Tính cấp thiết của đề tài Tại Việt Nam, Phát triển bền vững PTBV luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và ngành kha
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS HOÀNG VĂN THỨC
Phản biện 1: TS Võ Thanh Sơn
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Danh Sơn
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam, Phát triển bền vững (PTBV) luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và ngành khai thác khoáng sản cũng phải tuân thủ theo quan điểm này Tuy nhiên, hoạt động khai than hiện nay ở nước ta đang bộc lộ các hạn chế với một số vấn đề nội bật như: Công nghệ khai thác còn lạc hậu vừa ít tạo ra giá trị gia tăng, vừa gây tổn thất tài nguyên cao và gây nhiều tác động xấu đến môi trường; quá trình khai thác gây ô nhiễm và tác động xấu tới môi trường và cộng đồng dân cư; không tiến hành cải tạo, hoàn thổ môi trường gây ảnh hưởng hưởng nghiêm trọng đến môi trường, mất an toàn và bức xúc cho cộng đồng xung quanh Trước những vấn đề môi trường,
xã hội cấp bách hiện nay đối với hoạt động khai thác than hiện nay,
tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển bền vững môi trường trong hoạt động
khai thác than từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sỹ
phát triển bền vững với mong muốn góp phần hiện thực hóa chủ trương và chiến lược PTBV của Đảng, Nhà nước trong ngành công nghiệp than, hướng tới phát triển một ngành công nghiệp khai thác khoáng sản bền vững nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khái niệm PTBV và các vấn đề liên quan đã được các nhà khoa học đưa vào nghiên cứu ở Việt Nam từ khoảng cuối thập niên
80, đầu thập niên 90 Tuy nhiên, ngành khai thác khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết về hoạt động khai thác than ở Việt Nam gắn với phát triển bền vững, chưa có bộ chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho hoạt động khai thác than Các nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm kiếm
Trang 4giải pháp cho hoạt động khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường (BVMT), chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện những tác động hoạt động khai thác than đến môi trường và phát triển bền vững, để đề ra những giải pháp bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững ngành khai thác than Vì vậy,
đề tài mà cá nhân lựa chọn không trùng với các nghiên cứu đã công
bố mà có sự kế thừa, chọn lọc từ những nghiên cứu đã có để đưa ra những giải pháp toàn diện cho phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác than
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về hoạt động khai thác than ở Việt Nam trên quan điểm PTBV, phân tích thực tiễn công tác BVMT gắn với PTBV trong hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh, từ
đó đề xuất các giải pháp hướng tới PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các khía cạnh về BVMT gắn với PTBV trong hoạt động khai thác than
- Về số liệu: Nghiên cứu trong 05 năm gần đây, giai đoạn 2011-2015
Trang 55 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Tiếp cận tổng hợp các yếu tố giữa các yếu tố về mối quan hệ giữa phát triển bền vững môi trường và hoạt động khai thác than, làm
cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hài hòa giữa mối quan hệ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
trong ngành công nghiệp khai thác khoáng sản than nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn được kết cấu chia thành 3 chương
Trang 6Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển
(WCED) của Liên hợp quốc, PTBV được định nghĩa “là sự phát triển
đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” Định nghĩa này
được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về PTBV Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, đó là: “Phát triển bền vững
là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ
ràng buộc giữa sự đáp ứng nhu cầu hiện tại với khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua lồng ghép quá trình sản xuất với các biện pháp bảo toàn tài nguyên, nâng cao chất lượng môi trường
1.1.2 Các nguyên tắc phát triển bền vững của Liên Hợp
Quốc
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển
do Liên hợp quốc tổ chức vào tháng 6 năm 1992 tại Rio de Janeiro (Braxin) đã nhất trí và tuyên bố 27 nguyên tắc đề cập tới tất cả các lĩnh vực PTBV, bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, đặc biệt quan
Trang 7tâm tới các mục tiêu hòa bình, xóa nghèo đói, công bằng xã hội và
trách nhiệm chung có phân biệt trong vấn đề bảo vệ môi trường
1.1.3 Các tiêu chí phát triển bền vững
Hội đồng PTBV của Liên Hợp Quốc (viết tắt UN CSD) công
bố vào năm 2001 danh mục 58 chỉ tiêu PTBV nhằm hỗ trợ các nước trong việc đo lường bước tiến triển hướng tới PTBV Các chỉ tiêu này bao gồm 15 chủ đề chính, 38 chủ đề nhánh với 58 chỉ tiêu cụ thể ở các lĩnh vực Kinh tế, Xã hội, Môi trường, Thể chế
1.2 Phát triển bền vững về môi trường trong hoạt động khai thác than tại Việt Nam
1.2.1 Quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu giám sát PTBV về môi trường
Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành thực hiện, trong đó xác định các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV với yêu cầu các cấp quản lý (quốc gia, Bộ ngành, địa phương) lồng ghép vào trong quá trình hoạch định chính sách, xây dựng, điều chỉnh và tổ chức thực hiện Chiến lược, Quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH
Về quan điểm, Chiến lược xác định 5 quan điểm: (i) Con
người là trung tâm của PTBV; (ii) PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; (iii) PTBV là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và các cấp quản lý; (iv) Cơ hội bình đẳng cho mọi người trong tiếp cận, tham gia, đóng góp và hưởng lợi trong quá trình phát triển; và (v) Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho PTBV đất nước
Về mục tiêu, Chiến lược xác định mục tiêu tổng quát là
"Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng
xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường (TN&MT), giữ vững ổn
Trang 8định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia"
Về chỉ tiêu giám sát, đánh giá PTBV, Chiến lược xác định
30 chỉ tiêu, chia ra 4 loại, trong đó: Chỉ tiêu tổng họp (3 chỉ tiêu); chỉ tiêu về kinh tế (10 chỉ tiêu); chỉ tiêu về xã hội (10 chỉ tiêu); và chỉ tiêu TN&MT
Về số lượng, loại chỉ tiêu về TN&MT ít hơn (7 chỉ tiêu) so
với 2 loại chỉ tiêu về KT-XH (mỗi loại là 10 chỉ tiêu) Điều này không có nghĩa là TN&MT ít quan trọng hơn mà chủ yếu là loại chỉ tiêu TN&MT cho đến nay còn chưa được định lượng cụ thể cho mục tiêu giám sát và đánh giá
1.2.2 Các ưu tiên và giải pháp PTBV về môi trường
Chiến lược đã xác định 9 định hướng ưu tiên PTBV về TN&MT, gồm: Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; BVMT nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; BVMT biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo vệ
và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp; quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại; bảo tồn và phát triển ĐDSH; giảm thiểu tác động và ứng phó vói biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá PTBV về môi trường trong hoạt động khai thác than
Hiện nay, các chỉ tiêu PTBV về môi trường của cả nước nói chung và của ngành than nói riêng vẫn chưa được quy định và tổ chức thực hiện một cách nghiêm chỉnh theo đúng tinh thần của chiến lược PTBV Trong lĩnh vực khai thác khoáng sản nói chung và khai thác than nói riêng cũng chưa được xây dựng Để xác định các tiêu chí đánh giá PTBV về môi trường trong hoạt động khai thác than,
Trang 9học viên đề xuất sử dụng hệ thống chỉ tiêu PTBV năng lượng của thế giới (Bộ ISED), trong đó sử dụng các chỉ tiêu về môi trường để đánh giá PTBV môi trường trong hoạt động khai thác than do công nghiệp than cũng là một phần của ngành năng lượng
Các chỉ tiêu PTBV về môi trường theo bộ ISED được thiết
kế với 03 chủ đề chính là Khí quyển, đất và nước với 06 chủ đề nhánh là biến đổi khí hậu, chất lượng không khí, chất lượng nước, chất lượng đất, rừng, chất thải Tương ứng với mỗi chủ đề có các chỉ tiêu và thành phần tương ứng
Trên cơ sở bộ ISED và thực tiễn môi trường hoạt động khai thác than, học viên đã đề xuất các chỉ tiêu đánh giá PTBV về môi trường trong hoạt động khai thác than tại Việt Nam dựa trên 03 chủ
đề chính là giảm thiểu phát sinh chất thải; tái chế/thu hồi các chất thải
