MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Ngày nay trong thời đại nhân loại đang bước vào nền văn minh hậu công nghiệp, hơn bao giờ hết giáo dục càng trở nên quan trọng và đã được thừa nhận là nhân tố quyết định chủ yếu đến sự phát triển KT-XH. Đất nước ta đang bước vào thời kỳ mới, thời kỳ mà vấn đề đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN đã và đang rất cấp thiết và nhất là trong tình hình hiện nay vấn đề hội nhập WTO đang cần một nguồn nhân lực có năng lực, chuyên môn thực sự góp phần quan trọng và làm nòng cốt mở cánh cửa hội nhập thế giới. Giáo dục đại học có nhiệm vụ đào tạo con người và những thế hệ tri thức giỏi chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng được nguồn nhân lực cho xã hội. “Giáo dục Đại học là khâu trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực phục vụ CNH-HĐH nước nhà, là đòn bẩy để đảm bảo thực hiện đầy đủ và chất lượng chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010.” Cùng với quá trình CNH-HĐH gắn với kinh tế tri thức. Vai trò của GD-ĐT ngày càng được nâng cao, đặc biệt giáo dục đại học. Nói đến vai trò của giáo dục là nói đến chất lượng đào tạo thể hiện ở cơ chế quản lý, cách thức đào tạo và khâu trực tiếp nhất là quan hệ thầy - trò trong quá trình chuyển giao tri thức. Việc xây dựng một đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị tốt và đặc biệt là năng lực chuyên môn cao là yêu cầu cấp bách của giáo dục đại học Việt Nam.Vì thế vấn đề đào tạo con người phục vụ quá trình phát triển đất nước cũng như bản thân sự tự khẳng định và tồn tại của các trường ngoài công lập trước xu thế hội nhập là vấn đề rất quan tâm. Trường ĐH DLDT là trường Đại học Dân lập đầu tiên được mở ở miền Trung và đặt ở thành phố Đà Nẵng, một thành phố trẻ, năng động có một vị trí chiến lược quan trọng và đang khởi động mạnh mẽ để trở thành một trung tâm công nghiệp lớn, một đầu mối giao thông lớn trong và ngoài nước. Từ đó vấn đề đặt ra cho cả nước nói chung và miền Trung nói riêng một nhu cầu tất yếu đó là làm sao tạo ra một nguồn nhân lực thực sự chất lượng đảm bảo nhu cầu phát triển KT-XH toàn vùng cũng như cả nước. Trường ĐH DLDT được thành lập theo Quyết định số 666/TTg của Thủ tướng chính phủ nước CHXHCNVN, ký ngày 11/11/1994. Trường chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ GD&ĐT cấp những văn bằng nằm trong hệ thống văn bằng của Nhà nước. Trường tuy mới thành lập hơn 13 năm nhưng đã vượt qua được nhiều khó khăn đã đứng vững và vươn lên . Đặc biệt trường đã phấn đấu đầu tư cơ sở vật chất riêng của mình, có hệ thống quản lý tư vấn ổn định, sớm đảm bảo công tác đào tạo đáp ứng những quy định của Bộ GD & ĐT. Trường chủ động khai phá con đường đi của mình, phù hợp với đường lối đổi mới GD & ĐT của Đảng và Nhà nước; vì thế trường tập trung vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và kiện toàn những tổ chức cốt lõi về chuyên môn, hành chính, quản trị; gấp rút đào tạo đội ngũ GVCH của mình, tích cực tạo lập được những mối quan hệ hợp tác tốt đẹp trong và ngoài nước để học tập kinh nghiệm và tranh thủ sự hỗ trợ, tạo điều kiện để trường năng động và sáng tạo tìm ra những nét riêng trong hoạt động của mình, đặc biệt là đảm bảo chất lượng đào tạo ngay từ những ngày đầu, tạo nên sự tín nhiệm của xã hội đối với trường. Trong môi trường giáo dục hiện nay sự cạnh tranh về chất lượng đào tạo giữa các trường là rất rõ. Trường ĐHDL DT cũng phải đối mặt với các thách thức mới, điều đó đòi hỏi phải luôn đặt chất lượng đào tạo lên vị trí hàng đầu, xây dựng một thương hiệu. Một trường ĐH muốn khẳng định chất lượng đào tạo của mình đối với các trường trong và ngoài nước thì cần phải có những biện pháp để nâng cao chất lượng, đó là: việc phát triển đội ngũ GV, đặc biệt là GVCH của nhà trường là nhân tố quan trọng làm nòng cốt cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho miền Trung nói riêng và cả nước nói chung. Hiện nay số lượng đội ngũ giảng viên của trường thiếu và yếu chưa đủ đáp ứng việc giảng dạy các ngành của trường chủ yếu là giảng viên thỉnh giảng và đây cũng là một thực trạng mà Trường đang dần dần khắc phục, mặc dù trong 13 năm qua đã tuyển dụng một đội ngũ GVCH đáp ứng được một phần nào về việc giảng dạy của trường. Nhưng vẫn còn nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân như: đội ngũ giảng viên còn non trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, chưa phát huy hết được khả năng của mỗi GV và chưa thực sự là lực lượng nòng cốt của nhà trường, đặt biệt là còn tâm lý phân biệt giữa trường công và trường tư, điều này dẫn đến tư tưởng cũng như tâm lý của người dạy chưa thực sự gắn bó lâu dài với Trường. Qua những lý do trên, với tư cách là người đang tham gia công tác tổ chức cán bộ của trường và theo học chương trình thạc sĩ tôi mạnh dạn làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình: “Các biện pháp phát triển đội ngũ GVCH của trường đại học dân lập Duy Tân (ĐHDLDT), Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” với mong muốn nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường ĐHDLDT ngày càng vững mạnh đảm bảo về chất lượng đào tạo của trường, xứng đáng là lưc lượng nòng cốt của trường trong sứ mạng giáo dục và đào tạo của nhà trường. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng đội ngũ GVCH của trường ĐHDLDT để đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GVCH của trường ĐHDLDT.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ngày nay trong thời đại nhân loại đang bước vào nền văn minh hậu côngnghiệp, hơn bao giờ hết giáo dục càng trở nên quan trọng và đã được thừa nhận lànhân tố quyết định chủ yếu đến sự phát triển KT-XH Đất nước ta đang bước vàothời kỳ mới, thời kỳ mà vấn đề đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN đã vàđang rất cấp thiết và nhất là trong tình hình hiện nay vấn đề hội nhập WTO đangcần một nguồn nhân lực có năng lực, chuyên môn thực sự góp phần quan trọng vàlàm nòng cốt mở cánh cửa hội nhập thế giới Giáo dục đại học có nhiệm vụ đào tạocon người và những thế hệ tri thức giỏi chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng đượcnguồn nhân lực cho xã hội “Giáo dục Đại học là khâu trực tiếp tạo ra nguồn nhânlực phục vụ CNH-HĐH nước nhà, là đòn bẩy để đảm bảo thực hiện đầy đủ và chấtlượng chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010.”
Cùng với quá trình CNH-HĐH gắn với kinh tế tri thức Vai trò của GD-ĐTngày càng được nâng cao, đặc biệt giáo dục đại học Nói đến vai trò của giáo dục lànói đến chất lượng đào tạo thể hiện ở cơ chế quản lý, cách thức đào tạo và khâu trựctiếp nhất là quan hệ thầy - trò trong quá trình chuyển giao tri thức Việc xây dựngmột đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị tốt và đặc biệt lànăng lực chuyên môn cao là yêu cầu cấp bách của giáo dục đại học Việt Nam.Vì thếvấn đề đào tạo con người phục vụ quá trình phát triển đất nước cũng như bản thân
sự tự khẳng định và tồn tại của các trường ngoài công lập trước xu thế hội nhập làvấn đề rất quan tâm
Trường ĐH DLDT là trường Đại học Dân lập đầu tiên được mở ở miền Trung
và đặt ở thành phố Đà Nẵng, một thành phố trẻ, năng động có một vị trí chiến lượcquan trọng và đang khởi động mạnh mẽ để trở thành một trung tâm công nghiệplớn, một đầu mối giao thông lớn trong và ngoài nước Từ đó vấn đề đặt ra cho cảnước nói chung và miền Trung nói riêng một nhu cầu tất yếu đó là làm sao tạo ramột nguồn nhân lực thực sự chất lượng đảm bảo nhu cầu phát triển KT-XH toàn
Trang 2vùng cũng như cả nước Trường ĐH DLDT được thành lập theo Quyết định số 666/TTg của Thủ tướng chính phủ nước CHXHCNVN, ký ngày 11/11/1994 Trườngchịu sự quản lý Nhà nước của Bộ GD&ĐT cấp những văn bằng nằm trong hệ thốngvăn bằng của Nhà nước Trường tuy mới thành lập hơn 13 năm nhưng đã vượt quađược nhiều khó khăn đã đứng vững và vươn lên Đặc biệt trường đã phấn đấu đầu
tư cơ sở vật chất riêng của mình, có hệ thống quản lý tư vấn ổn định, sớm đảm bảocông tác đào tạo đáp ứng những quy định của Bộ GD & ĐT Trường chủ động khaiphá con đường đi của mình, phù hợp với đường lối đổi mới GD & ĐT của Đảng vàNhà nước; vì thế trường tập trung vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và kiện toànnhững tổ chức cốt lõi về chuyên môn, hành chính, quản trị; gấp rút đào tạo đội ngũGVCH của mình, tích cực tạo lập được những mối quan hệ hợp tác tốt đẹp trong vàngoài nước để học tập kinh nghiệm và tranh thủ sự hỗ trợ, tạo điều kiện để trườngnăng động và sáng tạo tìm ra những nét riêng trong hoạt động của mình, đặc biệt làđảm bảo chất lượng đào tạo ngay từ những ngày đầu, tạo nên sự tín nhiệm của xãhội đối với trường
Trong môi trường giáo dục hiện nay sự cạnh tranh về chất lượng đào tạo giữacác trường là rất rõ Trường ĐHDL DT cũng phải đối mặt với các thách thức mới,điều đó đòi hỏi phải luôn đặt chất lượng đào tạo lên vị trí hàng đầu, xây dựng mộtthương hiệu Một trường ĐH muốn khẳng định chất lượng đào tạo của mình đối vớicác trường trong và ngoài nước thì cần phải có những biện pháp để nâng cao chấtlượng, đó là: việc phát triển đội ngũ GV, đặc biệt là GVCH của nhà trường là nhân
tố quan trọng làm nòng cốt cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của trường, cungứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho miền Trung nói riêng và cả nước nói chung.Hiện nay số lượng đội ngũ giảng viên của trường thiếu và yếu chưa đủ đápứng việc giảng dạy các ngành của trường chủ yếu là giảng viên thỉnh giảng và đâycũng là một thực trạng mà Trường đang dần dần khắc phục, mặc dù trong 13 nămqua đã tuyển dụng một đội ngũ GVCH đáp ứng được một phần nào về việc giảngdạy của trường Nhưng vẫn còn nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân như: đội ngũgiảng viên còn non trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, chưa phát huy
Trang 3hết được khả năng của mỗi GV và chưa thực sự là lực lượng nòng cốt của nhàtrường, đặt biệt là còn tâm lý phân biệt giữa trường công và trường tư, điều này dẫnđến tư tưởng cũng như tâm lý của người dạy chưa thực sự gắn bó lâu dài vớiTrường.
