Bán hàng đa cấp là một phương thức kinh doanh rất thành công ra đời từ những năm 40 của thể kỉ XX nhưng chỉ mới được biết đến ở Việt Nam khoảng từ đầu những năm 2000 trở lại đây. Lợi dụng sự mới mẻ, những kẽ hở của pháp luật cũng như sự thiếu hiểu biết của người dân, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã biến tướng thành kinh doanh đa cấp bất chính, gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới nền kinh tế cũng như người tiêu dùng. Vì vậy năm 2004, lần đầu tiên những quy định xung quanh vấn đề BHĐC đã được đề cập đến trong LCT, cùng theo đó là cơ sở để các văn bản qui phạm pháp luật khác có liên quan lần lượt ra đời. Thế nhưng, sau 12 năm kể từ khi có các quy định quản lý đầu tiên cho tới này, những vấn đề về BHĐC vẫn chưa bao giờ hết nóng bỏng, không chỉ ở các thành phố lớn, cơn bão đa cấp bất chính còn đi qua cả những làng quê hẻo lánh gây ra thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người dân, nhất là những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, sinh viên, nông dân trở thành những nạn nhân bất hạnh.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Luật, Trường Đại học Công Đoàn và sự đồng
ý của Giảng viên hướng dẫn - Th.S Trần Ngọc Dung, em đã thực hiện đề tài
“Pháp luật về chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính, thực trạng và giải pháp”.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đãtận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rènluyện ở trường Đại học Công Đoàn
Xin cảm ơn Giảng viên hướng dẫn Th.S Trần Ngọc Dung đã tận tình, chuđáo hướng dẫn em thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận vớithực tiễn cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong được sự góp
ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng khoa để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!Sinh viên Nguyễn Minh Đức
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LCT: Luật cạnh tranh
BHĐC: Bán hàng đa cấp
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1.Tính cấp thiết của đề tài 7
2.Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
3.Mục đích nghiên cứu 9
4.Phạm vi nghiên cứu 9
5.Phương pháp nghiên cứu 9
6.Kết cấu của khóa luận 10
PHẦN NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNH VI BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH 11
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành bán hàng đa cấp trên thế giới và quá trình du nhập vào Việt Nam 11
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành bán hàng đa cấp 11
1.1.2 Sự xuất hiện của hành lang pháp lý cho hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam 12
1.2 Khái quát chung về hành vi bán hàng đa cấp và bán hàng đa cấp bất chính 13
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp 13
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp bất chính 15
1.3 Kết luận chương 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH 21
2.1 Các quy định về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp 21
2.2 Quy định của pháp luật về chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính 23
2.2.1 Quy định về dấu hiệu nhận diện hành vi bán hàng đa cấp bất chính 23
Trang 42.2.2 Thủ tục xử lý đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính 30
2.2.3 Quy định về chế tài xử phạt hành vi bán hàng đa cấp bất chính 32
2.3 Thực trạng pháp luật về chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính 36
2.3.1 Thực trạng về bán hàng đa cấp ở Việt Nam 36
2.3.2 Thực trạng về bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam 39
2.3.3 Hiệu quả từ những quy định của pháp luật đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính 43
2.3.4 Những bất cập còn tồn tại về quản lý hành vi bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam 45
2.4 Kết luận chương 52
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC QUY ĐỊNH CHỐNG HÀNH VI BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH 53
3.1 Tăng cường khả năng quản lý hoạt động bán hàng đa cấp ngay từ khâu đăng ký, tăng điều kiện gia nhập thị trường của doanh nghiệp bán hàng đa cấp 53
3.2 Thắt chặt các tiêu chuẩn chung và quy định cụ thể hơn trách nhiệm công khai minh bạch từ phía doanh nghiệp bán hàng đa cấp 54
3.3 Tăng khung hình phạt đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính 54
3.4 Đưa nhiều cơ quan nhà nước vào cuộc hơn trong việc quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, tăng cường khả năng trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý và người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp 55
3.5 Tăng khả năng truy cứu trách nhiệm đối với chủ thể vi phạm 57
3.6 Đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về bán hàng đa cấp bất chính 57
3.7 Kết luận chương 58
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Bán hàng đa cấp là một phương thức kinh doanh rất thành công ra đời từnhững năm 40 của thể kỉ XX nhưng chỉ mới được biết đến ở Việt Nam khoảng từđầu những năm 2000 trở lại đây Lợi dụng sự mới mẻ, những kẽ hở của pháp luậtcũng như sự thiếu hiểu biết của người dân, nhiều doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực này đã biến tướng thành kinh doanh đa cấp bất chính, gây ra những hậuquả nghiêm trọng tới nền kinh tế cũng như người tiêu dùng Vì vậy năm 2004, lầnđầu tiên những quy định xung quanh vấn đề BHĐC đã được đề cập đến trongLCT, cùng theo đó là cơ sở để các văn bản qui phạm pháp luật khác có liên quanlần lượt ra đời Thế nhưng, sau 12 năm kể từ khi có các quy định quản lý đầu tiêncho tới này, những vấn đề về BHĐC vẫn chưa bao giờ hết nóng bỏng, không chỉ ởcác thành phố lớn, cơn bão đa cấp bất chính còn đi qua cả những làng quê hẻolánh gây ra thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người dân, nhất là những đốitượng có hoàn cảnh khó khăn, sinh viên, nông dân trở thành những nạn nhân bấthạnh
Với vốn hiểu biết về pháp luật cũng như thực tiễn và nguyện vọng về xây
dựng tương lai không còn bóng dáng nạn BHĐC bất chính, em chọn đề tài “Pháp luật về chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính, thực trạng và giải pháp” làm
đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Về đề tài pháp luật quy định về BHĐC, ở nước ta đã có rất nhiều nghiên cứu
cụ thể, từ các chuyên gia luật học cho đến những công trình của sinh viên trongngành Trong đó tiêu biểu ta có thể kể đến các đề tài sau:
Bán hàng đa cấp theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam, Trần Thị Bảo