và mức độ cải thiện chất lượng môi trường Tương ứng với mỗi chủ
đề có các chỉ tiêu, thành phần và cách đánh giá Học viên cũng sẽ áp dụng các chỉ tiêu này để đánh giá PTBV môi trường tại hoạt động khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển bền vững môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản
Ngành công nghiệp khai khoáng bắt đầu đề cập đến phát triển bền vững vào khoảng năm 1996 tại các cuộc họp của Hội đồng Kim loại
và Môi trường Quốc tế (ICME)-một tổ chức gồm 30 công ty khai khoáng quốc tế có trụ sở đóng tại Ottawa, Canada Năm 2000, một Hiến chương Phát triển Bền vững cho ngành khai khoáng được soạn thảo và được Hội đồng ICME thông qua Hiến chương này là một công cụ thông tin xã hội, nhưng lại không đủ để làm thay đổi những quan điểm chống đối trong ngành công nghiệp
Vào năm 1999, ICME quyết định tạo ra một hình ảnh mạnh mẽ cởi mở và sẵn sàng lắng nghe, và thành lập ra Sáng kiến Khai khoáng
Trang 10Toàn cầu Họ yêu cầu Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới về Phát triển Bền vững (WBCSD) có trụ sở ở Geneva xây dựng Hướng dẫn tổng thể và lập
ra một nhóm các nhà tài trợ Thông qua WBCSD, các giám đốc ký hợp đồng với Viện Phát triển và Môi trường Quốc tế đóng ở London tiến hành một dự án phát triển bền vững đối với ngành khai thác khoáng sản với 4 mục tiêu lớn là:
- Đánh giá lĩnh vực khai thác khoáng sản toàn cầu với tinh thần chuyển đổi sang phát triển bền vững;
- Vạch ra các chiến lược để đảm bảo rằng toàn bộ khâu cung cấp khoáng sản cần gắn liền với phát triển bền vững;
- Kiến nghị những giải pháp lớn nhằm hoàn thiện hệ thống khai thác khoáng sản
Tiếp sau đó, các tổ chức tài chính quốc tế (như WB, IFC, OECD…), khu vực và các quốc gia đã hoàn thiện các cơ chế-tiêu chuẩn, hướng dẫn thực hiện tính bền vững trong khai thác khoáng sản Và các công ty khai khoáng cũng lập ra những qui định, hướng dẫn phù hợp với chuẩn mực quốc tế Khai thác bền vững gồm có 6 vấn đề chủ yếu:
- Quản lý chất thải (đất đá thải, quặng đuôi, các chất thải độc hại);
- Quản lý năng lượng;
- Trao đổi thông tin khủng hoảng;
- Phối hợp với các tổ chức, cá nhân bên ngoài khu mỏ;
- Quan hệ với người dân bản địa; và
- Đa dạng sinh học
Để thực hiện những vấn đề trên, người ta xây dựng nên những công cụ như là hệ thống các biện pháp thực hiện, hệ thống kiểm tra, báo cáo thực hiện, hướng dẫn báo cáo, biên bản đánh giá và hướng dẫn kỹ thuật
Như vậy, PTBV là xu thế phát triển tất yếu của toàn thế giới
và các quốc gia Phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa giữa phá
Trang 11triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo vệ tài nguyên và thân thiện với môi trường Ở Việt Nam, PTBV đã được cụ thể hóa bằng quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng
bộ chỉ tiêu PTBV quốc gia với 44 chỉ tiêu, sau đó ban hành bộ chỉ tiêu giám sát PTBV giai đoạn 2011 - 2020 gồm 30 chỉ tiêu
Phát triển bền vững về môi trường trong hoạt động khai thác than ở Việt Nam đã được quan tâm về mặt chủ trương, chính sách nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh liên quan Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài là cần thiết, làm
cơ sở các các nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực PTBV môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam chưa ban hành về bộ chỉ tiêu PTBV cho riêng ngành than, do đó, học viên đã đề xuất sử dụng bộ tiêu chí PTBV môi trường của bộ chỉ tiêu PTBV năng lượng ISED, gồm 04 chủ đề chính (không khí, đất, nước) với 10 chỉ tiêu thành phần liên quan
Trang 12Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN
Ở TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, phát triển KT-XH ở Quảng Ninh
2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
Quảng Ninh nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ, trên đó có mạng lưới đường bộ, đường sắt và cảng biển lớn đang được mở rộng và phát triển Cùng với Hải Phòng, Quảng Ninh giữ vai trò cửa mở lớn ra biển cho cả vùng Bắc Bộ
2.1.2 Tình hình tăng trưởng kinh tế
