1992 tại Rio de Janeiro (Braxin) đã nhất trí và tuyên bố 27 nguyên tắc đề cập tới tất cả các lĩnh vực PTBV, bao gồm kinh tế,

xã hội, môi trường, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu hòa bình, xóa nghèo đói, công bằng xã hội và trách nhiệm chung có phân biệt trong vấn đề bảo vệ môi trường Tổng hợp phân tích 27 nguyên tắc PTBV của RIO 92, có thể tóm tắt những quan điểm chủ đạo sau [14]:

1 Đảm bảo công bằng trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ

2 Phát triển là quyền của tất cả các quốc gia, dân tộc; con người là trung tâm của sự phát triển

3 BVMT là hoạt động không thể tách rời của PTBV

4 PTBV cần có một thể chế luật pháp và bộ máy hành pháp thống nhất, vận hành hiệu quả và sự tham gia của mọi lực lượng xã hội, đặc biệt là phụ

nữ, thanh niên, người dân địa phương

5 Duy trì, gìn giữ hòa bình, đảm bảo kiểm soát tác động của chiến tranh, xung đột, áp bức bóc lột để hạn chế tác động xấu đến tài nguyên môi trường

6 Xóa nghèo, giảm chênh lệch mức sống là một mục tiêu cần và đặc biệt cấp bách của PTBV

7 Sử dụng các công cụ quản lí, luật pháp, kinh tế để bảo vệ môi trường, đảm bảo công bằng xã hội và PTBV

8 Mặc dù cần đáp ứng các nguyên tắc trên, trong Tuyên bố Rio vẫn khẳng định “Các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau,

vì sự đóng góp khác nhau vào những vấn đề môi trường toàn cầu Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của mình trong nỗ lực quốc tế về bảo vệ môi trường, do những áp lực mà xã hội của họ gây ra cho môi trường toàn cầu và

do những công nghệ và nguồn tài chính mà họ chi phối, điều khiển”

9 Đặc biệt, Tuyên bố Rio cam kết “Hợp tác đa quốc gia để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng, giúp đỡ dẫn đến sự PTBV ở tất cả các

Trang 20

nước Chính sách thương mại, với những mục đích môi trường, không nên trở thành phương tiện phân biệt đối xử độc đoán, vô lý, hoặc ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế”

1.0 Những nguyên tắc chủ đạo của Rio 1992 là kim chỉ nam cho các nước đang phát triển nhất là các nước như nước ta định hướng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội hiện tại và tương lai

1.1.3 Các tiêu chí phát triển bền vững

Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc (viết tắt UN CSD) công bố vào năm 2001 danh mục 58 chỉ tiêu PTBV nhằm hỗ trợ các nước trong việc đo lường bước tiến triển hướng tới PTBV Các chỉ tiêu này bao gồm 15 chủ đề chính, 38 chủ đề nhánh với 58 chỉ tiêu cụ thể ở các lĩnh vực Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Thể chế [21] (chi tiết xem tại phụ lục 1)

Phát triển bền vững về kinh tế là phát triển nhanh và an toàn, chất

lượng Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh

tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người

Khía cạnh PTBV về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là, giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ tiết kiệm và thay đổi lối sống; Hai là, thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến ĐDSH và môi trường; Ba là, bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, mức sống, dịch vụ y tế và giáo dục; Bốn là, xóa đói, giảm nghèo tuyệt đối; Năm là, công nghệ sạch và sinh thái hóa công nghiệp (tái chế, tái sử dụng, giảm thải, tái tạo năng lượng đã sử dụng)

Nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: (1)

Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao Nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu nhập thấp

Trang 21

càng phải tăng trưởng mức độ cao Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể xem có biểu hiện PTBV về kinh tế (2) Cơ cấu GDP cũng là tiêu chí đánh giá PTBV về kinh

tế Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững (3) Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá

Phát triển bền vững về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như

HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn

Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh

Phát triển bền vững về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được Phát triển bền vững về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào

đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa; Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm là, bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; Sáu là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định

Phát triển bền vững về môi trường: quá trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố

tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm

Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh

Trang 22

quan Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế

Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

và cải thiện chất lượng môi trường sống Phát triển bền vững về môi trường đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa BVMT tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất

Phát triển bền vững về môi trường gồm những nội dung cơ bản: Một là,

sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ ĐDSH, bảo vệ tầng ôzôn; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu

xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực thực phẩm), cải thiện

và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm

1.2 Phát triển bền vững về môi trường trong hoạt động khai thác than tại Việt Nam

1.2.1 Quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV về môi trường

Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành thực hiện, trong đó xác định các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV với yêu cầu các cấp quản

lý (quốc gia, Bộ ngành, địa phương) lồng ghép vào trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng, điều chỉnh và tổ chức thực hiện Chiến lược, Quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH

Về quan điểm, Chiến lược xác định 5 quan điểm thể hiện cách thức

tiếp cận đảm bảo bền vững về môi trường [2] Cụ thể là:

- Con người là trung tâm của PTBV, đồng thời là đối tượng, mục tiêu

mà mọi khía cạnh của PTBV cần phải được hướng tới, trong đó phải đảm

Trang 23

bảo và duy trì môi trường sống lành mạnh, an toàn cho con người của thế hệ hiện tại cũng như con người của thế hệ tương lai;

- PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước BVMT là một yêu cầu tất yếu của phát triển mà các khía cạnh phát triển khác (kinh tế, văn hóa, xã hội ) cần được kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa;

- PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và các cấp quản lý BVMT không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp

mà phải trở thành nhận thức, ý thức trách nhiệm và hành động của cả hệ thống chính trị và của từng người dân;

- Cơ hội bình đẳng cho mọi người trong tiếp cận, tham gia, đóng góp

và hưởng lợi trong quá trình phát triển Đây là điều kiện tất yếu cần phải tạo

ra để thực hiện quan điểm BVMT là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và của từng người dân;

- Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho PTBV đất nước Khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong phát triển KT-XH gắn với yêu cầu BVMT

Về mục tiêu, Chiến lược xác định mục tiêu tổng quát là "Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ TN&MT, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia" với mục tiêu cụ thể về môi trường

là "Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn ĐDSH Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động thích ứng có hiệu quả với BĐKH, nhất là nước biển dâng"

Về chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV, Chiến lược xác định 30 chỉ tiêu,

chia ra 4 loại, trong đó: Chỉ tiêu tổng họp (3 chỉ tiêu); chỉ tiêu về kinh tế (10 chỉ tiêu); chỉ tiêu về xã hội (10 chỉ tiêu); và chỉ tiêu TN&MT (chi tiết xem tại Phụ lục 3) Các chỉ tiêu này được yêu cầu lồng ghép vào quá trình hoạch định chính sách, xây dựng, điều chỉnh và tổ chức thực hiện Chiến lược, Quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của quốc gia, Bộ, ngành, địa phương

Trang 24

cũng như trong hoạt động của các tổ chức không phải của nhà nước (NGOs)

Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV cấp địa phương để thực hiện thống nhất trong cả nước Các Bộ, ngành khác được yêu cầu xây dựng các chỉ tiêu PTBV của ngành mình

Về số lượng, loại chỉ tiêu về TN&MT ít hơn (7 chỉ tiêu) so với 2 loại

chỉ tiêu về KT-XH (mỗi loại là 10 chỉ tiêu) Điều này không có nghĩa là TN&MT ít quan trọng hơn mà chủ yếu là loại chỉ tiêu TN&MT cho đến nay còn chưa được định lượng cụ thể cho mục tiêu giám sát và đánh giá Theo danh mục các chỉ tiêu PTBV đã được phê duyệt ở Chiến lược cho thấy, nhiều chỉ tiêu về TN&MT (chi tiết xem tại Phụ lục 3) đã được nêu mà chưa được định lượng cụ thể cho cả 3 mốc thời gian (2010, 2015, 2020), như chỉ

số bền vững môi trường, tỷ lệ ngày có nồng độ các chất độc hại trong không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép; hoặc mới được định lượng cụ thể cho 1 mốc thời gian đã qua (năm 2010), như tỷ lệ đất được bảo vệ, duy trì ĐDSH, diện tích đất bị thoái hóa Các nhà khoa học và quản lý sẽ phải định lượng hóa các chỉ tiêu về TN&MT giai đoạn 10 năm tới (2011 - 2020) mà còn chuẩn bị bổ sung thêm vào giai đoạn 10 năm tiếp theo (2021 -2030)

Về tính đại diện của các chỉ tiêu về TN&MT được lựa chọn, cho thấy

7 chỉ tiêu chưa đại diện đầy đủ về lĩnh vực phát triển trên, chủ yếu đại diện cho lĩnh vực TN&MT đất, nước, rừng (chỉ tiêu 1,2,3,4), môi trường không khí (chỉ tiêu 5) và quản lý chất thải (chỉ tiêu 6,7) Chưa có chỉ tiêu đại diện

về tài nguyên khoáng sản, môi trường nông thôn, môi trường nước ở khu vực quan trọng (lưu vực sông) [15]

Ngày 05 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1216/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nêu rõ: Bảo vệ môi trường là yêu cầu sống còn của nhân loại; Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không tách rời của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển bền vững; bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại nhưng vẫn giữ được tiềm năng và cơ hội cho các thế hệ mai sau; đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu

tư cho phát triển bền vững

Trang 25

1.2.2 Các ưu tiên và giải pháp thực hiện phát triển bền vững về môi trường

Chiến lược đã xác định 9 định hướng ưu tiên PTBV về TN&MT, gồm: Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; BVMT nước

và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; BVMT biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí và tiếng

ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp; quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại; bảo tồn và phát triển ĐDSH; giảm thiểu tác động và ứng phó vói BĐKH, phòng chống thiên tai [2]

Các định hướng này thực chất là sự cụ thể hóa cho giai đoạn 10 năm tới các nội dung định hướng ưu tiên PTBV về TN&MT đã được xác định trong

"Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị

sự 21 của Việt Nam)" có tính đến những điều chỉnh Chiến lược phát triển đất

nước trong bối cảnh phát triển mới ở trong nước và quốc tế, đặc biệt là tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng nhiều hơn vào chất lượng tăng trưởng, phát triển, coi PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong mọi hoạt động phát triển Ví dụ như trong định hướng về khai thác hợp lý

và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản đã xác định "Hạn chế, kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu tài nguyên thô và đến năm 2020, chấm dứt xuất khẩu khoáng sản chưa qua chế biến sâu"; trong bảo vệ và phát triển rừng

chú ý tới lợi ích của người bảo vệ và người sử dụng tài nguyên rừng và ĐDSH

Hiện nay, nhận thức về PTBV đã trở nên ngày càng rõ ràng hơn, trong đó nhận thức về ý nghĩa, vai trò của TN&MT đã có những thay đổi căn bản Môi trường trước đây được coi là nơi chứa đựng và hấp thụ chất thải tạo ra bởi các hoạt động KT-XH một cách thụ động thì nay được xác định là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, đem lại sự ổn định lâu dài cho con người và

xã hội Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 là sự cụ thể hóa Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam, trong đó nội dung bền vững về môi trường được cụ thể hóa về mục tiêu, chỉ tiêu giám sát, đánh giá, các ưu tiên và giải pháp thực hiện Việc tổ chức thực hiện có kết quả các nội dung bền vững về TN&MT đã xác định trong Chiến lược sẽ quyết định mức độ PTBV của đất