Ánh, Luận văn Thạc sĩ Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 6Bản chất pháp lý của hợp đồng tham gia Bán hàng đa cấp, Đoàn Trung
Kiên, Luận văn Thạc sĩ Luật học – Trường Đại học Luật Hà Nội
Pháp luật điều chỉnh Bán hàng đa cấp ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn,
luận văn thạc sĩ luật học, Hoàng Đào Thu Thuỷ ; PGS TS Trần Ngọc Dũnghướng dẫn
Pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý hoạt động Bán hàng đa cấp, luận
văn thạc sĩ luật học Lê Vương ; PGS TS Nguyễn Thị Vân Anh hướng dẫn
Tìm hiểu về hợp đồng tham gia Bán hàng đa cấp ở Việt Nam, Khóa luận tốt
nghiệp; Trần Minh Tâm ; TS Đoàn Trung Kiên hướng dẫn
Một số nội dung pháp lý về Bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn
Thị Bích Hạnh, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trên đây là những đề tài nghiên cứu công phu về lĩnh vực BHĐC mang tínhtổng quan, nhìn nhận vấn đề ở nhiều góc cạnh, dù vậy các công trình nghiên cứu
cụ thể về pháp luật quy định cho hành vi BHĐC bất chính không nhiều Có thể kểđến các đề tài như:
Pháp luật về Bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam, Ninh Thị Minh
Phương; Luận văn thạc sĩ Luật kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội
Một số vấn đề pháp lý về Bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam, Nguyễn
Thị Huyền Trang; Khóa luận tốt nghiệp; Trường Đại học Luật Hà Nội
Bán hàng đa cấp bất chính theo pháp Luật Cạnh tranh Việt Nam, khoá luận
tốt nghiệp; Nghiêm Xuân Tuyên; Th.S Hoàng Minh Chiến hướng dẫn
Mặc dù đều khai thác về khía cạnh BHĐC bất chính nhưng những nghiêncứu ở trên đã được hoàn thành từ lâu, gần đây nhất trong số những nghiên cứu đócũng đã được thực hiện vào năm 2012, so với các quy định mới của nhà nước, sốliệu cũng như thực tiễn xã hội về vấn đề đa cấp bất chính đang diễn ra hiện nay thìnhững nghiên cứu này nhiều phần đã tỏ ra lạc hậu Việc phải có một đề tài mớimang tính thời sự, vận dụng những số liệu cũng như các quy định mới có tính tiệmcận với thực trạng pháp luật về BHĐC hiện nay là rất cần thiết Vì vậy em lựa
Trang 7chọn đề tài “Pháp luật về chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính, thực trạng
và giải pháp” với những khai thác cụ thể hơn về quy định mới của nhà nước, đặc
biệt là từ giai đoạn 2014 đến nay Đây như một mảnh ghép mới, cập nhật, bám sáthơn tình hình thực tế cho chuỗi những nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vựcBHĐC nói chung và pháp luật quy định về hành vi BHĐC bất chính nói riêng,góp phần tái hiện thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệthống quy định của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh đặc biệt này
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài tiếp tục làm sáng tỏ một số vấn đề lý luậncủa pháp luật về BHĐC bất chính; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về lĩnhvực này để từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật vềBHĐC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, em sẽ tập trung khai thác các quy định của pháp luật vềBHĐC bất chính, liên hệ với thực tế để phân tích sự hiệu quả cũng như nhữngđiểm còn hạn chế trong các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra các đề xuất nhằmgóp phần hoàn thiện hơn các quy định trong vấn đề này
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những quan điểmcủa chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, đường lối, quan điểm địnhhướng của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trườngtrong bối cảnh hội nhập
Phương pháp nghiên cứu sử được sử dụng trong khóa luận là phép biệnchứng duy vật để nhìn nhận, đánh giá về pháp luật về cạnh tranh không lành mạnhnói chung, pháp luật về BHĐC bất chính nói riêng
Bên cạnh đó, khóa luận cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu so sánh,phân tích, tổng hợp, thống kê một cách thích hợp để triển khai các nhiệm vụnghiên cứu
Trang 86 Kết cấu của khóa luận.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNH VI BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC QUY ĐỊNH CHỐNG HÀNH VI BÁN HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH.
Trang 91.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành bán hàng đa cấp.
Lịch sử hình thành của phương thức bán hàng đa cấp gắn liền với tên tuổiKarl Renborg Năm 1927, Karl bắt đầu chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng.Ông đề nghị các bạn của ông giới thiệu chất bổ sung dinh dưỡng này cho ngườiquen của họ, nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông hứa sẽ trả hoa hồng.Ông cũng quyết định trả hoa hồng cho các người quen của bạn mình nếu giớithiệu sản phẩm tiếp theo quan hệ của họ Đây trở thành công thức đầu tiên chongành kinh doanh đa cấp Năm 1934, ông sáng lập ra công ty Vitamins Californiatại Mỹ nhờ vào phương pháp phân phối mới này Chứng tỏ được hiệu quả kinhdoanh ưu việt của mình, phương thức BHĐC đã lan tỏa mạnh mẽ đến rất nhiềucông ty ở Mỹ và lan ra cả các nền kinh tế lớn trên thế giới
Tuy vậy, mãi cho tới những năm 70, phương thức kinh doanh này vẫn chưa
có những quy định pháp luật cho riêng mình Từ những năm 1970, BHĐC vấpphải sự công kích mạnh mẽ về vấn đề pháp lý Công ty Amway trong bốn nămliền phải theo hầu tòa (từ năm 1975-1979) Sau cùng, cuối năm 1979 toà ánthương mại Liên bang Hoa Kỳ công nhận phương pháp kinh doanh của Amwaykhông phải là “hình tháp ảo” và được chấp nhận về mặt luật pháp Từ đó, Bộ luậtđầu tiên về BHĐC đã ra đời tại Mỹ Đây trở thành tiền lệ đầu tiên đưa phươngthức kinh doanh đa cấp vào quy định trong hệ thống pháp luật, nó dẫn việc BHĐC
có một cơ chế phát triển mới với sự ra đời của hàng loạt quy định pháp luật vềkinh doanh đa cấp tại các quốc gia trên thế giới.1
1 Theo bài viêt “Lịch sử ngành bán hàng đa cấp” – Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam (http://www.mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=65%3Alch-s-nganh-ban-hang-a- cp&catid=38%3Atim-hiu-v-mlm&Itemid=77&lang=vi).
Trang 10Năm 1978, WFDSA – Liên đoàn các hiệp hội bán hàng trực tiếp2 thế giớiđược thành lập Theo báo cáo thường niên của WFDSA, cho tới năm 2014, ngànhbán hàng trực tiếp đã có hơn 99 triệu nhà phân phối đã tham gia ở khắp mọi nơitrên thế giới Các sản phẩm rất đa dạng, bao gồm: thực phẩm dinh dưỡng, mỹphẩm, nội thất, trang sức, quần áo, sản phẩm năng lượng, viễn thông, bảo hiểmhoặc các dịch vụ khác Trong năm 2014, tổng doanh số của ngành BHĐC trêntoàn thế giới đạt 183 tỷ USD, tăng 6,4% so với kết quả đạt được năm 2013 và làcon số kỷ lục cho tới thời điểm đó.
