Chính vì trên tình hình thực trạng thực tế như vậy, nên tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Vi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THÁI THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VIÊN CHỨC
TỪ THỰC TIỄN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
Hà Nội, 2017
Trang 21
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luân văn thạc sỹ họp tại: Học viện Khoa học xã hội giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 32
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Năm 1998, Nhà nước ban hành pháp lệnh cán bộ, công chức, theo đó những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp cũng nằm trong nội hàm
“cán bộ, công chức” và sự điều chính của Pháp lệnh cùng với văn bản hướng dẫn thực hiện
Sau thời gian thực hiện, đến năm 2003, Chính phủ đã sửa đổi , bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức Trong đó có một nội dung rất quan trọng là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội với cán bộ, công chức làm việc trong các đợn vị sự nghiệp
Từ năm 2003, Chính phủ đã quy định cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp được gọi chung là viên chức Cùng với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, hệ thống văn bản chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cán bộ, công chức cũng được nghiên cứu trình Chính phủ ban hành thay thế cho các văn bản được ban hành từ năm 1998: Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định số 212/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 116/2004/NĐ-CP” [8,tr4]
Đến năm 2008, Chính phủ ban hành luật cán bộ, công chức; Nghị định số06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức; Thông tư số 08/2011/TT-BNV hướng đẫn một số điều của nghị định số 06/2010/NĐ-CP; Luật cán bộ, công chức đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, ban hành loạt chính sách đối với cán bộ, công chức Trong khi đó vị trí pháp lý của viên chức nói chung và viên chức khoa học nói riêng vẫn là vấn đề bỏ ngỏ, chế độ chính sách đối với viên chức vẫn thực hiện theo quy định đã lạc hậu
Ngày 01/01/2012, Luật Viên chức chính thức có hiệu lực là một dấu mốc quan trọng, mang một ý nghĩa to lớn khẳng định vị trí pháp lý, quyền
và nghĩa vụ của viên chức; tạo cơ sở cho việc ban hành chính sách sử dụng, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ đãi ngộ viên chức nói chung, viên chức ngành khoa học và công nghệ nói riêng
Trang 43
Trong những năm gần đây, chính sách phát triển viên chức khoa học
ở nước ta đã từng bước được hoàn thiện và áp dụng vào thực tế Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề chưa phù hợp và chưa đem lại hiệu quả như mong muốn
Chính vì trên tình hình thực trạng thực tế như vậy, nên tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”, góp phần ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở nước ta nhằm nâng cao hiệu quả việc thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học góp phần mục tiêu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như đường lối của Đảng đã đề ra
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài
“Thực hiện Chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam” cho thấy đây là vấn đề mới mẻ, một số nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp
Chuyên đề nghiên cứu khoa học “Đánh giá tình hình thực hiện phân cấp tuyển dụng viên chức ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay” của TS Trần Nghị, 2015, đã phân tích, làm rõ thực trạng phân cấp tuyển dụng viên chức tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ đó đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện việc phân cấp tuyển dụng viên chức tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay
Trang 54
Luận án Tiến sĩ: “Thể chế quản lý viên chức Khoa học và công nghệ
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Lê Thị Thu Hằng 2014, đã đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện thể chế quản lý viên chức Khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay
Bài viết: “Chính sách phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ” của ThS Nguyễn Thúy Hà, 2013, trên cổng thông tin điện tử viện nghiên cứu lập pháp đã đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ của nước ta, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế;
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu là tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình nghiên cứu biên soạn luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa và phân tích làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản
và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam
Trang 65
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm
2013 ( năm Luật Khoa học và Công nghệ bắt đầu được ban hành) đến nay Luận văn cũng có thể đề cập đến những giai đoạn trước trong chừng mực làm rõ giai đoạn này
- Về mặt không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Luận văn cũng sẽ có đề cập đến ở một số
cơ quan nghiên cứu khoa học khác trong chừng mực để so sánh làm bật lên đối tượng nghiên cứu chính là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thực hiện chính sách phát triển viên chức đối với các đối tượng như theo luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động Khoa học