Trang 26

nước trong từng giai đoạn phát triển và các thế hệ mai sau cũng như đóng góp chung vào sự phát triển, thịnh vượng chung của khu vực và thế giới

Cụ thể hóa các chiến lược PTBV của cả nước, chiến lược BVMT quốc gia tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg đã cụ thể hóa 4 định hướng cơ bản về bảo vệ môi trường chính, bao gồm: phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây

ô nhiễm môi trường; cải tạo, phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái, đẩy mạnh cung cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường; khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; xây dựng năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than

Hiện nay, các chỉ tiêu PTBV về môi trường của cả nước nói chung và của ngành than nói riêng vẫn chưa được quy định và tổ chức thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo đúng tinh thần của chiến lược PTBV Trong lĩnh vực khai thác khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng cũng chưa được xây dựng Để xác định các tiêu chí đánh giá PTBV về môi trường trong hoạt động khai thác than, học viên đề xuất sử dụng hệ thống chỉ tiêu PTBV năng lượng của thế giới (Bộ ISED), trong đó sử dụng các chỉ tiêu về môi trường để đánh giá PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than do công nghiệp than cũng là một phần của ngành năng lượng

Hình 1.4 Cấu trúc bộ chỉ tiêu PTBV năng lượng (ISED)

Nguồn: Bộ Chỉ tiêu PTBV năng lượng (ISED)

Trang 27

Bộ chỉ tiêu PTBV năng lượng (ISED) gồm 7 chủ đề chính và 19 chủ

đề nhánh với 30 chỉ tiêu của 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường theo định hướng của Liên Hợp quốc về PTBV Thông qua cách phân loại còn cho thấy mối liên quan giữa các chỉ tiêu với nhau khi xem xét một vấn đề cụ thể Riêng lĩnh vực về thể chế chủ yếu được xem xét dưới dạng lý thuyết chứ chưa được xây dựng thành chỉ tiêu cụ thể (chi tiết xem tại Phụ lục 4)

Các chỉ tiêu PTBV về môi trường theo bộ ISED được thiết kế với 03 chủ đề chính là Khí quyển, đất và nước với 06 chủ đề nhánh là biến đổi khí hậu, chất lượng không khí, chất lượng nước, chất lượng đất, rừng, chất thải Tương ứng với mỗi chủ đề có các chỉ tiêu và thành phần tương ứng (chi tiết tại bảng 1.1)

Bảng 1.1 Tổng hợp các chỉ tiêu PTBV về môi trường theo bộ ISED Chủ

đề

Chủ đề

nhánh

Mã ký hiệu

Chỉ tiêu năng lượng Thành phần

từ sản xuất năng lượng và

sử dụng tính theo đầu người

và đơn vị NDP

Thải GHG từ sản xuất năng lượng và sử dụng

ENV2 Tập trung chất gây ô nhiễm

không khí tại các đô thị

Tập trung chất gây ô nhiễm không khí ENV3 Phát thải ô nhiễm không khí

thoát ra từ hệ thống năng lượng

Phát thải ô nhiễm không khí

Lượng chất ô nhiễm trong nguồn nước chảy ra

Rừng ENV6 Tỷ lệ phá rừng làm năng

lượng

Diện tích rừng ở 2 thời điểm

Sử dụng sinh khối Rác thải

sinh ra và

quản lý

ENV7 Tỷ lệ rác thải răn sinh ra

trên đơn vị năng lượng được sản xuất

Tổng số rác thải răn Năng lượng được sản xuất

ENV8 Tỷ lệ rác thải răn qua xử lý

so với tổng số rác thải răn

Số lượng rác thải rắn

đã qua xử lý

Trang 28

Chủ

đề Chủ đề nhánh

Mã ký hiệu Chỉ tiêu năng lượng

Thành phần

ENV9 Tỷ lệ chât thải phóng xạ

trên đơn vị năng lượng được sản xuât

Tổng số lượng chất thải phóng xạ

Tổng năng lượng sản xuất

ENV10 Tỷ lệ chât thải phóng xạ chờ

xử lý so với tổng số chât thải phóng xạ được sinh ra

Số lượng chât thải phóng xạ chờ xử lý Tổng khối lượng chât thải phóng xạ

Từ bảng 1.1 cho thấy các chỉ tiêu áp dụng cho năng lượng, để áp dụng cho hoạt động khai thác than, học viên đề xuất các tiêu chí để đánh giá PTBV cho môi trường dựa trên bộ chỉ số ISED nêu trên như sau:

Bảng 1.2 Đề xuất các chỉ tiêu PTBV về môi trường trong hoạt động

- Tỷ lệ giảm lượng nước thải

- Tỷ lệ giảm khối lượng chất thải rắn

Mức độ giảm thiểu khối lượng chất thải phát sinh của quá trình khai thác, chế biến than

Tỷ lệ giảm càng nhiều càng tốt đối với môi trường

Mức độ tái chế, tái

sử dụng và tăng trưởng hàng năm

Phản ảnh mức độ thực hiện sản xuất sạch hơn

Tỷ lệ giảm càng nhiều càng tốt đối với môi trường

- Biến đổi các thông số môi trường nước thải đạt tiêu chuẩn

Mức độ cải thiện hiện trạng môi trường thông qua kết quả hiện trạng môi trường không khí, nước

Càng nhiều thông số môi trường đạt tiêu chuẩn môi trường trên tổng số các thông số môi trường càng tốt

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Trang 29

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Ngành công nghiệp khai khoáng bắt đầu đề cập đến PTBV vào khoảng năm 1996 tại các cuộc họp của Hội đồng Kim loại và Môi trường Quốc tế (ICME)-một tổ chức gồm 30 công ty khai khoáng quốc tế có trụ sở đóng tại Ottawa, Canada Năm 2000, một Hiến chương Phát triển Bền vững cho ngành khai khoáng được soạn thảo và được Hội đồng ICME thông qua Hiến chương này là một công cụ thông tin xã hội, nhưng lại không đủ để làm thay đổi những quan điểm chống đối trong ngành công nghiệp