1.1.2 Sự xuất hiện của hành lang pháp lý cho hoạt động bán hàng đa cấp
ở Việt Nam.
Phương thức BHĐC du nhập vào Việt Nam vào khoảng đầu những năm
2000 Đến năm 2004, có khoảng 20 doanh nghiệp BHĐC ở nước ta, phân phối sảnphẩm chủ yếu về thực phẩm chức năng3 Trong những năm đầu hoạt động tại ViệtNam, những vấn đề bất cập liên quan đến phương thức kinh doanh BHĐC cũngbắt đầu phát sinh do sự mới mẻ của nó đối với nền kinh tế, sự thiếu hiểu biết củangười tiêu dùng cũng như không có cơ chế điểu chỉnh riêng từ phía nhà nước.Doanh nghiệp đa cấp biến tướng xuất hiện từ sớm và nhiều trong số đó trở thànhcác công ty lừa đảo Để ngăn chặn hành vi BHĐC bất chính và hoà nhập với xuhướng chung của thế giới cũng như đáp ứng tình hình thực tế tại Việt Nam, hànhlang pháp lý cho lĩnh vực này đã dần hình thành
- Ngày 01-07-2005, Luật Cạnh tranh có hiệu lực thi hành trong đó có nhữngđiều khoản quy định về BHĐC
2 Bán hàng trực tiếp: Direct sale – Có thể diễn đạt đơn giản là hình thức bán hàng thông qua người bán lẻ trực tiếp, không có địa điểm kinh doanh cố định cũng như không có hoạt động quảng cáo trên phương tiện thông tin đại chúng Về lý thuyết, bán hàng trực tiếp có phạm vi rộng hơn BHĐC Tuy nhiên ở nhiều quốc gia, hai khái niệm này được coi như nhau.
3 Theo bài viêt “Bán hàng đa cấp tại Việt nam” – Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam
nam&catid=38%3Atim-hiu-v-mlm&Itemid=77&lang=vi).
Trang 11(http://www.mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=63%3Aban-hang-a-cp-ti-vit Ngày 15(http://www.mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=63%3Aban-hang-a-cp-ti-vit 9(http://www.mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=63%3Aban-hang-a-cp-ti-vit 2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2005/NĐ(http://www.mlma.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=63%3Aban-hang-a-cp-ti-vit CP Quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của luật cạnh tranh.
- Ngày 24-08-2005, Nghị định 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý
hoạt động bán hàng đa cấp được ban hành (Nghị định đã bị thay thế bởi Nghị định 42/2014/NĐ-CP).
- Ngày 08-11-2005, Bộ Thương mại ban hành Thông tư 19/2005/TT-BTMhướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý bán hàng
đa cấp (Thông tư đã hết hiệu lực).
- Ngày 15-5-2014 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP của Chính phủ về quản lýhoạt động bán hàng đa cấp thay thế cho Nghị định 110/2005/NĐ-CP ra đời
Cùng với đó là sự ra đời của Thông tư 197/2014/TT-BTC Quy định mức thu,chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí cấp giấy chứng nhậnđăng kí hoạt động bán hàng đa cấp và Thông tư 24/2014/TT-BCT Quy định chitiết thi hành một số điều của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP Ngày 14 tháng 5 năm
2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp do Bộ Tài chính banhành cho tới nay đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối hoàn thiện cho hoạt độngBHĐC phát triển ở Việt Nam
1.2 Khái quát chung về hành vi bán hàng đa cấp và bán hàng đa cấp bất chính.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp.
a) Khái niệm của bán hàng đa cấp.
Qua tham khảo Giáo trình Luật Cạnh tranh của Đại học Luật Hà Nội, ĐạiHọc Kinh tế - Luật TP Hồ Chí Minh, các quy định của pháp luật cũng như nhiềunghiên cứu về BHĐC, nhìn chung, khái niệm về BHĐC thường không được địnhnghĩa một cách trực tiếp mà thay vào đó là những điều kiện để cấu thành nên hành
vi BHĐC Các điều kiện này đều bao gồm những yếu tố bám sát theo quy định tạiKhoản 11 Điều 3 LCT 2004 mà cụ thể như sau:
Trang 12“BHĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sauđây:
- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau.
- Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp được tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc người tham gia.
- Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.”
Tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 42/2014/NĐ-CP Về quản lý hoạt động bánhàng đa cấp, định nghĩa về BHĐC được rút gọn lại nhưng cũng không nằm ngoàinhững nội dung về điều kiện để cấu thành hành vi BHĐC quy định tại Khoản 1
Điều 3 LCT 2004 Đó là: “Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và của mạng lưới do mình xây dựng.”
b) Đặc điểm của bán hàng đa cấp
BHĐC có những đặc điểm như sau:
- BHĐC là phương thức tiếp thị bán lẻ hàng hóa trực tiếp cho người tiêudùng thông qua mạng lưới người tham gia ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau
- Người tham gia BHĐC không nhất thiết thiết là nhân viên của doanhnghiệp mà có thể trở thành người tham gia mạng lưới qua một hợp đồng tham giaBHĐC theo quy định của pháp luật
Trang 13- Doanh nghiệp BHĐC tiếp thị trực tiếp sản phẩm tại nơi làm việc, nơi ởhoặc địa điểm khác cho người tiêu dùng mà không nhất thiết phải là địa điểm bán
lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc người tham gia
- Người tham gia BHĐC được điều hành mạng lưới, hưởng tiền hoa hồng,tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người thamgia khác trong mạng lưới do họ tổ chức ra
Từ những đặc điểm nói trên, có thể nói BHĐC là một phương thức kinhdoanh đặc thù, có nhiều điểm khác biệt so với phương thức kinh doanh truyềnthống về cách thức phân phối hàng hóa, về hệ thống kinh doanh, về hoa hồng, cáclợi ích vật chất khác và về tư cách của người tham gia Do đó, những cơ chế quản
lý đối với doanh nghiệp đa cấp cũng cần phải có sự điều chỉnh phù hợp để đápứng những nét đặc thù của loại hình kinh doanh này
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm của bán hàng đa cấp bất chính.
a) Khái niệm bán hàng đa cấp bất chính.