Qua những lý do trên, với tư cách là người đang tham gia công tác tổ chức cán
bộ của trường và theo học chương trình thạc sĩ tôi mạnh dạn làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cho mình: “Các biện pháp phát triển đội ngũ GVCH của trường đại học dân lập Duy Tân (ĐHDLDT), Thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” với
mong muốn nghiên cứu để tìm ra các biện pháp phù hợp nhằm phát triển đội ngũgiảng viên cơ hữu của trường ĐHDLDT ngày càng vững mạnh đảm bảo về chấtlượng đào tạo của trường, xứng đáng là lưc lượng nòng cốt của trường trong sứmạng giáo dục và đào tạo của nhà trường
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng đội ngũ GVCHcủa trường ĐHDLDT để đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viênnhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GVCH của trường ĐHDLDT
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1/ Khách thể nghiên cứu :
Hoạt động quản lý đội ngũ giảng viên cơ hữu Trường ĐHDLDT
3.2/ Đối tượng nghiên cứu :
Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường ĐHDLDT
4 GIẢ THIẾT KHOA HỌC:
Nếu có hệ thống biện pháp phát triển đội ngũ GV phù hợp với bối cảnh pháttriển mới của địa phương và của Trường ĐHDLDT thì trong tương lai gần Nhàtrường sẽ có đội ngũ GVCH đáp ứng yêu cầu đào tạo của Trường
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
5.1/ Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên 5.2/ Khảo sát và phân tích thực trạng phát triển đội ngũ GVCH trường ĐHDL Duy Tân.
Trang 45.3/ Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ GVCH trường ĐHDL Duy Tân trong giai đoạn hiện nay.
6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI :
6.1/ Ý nghĩa lý luận:
Đề tài nhằm hệ thống hóa các khái niệm về quản lý, các chức năng của quản lý
và quản lý giáo dục, trong đó tác giả quan tâm nhất là lý luận về phát triến đội ngũgiảng viên đối với trường ngoài công lập trong giai đoạn hiện nay
6.2/ Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài giúp cho cán bộ quản lý các cấp của trường áp dụng các biện pháp quản
lý để nâng cao vừa số lượng và chất lượng của đội ngũ GV của trường ĐHDLDT
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1/ Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các văn kiện chính trị của Đảng và Nhà nước, các văn bản và quychế giáo dục, các tài liệu, công trình khoa học về giáo dục, quản lý giáo dục liênquan đến chất lượng đội ngũ giảng viên phục vụ cho đề tài
7.2/ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Tiến hành phân tích, tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về phát triểnđội ngũ giảng viên trường ĐHDLDT
- Điều tra, khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia về vấn đề phát triển đội ngũ giảngviên cơ hữu trường ĐHDL Duy Tân
8.2/ Phạm vi đối tượng khảo sát: Đội ngũ giảng viên giảng dạy và cán bộ
quản lý từ tổ trưởng bộ môn trở lên của trường ĐHDLDT trong diện cơ hữu có thờihạn hợp đồng từ 2 năm trở lên
Trang 59 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Luận văn gồm 03 phần chính:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung (gồm 03 chương)
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ GVCH Trường ĐHDLDT Chương 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ GVCH Trường ĐHDLDT Phần III: Kết luận và khuyến nghị
Ngoài ra còn có phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
***
Trang 6Ư Ơ NG I :
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1/ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Theo Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết "Con tàu Việt Nam đã bắt đầu ra
khơi xa" Như vậy, điều đó đã thể hiện rằng điều kiện KT-XH của đất nước đang
chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn của một nền CNH-HĐH và đến nay ta có thểmột phần nào khẳng định rằng dân tộc chúng ta đã có thế và lực mới để đánh thức
"con rồng ngủ quên" sau bao năm nay Mà chiếc chìa khóa để mở cánh cử con tàu
Việt Nam ra khơi đầu tiên phải là vấn đề con người
Đại hội X kết luận, cũng như các đại hội từ trước đến nay luôn nhấn mạnh vai
trò con người "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" Đây chính là mục tiêu và cũng là
động lực để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững
Vì vậy, vấn đề đào tạo con người là quốc sách hàng đầu Bồi dưỡng thế hệ trẻtinh thần yêu quê hương đất nước, tự tôn dân tộc, lý tưởng XHCH, ý thức pháp luật,chí tiến lập nghiệp, đào tạo lớp người có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghềnghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới Để thực hiện được mụctiêu đó, chúng ta cần phát triển giáo dục, đặc biệt đội ngũ xây dựng thế hệ trẻ, xâydựng con người mới là những giáo viên nói chung và giảng viên đại học nói riêng
Từ cách quản lý xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên đại học nói riêng đến cáchthức tổ chức, triển khai kế hoạch,v.v
Tuy nhiên, đối với Trường ĐHDLDT qua 13 năm hoạt động đến nay chưa cómột đề tài nào nghiên cứu về vấn đề làm sao để xây dựng và phát triển đội ngũGVCH một cách nghiêm túc, sâu sắc gắn với các giải pháp để phát triển GV Trongkhi thực trạng đội ngũ GVCH của Trường hiện nay còn thiếu về số lượng và yếu vềchất lượng Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này là hết sức cần thiết với yêu cầu pháttriển Trường ĐHDLDT trong quá trình phát triển và hội nhập của đất nước
Trang 71.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI:
1.2.1/ Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực.
1.2.1.1 - Quản lý:
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu; nhà Sử học Daniel A Wren đãtừng nhận xét rằng :" Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy", nhưng ôngcũng ghi nhận rằng cũng chỉ mới gần đầy người ta mới chú ý đến "chất khoa học"của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các "lý thuyết" quản lý
Quản lý ra đời gắn liền với hoạt động chung của nhiều người trong xã hội.Như Các Mác đã đề cập đến thời đại công nghiệp cơ khí rằng :"như người lao độngtrực tiếp trong xã hội hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn, ởmức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý " Cùng với sự phát triển của hợp tác vàphân công lao động từ thấp đến cao, xã hội loài người đã trãi qua cuộc cách mạnggắn liền với các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội Trong mỗi tổ chức đó, quản lý cóvai trò kết hợp sự nỗ lực chung của mỗi người trong tổ chức và sử dụng tất cả cácnguồn lực vật chất có được để đạt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng của từngthành viên trong tổ chức Như vậy, nguồn gốc của quản lý là sự cần thiết kết hợp vàphối hợp hoạt động giữa các cá nhân trong xã hội, giữa con người với tự nhiên đểmang lại lợi ích mong muốn cho toàn xã hội
Tuy nhiên, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
+ Phnêđric Uynslau Taylo (1856 - 1915) được coi là cha để của thuyết quản lýkhoa học đã định nghĩa :"Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người kháclàm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻnhất"
+ Harold Koontz trong cuốn "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng :
"Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nổ lực cá nhânnhằm đạt được các mục đích của nhóm"
+ Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc :"Hoạt động quản lý là tác động có địnhhướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong tổ chức nhằmcho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"
Trang 8Do quản lý gắn liền với mọi quá trình kinh tế - xã hội một cách chặt chẽ, gắnvới từng giai đoạn lịch sử cụ thể, nên các tác giả khai thác ở từng góc độ khác nhau.Nhưng các quan niệm này đều có điểm chung là: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu định trước".Như vậy "Quản lý" là :
- Quản lý là một loại hoạt động XH, luôn gắn liền với một nhóm hay một tổchức XH nào đó; trong đó chủ thể quản lý tác động tới đối tượng quản lý thông quacác hoạt động kế hoạch hóa tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, nhằm đạt được mục tiêu
đề ra
- Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra tác động quản lý trong mọi quá trình hoạtđộng Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay tổ chức Chủ thể quản lý tác động lênđối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp quản lý thích hợp theocác nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tuỳtheo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khácnhau
- Khách thể quản lý chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản
lý đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội
- Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới một thời điểm do chủ thể quản
lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các hoạt động quản lýcũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp
- Quản lý vừa là môn khoa học sử dụng tri thức nhiều khoa học khác nhau,vừa là nghệ thuật Do vậy, đòi hỏi nhà quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linhhoạt tổ chức, điều khiển , hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùnghướng tới mục tiêu xác định, tránh tình trạng rối ren và bất ổn của tổ chức, đồngthời kích thích và phát huy được mọi thành viên trong tổ chức
1.2.1.2 - Quản lý giáo dục:
Giáo dục cũng như mọi lĩnh vực hoạt khác của xã hội nhỏ hay lớn đều phảixuất hiện sự quản lý, và sự quản lý này tuỳ thuộc vào mức độ qui mô của một đơn
Trang 9vị, một tổ chức và tính chất cũng khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất địa chính trị, địakinh tế, lịch sử, tập tục truyền thống của xã hội đó.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang "Quản lý giáo dục là hệ thống tác động cómục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hànhtheo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhàtrường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dụcthế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất"
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc "Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành,phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đápứng nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao"
Như vậy, quản lý giáo dục là quản lý các quá trình đào tạo, mục tiêu đào tạo,nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và quản lý sự phối hợp giữa các nhân tố đómột cách có tổ chức, kế hoạch, chiến lược Để huy động một cách tốt nhất đến tiềmnăng của giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội phát triển Mà đối tượng quản lý ởđây không phải đơn thuần là quản lý trong ngành giáo dục mà là sự phối hợp củatoàn xã hội đối với sự pháp phát triển con người
1.2.1.3 - Quản lý nguồn nhân lực:
Trong tất cả các nguồn lực thì nguồn lực con người là quan trọng nhất vì nótham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, phát triển kinh tế - văn hóa
- xã hội Bởi vì chính thông qua hoạt động của con người các nguồn lực khác mới
có thể phát huy được tác dụng, mới có thể biến tiềm năng con người trở thành hiệnthực Nói đến nguồn lực con người tức là nói đến những gì cấu thành khả năng,năng lực, sức mạnh sáng tạo của con người Nhưng điều quan trọng là chất lượngnguồn nhân lực chứ không phải số lượng Theo quan điểm của Đảng thì "Nguồn lựccon người là nguồn lực của mọi nguồn lực" Nguồn lực con người có trí tuệ lànguồn lực quý giá nhất Muốn thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thìtrước hết phải phát triển toàn diện con người Trong nguồn lực con người là sự kếthợp hài hoà giữa trí lực, thể lực, nhân cách và kinh nghiệm sống trong các hoạt
Trang 10động của con người Nói cách khác "Nguồn lực con người là một tập hợp các chỉ sốphát triển con người".