Vào năm 1999, ICME quyết định tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ cởi

mở và sẵn sàng lắng nghe, và thành lập ra Sáng kiến Khai khoáng Toàn cầu

Họ yêu cầu Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển bền vững (WBCSD) có trụ sở ở Geneva xây dựng Hướng dẫn tổng thể và lập ra một nhóm các nhà tài trợ Thông qua WBCSD, các giám đốc ký hợp đồng với Viện Phát triển và Môi trường Quốc tế đóng ở London tiến hành một dự án PTBV đối với ngành khai thác khoáng sản với 4 mục tiêu lớn là:

- Đánh giá lĩnh vực khai thác khoáng sản toàn cầu với tinh thần chuyển đổi sang PTBV;

- Vạch ra các chiến lược để đảm bảo rằng toàn bộ khâu cung cấp khoáng sản cần gắn liền với PTBV;

- Kiến nghị những giải pháp lớn nhằm hoàn thiện hệ thống khai thác khoáng sản

Tiếp sau đó, các tổ chức tài chính quốc tế (như WB, IFC, OECD…), khu vực và các quốc gia đã hoàn thiện các cơ chế-tiêu chuẩn, hướng dẫn thực hiện tính bền vững trong khai thác khoáng sản Và các công ty khai khoáng cũng lập ra những qui định, hướng dẫn phù hợp với chuẩn mực quốc

tế Khai thác bền vững gồm có 6 vấn đề chủ yếu:

- Quản lý chất thải (đất đá thải, quặng đuôi, các chất thải độc hại);

Trang 30

- Quản lý năng lượng;

- Trao đổi thông tin khủng hoảng;

- Phối hợp với các tổ chức, cá nhân bên ngoài khu mỏ;

- Quan hệ với người dân bản địa; và

- Đa dạng sinh học

Để thực hiện những vấn đề trên, người ta xây dựng nên những công cụ như là hệ thống các biện pháp thực hiện, hệ thống kiểm tra, báo cáo thực hiện, hướng dẫn báo cáo, biên bản đánh giá và hướng dẫn kỹ thuật

Một số ví dụ về thực hiện khai khoáng bền vững ở các nước trên thế giới

Công ty Than Illawarra giảm sử dụng nước lớn nhất ở Sydney

Công ty Than Illawarra của BHP Billiton khai thác hầm lò tại 3 mỏ ở vùng Illawarra và Wollondilly, cách Sydney gần 80 km về phía Nam Sydney thiếu nước và người dân ở đây phải tuân theo những qui định tiết kiệm sử dụng nước Mỏ Appin sử dụng một lượng nước đang kể, khoảng 1.600 m3 mỗi ngày Công ty phải tìm cách giảm thiểu sử dụng nước Nằm trong chiến lược giảm tiêu thụ nước, một nhà máy lọc thấm ngược trị giá 6 triệu AUD được xây dựng để xử lý và tái sử dụng 2300 m3 nước mỗi ngày

Trong tháng 11, 2007, Công ty Cấp nước Sydney công nhận thành quả này đã giảm được 660 m3 nước sạch mỗi ngày và cấp cho Công ty IIlawarra giải thưởng giảm sử dụng khối lượng nước lớn nhất

Công ty Iilawarra có ba mỏ là Appin, Appin/West, West Cliff và Dendrobium – và hai mỏ chuẩn bị đi vào khai thác-West Cliff và Port Kembla Công ty sử dụng 1.300 lao động trực tiếp để khai thác than mỡ chất lượng cao

Mở mỏ trong năm 1962, mỏ Appin Colliery là một trong những mỏ đầu tiên ở Úc áp dụng công nghệ khai thác cột dài theo phương ở độ sâu 550

m, khai thác than mỡ cứng, chất lượng cao từ mạch than Bulli Dập bụi và làm mát là những khâu sử dụng nhiều nước nhất

Trang 31

Bằng cách chuyển hoá nước ngầm nhiễm muối nhẹ để sử dụng lại tại chỗ và cấp cho các mỏ gần kề, nhà máy có thể giảm lượng nước ngọt lấy từ Công ty cấp nước Sydney tới 2300 m3 nước mỗi ngày Hiện tại nhà máy vận hành với công suất 1.450-1.800 m3/ngày

Nhà máy cũng nâng cao chất lượng và giảm độ mặn của nước trong

mỏ và cho chảy vào sông Nepean Nước muối hiện tại được chuyển đến một điểm xả, tuy nhiên nhà máy có kế hoạch làm muối là sản phẩm phụ của mình để bán

Nhà máy lọc nước hiện đại của Công ty là nhà máy đầu tiên loại này ở IIlawarra, áp dụng công nghệ và chu trình hiện đại đem lại lợi ích lâu dài cho khai thác mỏ của công ty, cho cộng đồng và môi trường xung quanh

Công ty sẽ tiếp tục tăng lượng nước tái chế và thu hồi lại, cũng sẽ tìm kiếm những công nghệ để tiết kiệm nước ở mỏ than này

Tái sử dụng đất để có thu nhập, bảo vệ môi trường cho cộng đồng Guinea

Trồng cây hạt điều tại mỏ khai thác cát trước đây đã đem lại thu nhập bền vững cho những người phụ nữ của một cộng đồng Guinea hẻo lánh, đồng thời cũng BVMT cho cả đất đai và người dân ở đây Cuối năm 2005, Quỹ Alcoa cung cấp vốn cho Hội Phụ nữ để khôi phục 10 ha mỏ cát Mỏ cát được khai thác để lấy cát xây nhà và các công trình xây dựng khác Khai thác mỏ cát đã phá huỷ rừng ở đây và gây ra sự xói mòn đất, khai thác lộ thiên cũng rất nguy hiểm cho cả người lẫn súc vật Nhiều tai nạn và tử vong