Khái niệm về bán hàng đa cấp bất chính theo giáo trình Luật Cạnh tranh củaĐại học Luật Hà Nội được các tác giả định nghĩa thông qua sự tương đồng với môhình kim tự tháp4 Theo đó, bản chất của hoạt động BHĐC bất chính không liên
quan nhiều tới hành vi BHĐC mà thực chất đó là “một mô hình gây quỹ trong một nhóm người được tổ chức thành nhiều cấp, thành viên cấp dưới với số lượng đông hơn sẽ đóng góp tài chính cho các thành viên cấp trên Những người tại cấp dưới cùng là những người mới gia nhập nhóm sẽ phải gánh chịu số tiền mà toàn bộ cấp trên được hưởng.” Với bản chất như vậy, mô hình kim tự tháp sẽ phải liên tục
tuyển thêm người tham gia để đảm bảo duy trì sự tồn tại của nhóm Đến thời điểmkhông thể tìm được người sãn sàng đóng tiền để tham gia, mô hình này chắc chắn
sẽ đổ vỡ, số đông thành viên ở cấp dưới sẽ chịu toàn bộ thiệt hại của các thành
4 Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp là việc tiến hành hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, trong đó thu nhập của người tham gia xuất phát chủ yếu từ: việc tuyển dụng người tham gia mới; việc gia hạn hợp đồng của người đã tham gia; phí, tiền đặt cọc hoặc khoản đầu tư của người tham gia trong mạng lưới (Khoản 10 Điều
3 Nghị định 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động BHĐC).
Trang 14viên cấp trên Với bản chất thu lợi bất công bằng và tính gây thiệt hại rộng nhưvây mà mô hình kim tự tháp bị cấm ở rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Định nghĩa do Giáo trình Đại học Luật Hà Nội đưa ra đã thể hiện một gócnhìn mới mẻ về dấu hiệu nhận diện của hành vi bán hàng đa cấp bất chính, khácvới quy định về hành vi này trong Luật Cạnh tranh năm 2004 lại có quan điểm chorằng BHĐC bất chính là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các quy định
về chống bán hàng đa cấp bất chính chủ yếu nhằm bảo vệ người tham gia mạnglưới bán hàng đa cấp khỏi một số dạng lừa đảo của doanh nghiệp BHĐC Cụ thểtại Điều 48 LCT 2004 có quy định về những hành vi bán hàng đa cấp bất chínhnhư sau:
“Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
1 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới Bán hàng đa cấp;
2 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
3 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới Bán hàng đa cấp;
4 Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới Bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.”
Như vậy, theo LCT năm 2004, một hành vi được coi là BHĐC bất chính khiđáp ứng đủ hai điều kiện: Một là thực hiện một trong các hành vi mà pháp luật liệtkê; hai là nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mới Dấu hiệukhách quan của hành vi BHĐC bất chính là việc thực hiện một trong bốn hành vitrên; và dấu hiệu chủ quan của nó là mục đích thu lợi bất chính mà doanh nghiệpmong muốn thụ hưởng Tóm lại, dù được nhận diện ở góc độ nào, BHĐC bất
Trang 15chính vẫn có một biểu hiện chung nhất đó là việc thực hiện các hành vi bất chínhnhằm mục đích cho những người ở tầng trên được hưởng các khoản tiền và lợi ích
về kinh tế chủ yếu từ tiền đóng góp của người tham gia mới chứ không phải từhoạt động bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng
b) Đặc điểm của bán hàng đa cấp bất chính
Thứ nhất, bán hàng đa cấp bất chính có bản chất chiếm dụng vốn.
Lợi dụng cấu trúc có dạng phân cấp khá tương đồng, mô hình kim tự thápthường đội lốt doanh nghiệp BHĐC để thực hiện hành vi bất chính Bằng các biệnpháp khác nhau, các doanh nghiệp loại này yêu cầu người tham gia phải thực hiệnmột hay một số các nghĩa vụ tài chính như phải đặt cọc, phải mua một số lượnghàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lướiBHĐC nhằm che đậy cho mục đích chủ yếu là thu phí của người tham gia BHĐCcủa chúng
Việc bị chiếm dụng vốn đã tạo ra sự thiệt thòi về tài chính, thậm chí là cảnhững khoản nợ đối với người tham gia, rằng buộc họ với lựa chọn phải tìm cách
dụ dỗ thêm nhiều người khác cùng tham gia hoặc bằng mọi giá phải bán được sảnphẩm để bù lỗ cho khoản tài chính mà mình đã đóng
Còn đối với hành vi chiếm đoạt tài chính này, các công ty BHĐC bất chínhkhông chỉ thu được một khoản lợi từ người tiêu dùng mà còn khiến họ trở thànhnhững “nô lệ tài chính”, tiếp tay thêm vào việc mở rộng mạng lưới lừa đảo
Thứ hai, bán hàng đa cấp bất chính tập trung lôi kéo người tham gia.
Cũng với bản chất của mô hình kim tự tháp tồn tại được nhờ vào phí gianhập từ người tham gia, nên doanh nghiệp BHĐC chỉ tập trung lôi kéo ngườitham gia mạng lưới Đây cũng là hành vi doanh nghiệp cho thành viên của mìnhđược nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc giớithiệu người khác tham gia vào mạng lưới BHĐC mà không quan tâm đến kết quảkinh doanh của họ Càng lôi kéo được nhiều người tham gia thì số tiền hoa hồng
sẽ càng tăng theo cấp số nhân Với lợi ích như vậy, những thành viên trong mạng
Trang 16lưới sẽ chỉ chú trọng đến việc lôi kéo người khác tham gia vào hệ thống bán hàng
để hưởng lợi mà không nỗ lực tiếp thị sản phẩm Thu nhập chủ yếu của doanhnghiệp sẽ đến từ mạng lưới bán hàng chứ không phải từ hoạt động bán hàng hóa,sản phẩm
Tuy hoạt động buôn bán sản phẩm trong doanh nghiệp BHĐC bất chính cũng
có nhưng sản phẩm chỉ bán cho người tham gia nhằm che đậy cho hành vi thu phígia nhập của người tham gia Hàng hóa của những doanh nghiệp loại này thường
có không có giá trị hoặc được bán với giá lớn hơn giá trị thật sự gấp nhiều lần Suy cho cùng, được hưởng lợi nhất từ hành vi dụ dỗ, lôi kéo người tham giachính là doanh nghiệp, trong khi đó, với việc “buôn bán mối quan hệ”, nhữngngười tham gia mạng lưới thì dần mất đi uy tín trong xã hội, lại vừa có nguy cơmất trắng những khoản tiền mà mình đã đóng vào doanh nghiệp
Thứ ba, bán hàng đa cấp bất chính mang bản chất lừa dối.