Như vậy, quản lý nguồn nhân lực là gì?
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng "Quản lý nguồn nhân lực là chứcnăng quản lý giúp cho người quản lý tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triểncác thành viên của tổ chức"
Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động như kế hoạch nguồnnhân lực, tuyển mộ, lựa chọn, đào tạo và phát triển, định hướng, thẩm định kết quảhoạt động, đề bạt hoặc thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải Trong đó đào tạo vàphát triển là cốt lõi
Đối với ngành giáo dục thì quản lý nguồn nhân lực chính là quản lý giáo viên,cán bộ, công nhân viên Trong đó lực lượng giáo viên là quan trọng nhất nhằm phục
vụ lợi ích, sự phát triển con người xã hội nói chung và của nhà trường nói riêng.Đồng thời giúp cho giáo viên và cán bộ công nhân viên thấy được chức năng, nhiệm
vụ, vai trò của họ trong quá trình phát triển con người để có định hướng trong hànhđộng, đồng thời kiểm tra, thẩm định chất lượng hoạt động của họ
1.2.2/ Xây dựng, phát triển; phát triển nguồn nhân lực.
1.2.2.1 - Xây dựng,phát triển:
a/ Xây dựng:
Theo Tự điển tiếng việt "Xây dựng là tạo hoàn cảnh sống vật chất hay tinhthần hoặc cho một cộng đồng trên cơ sở đường lối chủ trương nhất định, một hệ tưtưởng nhất định hoặc cho cá nhân theo một ý định có suy nghĩ, cân nhắc"
Xây dựng đội ngũ giảng viên là tạo ra một tổ chức những giảng viên tươngthân tương ái, đoàn kết một lòng cùng thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình trên
cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, của cơ quan đơn vị Đặc biệt làxây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên đáp ứng được nhucầu đào tạo của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước gắnvới kinh tế tri thức
Trang 11b/ Phát triển:
Phát triển theo triết học là quá trình vận động đi lên, từ đơn giản đến phức tạp,
từ thấp đến cao, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng "Phát triển là tăng cả về chất lượng và
số lượng làm cho hệ giá trị được cải tiến, được hoàn thiện"
Phát triển khác với vận động, phát triển là sự vận động có định hướng, còn vậnđộng là sự biến đổi nói chung, "phát triển" và "xây dựng" luôn có quan hệ chặt chẽvới nhau "Xây dựng" là cho hình thành một tổ chức hay một chỉnh thể, còn pháttriển sẽ làm cho "xây dựng" tiếp tục biến đổi, tiến lên theo mục tiêu đề ra
Theo Điều 9 của Luật giáo dục cũng nêu vấn đề phát triển giáo dục là quốcsách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) là điều kiện để phát huynguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
& bền vững Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển theo xu hướng :
- Dân chủ hóa giáo dục : thực hiện phân cấp quản lý trong nhiều khâu về đàotạo, hành chính, tài chính
- Xã hội hóa giáo dục nhằm mở rộng các nguồn vật chất và tài trợ, hỗ trợ chogiáo dục
- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, tạo nhiều cơ hội học tập cho mọi ngườithuộc các thành phần xã hội
- Quy trình đào tạo phải nềm dẻo, uyển chuyển cho phù hợp giúp người học cónhiều cơ hội điều chỉnh việc học tập của mình trước những biến động của thị trườnglao động của đất nước
- Phát triển về quy mô đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, thường xuyên cập nhậpchương trình đào tạo mới theo hướng phát triển và hội nhập của đất nước
Phát triển đội ngũ giảng viên là làm cho đội ngũ giảng viên tăng lên về quy
mô tốt hơn về chất lượng thông qua công tác tuyển chọn, sử dụng, đào tạo theo điều
Trang 12kiện vật chất và tinh thần,v.v cho đội ngũ giảng viên Do đó, giảng viên phảikhông ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực, tinh thông về nghề nghiệp.
1.2.2.2 -Phát triển nguồn nhân lực:
Nhân lực của xã hội bao gồm toàn bộ lực lượng lao động trong mọi loại hìnhcông việc, theo nghĩa hẹp nhân lực là những người do các trường lớp thuộc hệthống giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp dạy nghề đào tạo ra
Phát triển người gồm sự phát triển các hình thái của con người, phát triển loàingười, cá thể, cá nhân, nhân cách, nhân lực Đó là sự phát triển chỉnh thể toàn vẹnnhiều hình thái, nhiều giá trị, nhiều chức năng, làm gia tăng giá trị con người trêncác mặt tinh thần, thể chất, đạo đức, kinh tế, kỹ thuật, trí tuệ tình cảm, xã hội, pháplý,…
Quan điểm Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người phát triển toàndiện, con người là cơ sở lý luận chủ yếu nhất Sự tác động của nhân tố con người có
ý nghĩa qui định đến toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử, con người vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Phát triển người là phạm trù tâm lý – giáo dục – xã hội, phát triển nguồn nhânlực là phạm trù kinh tế - chính trị - xã hội
Theo quan điểm trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệphóa - hiện đại hoá đất nước nhất mạnh các yếu tố sau:
- Cần coi trọng việc nâng cao dân trí, đẩy mạnh phương cách giáo dục nhằmtạo nguồn cho việc đào tạo nhân lực thuộc mọi trình độ ở mọi vùng, miền
- Kết hợp kế hoạch với chính sách và công tác giáo dục tư tưởng để đảm bảocung cấp nhân lực đầy đủ, kịp thời cả về số lượng và chất lượng cho mọI lĩnh vực,mọi ngành hoạt động xã hội
- Giáo dục và kinh tế gắn bó với nhau, tác động lẫn nhau nhằm tạo nguồnnhân lực đáp ứng đúng và có hiệu quả các yêu cầu đa dạng của nền kinh tế trongCNH – HĐH
Khi nói đến “Phát triển” người ta có thể hiểu rằng đó chính là những diễnbiến, những thay đổi cơ chế về các mặt : kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị Trong
Trang 13đó việc phát triển kinh tế là căn cứ cơ sở và là động lực dẫn đến sự thay đổi, tiến bộcủa các mặt còn lại Phát triển không chỉ để tăng trưởng kinh tế mà cần phải gắn kếtvới xã hội, làm thế nào để xã hội hạn chế tình trạng nghèo đói, sự bất bình đẳngtrong cạnh tranh giàu nghèo, cơ cấu phân quyền lý trong xã hội và thể chế quốc gia,làm sao bảo vệ được quyền dân chủ cũng như quyền lợi chính đáng của đa số bộphân dân cư tham gia vào các hoạt động xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần, trình độ văn hóa của đại đa số tầng lớp nhân dân Để thực hiện đượcnhững vấn đề nêu trên trên đây thì điều quan trọng và là điểm chính của sự pháttriển đó là phát triển con người hay nói cách khác đó chính là nguồn nhân lực quantrọng nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực luôn là mục tiêu ưu tiên của mỗi quốc gia, đối vớicác nước đang phát triển thì phát triển nguồn nhân lực càng trở nên cấp thiết Giáodục đóng vai trò hàng đầu trong việc phát triển con người “không chỉ vì nó làmtăng”vốn con người” mà còn vì giáo dục làm thay đổi khả năng chấp nhận các thayđổi Giáo dục tạo điều kiện cho các cá nhân làm quen với các phương pháp khoahọc, với các hình thức tư duy mới khác biệt sâu sắc với cách tư duy cũ”
Chính vì vậy mà việc phát triển con người hay phát triển nguồn nhân lực là rấtquan trọng, nó là huyết mạch của sự phát triển kinh tế - xã hội – chính trị của đấtnước Phát triển con người không chỉ phát triển thể lực ,phát triển trí lực mà còn làvấn đề phát triển toàn diện con người : thể lực, tâm lực, trí lực, thái độ sống và laođộng, hiệu quả lao động
Tóm lại, đối với bất kỳ một tổ chức nào dù nhỏ hay lớn thì tập trung cho việcxây dựng và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cần được chú tâm hàng đầu, chính
vì thế đòi hỏi các nhà quản lý phải đặc biệt quan tâm hàng đầu và đó là vấn đề sốngcòn của tổ chức đó, bởi trong tất cả các nguồn lực, thì nguồn lực con người là quyếtđịnh Nếu được tổ chức, chỉ đạo một cách kế hoạch và hợp lý, được đào tạo và bồidưỡng, được tạo điều kiện môi trường thuận lợi, nguồn lực con người sẽ phát huyđược hết khả năng và đây chính là yếu tố cơ bản nhất giúp cho tổ chức thực hiệnđược mục tiêu đã đề ra
Trang 141.2.3/ Trường đại học, trường đại học dân lập.
độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việclàm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan
hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
+ Về công tác quản lý các trường đại học đều có đối tượng giống nhau tronghoạt động quản lý đó là: nhân lực, trí lực, tài lực, vật lực, sản phẩm được tiếp thị lưuthông hay nói đúng hơn là sản phẩm làm ra được xã hội thừa nhận, sản phẩm củatrường đại học là đào tạo ra những thế hệ sinh viên ra trường được các cơ sở sảnxuất tiếp nhận sử dụng Chính vì thế một trường đại học muốn cho sản phẩm củamình đảm bảo chất lượng và hiệu quả sau quá trình đào tạo cần phải có cách quản lýcủa mình ở từng nội dung cụ thể như :
- Quản lý đội ngũ giảng viên , cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viêncủa trường đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấungành nghề đào tạo và cơ cấu tuổi, giới tính
- Quản lý từ khâu đầu vào tuyển sinh đến quá trình học tập của người học,ngoài ra còn tham gia vào quá trình quản lý đầu ra đó là sinh viên ra trường đượccác cơ sở đào tạo chấp nhận được, do đó cũng cần phải liên kết chặt chẽ với cơ sở
sử dụng lao động, gắn kết giữa lý thuyết (nhà trường) với thực hành (cơ sở sảnxuất)
Trang 15- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo qui địnhcủa pháp luật về chế độ kế toán, kiểm toán.
