Đáp ứng yêu cầu này ngành Kiểm sát đã không ngừng nâng cao chất lượng trong việc kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố; kiểm sát chặt chẽ các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ NHIÊN
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ NHIÊN
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để cho tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Nhiên
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
pháp trong luật tố tụng hình sự ở nước ta từ năm 1945 đến nay
13
1.2.2 Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự
17
1.2.3 Mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực
hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
21
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN KIỂM SÁT
28
2.1 Quy định của pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
28 2.1.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội 28
Trang 52.1.2 Kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ
2.2.2 Trình độ, năng lực nghiệp vụ trong áp dụng pháp luật của
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
72
3.1 Cơ sở và định hướng của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát
hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
72
3.1.1 Cơ sở của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
72
3.1.2 Định hướng của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư
pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
95
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra
CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng TTHS : Tố tụng hình sự
VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Số liệu VKS đã yêu cầu CQĐT khởi tố và CQĐT đã khởi
tố theo yêu cầu của VKS
55
2.2 Số liệu thống kê trường hợp VKS hủy quyết định khởi tố
của CQĐT; VKS hủy quyết định không khởi tố của CQĐT
cả nước từ năm 2013 - 2015
56
2.3 Số liệu người bị tạm giữ và tỷ lệ khởi tố vụ án hình sự
của cả nước từ năm 2006 - 2015
2.6 Số liệu về lệnh bắt khẩn cấp của CQĐT không được VKS
phê chuẩn từ năm 2006 - 2015
64
2.7 Số liệu VKS đã hủy bỏ quyết định tạm giữ theo khoản 3
Điều 86 BLTTHS và không phê chuẩn gia hạn tạm giữ
của CQĐT từ năm 2010 - 2015 của cả nước
67
2.8 Số liệu thống kê của Vụ 8, VKSNDTC về quá hạn tạm
giữ từ năm 2010 - 2015 của cả nước
68
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là một trong những chức năng của Viện kiểm sát (VKS), đây là giai đoạn kiểm sát đầu tiên của quá trình tố tụng Việc kiểm sát chặt chẽ giai đoạn khởi tố vụ
án giúp cho việc khởi tố vụ án đúng pháp luật, định hướng quá trình điều tra nhanh chóng, chính xác Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã nêu rõ trách nhiệm của VKS trong việc thực hiện quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp; trong đó " hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự", không chỉ trong hoạt động công tố
mà muốn kiểm sát chặt chẽ một vụ án hình sự nói chung phải đồng thời thực hiện tốt cả hai chức năng trong đó có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cũng phải được thực hiện từ giai đoạn khởi tố vụ án Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm mọi tội phạm đã phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và đúng pháp luật; tránh bỏ lọt tội phạm Đáp ứng yêu cầu này ngành Kiểm sát đã không ngừng nâng cao chất lượng trong việc kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo tố giác tội phạm
và kiến nghị khởi tố; kiểm sát chặt chẽ các căn cứ áp dụng bắt, tạm giữ, các căn cứ của các quyết định khởi tố vụ án hình sự và không khởi tố vụ án hình
sự của các cơ quan có thẩm quyền; kịp thời phát hiện những vi phạm của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong giai đoạn khởi tố vụ án để có biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo quá trình khởi tố vụ án chính xác, đúng quy định của pháp luật
Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKS vẫn còn có những hạn chế như nhiều nơi chưa chú trọng công tác kiểm sát tin báo tố giác tội phạm hoặc kiến nghị
Trang 9khởi tố nên tin báo giải quyết quá hạn còn nhiều; việc phát hiện các vi phạm của CQĐT trong quá trình bắt, tạm giữ còn hạn chế, vẫn để xảy ra trường hợp lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giữ, gia hạn tạm giữ không cần thiết; tình trạng khởi tố không đúng tội danh, oan, sai vẫn còn xảy ra đã ảnh hưởng lớn đến quyền con người được pháp luật bảo vệ Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên xuất phát từ việc các quy định của pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng; các bộ luật mới ra đời chưa có thông tư hướng dẫn; công tác phối hợp giữa VKS và CQĐT chưa chặt chẽ; trình độ một số cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát còn hạn chế…
Trước yêu cầu cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra đòi hỏi vai trò của VKS không chỉ tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra mà còn tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó nghiên cứu chuyên sâu chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án và thực tiễn thực hiện
chức năng này là vấn đề cần thiết Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài "Kiểm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình
sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý mà còn thể hiện rõ vai trò của VKS trong quá trình kiểm sát giai đoạn khởi tố, giúp định hướng cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo, đảm bảo quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật Nghiên cứu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS, ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu như sau:
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ có đề tài: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong giai đoạn khởi tố, điều tra án hình sự của Nguyễn Thành Trì, Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 1996; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự Việt Nam của Nguyễn Hải Phong, năm 1999; Kiểm sát việc tuân theo