Để che đậy cho thủ đoạn cũng như mục đích chủ yếu nhằm chiếm đoạt cáckhoản tài chính của khách hàng, doanh nghiệp BHĐC đã xây dựng nên nhữngthông tin sai lệch, nhằm đánh lạc hướng, khai thác vào lòng tin và sự hám lợi của
họ Sự lừa dối này chủ yếu bằng hành vi doanh nghiệp cung cấp thông gian dốihoặc không đúng sự thật cho khách hàng hay người tham gia mạng lưới Nhữngthông tin này có thể là thông tin về tính hợp pháp của công ty, về tính năng, côngdụng vượt trội mà thực tế sản phẩm không đạt được, thông tin về hoa hồng, thunhập lên tới hàng chục thậm chí hàng trăm triệu mà khách hàng có thể nhận đượckhi tham gia mạng lưới của công ty… nhưng trên thực tế doanh nghiệp không hề
có hay không thể thực hiện được các cam kết của mình đối với khách hàng
Thứ tư, bán hàng đa cấp bất chính dồn hàng cho người tham gia.
Chiến lược dồn hàng cho người tham gia của doanh nghiệp BHĐC bất chínhthể hiện qua hành vi không cam kết mua lại hàng hóa sau khi đã bán cho ngườitiêu dùng theo luật định Cũng chính vì một trong những đặc điểm ở trên, đó làbán hàng đa cấp bất chính mang bản chất lừa dối cho nên việc không mua lại hàng
Trang 17hóa sau khi đã bán cho khách hàng của doanh nghiệp nhằm thiết lập một quy trìnhmua bán đơn chiều, qua đó doanh nghiệp sau khi yêu cầu người tham gia mua một
số lượng hàng hóa có giá trị lớn mà không quan tâm xem họ có có sử dụng haybán lại được hay không Ngoài trốn tránh được nghĩa vụ phải mua lại hàng hóa,doanh nghiệp còn có thể từ chối trách nhiệm bảo hành cũng như phó mặc chấtlượng sản phẩm cho người tiêu dùng Thêm nữa, ở nhiều công ty BHĐC, vai tròcủa người tham gia mạng lưới không chỉ là nhà phân phối mà họ còn phải đóngvai trò như một đại lý bằng cách mua sản phẩm của công ty rồi bán lại cho kháchhàng để hưởng chênh lệch, nếu không bán được hết hàng, họ sẽ phải nhận phầnthiệt hại về mình Chính vì vậy, tại Khoản 2, Điều 48, LCT 2004 đã phải quy định
hành vi: “Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại” là một trong những hành vi của bán hàng đa cấp
mà cụ thể hơn là pháp luật điều chỉnh hành vi BHĐC bất chính ra đời là một bước
đi đúng đắn của nhà nước trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữacác doanh nghiệp, sự minh bạch, ổn định trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp vàngười tiêu dùng Hơn thế nữa, pháp luật điều chỉnh về hành vi BHĐC bất chínhcòn mang tính thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình phát triển của BHĐC tại ViệtNam Những quy định ngày càng cụ thể giúp cho các doanh nghiệp BHĐC chânchính ở nước ta điều chỉnh được chiến lược phát triển của mình, tránh khỏi tìnhtrạng bước đi trên ranh giới mong manh giữa hợp pháp và phi pháp
Mặt khác, thực tiễn lại cho thấy trong quá trình hoạt động và phát triển,phương thức BHĐC liên tục xuất hiện nhiều phiên bản mới mà trước đây chúng ta
Trang 18chưa từng biết đến Vì vậy pháp luật cần phải có cách tiếp cận, nghiên cứu mớinhằm tránh tình huống không thể điều chỉnh kịp thời diễn biến của loại hình kinhdoanh này.
Việc xây dựng các quy định về quản lý đối với hoạt động BHĐC là một bướctiến quan trọng trong việc xây dựng thị trường cạnh tranh lành mạnh ở Việt Nam.Trước những bất cập đến từ vấn nạn BHĐC bất chính, việc có những quy địnhnhư vậy sẽ giúp cho người tiêu dùng trước hết hiểu được bản chất của hoạt độngBHĐC so với BHĐC bất chính là khác nhau, không đánh đồng, quy chụp, nhầmlẫn giữa tác hại của BHĐC bất chính với BHĐC chân chính
Thứ hai, việc đặt ra những quy định cho hoạt động BHĐC giúp cho doanhnghiệp lẫn người tham gia BHĐC có được nguyên tắc hoạt động chuẩn mực, tránh
sự biến tướng trong quá trình hoạt động Các quy định cũng góp phần bảo vệ uytín của phương thức kinh doanh BHĐC trên thị trường, ổn định và bảo vệ môitrường cạnh tranh lành mạnh
Trang 19CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI BÁN
HÀNG ĐA CẤP BẤT CHÍNH 2.1 Các quy định về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.