1.2.3.2- Trường đại học dân lập:
Theo Từ điển tiếng Việt khái niệm của từ “dân lập” đựơc giải thích như
sau: “là do dân ở địa phương lập ra và đài thọ các khoản chi phí” [20]
Theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/08/1999 của Chính phủ về cáchình thức ngoài công lập, thì dân lập là “cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, đượcđầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước (vốn của tổ chức, tập thể, cá nhân) vàquản lý điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật Không lấy vốn, tàisản, kinh phí của nhà nước để đầu tư cho các cơ sở dân lập” [21]
Theo Điều 1, Quy chế trường đại học dân lập :”Trường đại học dân lập là cơ
sở giáo dục đại học do tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổchức kinh tế (dưới đây gọi chung là tổ chức) xin thành lập và huy động các nhàgiáo, nhà đầu tư cùng đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất ban đầu từnguồn ngoài ngân sách nhà nước Trường đại học dân lập là pháp nhân được tự chủ
về tổ chức bộ máy, tuyển dụng lao động và tài chính Tài sản của trường thuộcquyền sở hữu của những người góp vốn đầu tư, các giảng viên, cán bộ và nhân viênnhà trường”
Trường đại học dân lập được tổ chức và hoạt động theo Điều lệ trường đại học
và Quy chế trường đại học dân lập do Thủ tướng Chính phủ ban hành Trường đạihọc dân lập là cơ sở giáo dục đại học, nên nhiệm vụ của trường đại học dân lậpcũng như các trường đại học công lập đều có một nhiệm vụ quan trọng đó là : đàotạo nguồn nhân lực có trình độ, năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu của thời đại.Theo Điều 65 của Luật Giáo dục cũng đã nêu rõ nhiệm vụ và quyền hạn củatrường dân lập (nay gọi là trường ngoài công lập):
Căn cứ trên các cơ sở đã trình bày trên trường đại học dân lập là do dân lập ra,
tự đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất, nên trường đại học dân lập có một
số đặc điểm khác với trường công lập, cụ thể như sau:
Trang 16- Về bộ máy quản lý :Trường rất mềm dẻo trong việc cơ cấu bộ máy quản lýđáp ứng với tình hình hiện tại của Trường Hiệu Trưởng là người chịu trách nhiệmtrong công tác đào tạo chính của Trường, bên cạnh Hiệu Trưởng có HộI đồng Quảntrị là “tổ chức đại diện duy nhất quyền sở hữu tập thể nhà trường, có trách nhiệm vàquyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự và tài chính,tài sản của Trường”.
- Về hoạt động quản lý: Trường đại học dân lập không bị ảnh hưởng nhiều của
cơ chế nhà nước, tập trung quan liêu bao cấp nên hoạt động quản lý tại trường đãtận dụng và phát huy được những mặt tích cực của cơ chế quản lý mới, tạo ra đượcsắc thái riêng khác với quản lý tại các trường đại học công lập Cụ thể là:
1) Bộ máy tổ chức tinh gọn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển củatrường;
2) Khái niệm biên chế suốt đời như ở các trường công lập không tồn tại,các trường đại học dân lập tự tuyển chọn những người thật sự có năng lực, tâmhuyết với nghề nghiệp, hợp đồng có thời hạn và trả lương theo thoả thuận hoặc khốilượng công việc đảm trách, hạn chế tình trạng lao động dôi dư;
3) Bệnh quan liêu trong tổ chức và điều hành nhà trường hầu như đượcloại bỏ, các quyết định được đề ra một cách kịp thời và trách nhiệm của mọi ngườitrong thực thi công việc, thực hiện chức trách được giao với chất lượng và hiệu quảcao
- Một điểm ưu việt đối với các trường đại học dân lập đó là có nhiều cơ hội
để phát huy được tính tự chủ và chịu trách nhiệm - một phương thức quản lý mớitrong giáo dục đại học hiện nay, nhằm tạo ra hiệu quả và chất lượng GD-ĐT
- Về tài sản của trường của trường đại học dân lập gồm tài sản thuộc vốn gópcủa các nhà đầu tư , vốn vay ngân hàng, một phần học phí của sinh viên và tài sảntăng thêm trong quá trình hoạt động Nhà trường luôn coi trọng quan điểm "Mỗisinh viên là một đơn vị tài chính" của trường Do đó phải gắn công tác tài chính vớicông tác đào tạo một cách "sống còn" Tài sản của trường đại học dân lập sau khitrừ các phần vốn góp kể cả phần trả lãi vốn vay, vốn góp còn lại là tài sản không
Trang 17chia được và thuộc sở hữu tập thể của nhà trường, được nhà trường bảo vệ theo quyđịnh của pháp luật, không ai chiếm đoạt được.
- Về đội ngũ giảng viên bao gồm: giảng viên cơ hữu được tuyển dụng bằnghình thức hợp đồng lao động và giảng viên thỉnh giảng được mời từ các trường đạihọc công lập hoặc cơ quan Nhà nước và cũng được ký kết hợp đồng giảng dạy theotừng năm học, nhằm tạo sự ổn định tương đối về đội ngũ thỉnh giảng này, nhữngngười thường xuyên tham gia giảng dạy với trường
Với những qui định trên đây, trường đại học ngoài công lập có nhiều lợi thế
về quản lý phù hợp với nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranh trong giáo dục hiệnnay, giúp cho các trường dân lập có nhiều cơ hội để phát triển Tuy vậy các trườngdân lập cũng có những khó khăn nhất định nhất là về công tác quản lý đội ngũ, côngtác tài chính, cơ sở vật chất, hàng rào pháp lý, còn nhiều bất cập
Các đại học nước ngoài có mặt tại Việt Nam và miền Trung nói riêng sẽ tạonên một sự cạnh tranh quyết liệt về chất lượng giữa Đại học dân lập với đại họccông lập, giữa các Đại học Việt Nam với Đại học nước ngoài Các công ty trong vàngoài nước với lương bổng cao, tạo điều kiện làm việc tốt, sẽ thu hút đội ngũ nhânlực có chất lượng từ các trường Đại học Việt Nam, đặc biệt từ đội ngũ các trườngđại học Dân lập Chính vì thế việc quản lý của các trường đại học dân lập luôn phảiđối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt về các vấn đề chất lượng đào tạo và học phí, thểhiện cụ thể qua các nội dung sau : đối với miền Trung còn nghèo mà học phí trườngthu cao thì cũng khó thu hút sinh viên mặc dù chất lượng của trường ngày đượcnâng cao; nhân lực (đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên, cán bộ quản lý); tài lực,vật lực (trường, lớp, phòng thực hành thí nghiệm, các trang thiết bị phục vụ giảngdạy và học tập, ), sản phẩm được tiếp thị lưu thông (sinh viên); chỉ có chất lượngmới làm cho các trường có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với các trường dân lập là phải có những biệnpháp quản lý phù hợp để có thể tồn tại và phát triển
Một trong những vấn đề quan trọng và mang tính quyết định đó chính là độingũ giảng viên của các trường đại học dân lập Tuy ưu thế của các trường đại học
Trang 18dân lập là có thể mời được các giảng viên, chuyên gia đầu ngành, có học hàm học vịcao từ các trường đại học công lập, hoặc cơ quan Nhà nước; nhưng việc mời cácgiảng viên thỉnh giảng luôn bị động, mang tính chất thời vụ, không lâu dài vàtrường chỉ mời để mang tính giao lưu học hỏi kinh nghiệm và thu thập những thôngtin khoa học mới là chính Mặt khác các giảng viên thỉnh giảng hầu hết là tham giagiảng dạy nhiều giờ và ở nhiều trường khác nhau, gây khó khăn cho các trườngtrong việc quản lý chất lượng đào tạo Bên cạnh đó sự gắn bó lâu dài giữa đội ngũgiảng viên cơ hữu - đội ngũ được tuyển dụng chính thức với nhà trường khá lỏnglẻo; trong số đó số lượng đội ngũ giảng viên có trình độ và uy tín khoa học cònthiếu Chính vì vậy, đòi hỏi các trường đại học dân lập phải có những biện phápquản lý đội ngũ giảng viên, đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu, phải có sựquan tâm và đầu tư nhiều hơn, để xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nàyvững vàng, trở thành lực lượng nòng cốt của các trường đại học dân lập, góp phầnđảm bảo chất lượng đào tạo của các trường đại học dân lập, đồng thời giúp cho cáctrường đại học dân lập thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục đại học về đàotạo nguồn nhân lực trong giai đoạn "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đất nước và đặcbiệt là đào tạo cung cấp cho khu vực miền trung một lực lượng lao động có trình độđại học đang là điều cấp thiết.
1.2.3.3- Giảng viên, giảng viên cơ hữu:
Điều 61 Luật giáo dục nêu rõ "Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy,giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo dạy ở các cơ sởmầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở các cơ sởgiáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên"
Có 02 loại giảng viên: giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng
Trong hệ thống các trường dân lập tỷ lệ giảng viên thỉnh giảng lớn hơn so với cáctrường công lập, vì vậy việc xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu ngày càng mạnh
mẽ về chất lượng, nhiều về số lượng là yêu cầu đặt ra hiện nay
Trang 19GVCH là khái niệm dùng để chỉ giảng viên được tuyển dụng giảng dạy choNhà trường nào đó 100% thời gian làm việc tại Trường, họ là thành viên chính thứccủa nhà trường, được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của nhà nước.
1.2.4.4- Đội ngũ giảng viên:
Trong Từ điển tiếng việt có giải thích "đội ngũ" như sau "đội ngũ là tập hợpgồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng "
Vậy đội ngũ giảng viên là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy vàNCKH ở các trường cao đẳng và đại học, họ liên kết với nhau bằng hệ thống mụctiêu giáo dục; cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục SV Cùng chịu sự ràng buộc củanhững quy tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và nhà nước
1.3 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY:
1.3.1/ Bối cảnh KT - XH hiện nay.