Trang 10pháp luật trong giai đoạn khởi tố, điều tra án hình sự của Trần Công Hòa,
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004; Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Thu Huệ, Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2004; Chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng
hình sự của Võ Phước Long, năm 2007
Bài viết tiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành: Tác giả
Khuất Văn Nga, "Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư
pháp và tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Kiểm sát, số 7/2004; tác giả Nguyễn Minh Đức, "Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm
sát, số 9/2006; tác giả Phạm Mạnh Hùng, "Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
của việc khởi tố vụ án hình sự và việc kiểm sát việc khởi tố vụ án", Tạp chí
Kiểm sát, số 02/2007; tác giả Lê Hữu Thể, "Tổ chức bộ máy và chức năng
nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp", Tạp chí Kiểm
sát, số 6/2008; tác giả Đào Trí Úc, "Đề xuất đổi mới Viện kiểm sát ở Việt Nam
từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới", Tạp chí Kiểm sát, số 12/2013
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy, ở nước ta chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây khẳng định việc nghiên cứu đề
tài "Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo
luật tố tụng hình sự Việt Nam" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính
lý luận, vừa có tính thực tiễn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt động
tư pháp của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự"; thực tiễn thực hiện chức năng này của VKS dựa trên kết quả đạt được, những tồn tại
Trang 11hạn chế từ đó luận văn đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của việc thực hiện chức năng này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm sáng tỏ lý luận về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; hoạt động kiểm sát khởi tố trong tố tụng hình sự (TTHS)
- Nghiên cứu thực trạng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKS, đồng thời phân tích, chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm sát khởi tố vụ
án hình sự
- Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự kết hợp với thực tiễn thực hiện chức năng này, từ đó nghiên cứu giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thời gian 10 năm (2006 -2015) trên địa bàn toàn quốc
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của
Bộ Chính trị
Trang 12Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp
so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, để tổng hợp các tri thức khoa học luật TTHS và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, trong đó nêu ra một số giải pháp kiến nghị nâng cao hiệu quả cho công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ
án hình sự của VKS Trong quá trình nghiên cứu tác giả cập nhật những điểm mới liên quan đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự thể hiện Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKS năm 2014 (sửa đổi) và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của BLTTHS năm 2003 với các quy định của BLTTHS năm 2015 để thấy được những điểm mới liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố vụ án hình sự Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ thực tiễn thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; những tồn tại, hạn chế cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, luận văn đã đề xuất giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu lập pháp, các cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự Kết quả nghiên cứu của luận văn còn trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán
bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình
Trang 136 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố và kiểm sát hoạt
động khởi tố trong vụ án hình sự
Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn kiểm sát
Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát
hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
VỤ ÁN HÌNH SỰ
Để giải quyết vụ án hình sự nói chung phải trải qua nhiều giai đoạn và
do các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) thực hiện nhằm xác định chính xác, khách quan bản chất vụ án Mỗi giai đoạn TTHS có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi CQTHTT có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định Theo tác giả Lê Cảm cho rằng "quá trình giải quyết vụ án hình sự chia thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự" Cụ thể:
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật
về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự; thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành TTHS có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của CQĐT về việc đề nghị VKS truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng
Trang 15Giai đoạn truy tố có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng
mà CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của VKS được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật Thời điểm của giai đoạn này được
bắt đầu từ khi VKS nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết
luận điều tra và đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc VKS ra một trong ba loại quyết định sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là 3) Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng)
Giai đoạn xét xử vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể do luật định để: 1) Áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa, 2) Xét xử theo thủ tục sơ thẩm (hoặc xét
xử theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật - nếu bị kháng nghị)
và cuối cùng, 3) Tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Như vậy, giai đoạn TTHS được hiểu:
Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn
cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [7, tr 24]
Bộ luật TTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ
án hình sự và truy tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản
Trang 16án hình sự Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị
Nghiên cứu chuyên sâu về một giai đoạn cụ thể, luận văn này chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố Vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát khởi tố trong TTHS
1.1.1 Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Trước khi bàn về khái niệm này, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm khởi tố vụ án hình sự như sau:
Theo Từ điển Luật học thì:
Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm [51, tr 429]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí cho rằng:
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định đó là quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự [8, tr 64]
Tác giả Lê Cảm khái niệm:
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng đầu tiên mà trong
đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định
Trang 17của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định việc có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó [7, tr 26] Các quan điểm trên đều có điểm chung cho rằng khởi tố vụ án hình sự
là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng Là một giai đoạn TTHS nên nó cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Do vậy, thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được xác định kể từ khi các CQTHTT phát hiện hoặc tiếp nhận thông tin về tội phạm như: Tố giác của công dân; tin báo của
cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của các cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là khi các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Khoảng thời gian của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tùy thuộc vào tính phức tạp hay không phức tạp của các tin báo, tố giác về tội phạm mà các CQTHTT đã tiếp nhận, thụ lý Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thời gian tối thiểu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là 20 ngày và tối đa không quá bốn tháng kể
từ khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiến hành kiểm tra, xác minh và ra quyết định giải quyết
Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là các cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh nhằm xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự Do vậy, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các CQTHTT chưa thể kết luận chính xác ngay được về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội
Như vậy, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu: Là giai đoạn
đầu tiên của quá trình TTHS trong đó, các cơ quan có thẩm quyền xác định
Trang 18có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự
1.1.2 Đặc điểm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Từ khái niệm chung nhất về khởi tố vụ án hình sự cho thấy giai đoạn này có đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn TTHS đầu tiên, có thời
hạn được xác định từ khi các CQTHTT phát hiện hoặc tiếp nhận các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thời điểm kết thúc khi các CQTHTT ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ hai, nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chỉ
xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ ba, chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động trong giai
đoạn khởi tố, ngoài các CQTHTT (CQĐT, VKS, Tòa án) còn có những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm lâm, Hải quan, Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Thứ tư, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan giải thích làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xác định dấu hiệu của tội phạm; nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì lấy lời khai của người bị bắt
Trang 191.1.3 Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Về mặt pháp lý: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu có tính chất định hướng cho các giai đoạn TTHS tiếp theo để giải quyết vụ án hình
sự Nếu khởi tố vụ án hình sự không chính xác sẽ dẫn đến các giai đoạn tiếp theo cũng không chính xác, bởi các giai đoạn TTHS tuy độc lập nhưng có sự gắn kết chặt chẽ với nhau nhằm tìm ra sự thật của vụ án Việc xác định một người có tội hay không có tội ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người được pháp luật bảo vệ Vì vậy giai đoạn này rất quan trọng đòi hỏi vai trò của các CQTHTT cần nghiên cứu thận trọng căn cứ khởi tố vụ án hình sự để đảm bảo việc khởi tố vụ án nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật Thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh quyền của các CQTHTT như CQĐT, VKS, Tòa án, Thi hành án hình sự trong việc xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Thời điểm bắt đầu áp dụng các qui định của Bộ luật hình sự (BLHS) và BLTTHS
là khi các CQTHTT có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, từ thời điểm này các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện Nếu không có giai đoạn khởi tố vụ án hình sự thì sẽ không có các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Về mặt chính trị - xã hội: Ngày nay đất nước ta đang phải đối mặt với nhiều tội phạm nguy hiểm, tội phạm mang yếu tố quốc tế, có tổ chức, xuyên quốc gia và sử dụng công nghệ cao với thủ đoạn hoạt động tinh vi, phương thức hoạt động xảo quyệt, manh động, liều lĩnh Tội phạm hình sự có tổ chức, băng nhóm "xã hội đen" gây án nghiêm trọng, băng nhóm tội phạm ma túy có
vũ trang ở khu vực biên giới, tội phạm tham nhũng và tội phạm kinh tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, đầu tư, quản lý, sử dụng đất đai và thương mại, tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn hết sức nhức nhối Mức độ hậu quả gây ra cho xã hội của các loại tội phạm ngày càng lớn, xâm phạm nghiêm trọng trật tự, kỷ cương pháp luật XHCN, lợi ích của Nhà nước
và xã hội, tài sản, tính mạng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, làm