Ngày 1 tháng 7 năm 2005, LCT chính thức có hiệu lực Mặc dù là văn bảnquy phạm pháp luật đầu tiên và cao nhất điều chỉnh đối với hoạt động BHĐCnhưng LCT chỉ đưa ra khái niệm về BHĐC và các quy định cấm đối với hành viBHĐC bất chính mà chưa đưa ra cơ chế quản lý đối với hoạt động này
Sau đó trong cùng năm 2005, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác
ra đời để điều chỉnh lĩnh vực BHĐC, có thể kể đến như:
Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp (đã bị thay thế bởi Nghị định số 42/2014/NĐ-CP);
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật Cạnh tranh;
cơ chế quản lý tại Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đacấp, Nghị định 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh
Trang 20tranh quy định chế tài xử lý đối với hành vi BHĐC bất chính với mức tiền phạtcao nhất là 100 triệu đồng
Sau gần 10 năm thực hiện, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lýBHĐC đã bộc lộ một số bất cập, hoạt động BHĐC xuất hiện nhiều biến tướngtheo chiều hướng tiêu cực, nhiều chủ thể lợi dụng các kẽ hở của pháp luật để thựchiện hành vi bất chính khiến cho hoạt động này ngày càng trở nên xấu đi trongmắt cộng đồng xã hội và gây khó khăn cho công tác quản lý của nhà nước Từthực tiễn đó, năm 2014, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luậtmới thay thế cho hệ thống văn bản cũ để tăng cường hiệu quả quản lý Ngoại trừLCT, các nghị định và thông tư cũ điều chỉnh hoạt động BHĐC đều bị thay thế,sửa đổi bổ xung với cơ chế quản lý chặt chẽ hơn, chế tài xử lý nghiêm khắc hơn
Cụ thể là:
Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, được kýban hành ngày 14 tháng 5 năm 2014, chính thức có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2014.Nghị định này thay thế cho Nghị định 110/2005/NĐ-CP
Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạmpháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thay thế cho Nghị định số 120/2005/NĐ-CP.Thông tư 24/2014/TT-BCT quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định
số 42/2014/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quản lý hoạt độngbán hàng đa cấp
Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của LuậtCạnh tranh cũng được sửa đổi bổ xung bằng Nghị định 119/2011/NĐ-CP của Chínhphủ và Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-BCT do Bộ Công Thương ban hành năm2014
Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp vớinhững thay đổi cơ bản, quan trọng theo hướng thắt chặt quản lý đối với hoạt độngBHĐC như nâng cao điều kiện gia nhập thị trường, nâng cao trách nhiệm củadoanh nghiệp đối với hoạt động của người tham gia, bổ xung nhiều quy định cấm,
Trang 21tăng cường sự tương tác giữa doanh nghiệp BHĐC với cơ quan quản lý cũng nhưgiữa các cơ quan quản lý với nhau, kiểm soát chặt chẽ hơn công tác đào tạo ngườitham gia của doanh nghiệp… Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết LuậtCạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thay thế Nghịđịnh số 120/2005/NĐ-CP cũng nâng cao mức tiền phạt đối với hành vi vi phạmpháp luật trong hoạt động BHĐC lên tối đa 200 triệu đồng và bổ sung quy định xử
lý đối với nhiều hành vi mới được quy định tại Nghị định 42/2014/NĐ-CP
Ngoài ra còn có Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng có những quy định về việc xử phạt đối với cảngười tham gia BHĐC và doanh nghiệp BHĐC Tuy nhiên, thẩm quyền xử phạt viphạm hành chính theo nghị định này thuộc về các cơ quan quản lý liên quan nhưChủ tịch ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý thị trường
2.2 Quy định của pháp luật về chống hành vi bán hàng đa cấp bất chính.
2.2.1 Quy định về dấu hiệu nhận diện hành vi bán hàng đa cấp bất chính.
Khả năng mở rộng mạng lưới của hoạt động BHĐC và cách thức tiêu thụhàng hóa đặc thù của phương thức này đã đặt ra cho pháp luật nhiều vấn đề phảigiải quyết để vừa có thể tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp màvẫn đảm bảo trật tự thị trường, bảo vệ lợi ích chính đáng cho các chủ thể, tránhhành vi cạnh tranh không lành mạnh Mặt khác, yêu cầu quản lý nhà nước đối vớikinh doanh đa cấp cũng đặt trọng tâm vào các biện pháp ngăn chặn phương thứckinh doanh này biến tướng thành BHĐC bất chính gây thiệt hại cho người thamgia Vì vậy, tại Điều 48 LCT 2004, các nhà lập pháp đã cung cấp cho chúng tanhững tiêu chí cơ bản nhất trong việc nhận diện hành vi BHĐC bất chính:
“ Điều 48 Bán hàng đa cấp bất chính.
Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
Trang 221 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
2 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại;
3 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
4 Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.”
Ngoài những dạng phổ biến và mang tính đặc thù như trên, trên thực tếBHĐC bất chính vẫn còn đang tiếp tục biến tướng, sản sinh ra một loạt các chiêutrò để dụ dỗ, lôi kéo những người tiêu dùng nhẹ dạ Do đó, pháp luật cạnh tranhcòn quy định thêm nhiều hành vi cấm tại Nghị định 42/2014/NĐ-CP Về quản lýhoạt động bán hàng đa cấp
Điều 5: Những hành vi bị cấm trong hoạt động bán hàng đa cấp:
1 Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây: a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng một khoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóa dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bán hàng đa cấp của mình; d) Hạn chế một cách bất hợp lý quyền phát triển mạng lưới của người tham gia bán hàng đa cấp dưới bất
kỳ hình thức nào; đ) Cho người tham gia bán hàng đa cấp nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp; e) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền
Trang 23thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia bán hàng đa cấp có quyền hưởng; g) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải tuyển dụng mới hoặc gia hạn hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với một số lượng nhất định người tham gia bán hàng đa cấp để được quyền hưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác; h) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về một trong các nội dung quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí dưới bất kỳ hình thức nào, trừ chi phí hợp lý để mua tài liệu đào tạo; i) Ép buộc người tham gia bán hàng đa cấp phải tham gia các hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này; k) Yêu cầu người tham gia hội nghị, hội thảo, khóa đào tạo về các nội dung không được quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định này phải trả tiền hoặc phí cao hơn mức chi phí hợp lý để thực hiện hoạt động đó; l) Thu phí cấp, đổi thẻ thành viên theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 21 Nghị định này dưới bất kỳ hình thức nào; m) Không cam kết cho người tham gia bán hàng đa cấp trả lại hàng hóa và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 26 Nghị định này; n) Cản trở người tham gia BHĐC trả lại hàng hóa theo quy định tại Điều 26 Nghị định này; o) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp; p) Duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với cùng một người tham gia bán hàng đa cấp; q) Kinh doanh theo mô hình kim tự tháp; r) Mua bán hoặc chuyển giao mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khác trừ trường hợp mua lại, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp; s) Yêu cầu, xúi giục người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 2 Điều này.
2 Cấm người tham gia bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây: a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải trả một khoản tiền nhất
Trang 24định, nộp tiền đặt cọc hoặc phải mua một lượng hàng hóa nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp; b) Cung cấp thông tin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, tính chất, công dụng của hàng hóa, hoạt động của doanh nghiệp bán hàng
đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp; c) Tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng, hội thảo giới thiệu sản phẩm, đào tạo mà không được doanh nghiệp bán hàng đa cấp ủy quyền bằng văn bản; d) Lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc người tham gia bán hàng đa cấp của doanh nghiệp khác tham gia vào mạng lưới của doanh nghiệp mà mình đang tham gia; đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, địa vị xã hội để yêu cầu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp hoặc mua hàng hóa kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Từ những quy định trên, ta có thể thống nhất các dấu hiệu nhận diện vềBHĐC bất chính như sau:
Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới BHĐC.