a./ Bối cảnh thế giới:
- Hiện nay toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình pháttriển của thế giới Toàn cầu hóa về kinh tế chính là kết quả của sự phát triển cao độcủa quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động quốc tế Sự đa dạng vềcấp độ phát triển, sự khác biệt về đặc điểm địa – chính trị và địa hình – kinh tế cùngnhững đặc điểm khác biệt về bản sắc văn hóa – xã hội đang làm cho các hình thức,nội dung liên kết kinh tế, hội nhập quốc tế đa dạng, phong phú
- Nền kinh tế toàn cầu đang trải qua sự thay đổi, cạnh tranh và hội nhập chưatừng có tiền lệ Đông Nam Á - một điểm tăng trưởng nổi bật của khu vực và thế giới
sẽ ngày càng đối mặt với thách thức đuổi kịp sự phát triển của thị trường thươngmại toàn cầu và tìm ra những giải pháp đổi mới để tận dụng lợi thế qua việc trao đổithông tin trên trang WEB - cái đang hình thành thị trường thương mại của thế kỷ 21.Trong thay đổi nhanh chóng đó, vai trò của trường đại học (ĐH) trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội phải được đánh giá lại Trường ĐH nơi có truyền thốngcung cấp tri thức cho xã hội, bây giờ phải vượt ra khỏi truyền thống đó để tăngcường mức độ hợp tác với khu vực sản xuất Bốn xu thế toàn cầu chủ yếu trong giáo
Trang 20dục đại học sẽ tác động tới quá trình này : Đại chúng hoá, Tự do hóa, Quốc tế hoá,Hiện đại hóa
- Trên thế giới hiện nay đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệđang trên đà phát triển mạnh mẽ và không ngừng với những bước nhảy vọt về tốc
độ, quy mô, thành tựu Các phát minh ngày càng được áp dụng rộng rãi vào đờisống con người Thông tin và tri thức trở thành nguồn lực chủ yếu và không thểthiếu được cho sự phát triển của mỗi quốc gia và lợi thế cạnh tranh của tất cả cácnước trên thế giới
- Đặc biệt là sự phát triển xã hội thông tin trong cuộc cách mạng thông tin đòihỏi trình độ của nguồn nhân lực phải cao hơn và năng động hơn CNTT đã và đanglàm thay đổi bản chất của lao động, biến đổi tổ chức sản xuất và quá trình sản xuất.Cách thay đổi này đang làm thay đổi xã hội, là thay đổi cả lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất và điều kiện làm việc của người lao động Trong xã hội thông tin ngườilao động có được tính độc lập cá nhân trong tổ chức làm việc, nhưng lại cần một lựclượng tri thức lớn để hội nhập vào thị trường lao động thế giới
- Trước yêu cầu phát triển KT-XH và văn hoá trong phát triển giáo dục càngchứng tỏ là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để phát triển Đối với giáodục đang diễn ra ở nhiều nơi và đang tạo nên những thay đổi sâu sắc từ quan điểm,định hướng lý luận và giá trị giáo dục cho đến việc xây dựng hệ thống xác định mụctiêu, nội dung và phương pháp giáo dục Đây là nhiệm vụ trọng tâm không chỉ đốivới ngành giáo dục mà toàn xã hội, nhằm tạo điều kiện cho giáo dục phát triểnkhông ngừng, với mục đích là cung cấp đủ số lượng và chất lượng một đội ngũnhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước Hệ thốnggiáo dục không còn khép kín, mà trở thành hệ thống mở, liên thông và cơ chế vậnhành linh hoạt nhằm góp phần xây dựng một xã hội học tập theo khẩu hiệu "Học tậpsuốt đời" Nội dung giáo dục ngày càng được cập nhật với thành tựu của khoa học,công nghệ, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Phương phápdạy học được đổi mới theo hướng làm cho người học tích cực chủ động trong quátrình nhận thức và nâng cao được năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, phát
Trang 21triển các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo trong tư duy Giáo dục thực sự đóngvai trò chủ yếu trong việc hình thành và phát triển một hệ thống giá trị và năng lựccủa con người, đáp ứng được những đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế - xã hộitrong bối cảnh hội nhập ngày càng rộng rãi trên thế giới.
b./ Bối cảnh trong nước:
- Sự phát triển của giáo dục nói chung và đặc biệt là giáo dục đại học nói riêngkhông thể đứng ngoài quỹ đạo của xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay Đạihội Đảng X chỉ rõ mục tiêu phấn đấu để Giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sáchhàng đầu thông qua việc đổi mới toàn diện Giáo dục và đào tạo, phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Những biện pháp cụthể là : đổi mới cơ cấu, tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng
“chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”…Cần chuyển dần mô hình giáo dục hiện naysang mô hình giáo dục mở, mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời,đào tạo liên thông giữa các bậc học, ngành học, Đổi mới hệ thống giáo dục đại họccần có sự gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học, công nghệ với sử dụng, trực tiếpphục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục; thực hiệnphân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáodục Nhà nước cần phải tăng cường đầu tư tập trung cho các mục cần ưu tiên, cácchương trình quốc gia phát triển giáo dục cần phải được đẩy mạnh
- Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta tiến hành trong điều kiện
có nhiều thành phần kinh tế tham gia Các nguồn đầu tư và phát triển loại hình sảnxuất trở nên đa dạng, thị trường lao động được mở rộng với yêu cầu mới Do vậy cơcấu lao động càng đa dạng, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cũng đòi hỏi cao và
đa dạng hơn, dần dần nhu cầu đào tạo thay đổi tác động đến ngành giáo dục phảithay đổi, hệ thống, mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo
- Xã hội ta phát triển không ngừng về mọi mặt đã thúc đẩy và tạo điều kiệncho giáo dục ngày một đổi mới, vừa phục vụ có hiệu quả cho quá trình phát triểnkinh tế, văn hóa theo kịp xu thế chung của Trường Ngược lại xã hội cũng đòi hỏigiáo dục phải khẩn trương và mạnh mẽ hơn nữa trong việc quán triệt các định
Trang 22hướng và thực hiện tốt hơn nữa các mục tiêu giáo dục Đặc biệt phải tập trung vàoviệc tiếp tục tìm kiếm và thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trên cơ
sở phát triển hợp lý quy mô giáo dục, đồng thời khắc phục được về cơ bản nhữngbiểu hiện tiêu cực kéo dài
Trong bối cảnh trong nước và thế giới như vậy, thì chúng ta đang có những cơhội và thách thức nhất định
- Về cơ hội: Chúng ta có thể nâng cao trình độ đào tạo nguồn nhân lực để đápứng yêu cầu không chỉ trong nước mà có thể phát triển đội ngũ này trong thị trườnglao động thế giới Với sự giao lưu quốc tế rộng rãi, đội ngũ nhân lực nước ta có cơhội học tập, tiếp thu thành tựu thế giới, được rèn luyện nâng cao tay nghề, tự chiếmlĩnh một số công nghệ kỹ thuật mới, tạo bước nhảy về chất Yêu cầu đào tạo mộtđội ngũ nhân lực như vậy cũng tạo nên việc thu hút thêm vốn đầu tư cho giáo dục từnhiều nguồn, tất nhiên để thực hiện được điều đó thì phải bằng mọi cách nâng caochất lượng và hiệu quả đào tạo Trong bối cảnh hội nhập GD nước ta có nhiều thuậnlợi trong việc tiếp xúc với các nền giáo dục tiên tiến để tham khảo Đặc biệt là cơhội hợp tác trong giáo dục được mở rộng với nhiều hình thức phong phú hơn, nhất
là trong việc đào tạo nhân lực phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn và trình độ cao
- Về thách thức: Chính là vấn đề chất lượng và số lượng nguồn nhân lực Tìnhtrạng một tỷ lệ lớn nhân lực chưa được đào tạo theo chuẩn, thậm chí còn thiếu hụtrất nhiều nguồn lực con người để đáp ứng được một số ngành, trong khi chất lượngđào tạo nói chung chưa vươn tới các yêu cầu cần thiết để đảm bảo hiệu quả côngviệc Một số ngành kinh tế chưa hình thành hoặc hình thành chưa rõ nét việc chuẩn
bị cho các ngành đó còn nhiều lúng túng Trình độ ngoại ngữ, khả năng sử dụngcông nghệ thông tin còn thấp Một số phẩm chất của người lao động trong xu thếhiện đại còn thiếu hụt (tính tự giác, tự nguyện, ý thức tổ chức kỷ luật, bản lĩnh,sángtạo, ) Ngành giáo dục trong chiến lược phát triển phải tìm các giải pháp để khắcphục tình trạng trên
Từ đó ta thấy rằng vấn đề phát triển giáo dục là một việc làm hết sức quantrọng đối với mọi người, mọi cấp ngành lãnh đạo của đất nước Theo chính sách của
Trang 23Đảng và Nhà nước cũng như sự quan tâm của toàn xã hội tạo điều kiện cho giáo dụcphát triển, đồng thời cũng đặt ra cho các cơ sở giáo dục phải kịp thời điều chỉnh cơcấu ngành nghề, quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng kịp thời vớinhững biến động nhanh chóng và nhu cầu xã hội ngày càng cao về nguồn nhân lựcgiáo dục đại học vừa giỏi chuyển môn nghiệp vụ vừa có trình độ ngoại ngữ, có nănglực thích ứng với thị trường lao động, năng lực tự tạo việc làm cho mình và chonhững người khác Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong tình hình đất nước hiệnnay là hết sức cấp bách và cần thiết nhưng bên cạnh đó phải đảm bảo về chất lượngđào tạo là yếu tố cũng khá quan trọng trong việc cung cấp một đội ngũ nhân lực cóchuyên môn cao, tri thức, để có thể đáp ứng được nhu cầu của XH ngày một nhiều.
1.3.2/ Những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục ĐH trong bối cảnh hiện nay.
1.3.2.1- Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của khoa học & công nghệ,
công nghệ cao đặc biệt là công nghệ thông tin và lưu thông, đã dẫn đến sự biến đổisâu sắc của lịch sử nhân loại Nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, một xãhội thông tin, một nền kinh tế tri thức đang hình thành
Giáo dục là chìa khó để đưa nhân loại tiến lên Giáo dục đại học mang tínhquốc tế hóa và phổ quát, tác động toàn diện và sâu sắc đến mọi mặt đời sống xã hội.Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang tiến hành nhằm đưanước ta thành một nước công nghiệp vào khoảng 2 thập kỷ nữa
Đường lối chung xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu "Dân giàu nước mạnh, xãhội, công bằng, dân chủ, văn minh"
Giáo dục và khoa học công nghệ được xem là "quốc sách hàng đầu" đặc biệt làgiáo dục ở bậc đại học và sau đại học Chính điều này đã đặt ra cho giáo dục mộttrọng trách hết sức quan trọng Chính bởi giáo dục đại học là một loại hình sản xuấtđặc biệt, sản xuất ra tri thức mới và nguồn nhân lực hàm chứa tri thức cao và phi lợinhuận - một nguồn lực rất cần thiết cho việc thực hiện thành công sự nghiệp "côngnghiệp hóa, hiện đại hóa" và đưa đất nước ta hội nhập cùng với thế giới
Trang 24Giáo dục đại học sẽ là "đòn bảy nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu,tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH- HĐH và nền kinh tế tri thức nước ta pháttriển ngang tầm các nước phát triển, đáp ứng xu thế toàn cầu hóa".