và công nghệ, chức danh nghiên cứu khoa học (sau đây gọi tắt là chức danh khoa học) gồm: trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu viên, nghiên cứu viên chính, nghiên cứu viên cao cấp; chức danh công nghệ gồm: Kỹ thuật viên và tương đương, kỹ sư và tương đương, kỹ sư chính và tương đương, kỹ sư cao cấp và tương đương Trong khuân khổ nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ đề cập đến chính sách phát triển viên chức
Luận văn tập trung đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về vấn đề phát triển viên chức
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp – diễn dịch, thống kê xem xét các văn bản kết hợp gắn lý luận với thực tiễn để làm rõ các nội dung luận
Trang 76
văn cũng như chọn lọc những kinh nghiệm thực tiễn sát với những vấn đề cần giải quyết của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp trên cả lý luận
và thực tiễn:
- Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề về thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, góp phần bổ sung hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công nói chung, thực hiện chính sách phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng
- Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách, luận văn sẽ chỉ ra được những bất cập, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viên Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; từ đó đề ra các yêu cầu, giải pháp cơ bản nhằm tăng cường việc thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoc học và Công nghệ Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về chính sách phát triển viên chức
Chương II: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển viên chức tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chương III: Hoàn thiện chính sách phát triển viên chức
Trang 87
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂNVIÊN CHỨC 1.1.Khái niệm chính sách, chính sách công
Chính sách công là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến Hiện nay có nhiều các khái niệm về chính sách công trên thế giới vì các hình thái nhà nước, hệ thồng chính trị khác nhau
Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp, nhắm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó Do đó, khái niệm chính sách được hiểu như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa ” (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2015)
Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công như vậy: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu
cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” (Đỗ Phú hải, 2012)
1.2.Khái niệm phát triển
“Phát triển là một tiến trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ” (GS Bùi Đình Thanh,2015)
Trang 98
1.3.Khái niệm Viên chức, viên chức khoa học
Trước khi Luật viên chức năm 2010 được ban hành, khái niệm về viên chức chưa được phân biệt một cách rõ ràng với cán bộ, công chức (CBCC) Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp Nhà nước quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu
sự nghiệp theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ vào luật viên chức số 58/2010/QH12 và Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, có thể quan niệm: Viên chức khoa học là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, giữ các chức danh nghiên cứu khoa học tại các đơn vị sự nghiệp Khoa học và công nghệ công lập Viên chức khoa học được tuyển dụng và quản lý theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị này theo quy định của pháp luật
1.4.Khái niệm chính sách phát triển viên chức
Từ quan niệm chính sách công như trên, có thế định nghĩa chính sách phát triển viên chức khoa học như sau: Chính sách phát triển viên chức khoa học là tập hợp các quyết định chính trị của nhà nước có liên quan đến đội ngũ viên chức khoa học với các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học, tạo môi trường và động lực để thu hút thúc đẩy đội ngũ viên chức khoa học ở cả trong và ngoài nước phát huy tốt nhất khả năng nghiên cứu, cống hiến hết mình cho việc nghiên cứu khoa học góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.5 Khái niệm thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học
Thực hiện phát triển chính sách viên chức khoa học là việc triển khai những quan điểm, quyết sách của Nhà nước vào thực tiễn nhắm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức khoa học; trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể cũng như trình độ, năng lực thực tế của đội ngũ viên chức khoa học tìm ra những công cụ, giải pháp phù hợp nhất nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Đối
Trang 109
tượng thực hiện chính sách phát triển viên chức khoa học là các cơ quan quản
lý Nhà nước về khoa học , các cơ quan, đơn vị, tổ chức xã hội có liên quan, các cán bộ, công chức thực thi chính sách và đội ngũ viên chức khoa học
1.6 Nội dung của chính sách phát triển viên chức
1.6.1 Tiền lương và phụ cấp
- Vấn đề tiền lương
Thực hiện kết luận số 23-KL/TW, ngày 29/5/2012 của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ V, Khóa XI về một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm
2020 Chính phủ đã không ngừng xem xét, điều chỉnh mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, sửa đổi, bổ sung chế độ phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp đặc thù theo ngành nhằm từng bước cải thiện tiền lương nói chung và nâng cao đời sống vật chất cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình cải cách tiền lương ở nước
Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu thực tế công việc,
vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Tuyển dụng phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, công bằng, khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo nguyên tắc cạnh tranh, tuyển đúng người, đúng việc, ưu tiên người có tài, người dân tộc thiểu số và người
có công với cách mạng
Trang 1110
1.6.3 Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo, bồi dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình
độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả công việc của viên chức Trên thực tế hiện nay, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập nói chung cũng đã và đang quan tâm nhiều đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức, tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa cao, đào tạo, bồi dưỡng nhiều khi lãng phí, không phù hợp với thực tiễn công việc
1.6.4 Vấn đề thu hút, trọng dụng, đãi ngộ viên chức, nhà khoa học trẻ
Thực hiện Kết luận số 86-KL/TW ngày 24/01/2014 của Bộ Chính trị
về chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán
bộ khoa học trẻ Nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng được xét tuyển làm công chức, viên chức, được phát huy tài năng và trí tuệ, được sắp xếp, bố trí công việc phù hợp, được bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại hiện tượng một số cơ quan, đơn vị tuyển dụng còn lúng túng, bị động trong sắp xếp công việc, không mạnh dạn đề bạt, sử dụng cán bộ trẻ mới được tuyển dụng, không phát huy được năng lực, gây lãng phí nguồn lực chất lượng cao
1.7 Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển viên chức
1.7.1 Chủ thể của chính sách phát triển viên chức
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực như: Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
1.7.2 Khách thể của chính sách phát triển viên chức
Năm 1998, Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong cơ chế quản lý, sử dụng cán bộ, công chức và viên chức ở nước ta
1.7.3 Môi trường của chính sách phát triển viên chức
1.7.3.1 Yếu tố trong nước
- Vai trò của công luận và truyền thông
Truyền thông là những phương tiện truyền tải, phản ánh những thông tin hay hiện tượng xã hội ảnh hưởng nhiều đến quá trình xây dựng và thực hiện
Trang 12Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung
và chính sách đối với viên chức nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị,
ý thức chính trị của viên chức, thúc đẩy viên chức hành động theo hướng tích cực, nâng cao chất lượng phục vụ xã hội, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội
- Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật tối cao của một quốc gia, hiến định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Do đó, chính sách phát triển viên chức cũng được xây dựng và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp
- Thể chế chính trị
Thể chế chính trị phản ánh bản chất chế độ xã hội của một quốc gia, quyết định trực tiếp đến đường lối, chính sách, pháp luật của quốc gia đó Thể chế chính trị xã hội của nước ta hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
1.7.3.3 Môi trường thực hiện chính sách phát triển viên chức
Môi trường là yếu tố tác động rất lớn đến chính sách, nếu có một
Trang 1312
môi trường tốt thì chính sách sẽ dễ dàng thực hiện và ngược lại nếu có một môi trường không thuận lợi sẽ làm cho việc thực hiện chính sách gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả
1.7.3.4 Yếu tố năng lực thực thi, điều kiện vật chất, tổ chức quản
lý viên chức
Thực hiện chính sách công là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý trí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong thực hiện chính sách: thực hiện hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Chất lượng hiệu quả thực hiện phụ thuộc nhiều vào năng lực của các chủ thể trong thực hiện chính sách
Đối với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức thực hiện chính sách thì năng lực thực hiện chính sách là : kiến thức, kỹ năng và thái độ của
họ trong thực hiện
Kết luận chương 1
Qua những nội dung của chương 1, ta thấy một cách toàn diện cơ bản
về vai trò của đội ngũ viên chức nói chung, viên chức tại Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nói riêng đối với mục tiêu phát triển của nước ta hiện nay, đồng thời những nội dung của chương 1 cũng cho ta hiểu được thế nào là chính sách phát triển viên chức ở nước ta Qua đó, ta cũng thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với việc phát triển nguồn nhân lực viên chức khoa học nói chung và đối với đội ngũ viên chức Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệViệt Nam nói riêng phù hợp với điều kiện hiện nay cũng như phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức Từ
đó, chúng ta có cơ sở để so sánh, đánh giá việc triển khai thực hiện chính sách này trong các nội dung nghiên cứu ở chương tiếp theo