đã xảy ra bởi những hố, rãnh khai thác này

Trồng cây không chỉ khôi phục hệ thực vật và bảo vệ môi trường mà còn đem lại thu nhập bền vững từ việc bán hạt điều Phụ nữ của cộng đồng ở Bintimodia chịu trách nhiệm chăm sóc cây và thu hoạch hạt mỗi năm Thu nhập được phân phối cho các thành viên tham gia

Alcoa tiếp tục giữ vai trò đi đầu về phục hồi đất đai ở Úc

Trang 32

Alcoa được coi là công ty đi đầu trong phục hồi vùng mỏ tại bang Tây

Úc và bang Victoria Tại Tây Úc, Alcoa đã phục hồi 430,2 ha đất sau khi khai thác trong năm 2005 Mục tiêu chủ yếu của chương trình phục hồi là gây dựng lại hệ sinh thái rừng bạch đàn vốn có ở đây trước khi khai thác mỏ Một cấu thành cơ bản của mục tiêu này là phục hồi 100 % độ phong phú thực vật của rừng bạch đàn

Khu vực phục hồi lại được kiểm tra sau 15 tháng để so sánh với độ phong phú thực vật với các khu vực không có khai thác gần đó Độ phong phú này thay đổi từng năm bởi điều kiện của các mùa trong năm làm ảnh hưởng đến mức độ gieo hạt trong lớp đất bề mặt và tỷ lệ mọc mầm Kiểm tra cho thấy đạt được 96 % độ phong phú thực vật trong khu vực khôi phục

Khôi phục hệ động vật là một yếu tố quan trọng khác trong phục hồi

hệ sinh thái Kiểm tra hệ động vật tại khu vực phục hồi cho thấy 100 % loài

có vú, 90 % loài chim và 78 % loài bò sát đã đến định cư tại khu vực này Alcoa cũng làm gia tăng tính đa dạng động vật bằng cách hỗ trợ và tiến hành nghiên cứu trong khu vực này

Một yếu tố quan trọng khác đã thành công trong chương trình phục hồi vùng đất mỏ là liên kết với kế hoạch khai thác Công việc khôi phục được giám đốc sản xuất điều hành, và mục tiêu, là độ phong phú các hệ động thực vật được đưa vào mục tiêu sản xuất

Từ khi bắt đầu khai thác trong năm 1963, Alcoa đã khôi phục được 12.594 ha ở Tây Úc và thu dọn 15.222 ha khác Trong năm 2005, Alcoa khôi phục 5,6 ha tại Anglesea Kiểm tra sau 18 tháng khôi phục thấy độ phong phú thực vật cao hơn so với khu vực hoang không khai thác gần đấy

Chương trình khôi phục Anglesea trong năm 2006 tập trung vào khu vực đã được khôi phục lần đầu hơn 20 năm trước, lần này trồng loại cây vốn không có ở đây Khu vực này đã được thu dọn sạch và được khôi phục bằng cách sử dụng những kỹ thuật khôi phục mới, bao gồm chuyển đổi trực tiếp lớp đất bề mặt để kích thích sự nẩy mầm trở lại của thực vật bản địa

Trang 33

Trong năm 2005, Chính quyền bang Victoria công nhận thành công của chương trình khôi phục mỏ Anglesea, trao phần thưởng Strzelecki cho thành công PTBV này Chương trình Tây Úc được Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc và Hiệp hội quốc tế về Khôi phục sinh thái công nhận là một trong những chương trình khôi phục sinh thái tốt nhất trên thế giới

Cam kết với cộng đồng địa phương ở tỉnh Mondulkiri, Campuchia Trong tháng 9/2006, BHP Billiton và Mitsubishi Corporation ký một thoả thuận thăm dò khoáng sản với Chính phủ Hoàng gia Campuchia Thoả thuận cho phép thăm dò bauxite và đánh giá tiềm năng để xây dựng một nhà máy luyện alumina ở nước này

Cam kết trách nhiệm chủ yếu của nhà đầu tư là hỗ trợ cộng đồng địa phương về y tế, an toàn và môi trường.Cam kết này được thực hiện theo chuẩn mực quốc tế, kết hợp với các luật pháp và tiêu chuẩn quốc gia và quốc

tế Thực sự thì ở đất nước này còn thiếu nhiều các quy định luật pháp hoặc những qui định đã có còn thiếu tính chặt chẽ

Trước khi tiến hành thăm dò, một đánh giá tác động xã hội và môi trường được thực hiện có tham khảo ý kiến của cộng đồng địa phương, chính quyền và các tổ chức phi chính phủ Bản nghiên cứu tập trung vào các nội dung y tế, an toàn và môi trường mà cộng đồng đang đối mặt ở tỉnh này

và BHP Billiton có thể làm tốt nhất như thế nào trong khi hạn chế được các tác động Xác định được những thách thức như sau:

- Giảm thiểu rủi ro do bom mìn của chiến tranh để lại Các nhóm chuyên gia tháo gỡ mìn phải, giáo dục và nâng cao nhận thức về nguy hiểm

do nổ bom mìn cho cộng đồng;

- Tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế địa phương đối với cộng đồng nghèo, coi đây là một phần của chương trình bền vững nhằm đáp ứng yêu cầu y tế;

- Hỗ trợ các tổ chức phi chính phủ trong việc thực hiện chương trình giáo dục và huấn luyện về y tế, quản lý tài nguyên và nông nghiệp bền vững;