Do đó, cần phải phát triển giáo dục đại học nhằm mục đích:
1) Đào tạo những người tốt nghiệp có chuyên môn trình độ cao,đồng thờicũng là những công dân có trách nhiệm, có khả năng thâm nhập được vào tất cảnhững lĩnh vực hoạt động con người bằng sự thành thạo nghề nghiệp kết hợp vớinhững tri thức và năng lực trình độ cao;3 năng lực sau đây của người tốt nghiệp ĐH
là cần thiết cho một nền kinh tế hiện đại Đó là những người có khả năng thườngxuyên cập nhật được kiến thức của mình, chiếm lĩnh được những trình độ thànhthạo chuyên môn mới, và không những có khả năng tìm được việc làm mà còn cókhả năng tự tạo ra được việc làm trong một thị trường sức lao động đầy biến động.Nhân lực đại học trong thời đại mới phải là nhân lực tư duy, nhân lực có tinhthần tạo nghiệp, tự tạo việc làm
2) Cung cấp một “không gian rộng” cho đào tạo ĐH và học tập suốt đời,với một “phổ” chọn lựa tối ưu, mềm dẻo về đầu vào và đầu ra đối với giáo dục ĐH;
3) Thúc đẩy và truyền bá những tri thức thông qua giảng dạy, chuyênmôn hóa và nghiên cứu;
4) Giúp hiểu biết, giải thích, bảo vệ, tăng cường, thúc đẩy và truyền bánhững văn hóa dân tộc và khu vực, quốc tế và lịch sử;
5) Giúp giữ gìn và thúc đẩy những giá trị xã hội khi xử lý những vấn đềphẩm chất và đạo đức;
6) Đóng góp vào sự phát triển và cải tiến giáo dục ở tất cả các trình độ,nhất là trong việc đào tạo đội ngũ giảng viên
1.3.2.2- Nhà trường là trung tâm trí tuệ của xã hội, vì thế mục đích chính của
trường đại học là đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật và quản lý có trình độ đại học
và trên đại học, năng động, sáng tạo, có đầu óc phê phán, có tinh thần tự chủ, cónăng lực tự học , tự nghiên cứu suốt đời nhằm đáp ứng được đúng đắn kịp thời cácyêu cầu kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 25Để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong quá trình GD - ĐT trong giai đoạnhiện nay, nhà trường đại học hiện đại cần phải chú ý tới một số yêu cầu sau:
+ Nhà trường đại học hiện đại gắn chặt với khoa học và sản xuất
+ Chức năng nhà trường đại học được mở rộng : vừa đào tạo, vừa bồi dưỡng,vừa nghiên cứu khoa học, vừa phổ biến khoa học và tham gia sản xuất
+ Nội dung dạy học được hiện đại hóa, gắn chặt với khoa học và sản xuất.+ Có cuộc cách mạng trong phương pháp đào tạo
+ Tổ chức quản lý trường đại học theo kiểu mới, theo tinh thần dân chủ côngkhai, mở rộng, liên kết với các viện nghiên cứu, cơ sở sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mọi tổchức phải đảm bảo đạt bốn tiêu chí sau đây : chất hượng cao, hiệu quả cao, hiệusuất cao, công bằng xã hội
Tóm lại, vai trò của giáo dục ngày càng được nâng cao, nhu cầu học tập Đạihọc của xã hội tăng nhanh; kinh tế thị trường được thúc đẩy và thành phần ngoàiNhà nước được công nhận Chính vì thế mà yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cho giáodục đại học là hết sức cấp thiết, đòi hỏi các trường đại học - trung tâm trí tuệ của xãhội - cần phải có những biện pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục - đàotạo Một trong những biện pháp quan trọng và được đặt lên hàng đầu đối với cáctrường đại học đó là xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, bởi "giảng viên lànhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh"
1.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN:
1.4.1/ Vai trò, nhiệm vụ của giảng viên đại học.
1.4.1.1- Vai trò:
Điều 14 Luật giáo dục đã khẳng định rõ vai trò của nhà giáo như sau: "Nhàgiáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phảikhông ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vậtchất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình; giữ gìn và phát huytruyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học"
Trang 26Từ xa xưa trong dân gian đã truyền tụng câu ca dao "Muốn khôn thì phải cóthầy; không thầy dạy đố mày làm nên, ,muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con haychữ phải yêu lấy thấy, ".
Trong suốt thời kỳ lịch sử phát triển của giáo dục đại học ở Việt Nam, giảngviên luôn được tôn vinh là kỹ sư tâm hồn, là người có vai trò quyết định đến chấtlượng của giáo dục - đào tạo và thực tế cũng đã chứng minh được điều đó qua việcnhững đóng góp của họ có tầm quan trọng trong mục tiêu đào tạo nguồn nhân lựccho tổ quốc vào những giai đoạn khác nhau của lịch sử dựng nước và giữ nước.Như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu "Nghề dạy học là nghề cao quýnhất trong các nghề cao quý Nghề dạy học là một nghề sáng tạo nhất trong cácnghề sáng tạo vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo"
Tuy nhiên chức trách, vai trò của giảng viên các trường đại học cũng thay đổitheo tiến trình phát triển của lịch sử Nếu trước đây việc giảng dạy được xem lànhiệm vụ không thể thiếu của giảng viên thì từ những năm 60 trở lại đây việcnghiên cứu khoa học được bổ sung vào chức trách của người giảng viên đại học Vàđến nay thì đã khẳng định hơn về chức trách cũng như vai trò của người giảng viênđược cấu trúc xung quanh hai nhiệm vụ cơ bản đó là "giảng dạy" và "nghiên cứu" Điều này tuỳ thuộc vào từng trường đại học khác nhau mà có tỷ lệ phù hợp đối vớimỗi giảng viên giữ việc nghiên cứu và giảng dạy, nhằm đạt được một mục đích nhấtđịnh nào đó
Ngoài ra, giảng viên còn có vai trò là tấm gương sáng về nhân cách, là ngườihướng đạo trên đường đời Bất cứ ai và bất cứ lúc nào, khi bàn về phẩm chất lýtưởng mà người thầy phải có, đều nghĩ tới những phẩm chất mà toàn xã hội phải tôntrọng Nói cách khác những phẩm chất cần phải có của nhà giáo là nhân cách và lốisống tốt đẹp, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau, phải được đào tạo chuẩn mực
và luôn được rèn luyện trong môi trường tốt Các khái niệm chung về phẩm chấtcủa nhà giáo là vấn đề nhân cách Do đó,trong việc lựa chọn giảng viên, trước hếtphải chọn những người có nhân cách tốt
Trang 27Vậy, giảng viên đại học giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo, hình thànhcho sinh viên năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chínhtrị, , hình thành nhân cách sinh viên, đảm bảo cung cấp cho xã hội những ngườicông dân tốt phục vụ cho địa phương, đất nước.
1.4.1.2- Nhiệm vụ:
Điều 46 trong Điều lệ của trường đại học quy định nhiệm vụ cụ thể của giảngviên đại học như sau:
- Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và NCKH được quy định theo giờ chuẩn do
Bộ giáo dục & đào tạo ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ giáo dục & đào tạoTrường đại học quy định Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy - họctập theo sự phân công của các cấp quản lý
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải tiến phương phápgiảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo
- Tham gia và chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học & phát triển công nghệ ,dịch vụ khoa học và công nghệ, ngoài ra còn có các hoạt động khác
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương phápđào tạo và nghiên cứu khoa học
- Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng,đạo đức, tác phong , lối sống đúng với phong cách của một nhà giáo
1.4.1.3- Những yêu cầu đặt ra đối với GV đại học trong giai đoạn hiện nay:
Cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay đã làm thayđổi diện mạo của đất nước, đồng thời làm tăng vọt khối lượng tri thức của nhân loại,
Do nhịp độ đổi mới của công nghệ thông tin với tri thức tăng nhanh, với độ chóngmặt nên đòi hỏi người giảng viên phải đổi mới liên tục và cập nhập thường xuyênnhững thông tin mới của thế giới mang lại từ nội dung đến phương pháp giảng dạytheo hướng hiện đại hóa, giảng viên nếu không thay đổi được thì chỉ truyền đạt lạicho sinh viên những tri thức đã cũ kỹ, thậm chí có khi còn lạc hậu, mà điều này dẫnđến cung cấp cho xã hội một nguồn lao động kém chất lượng, mỗi trường đào tạo
Trang 28cần phải quán triệt cho giảng viên phương châm đó là "giảng những gì người ta cần,chứ không giảng những gì mình có".
Do khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng , yếu tố con người trở nên cóvai trò quyết định đối với sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia Nguồn nhân lực cóchất lượng cao về trí tuệ và kỹ năng trở thành lợi thế không nhỏ cho sự phát triểncủa đất nước Bởi vậy bước vào thế kỷ 21 đặt ra cho mỗi người giảng viên nhữngthách thức và cơ hội nhất định
Ngày xưa ông Thầy đồ có thể truyền lại hết "cái chữ thánh hiền" cho học tròcủa mình, song điều đó bây giờ không thể làm được vì tri thức đã trở nên bao la nhưbiển rộng Tuy nhiên, người thầy ngày nay có thể trao cho học trò những thứ quýgiá không kém đó là phương tiện và phương pháp cần thiết để trò có thể tự trang bịkiến thức cho chính mình suốt cả cuộc đời theo phương châm "Xã hội học tập, họcsuốt đời", "Không cho con cá mà cái cần câu" Hướng tới mục đích đó thì nội dungđổi mới tất yếu dẫn đến đổi mới phương pháp giảng dạy Trên cơ sở thường xuyênnâng cao trình độ giảng viên cùng với hiện đại hóa thiết bị dạy học mới, phát huytích cực vai trò của người học, nhằm giúp họ sẵn sàng và tự tin hướng vào cuộcsống lao động sáng tạo
Ngoài ra người giảng viên cần thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Phải có kiến thức về môi trường giáo dục đại học
- Phải biết mục tiêu, tính chất, đặc điểm ngành học
- Phải hiểu đối tượng người học, biết khai thác động lực và tiềm năng củangười học
- Phải biết tận dụng quy luật, nguyên tắc dạy học đại học, hướng dẫn sinh viên
tự học, tự nghiên cứu
- Phải biết vận dung các hình thức dạy học một cách phù hợp, phương phápdạy học phải thường xuyên thay đổi theo sự phát triển chung của nền giáo dụcnước nhà,v.v
- Đặc biệt người giảng viên phải nắm vững kiến thức chuyên ngành đồng thời
có sự kết hợp với thực tiễn cuộc sống, để tạo cho người học một cách nhìn sâu sắc
Trang 29hơn giữa lý thuyết và thực hành.
Hoặc theo UNESCO yêu cầu đối với GV đại học trong giai đoạn hiện nay là:+ Hiểu biết công nghệ thông tin và khả năng ứng dụng chúng trong dạy học.+ Người giảng viên phải hiểu cách học trong môi trường thông tin để có thểhướng dẫn sinh viên học và có khả năng làm tốt vai tro cố vấn cho họ
+ Có kiến thức đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học để đánh giáchính xác, khách quan kết quả học tập của người học, góp phần khẳng định chấtlượng đào tạo của mình
1.4.2/ Vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học.