Mang bản chất của mô hình kim tự tháp, BHĐC bất chính đã thay đổi từ hoạtđộng tiếp thị bán lẻ hàng hóa thông thường sang lấy hoạt động tuyển dụng và thuphí của người tham gia mới làm hoạt động chủ yếu Khác với những hoạt độngkinh doanh khác, ngoài hoa hồng được trả theo doanh số bán sản phẩm, BHĐCcòn trả thưởng cho người tham gia thông qua hoạt động tuyển dụng người thamgia mới So với lợi nhuận thu được từ buôn bán sản phẩm, lợi nhuận từ việc tuyểndụng người tham gia có thể tăng theo cấp số nhân do sơ đồ mạng lưới mang lại.Kinh doanh đa cấp thông thường cũng cũng có hoạt động tuyển dụng nhưng khácvới kinh doanh đa cấp bất chính ở mục đích, có thể so sánh như sau:
- BHĐC cấp thông thường có mục đích chính là tiêu thụ sản phẩm thôngqua mạng lưới bán lẻ Do vậy, mục đích tuyển dụng người tham gia mới của cácdoanh nghiệp loại này là đào tạo ra những nhà phân phối giỏi
Trang 25- Còn BHĐC bất chính có mục tiêu cốt lõi là phát triển mạng lưới nhằm thuphí tuyển dụng từ người tham gia mới Do vậy, mục tiêu đào tạo của những doanhnghiệp này lại nhằm hướng đến việc biến những người tham gia mới thành những
“chuyên gia’’ lôi kéo, dụ dỗ người khác cũng tham gia vào đường dây lừa đảo củamình Mặc dù BHĐC bất chính cũng có hoạt động bán lẻ sản phẩm nhưng hoạtđộng này chỉ mang tính hình thức, chủ yếu nhằm tới đối tượng người tham giamới như một giải pháp tạo ra chi phí ban đầu
Với việc tập trung vào việc dụ dỗ, lôi kéo người tham gia mạng lưới, thunhập chính của doanh nghiệp sẽ không đến từ hoạt động buôn bán hàng hóa màđến từ sự mở rộng mạng lưới Do chỉ là sản phẩm để mua bán tượng trưng, khôngphải trực tiếp cạnh tranh với các sản phẩm khác trên thị trường nên các mặt hàngcủa công ty có dấu hiệu vi phạm quy định này thường kém đa dạng và có giáthành cao hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường
Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người khác tham gia.
Với mục đích chủ yếu là dụ dỗ, lôi kéo người tham gia, vì vậy các doanhnghiệp BHĐC bất chính đã xây dựng nên những nguồn thông tin gian dối nhưngcực kỳ hấp dẫn nhằm khai thác lòng tham cũng như sự nhẹ dạ của khách hàngnhằm đưa họ vào bẫy đa cấp lừa đảo Hành vi cung cấp thông tin gian dối, thôngtin sai sự thật nhằm dụ dỗ người khác mua hàng, tham gia BHĐC đã hàm chứatrong nó dấu hiệu để cấu thành nên tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản5 Hành vinày cũng lột tả bản chất yếu kém của doanh nghiệp BHĐC khi phải sử dụng thủđoạn gian dối để thuyết phục khách hàng mua sản phẩm Thông tin về lợi ích củaviệc tham gia mạng lưới BHĐC, tính chất và công dụng của hàng hóa là nguồnthông tin chủ yếu bị doanh nghiệp BHĐC bất chính lợi dụng
5 Theo Khoản 1, Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng …”
Trang 26Thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới BHĐC là nhữngthông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng về thu nhập, về hoa hồng vàcác lợi ích vật chất khác mà họ có thể được hưởng khi tham gia Thực chất, doanhnghiệp BHĐC bất chính không bao giờ bảo đảm quyền lợi cho khách hàng, họluôn biết rằng mạng lưới BHĐC chỉ thuần túy phát triển nhờ vào việc tuyển dụngngười tham gia không sớm thì muộn rồi cũng sẽ sụp đổ Khác với lập luận củadoanh nghiệp rằng mạng lưới BHĐC có thể phát triển ra vô tận nhờ vào mối quan
hệ của các thành viên trong xã hội, thực tế số lượng người tham gia BHĐC là hữuhạn, thêm nữa tâm lý hoài nghi của cộng động về tính trung thực của BHĐC càngkhiến cho hoạt động tuyển dụng trở nên khó khăn Nắm bắt sự thật này, giới lãnhđạo của doanh nghiệp BHĐC bất chính không bao giờ cố gắng để đảm bảo quyềnlợi công bằng của khách hàng mà họ chỉ quan sát thế thời để tìm cách ẵm khoảntài chính khổng lồ để tẩu thoát
Thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa là một hành vi lừađảo rất khó kiểm soát Hiện nay, tới 90% mặt hàng mà các doanh nghiệp BHĐCphân phối trên thị trường là thực phẩm chức năng Đây là loại mặt hàng rất nhạycảm do hiệu năng của nó không bắt buộc phải được kiểm chứng (nhà nước chỉđảm bảo tính hợp quy của sản phẩm thông qua việc giám định thành phần có trongsản phẩm với thông số đăng ký ghi trên bao bì) Thêm nữa, do BHĐC sử dụngtruyền miệng là hình thức maketing chủ yếu, cũng chính vì vậy việc đưa thông tinsai lệch về sản phẩm cũng là một trong những sai phạm mà các cơ quan quản lýcủa nhà nước và người tiêu dùng rất khó để có thể xác minh Thậm chí, những sảnphẩm này còn không có giá trị sử dụng hoặc đến tay người tiêu dùng với mức giáđắt hơn giá gốc hàng chục lần
Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa câp.