Trang 34

- Đem lại công ăn việc làm và huấn luyện tay nghề cho dân địa phương

Dự án tiến hành đánh giá tác động môi trường và xã hội, bắt đầu tuyển người địa phương để huấn luyện Phối hợp chặt chẽ với Bộ Năng lượng và

Mỏ (MIME), Bộ này cử các nhà địa chất công tác tại hiện trường và với Trung tâm Khai Mỏ Campuchia (CMAC) nhằm giảm các rủi ro đến mức tối thiểu

Cùng với với cộng đồng triển khai 3 dự án chủ yếu:

- Hỗ trợ tháo gỡ bom mìn để làm giảm rủi ro và tổ chức đào tạo cho cả người ở trong và ngoài khu vực dự án ở tỉnh Mondulkiri Trước đây, người địa phương tìm cách tháo gỡ bom mìn chưa nổ để đưa ra khỏi cộng đồng hoặc bán phế liệu, nghề nguy hiểm này đã dẫn tới những tai nạn nghiêm trọng Tập huấn cảnh giới với bom mìn của CMAC bao gồm loại trừ và tháo

gỡ những bộ phận nguy hiểm đã làm giảm rủi ro và nâng cao tính an toàn cho cộng đồng;

- Hỗ trợ cộng đồng tiếp cận với y tế thông qua giáo dục và phát triển ý thức làm chủ thông qua tổ chức Health Net International giúp nâng cao chăm sóc sức khoẻ đối với người dân, nâng cấp các trạm y tế vùng sâu, đào tạo đội ngũ y tế địa phương, cung cấp các thiết bị để tiếp cận và làm việc với các bộ tộc thiểu số vùng sâu;

Bộ Giáo dục Campuchia chọn 139 trẻ em kém phát triển và mồ côi cho tham gia một dự án giáo dục, dự án này nhằm hướng cho các em tới một tương lai trở thành những sinh viên của gia đình và cộng đồng ở tỉnh Monkulkiri;

- Với sự hỗ trợ tài chính cho Bunong Cultural Center, giúp đỡ các sinh viên, giáo viên, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương tiếp cận với một phòng máy tính, internet và thiết bị phục vụ hội họp và thiết bị cho lớp học Các sinh viên học tại trường công nhưng sống tại ký túc xá của Village Focus International Dormitory Nhà đầu tư giúp lương thực, tiện nghi, máy tính xách tay, nối mạng internet và thuê giáo viên cho các khoá học riêng

Trang 35

Thông qua Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch làm việc ở Campuchia để nâng cao dân trí, cung cấp nước sạch cho cộng đồng Tập trung cung cấp, thiết bị lọc nước an toàn và huấn luyện và cung cấp lọc nước cho các gia đình và thông qua mạng lưới Hội Chữ thập đỏ để đào tạo tình nguyện viên, cùng tổ chức đào tạo y tế

Tóm tắt Chương 1

Như vậy, PTBV là xu thế phát triển tất yếu của toàn thế giới và các quốc gia Phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa phá triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo vệ tài nguyên và thân thiện với môi trường Ở Việt Nam, PTBV đã được cụ thể hóa bằng quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV quốc gia với

44 chỉ tiêu, sau đó ban hành bộ chỉ tiêu giám sát PTBV giai đoạn 2011 -

2020 gồm 30 chỉ tiêu

Phát triển bền vững về môi trường trong hoạt động khai thác than ở Việt Nam đã được quan tâm về mặt chủ trương, chính sách nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh liên quan Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài là cần thiết, làm cơ sở các các nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực PTBV môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam chưa ban hành về bộ chỉ tiêu PTBV cho riêng ngành than, do đó, học viên đã đề xuất sử dụng bộ tiêu chí PTBV môi trường của bộ chỉ tiêu PTBV năng lượng ISED, gồm 04 chủ đề chính (không khí, đất, nước) với 10 chỉ tiêu thành phần liên quan, từ đó đề xuất các chỉ tiêu đánh giá PTBV về môi trường trong hoạt động khai thác than (chi tiết bảng 1.2)

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG

TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN Ở TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó

có mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và phát triển Cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho cả vùng Bắc Bộ Tỉnh có toạ độ địa lý trải dài từ 106026’ đến

108031’ độ kinh Đông và 20040’ đến 21040’ độ vĩ Bắc Bề ngang từ Đông sang Tây, nơi rộng nhất là 195 km; bề dọc từ Bắc xuống Nam khoảng 102

km Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa

Về đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện (trong đó có 01 huyện đảo) với tổng số 186 xã, phường, thị trấn

b) Đặc điểm địa hình

Quảng Ninh là tỉnh miền núi duyên hải với hơn 80% đất đai là đồi núi, hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên biển cũng đều là các quả núi

c) Đặc trưng khí hậu

Quảng Ninh thuộc vùng khí hậu Đông Bắc, do đó có sự thay đổi khác

biệt giữa hai mùa trong năm:

+ Mùa đông từ tháng 11- tháng 3, nhiệt độ trung bình dưới 20oC Do ảnh hưởng của hoàn lưu cực đới, nhiệt độ mùa Đông ở Quảng Ninh khá thấp: nhiệt độ trung bình tháng 1 dưới 17oC, nhiệt độ cực tiểu ở đất liền và hải đảo

có thể xuống thấp đến 5oC, một số nơi nhiệt độ có thể xuống đến 1oC

Trang 37

+ Mùa hè từ tháng 4 - tháng 10, số ngày có nhiệt độ không khí trung bình trên 30oC (thời tiết “oi bức”) xuất hiện nhiều hơn, trung bình tăng 4-6 ngày/năm

d) Đặc trưng mạng lưới thủy văn trên địa bàn tỉnh

Quảng Ninh có mạng lưới sông suối khá dày với 30 sông, suối dài trên

10 km nhưng đa số đều nhỏ, mật độ trung bình 1,0 - 1,9 km/km2, có nơi đến 2,4km/km2 Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là Sông Đá Bạc (chi lưu của hệ thống sông Thái Bình), sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt, trừ sông Cầm, sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên, sông Phố Cũ có dạng lông chim

Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 – 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân bố dọc theo bờ biển Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ,

độ dốc lớn Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần

2.1.2 Tình hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh

Giai đoạn 2011-2015, điểm nổi bật của tình hình kinh tế-xã hội Quảng Ninh là đã giữ vững tăng trưởng kinh tế ở mức cao, bình quân 5 năm đạt 9,2%/năm; năng lực sản xuất và quy mô kinh tế ngày càng tăng; GDP (tổng sản phẩm nội địa) năm 2015 ước tính đạt khoảng 100.300 tỷ đồng, gấp 2 lần

so với năm 2010, GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh) bình quân đầu người năm 2015 ước tính khoảng 3.901 USD gấp hơn 1,5 lần so với năm

2010 (2.560 USD) Thu ngân sách của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 tăng gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2006-2010, đứng trong nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thu ngân sách [20]

Trang 38

Hình 2.1: So sánh GRDP bình quân đầu người giai đoạn 2011-1015 tại tỉnh

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2016), Báo cáo tóm tắt tổng hợp tình

hình phát triển KT - XH tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 - 2015 [20]

Đặc biệt, giai đoạn 2011-1015, Quảng Ninh đã có những bước tiến đáng kể trong phát triển KT - XH, bước đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng từ “nâu” sang “xanh”, thoát khỏi sự phụ thuộc vào ngành khai thác than, ưu tiên tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp phi khai khoáng, đồng thời đảm bảo hoạt động khai thác than được sạch hơn và bền vững hơn Điều này thể hiện rõ nét trong tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành: Năm 2011, khai thác than chiếm 24% tổng GDP toàn tỉnh, đến năm

2014 chỉ còn 17% GDP Trong khi đó, GDP của ngành dịch vụ tăng từ 34% lên 44,2%

2.2 Hiện trạng khai thác than tại Quảng Ninh

Trên địa bàn tỉnh hiện đã có 80 khu vực được cấp phép khai thác than,

110 khu vực được cấp phép khai thác khoáng sản ngoài than như khoáng sản làm VLXD, nước khoáng,… Về đóng góp trong GDP, trong năm 2011, khai thác than chiếm 24% tổng GDP toàn tỉnh, nhưng đến năm 2014 chỉ còn 17%

Trang 39

GDP Lao động trong ngành than tại Quảng Ninh hiện nay vào khoảng 110 ngàn lao động, chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh

Đối với khai thác than, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 30 mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc (Đông Bắc) đang hoạt động với sản lượng than nguyên khai khai thác năm 2014 đạt khoảng 42 triệu tấn, khối lượng đất bóc 207 triệu tấn Trong đó, độ sâu khai thác mỏ Cọc Sáu (Cẩm Phả) hiện tại đã xuống mức -300m so với mặt nước biển [20]

a) Khai thác lộ thiên

Hiện nay, Quảng Ninh có 5 mỏ lộ thiên lớn với công suất khai thác trên dưới 2 triệu tấn than nguyên khai/ năm( Hà Tu, Núi Béo, Cọc Sáu, Cao Sơn và Đèo Nai); 15 mỏ lộ thiên vừa và các công trường khai thác lộ thiên do các công ty khai thác hầm lò quản lý với công xuất năm từ 100.000-700.000 tấn than nguyên khai Ngoài ra, còn có một số điểm lộ vỉa và khai thác nhỏ với sản lượng khai thác hàng năm dưới 100000 tấn than nguyên khai

Hầu hết các mỏ lộ thiên khai thông bằng hệ thông hào mở vỉa bám vách vỉa than Thiết bị đào hào là máy xúc thủy lực gàu ngược kết hợp với máy xúc EKG Hầu hết các mỏ lộ thiên đều áp dụng hệ thống khai thác xuống sâu dọc một hoặc hai bờ công tác, đất đá chủ yếu được đổ ra bãi thải ngoài Trong những năm gần đây đã dựa vào hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng ở hầu hết các mỏ lộ thiên để tăng độ dốc bờ công tác lên 2-27 độ

Hiện nay, các mỏ lộ thiên đã được trang bị đồng bộ thiết bị khoan, xúc bốc, vận tải trung bình tiên tiến

Ở các mỏ lộ thiên lớn như: Hà Tu, Núi Béo, Cọc Sáu, Cao Sơn và Đèo Nai phục vụ dây chuyền bốc đất đá là máy khoan CБЩ- 250МИ, khoan thủy lực với đường kính 110-200mm, máy xúc kéo cáp chạy điện EKG có dung tích gàu 4,6-8 m3, máy xúc thủy lực có dung tích gàu 3,5-6,7m3, ô tô tự đổ có tải trong từ 30-58 tấn gồm các chủng loại: Belaz, Komatsu, Caterpillar

Trang 40

Ở các mỏ và khai trường khai thác lộ thiên vùa và nhỏ, phục vụ cho công tác bốc đất đá và khai thác sử dụng đồng bộ thiết bị vừa và nhỏ gồm: Máy khoan dập thủy lực, đường kính lỗ khoan 75-120mm, máy xúc thủy lực gầu ngược dung tích 1,5-2,0 m3 cùng ô tô tải trọng 12-15 tấn

b) Khai thác hầm lò:

Hiện nay, cả nước có trên 30 mỏ than hầm lò đang hoạt động Trong

đó, có 8 mỏ có trữ lượng lớn, có công nghệ và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, với sản lượng tương đối lớn: 900-1300 ngàn tấn/năm Các mỏ còn lại có sản lượng khai thác dưới 500 ngàn tấn/năm Sơ đồ mở vỉa trên mức thông thủy là lò bằng xuyên vỉa, dưới mực thông thủy tự nhiên là giếng nghiêng kết hợp với lò bằng và chỉ có duy nhất Công ty than Mông Dương là mở vỉa băng giếng đứng

Hệ thống khai thác phổ biến nhất là cột dài theo phương.Chiều dài lò chợ khi thai thác chống cột thủy lực đơn hoặc giá thủy lực di động là 100-150m, sản lò chợ là 100-150 ngàn tấn/năm; khi chống gỗ là 60-100m, sản lượng 50-60 ngàn tấn/năm Ngoài ra hiện đang sử dụng một số hệ thống khai thác như: Chia lớp ngang nghiêng, khai thác dưới dàn mềm đối với các vỉa dốc trên 50°, song những nghệ này chưa hoàn thiện, năng xuất thấp Hiện nay, toàn vùng Quảng Ninh có một lò chợ cơ giới hóa toàn bộ, bước đầu cho kết quả tốt, sản lượng đạt 200 ngàn tấn/năm [20]

2.3 Hiện trạng hoạt động khai thác than gắn với phát triển bền vững về môi trường tại tỉnh Quảng Ninh

2.3.1 Tình hình xây dựng và thực hiện chính sách phát triển bền vững về môi trường

Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng và thực hiện được các vấn đề liên quan tới PTBV về môi trường đối với hoạt động khai thác

khoáng sản nói chung và hoạt động khai thác than nói riêng, cụ thể như sau:

Ngày đăng: 15/05/2017, 15:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Công thương (2015), Thuyết minh Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuyết minh Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2015
2. Chính phủ (2012), “Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020” theo Quyết định số 432/2012/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
3. Đặng Văn Cương (2014), Pháp luật về Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam, Luật văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Cương
Năm: 2014
4. Nguyễn Thế Chinh, Kinh nghiệm quốc tế trong công tác bảo vệ tài nguyên và Môi trường, Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường, www.isponre.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế trong công tác bảo vệ tài nguyên và Môi trường
5. Nguyễn Thế Chinh (chủ biên) (2003), Kinh tế và Quản lý Môi trường, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và Quản lý Môi trường
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh (chủ biên)
Nhà XB: Nhà Xuất bản Thống kê
Năm: 2003
7. Lê Minh Chuẩn (2015), 6 Giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: 6 Giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
Tác giả: Lê Minh Chuẩn
Năm: 2015
8. Hồ Sỹ Giao, Bùi Xuân Nam, Mai Thế Toản (2010), Bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ lộ thiên, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong khai thác mỏ lộ thiên
Tác giả: Hồ Sỹ Giao, Bùi Xuân Nam, Mai Thế Toản
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa
Năm: 2010
9. Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2003), Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
10. Nguyễn Đình Hòa (2016), Khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam, Luật văn tiến sĩ kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác khoáng sản trong chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hòa
Năm: 2016
11. Nguyễn Quốc Khánh (2005), Đánh giá hiện trạng môi trường trong và sau hoạt động khai khoáng, báo cáo Nhóm hỗ trợ Quốc tế về Tài nguyên và môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng môi trường trong và sau hoạt động khai khoáng
Tác giả: Nguyễn Quốc Khánh
Năm: 2005
13. Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Hạnh (2014), Đóng cửa mỏ và hoàn phục môi trường, Hội Tuyển khoáng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng cửa mỏ và hoàn phục môi trường
Tác giả: Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 2014
14. Đinh Văn Sơn (2011),“ Nghiên cứu PTBV ngành dầu khí Việt Nam” Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu PTBV ngành dầu khí Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Sơn
Năm: 2011
15. Nguyễn Danh Sơn, “Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
17. Đặng Trung Thuận và nnk (2012), Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản trong bối cảnh PTBV ở Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản trong bối cảnh PTBV ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Trung Thuận và nnk
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2012
18. Lê Danh Vĩnh (2012), Chính sách thương mại nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020, Nhà xuất bản Bộ Công thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thương mại nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011- 2020
Tác giả: Lê Danh Vĩnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Bộ Công thương
Năm: 2012
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2014), Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Quyết định số 4133/QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Năm: 2014
21. UNCSD (2001), “Bộ chỉ thị phát triển bền vững của Ủy ban phát triển Liên hợp quốc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chỉ thị phát triển bền vững của Ủy ban phát triển Liên hợp quốc
Tác giả: UNCSD
Năm: 2001
22. Viện nghiên cứu Mỏ và luyện kim (2004), Báo cáo tổng kết đề tài “điều tra khảo sát hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi trường của các mỏ khai thác khoáng sản kim loại ở Việt Nam, Bộ Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài “điều tra khảo sát hiện trạng và nhu cầu hoàn thổ phục hồi môi trường của các mỏ khai thác khoáng sản kim loại ở Việt Nam
Tác giả: Viện nghiên cứu Mỏ và luyện kim
Năm: 2004
24. Đặng Thị Hải Yến (2010), Cơ hội tiếp cận sản xuất sạch hơn trong hoạt động khai thác mỏ lộ thiên. Tạp chí Công Nghiệp Mỏ, số 1/2010.Tr. 34-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Thị Hải Yến (2010), "Cơ hội tiếp cận sản xuất sạch hơn trong hoạt động khai thác mỏ lộ thiên
Tác giả: Đặng Thị Hải Yến
Năm: 2010
25. Bary Dalai, Clayton & Barry Sadler (2005), Strategic Environmental Assessment, A sourcebook and Reference Guide to International Experience, London “Earthscan” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Environmental Assessment," A sourcebook and Reference Guide to International Experience, London “Earthscan
Tác giả: Bary Dalai, Clayton & Barry Sadler
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w