1.4.2.1- Mục đích của việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV:
Như đã trình bày ở phần trên về những yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giảngviên trong giai đoạn hiện nay Vì vậy việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
là yêu cầu bức thiết để đáp ứng chất lượng đào tạo về mặt năng lực chuyên môn, sốlượng, cơ cấu và phẩm chất đạo đức
Đối với các trường đại học trên cả nước nói chung về số lượng giảng viênđứng lớp vừa thừa vừa thiếu, thừa số lượng giảng viên không đảm bảo yêu cầu, yếu
về chuyên môn thực tiễn, thiếu đội ngũ giảng viên vừa có đức lẫn có tài, có tâmhuyết với nghề nghiệp
Riêng đối với hệ thống các trường Đại học dân lập nói chung, thường thì độingũ giảng viên cơ hữu thiếu trầm trọng (có những trường chỉ đáp ứng được 30%còn lại là giảng viên thỉnh giảng) Trong đội ngũ giảng viên cơ hữu ấy về mặt họchàm học vị cũng không đảm bảo Đối với các trường khối dân lập phần lớn mới ởtrình độ Thạc sĩ Tuy nhiên, đây mới bàn về khía cạnh khái niệm bằng cấp còn chấtlượng trình độ thực sự gắn với kinh nghiệm giảng dạy ở bậc ĐH vẫn còn bất cập.Đại học hiện nay với xu thế hội nhập sâu vào thị trường thế giới , hệ thống cáctrường đại học cần xây dựng cho mình một thương hiệu vững mạnh có uy tín làđiều sống còn, vấn đề đó thể hiện ở sản phảm đầu ra của nhà trường Vậy để đápứng sản phẩm đầu ra của nhà trường có uy tín tức sinh viên ra trường có thể làmviệc tốt ở các đơn vị công tác thì một phần quyết định là vừa ở sự nổ lực, ý thức
Trang 30nghiên cứu của sinh viên, vừa là khả năng tiêu thụ vốn kiến thức của giảng viên đãtruyền tải cho sinh viên Điều đó cho thấy rằng mục đích xây dựng và phát triển độingũ giảng viên có năng lực chuyên môn giỏi, đồng thời biết liên hệ giữa lý luận vớithực tiễn, gắn nhà trường với đời sống Người thầy giáo quyết định chất lượng giáodục, thậm chí không có thầy thì không có lớp, không có giáo dục.
Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên không phải chỉ xây dựng từnggiảng viên phát triển độc lập, rời rạc mà trong đó phải thể hiện quan hệ biện chứngtrong quá trình phát triển nói chung Không phải xây dựng là xem xét theo phépcộng thuần tuý, mà sức mạnh ở chỗ sự phối hợp theo một cơ chế vận hành nhất định
để tạo nên hợp lực cho sự phát triển
Ngoài ra, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên còn phải gắn vớiphẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức Tiêu chuẩn để tiếp nhận và xây dựng ngườigiảng viên là người phải có nhân cách tốt, là tấm gương sáng, và là nghề cao quýnhất trong các nghề cao quý Mà cấu trúc nhân cách gồm có Đức & Tài, xây dựngđội ngũ giảng viên phải có Tài lẫn có Đức Nếu người giảng viên yếu một trong haimặt đó sẽ không đáp ứng yêu cầu Mặt khác, quá trình xây dựng đất nước chúng tatheo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên phẩm chất chính trị cũng đặc biệt quan trọng,thể hiện ở tính Đảng, tính giai cấp, lòng yêu thương quê hương đất nước Có nhưvậy người giảng viên mới có khả năng và tư thế xứng đáng để truyền thụ một lượngtri thức cần thiết cho sinh viên
Nói tóm lại, mục đích xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên để đáp ứngtrình độ, nghiệp vụ chuyên môn, năng lực, phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức,tạo nên tổng lực cho sự phát triển đội ngũ giảng viên
1.4.2.2- Nội dung của việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV:
Trong quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên đại học cần xácđịnh nội dung xây dựng, phát triển gắn với chiến lược phát triển của ngành giáo dụcnói chung, và của nhà trường nói riêng thông qua kiểm định đánh giá chất lượnggiảng viên và xu hướng vận động phát triển ngành giáo dục đại học trong tình hình
Trang 31mới Qua đó nhà trường cần xác định rõ nội dung đào tạo một cách đích thực vàhiệu quả, đồng thời đáp ứng và theo kịp với xu thế của thời đại.
Vì vậy, có thể xác định việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữucủa trường Đại học Dân Lập Duy Tân gồm những nội dung cơ bản sau:
sở tuân thủ nguyên tắc khách quan Đối với trường Đại học Dân Lập Duy Tân hằngnăm các khoa phòng luôn triển khai quy trình về công tác tổ chức để có cơ sở căn
cứ cho lãnh đạo nhà trường làm công tác quy hoạch giảng viên một cách chính xác.Quy hoạch đội ngũ giảng viên:
a./ Số lượng: Nhà trường hằng năm phải thống kê, đánh giá tình hình về
đội ngũ giảng viên để qua đó biết được với số lượng đội ngũ giảng viên như hiện tại
có đảm bảo cường độ và khối lượng giảng dạy hay không, từ đó có thể tăng thêmhay tinh giảm đội ngũ hoặc tinh gọn một số bộ phận nhất định cho phù hợp với tìnhhình thực tiễn của nhà trường trong từng giai đoạn khác nhau, để có thể tồn tạiđược Điêù đó được thể hiện như sau:
- Đảm bảo duy trì đủ, ổn định số lượng giảng viên đạt chuẩn
- Đảm bảo tỷ lệ sinh viên trên một giảng viên theo yêu cầu 20giảng viên/ 1sinh viên đối với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ; 20 - 25 giảngviên/ 1 sinh viên đối với các ngành khoa học xã hội và nhân viên, các ngành kinhtế,v
- Đảm bảo cho giảng viên hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và tạo điều kiện chogiảng viên có thời gian tham gia nghiên cứu khoa học
- Đảm bảo cho việc sử dụng và phát huy hết của đội ngũ giảng viên cơ hữumột cách hợp lý và hiệu quả
Trang 32Hiện nay, khối đại học dân lập nói chung và ĐH DL Duy Tân nói riêng cònthiếu số lượng giảng viên, đặc biệt là giảng viên có trình độ cao Vì vậy, đây cũng làyêu cầu cấp thiết để có kế hoạch tuyển dụng, luân chuyển và đào tạo kịp thời.
b./ Chất lượng: Chất lượng giảng viên là yêu cầu cơ bản nhất đối với đội
ngũ giảng viên của một trường đại học Cho nên trong công tác quy hoạch bất cứtrường nào cũng đều quan tâm đến chất lượng, để có thể bố trí sử dụng, đào tạo cóhiệu quả và có đội ngũ kế thừa ngày càng mạnh hơn cho nhà trường
c./ Cơ cấu: Đây cũng là vấn đề quan trọng để tạo nên sự đồng bộ cân đối
không tạo nên khoảng cách chệnh lệch giữa các thế hệ, ngành nghề và trình độ đàotạo
2) Về đào tạo & bồi dưỡng:
Nội dung đào tạo bồi dưỡng cán bộ phải lấy tiêu chuẩn nhất định làm căn cứ
để xây dựng chương trình đào tạo Nội dung cần thiết thực, phù hợp với yêu cầu củatừng ngành nghề , chú trọng cả phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn nghiệp
vụ, cả lý luận lẫn thực hành
Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên theo quy hoạch là khâu cơ bản có tính chiếnlược trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên cho tương lai Trong quá trình đào tạocần kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với thực hành, đào tạo gắn với phẩm chất đạo đứcchính trị và rèn luyện trong thực tiễn
Phương thức đào tạo là kết hợp giữa hình thức đào tạo chính quy và các hìnhthức đào tạo khác phù hợp với điều kiện từng loại giảng viên Vừa đào tạo trongnước vừa đào tạo ở nước ngoài để học tập những kinh nghiệm, đồng thời có chế độkhuyến khích, động viên đối với giảng viên nào đi đào tạo đạt thành tích xuất sắc
3) Về bố trí và sử dụng giảng viên:
Muốn bố trí và sử dụng giảng viên phải dựa vào tiêu chuẩn sau đây:
- Nắm vững và dựa vào tiêu chuẩn đánh giá phân loại giảng viên để đào tạo,bồi dưỡng và sử dụng, bên cạnh đó cần có chính sách đãi ngộ cho phù hợp
- Phải lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước đo phẩm chất vànăng lực làm việc của giảng viên
Trang 33- Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc bố trí giảng viên đúngngười, đúng việc và đúng lúc, đúng chỗ để phát huy cao nhất hiệu quả làm việc vànăng lực cá nhân của họ.