Giai đoạn 2011-2015, điểm nổi bật của tình hình kinh tế-xã hội Quảng Ninh là đã giữ vững tăng trưởng kinh tế ở mức cao, bình quân 5 năm đạt 9,2%/năm; năng lực sản xuất và quy mô kinh tế ngày càng tăng; GDP (tổng sản phẩm nội địa) năm 2015 ước tính đạt khoảng 100.300 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2010, GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh) bình quân đầu người năm 2015 ước tính khoảng 3.901 USD gấp hơn 1,5 lần so với năm 2010 (2.560 USD) Thu ngân sách của tỉnh trong giai đoạn 2011-2015 tăng gấp 2,2 lần so với giai đoạn 2006-2010, đứng trong nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu
cả nước về thu ngân sách
Đặc biệt, giai đoạn 2011-1015, Quảng Ninh đã có những bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội, bước đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng từ “nâu” sang “xanh”, thoát khỏi
sự phụ thuộc vào ngành khai thác than, ưu tiên tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp phi khai khoáng, đồng thời đảm bảo hoạt động khai thác than được sạch hơn và bền vững hơn
Trang 132.2 Hiện trạng khai thác than tại Quảng Ninh
Trên địa bàn tỉnh hiện đã có 80 khu vực được cấp phép khai thác than, 110 khu vực được cấp phép khai thác khoáng sản ngoài than như khoáng sản làm VLXD, nước khoáng,… Về đóng góp trong GDP, trong năm 2011, khai thác than chiếm 24% tổng GDP toàn tỉnh, nhưng đến năm 2014 chỉ còn 17% GDP Lao động trong ngành than tại Quảng Ninh hiện nay vào khoảng 110 ngàn lao động, chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh
Đối với khai thác than, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 30 mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc (Đông Bắc) đang hoạt động với sản lượng than nguyên khai khai thác năm 2014 đạt khoảng 42 triệu tấn, khối lượng đất bóc 207 triệu tấn Trong đó, độ sâu khai thác mỏ Cọc Sáu (Cẩm Phả) hiện tại đã xuống mức -300m so với mặt nước biển
2.3 Hiện trạng hoạt động khai thác than gắn với PTBV
về môi trường tại tỉnh Quảng Ninh
2.3.1 Tình hình xây dựng và thực hiện chính sách PTBV
về môi trường
Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã xây dựng và thực hiện được các vấn đề liên quan tới PTBV đối với hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và hoạt động khai thác than nói riêng, cụ thể như sau:
a) Về mặt thể chế chính sách
Chính sách liên quan đến động lực:
- Triển khai Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2020 (Quyết định số 3741/KH-UBND ngày 9/7/2014 của UBND tỉnh) với mục tiêu “phát triển kinh tế nhanh, bền vững; chuyển dịch và tăng tốc độ phát triển theo hướng công nghiệp xanh”;
Trang 14- Triển khai 7 quy hoạch chiến lược của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 Trong đó, công tác quản lý môi trường tập trung vào 7 nhiệm vụ: quản lý môi trường nước; quản lý chất lượng không khí; quản lý chất thải rắn; quản lý rừng; bảo tồn đa dạng sinh học; thích ứng với biến đổi khí hậu và giám sát môi trường
Chính sách liên quan đến ngành công nghiệp khai thác than
- Đối với ngành công nghiệp khai thác than: Đẩy mạnh phát triển công nghệ sạch, công nghệ hỗ trợ, công nghệ chế biến, công nghiệp công nghệ cao (ưu tiên các lĩnh vực công nghiệp điện tử, cơ khí chế tạo, cơ khí chính xác, công nghệ thông tin, viễn thông); giảm
tỷ trọng công nghiệp khai khoáng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế tạo, chế biến; khai thác than bền vững, tập trung nghiên cứu công nghệ khai thác tiên tiến nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường
- Chính sách và định hướng BVMT ngành than: Tập trung triển khai Đề án BVMT vùng than Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được phê duyệt tại Quyết định số 1052/QĐ-VINACOMIN ngày 18/6/2013
Chính sách liên quan đến hiện trạng ô nhiễm
- Tập trung các nguồn lực nhằm triển khai 91 dự án BVMT
đã đề ra trong Đề án BVMT tỉnh Quảng Ninh
- Giám sát, đôn đốc Tập đoàn công nghiệp than và khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Đông Bắc trong việc đảm bảo kinh phí, tiến độ triển khai Đề án BVMT ngành than đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Triển khai các giải pháp thu hút đầu tư để sớm đẩy nhanh các dự án đầu tư hạ tầng BVMT của tỉnh
b) Về tài chính, đầu tư cho công tác BVMT
Hàng năm ngành than đã trích lập Quỹ Môi trường tập trung bằng 1% chi phí sản xuất để có nguồn vốn đầu tư, xây dựng các công