- Phải xuất phát từ yêu cầu của ngành giáo dục nói chung và của nhà trườngnói riêng
4) Xây dựng môi trường sư phạm thuận lợi cho sự phát triển:
Trong bất kỳ một tổ chức dù nhỏ hay lớn thì yếu tố môi trường cũng đóng mộtvai trò quan trọng trong việc tăng hiệu quả và chất lượng công việc Môi trườngchính là hoàn cảnh, điều kiện làm việc Môi trường cũng là một trong những điềukiện đảm bảo cho mọi thành viên trong một tổ chức phát triển khả năng của mìnhhơn nữa Môi trường thuận lợi sẽ tạo cho mọi người cảm thấy hứng phấn trong côngviệc và gắn bó với tổ chức, yên tâm công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.Đối với nhà trường nói chung, nhà trường đại học nói riêng việc xây dựng mộtmôi trường thuận lợi chính là :
+ Xây dựng văn hóa tổ chức trong nhà trường; nhà trường như một tổ chứcbiết học hỏi, mọi thành viên trong nhà trường cơ sở với nhau như những người cóvăn hóa, tin cậy, chia sẽ lẫn nhau, cùng hợp tác để đạt mục tiêu đề ra
+ Tạo ra một hành lang pháp lý để cho đội ngũ giảng viên có thể yên tâm thựchiện nhiệm vụ của mình, phát huy tính đoàn kết, dân chủ, công khai
+ Hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ giảng viên:
- Phương thức quản lý: thực hiện tăng cường quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong quản lý đội ngũ giảng viên
- Cán bộ quản lý:được đào tạo và bồi dưỡng năng lực của cán bộ quản lý.+ Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy, học tập và nghiêncứu
+ Vận dụng các chính sách kinh tế - xã hội, chính sách thu hút, đãi ngộ, khenthưởng một cách hợp lý và kịp thời
5) Kiểm tra, đánh giá
Trang 34Trong mọi qui trình đào tạo, kiểm tra - đánh giá là khâu cuối cùng và cũng làkhâu quan trọng nhất, bởi lẽ thực hiện kiểm tra - đánh giá một cách khoa học,nghiêm túc không chỉ cho chúng ta biết qui trình đào tạo có đạt được mục tiêu haykhông và nếu đạt thì ở mức nào
Chính vì vậy trong công tác quản lý đội ngũ giảng dạy nói riêng việc kiểm tra,đánh giá là một nhiệm vụ diễn ra liên tục Trong nội dung xây dựng và phát triểnđội ngũ giảng viên kiểm tra, đánh giá đồng thời là một trong những phương tiệnquản lý quan trọng nhất mà các nhà lãnh đạo của Trường thường sử dụng để điềuchỉnh các quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo của Trường Thông qua kiểm tra,đánh giá mà lãnh đạo nhà trường rút ra được kết quả ưu hay khuyết điểm trong quátrình xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Qua đó để có sự điều chỉnh kịp thờinhằm nâng cao chất lượng đào tạo.Trong giáo dục nếu thay đổi cách đánh giá có thể
là xoay chuyển bản chất và quá trình hoạt động của nhà Trường
Trong quá trình kiểm tra, đánh giá cần xây dựng chuẩn mực đánh giá theophương pháp so sánh, nó vừa là phương tiện để xem xét đánh giá vừa là để đối thoạimang tính xây dựng giữa các giảng viên với nhau
Để xây đựng được chuẩn mực đánh giá đạt chất lượng và hiệu quả, theo tôinhà Trường cần chú ý đến những vấn đề cơ bản :
- Hoàn thiện và xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá Chuẩn đánh giá này phảiphù hợp với mục tiêu, như hiện nay mà nói hệ thống chuẩn của chúng ta chủ yếudựa vào điểm để đánh giá kiến thức, kỹ năng.v.v.còn trình độ, tư duy, năng lực sángtạo, đạo đức, tác phong của người dạy,…, thì còn rất nhiều bất cập, làm cho việcđánh giá bị lệch lạc, phiến diện Đồng thời phải biết tiếp cận với trình độ khu vực vàquốc tế
- Xây dựng bộ máy kiểm tra, đánh giá có chất lượng, có hiệu lực và gọn nhẹbằng việc chọn lọc những cán bộ có phẩm chất và năng lực tốt, trung thực với côngviệc của mình và sử dụng các phương tiện hiện đại.v…v
Quy trình đánh giá không chỉ tập trung vào hoạt động dạy và học mà còn xemxét đến các hoạt động nghiên cứu khoa học Nhưng thực tế một số trường chỉ đánh
Trang 35giá đến quá trình dạy và học nhiều hơn, có trường dường như rất ít quan tâm đếnhoạt động nghiên cứu khoa học Hai quá trình giữa hoạt động dạy và học với nghiêncứu khoa học không nên tách rời nhau mà cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau,giảng viên không có nghiên cứu khoa học thì việc giảng dạy mang tính lý thuyết vàkhông thực tiễn gắn kết với cuộc sống được Vì chính sự kết hợp đó là cơ sở đểnâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ngày một tốt hơn.
Tóm lại, qua những nội dung trình bày trên đây là phần lý luận chung của việcxây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Thông qua đó, giúp chúng tôi có sơ sởphân tích thực trạng đội ngũ giảng viên cơ hữu trường Đại học Dân lập Duy Tân đểđưa ra những biện pháp phù hợp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơhữu của nhà trường vững mạnh, có chất lượng đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiệnnay
***
Trang 36CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CƠ HỮU TRƯỜNG
ĐẠI HỌC DÂN LẬP DUY TÂN
2.1 ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG, NHU CẦU VỀ NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC:
Thành phố Đà Nẵng là một thành phố trẻ và năng động, nằm ở vị trí trung độcủa đất nước, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh; làđầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàngkhông, cửa ngõ chính ra Biển Đông của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và cácnước tiểu vùng MêKông
Từ khi Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, nhất làtrong gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và Nghị Quyết Đại hộilần thứ XVIII của Đảng bộ thành phố Đảng bộ và nhân dân Đà Nẵng đã đoàn kết,nhất trí, khắc phúc khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế, huy động nội lực, tranhthủ các nguồn lực bên ngoài để xây dựng và phát triển thành phố đạt được nhiềuthành tựu đáng biểu dương, trong một số lĩnh vực đã có cách làm sáng tạo và cónhững mô hình tốt
Thành phố luôn duy trì được nhịp độ phát triển kinh tế khá, cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tích cực, các ngành sản xuất và dịch vụ có tốc độ phát triểnngày càng nhiều
2.2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP DUY TÂN:
2.2.1/ Lịch sử hình thành và phát triển trường ĐHDL Duy Tân:
Ngày 11/11/1994 Thủ tướng Chính Phủ ký Quyết định số 666/TTg cho phép thành lập Trường Sự ra đời của Trường Đại học Dân Lập Duy Tân một
Trường đại học đầu tiên tại khu vực miền Trung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,với chiều hướng phát triển nhanh và năng động trong cơ chế quản lý cũng như conngười cần cù chịu khó học hỏi tiếp thu những tinh hoa văn hóa, nhất là từ khi đất
Trang 37nước gia nhập vào WTO thì sự phát triển của Thành phố Đà Nẵng ngày càng nhanh,các nhà đầu tư nước ngoài vào Đà Nẵng, các nhà máy xí nghiệp, công ty liên doanhvới nước ngoài mở ra ngày càng nhiều Từ đó nhu cầu về nguồn nhân lực có trình
độ cũng như tay nghề chuyên môn rất cần thiết Trường Đại học Dân lập Duy Tân
ra đời góp phần vào việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhànước ta nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trường Đại học Dân Lập Duy Tân từ khi thành lập đến nay đã hơn 13 nămhoạt động, trãi qua một thời gian khá dài với những khó khăn và thuận lợi nhất địnhnhưng Trường cũng đã vượt qua đến ngày hôm nay là một nổ lực rất lớn của Hộiđồng quản trị nhà Trường cũng như đội ngũ cán bộ, giảng viên của Trường đã gópphần tạo nên Có thể nói Trường đã có những bước đi cũng như chiến lược pháttriển của Trường để có thể đứng vững thực hiện nhiệm vụ và vai trò của mình trong
sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực tri thức cho thành phố Đà Nẵng nói riêng và khuvực miền Trung, cả nước nói chung
2.2.1.1- Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Dân Lập Duy Tân:
Qua hơn 13 năm hoạt động, nhà trường đã đạt được những kết quả bước đầuđáng khích lệ và dần đi vào thế ổn định và phát triển, ngoài sự cố gắng của tập thểcán bộ, giảng viên, nhân viên của Trường thì sự nổ lực, quyết tâm của Hội đồngquản trị (HĐQT), Ban Giám Hiệu (BGH) trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức cũngnhư quản lý và điều hành bộ máy nhà trường là một yếu tố quan trọng mang tínhquyết định cho sự tồn tại và phát triển của Trường
Thật vậy, ngay từ những đợt tuyển sinh đầu tiên của Trường năm 1995, với
cơ sở vật chất hết sức thiếu thốn chủ yếu là thuê mướn, đội ngũ quản lý vỏn vẹn chỉ
có vài người nhưng nhà trường vẫn tổ chức và quản lý tốt việc đào tạo cho trên 550sinh viên, đây là một minh chứng rất rõ cho sự nổ lực kể trên
Qua những năm tiếp theo với qui mô đào tạo ngày càng phát triển, nhàtrường đã từng bước xây dựng được một đội ngũ quản lý vững mạnh với một cơ cấu
tổ chức tương đối có hiệu quả Từ chổ toàn trường chỉ có Ban Giám Hiệu và Phòngtổng hợp (bao gồm cả Phòng kế hoạch tài vụ, văn phòng, đào tạo) ở năm đầu tiên,
Trang 38đến này Trường đã xây dựng các phòng, ban , khoa và trung tâm chuyên biệt với cơcấu và chức năng hoạt động rất rõ ràng và đã phát huy hiệu quả trong xu thế pháttriển của Trường cũng như đối với khối đại học dân lập nói chung của cả nước.
Đến nay Trường đã hình thành cơ cấu bộ máy quản lý được thể hiện bằng sơ
Khối hành chính phục vụ
Khối dịch vụ
Đào tạo
trong nước
Hợp tác Quốc tế - Đào tạo chất lượng cao
Trang 39Sơ đồ minh họa cụ thể cơ cấu tổ chức đơn vị của Trường:
(Trang sau)
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của Trường hiện nay với một bộ máy vừa gọnnhẹ, linh hoạt và năng động, các đơn vị được thành lập đều phù hợp với nhu cầu
Trang 40đào tạo chung của Trường, mọi chủ trương, quyết định của Hội đồng Quản trị vàHiệu Trưởng luôn được triển khai nhanh chóng ở các đơn vị và từng thành viêntrong Trường Đồng thời giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong việcthực thi nhiệm vụ của cấp lãnh đạo xuống đơn vị được phản hồi kịp thời và cùngbàn bạc tìm biện pháp giải quyết cho phù hợp với thực tế chung của Trường và luônlấy hiệu quả trong công tác quản lý, làm thước đo cho mọi hành động của cá nhân
và tổ chức trong Trường
2.2.1.2- Về quy mô và lĩnh vực đào tạo:
Theo Quyết định thành lập Trường Đại học Dân Lập Duy Tân số 666/TTgngày 11/11/1994 của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký ban hành Đến tháng 7năm 1995 Trường bắt đầu tổ chức tuyển sinh đợt đầu tiên với số lượng Bộ Giáo dục
& Đào tạo cho phép là 1.200 sinh viên Bước đầu hầu như cơ sở cũng như phònghọc cuả khóa đầu tiên được thuê từ các trường phổ thông tại thành phố Đà Nẵng.Sinh viên phải chuyển dời lớp học nhiều nơi, điều này cũng ảnh hưởng phần lớn vềtinh thần học tập của sinh viên
Đến nay Trường Đại học Dân Lập Duy Tân (ĐH DL DT) đã có một cơ sởđào tạo tương đối ổn định Cơ sở vật chất trang thiết bị hiện nay cùng với đội ngũgiảng dạy cơ hữu tại Trường với số lượng hơn 200 giảng viên và hơn 100 cán bộ ,nhân viên quản lý và phục vụ đào tạo Trường đã tổ chức đào tạo gồm 4 hệ : hệ đạihọc; hệ cao đẳng; hệ trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo từ xa bằng II với số lượnghiện tại từng năm giữ ở mức sinh viên học sinh khoảng 6.000 và Trường đã đào tạotốt nghiệp được 11 khóa ra trường phần lớn đã có việc làm, được xã hội thừa nhận.Các ngành nghề mà Trường đang đào tạo và mới hình thành một số ngành đào tạokhác sẽ tuyển sinh trong năm 2007
2.2.1.3- Về cơ sở vật chất:
Sau 13 năm xây dựng và trưởng thành kể từ khi thành lập Trường cho đếnnay, nhà trường gặp không ít khó khăn về nguồn vốn đầu tư Nhưng cũng chính từnhững khó khăn đó đã nung nấu cho Ban lãnh đạo nhà trường ý chí và ý thức vươn
lên với quyết tâm "Trường cho ra Trường" Từ những địa điểm thuê mướn lúc chỗ