Trang 27Dạng hành vi này có thể coi là vi phạm cơ bản nhất của BHĐC bất chính vàcũng là biểu hiện cơ bản của hành vi kinh doanh theo mô hình kim tự tháp do lợinhuận chủ yếu của doanh nghiệp BHĐC bất chính đến từ việc tuyển dụng ngườitham gia mới
Đối với các doanh nghiệp BHĐC bất chính, chi phí tuyển dụng ban đầu là rấtquan trọng vì nó là nguồn thu chủ yếu cho các tầng trên của mạng lưới Cũngchính vì vậy, doanh nghiệp BHĐC bất chính đã phải vẽ ra rất nhiều các phươngpháp nhằm che đậy cho mục đích thu phí tuyển dụng của người tham gia Cáchình thức đó có thể kể đến như việc yêu cầu người tham gia phải trả một khoảnphí; phải đặt cọc một khoản tiền; phải mua một lượng hàng hóa nhất định; phảimua bộ tài liệu cơ bản; phải đóng tiền đào tạo cơ bản, phải mua một gói đầu tư…
để được quyền tham gia mạng lưới BHĐC Trong quá trình hoạt động, người thamgia BHĐC còn phải trả thêm các khoản phí để được quyền duy trì mã số trong hệthống
Ngoài việc thu được một khoản lợi lớn từ phí tuyển dụng, doanh nghiệpBHĐC bất chính còn gián tiếp rằng buộc người tham gia với mục tiêu phải bánđược hàng, phải dụ dỗ thêm người tham gia vào mạng lưới nhằm “bù lỗ” chokhoản tài chính mà họ đã đóng vào doanh nghiệp, gián tiếp biến người tham giathành đồng lõa, tiếp tay cho hoạt động BHĐC bất chính của chúng
Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất bằng 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại.
Đa phần những người tham gia đường dây BHĐC bất chính đều phải muamột lượng hàng hóa ban đầu với giá trị đắt gấp nhiều lần giá bán hàng hóa cùngloại trên thị trường hay giá trị công dụng của sản phẩm đó Thêm nữa trong quátrình hoạt động, người tham gia nhiều khi không chỉ đóng vai trò là trung gian tiếpthị mà còn phải đóng vai trò đại lý thông qua việc phải mua sản phẩm từ công ty,
tự tìm kiếm khách hàng và bán để hưởng chênh lệch, và khi không tiêu thụ đượchàng thì họ sẽ phải gánh chịu phần thiệt hại về sản phẩm thay cho công ty
Trang 28Tuy vậy, khi người tham gia yêu cầu doanh nghiệp mua lại hàng hóa sảnphẩm thì họ thường xuyên bị khước từ Lý do là vì việc không mua lại hàng hóacủa người tiêu dùng theo luật định là một hành vi có vai trò rất quan trọng phục vụcho ý đồ xây dựng mô hình kim tự tháp Người tiêu dùng khi không thể được hoàntrả lại khoản tài chính đã đóng vào doanh nghiệp sẽ phải chấp nhận sự mất mát vềtài chính, thậm chí là cả những khoản nợ do đi vay tín dụng đen và bị rằng buộcvới nghĩa vụ phải dụ dỗ thêm người khác vào mạng lưới, bán thêm được sản phẩmnhằm có hoa hồng “bù lỗ” cho khoản tài chính đã đóng Việc doanh nghiệp khôngmua lại hàng hóa đã bán cho người tham gia theo luật định vô hình chung đã đẩyngười tham gia vào thế bế tắc trong việc tìm lối thoát về tài chính cũng như thoátkhỏi vòng xoáy BHĐC bất chính.
Cũng do bản chất gian dối, sử dụng thông tin sai sự thật để bán hàng chongười tiêu dùng nên doanh nghiệp BHĐC bất chính luôn luôn từ chối mua lại sảnphẩm, từ chối nghĩa vụ bảo đảm cho chất lượng hàng hóa, rũ bỏ được trách nhiệmbảo hành sản phẩm, phó mặc chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng
2.2.2 Thủ tục xử lý đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính.
Trên thực tế, hành vi BHĐC bất chính theo quy định của pháp luật có thể bị
xử lý bằng nhiều thủ tục khác nhau như hành chính, dân sự, hình sự… tùy theomức độ vi phạm Tuy nhiên, thủ tục theo pháp luật cạnh tranh vẫn là thủ tục ápdụng trực tiếp nhất và cũng phù hợp hơn cả khi sử dụng để xử lý đối với hành vinày Vì vậy, trong phần này em chỉ đi sâu làm rõ xử lý BHĐC bất chính theo thủtục của LCT Trình tự xử lý đối với hành vi BHĐC bất chính theo LCT 2004 cóthể tóm tắt như sau:
Quy trình điều tra, xử lý một vụ việc về hành vi BHĐC bất chính bắt đầubằng việc Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra sơ bộ vụ việc khi hồ sơ khiếunại vụ việc BHĐC bất chính được Cục Quản lý cạnh tranh thụ lý hoặc khi CụcQuản lý cạnh tranh phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh của doanhnghiệp BHĐC (Điều 86) Thời gian tiến hành điều tra sơ bộ vụ việc trong thời hạn
Trang 2930 ngày (Điều 87) kể từ khi có quyết định điều tra sơ bộ vụ việc để đi tới quyếtđịnh đình chỉ giải quyết vụ việc hay quyết định điều tra chính thức Nếu kết quảđiều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu của bán hàng đa cấp bất chính, Cục trưởngCục Quản lý cạnh tranh sẽ quyết định điều tra chính thức vụ việc trong thời hạn 90ngày kể từ ngày có quyết định và thời hạn này có thể gia hạn nhưng không quá 60ngày (Điều 90)
Kết thúc giai đoạn điều tra chính thức, căn cứ vào báo cáo điều tra, Cục Quản
lý cạnh tranh sẽ quyết định hình thức và biện pháp xử lý hành chính đối với doanhnghiệp BHĐC bất chính theo Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiếtLuật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh hoặc chuyển
hồ sơ vụ việc cho Hội đồng cạnh tranh để tiến hành xử lý đối với trường hợpkhiếu nại Các chủ thể tham gia tố tụng có quyền khiếu nại một phần hay toàn bộquyết định xử lý của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh lên Hội đồng cạnh tranh,một phần hay toàn bộ quyết định xử lý của Cục Quản lý cạnh tranh lên Bộ trưởngCông thương Hội đồng cạnh tranh và Bộ trưởng Bộ công thương có trách nhiệmgiải quyết vụ việc theo thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, có thể gia hạn thêmkhông quá 30 ngày đối với trường hợp đặc biệt phức tạp (Điều 111, LCT 2004).Nếu không nhất trí với cách giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ côngthương và Hội đồng cạnh tranh, các chủ thể tham gia tố tụng có quyền khởi kiện
vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giảiquyết khiếu nại ra Toà án Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩmquyền (Khoản 1, Điều 115, LCT 2004)
Toàn bộ quá trình điều tra, xử lý vi phạm đối với hành vi BHĐC bất chínhkéo dài từ 4 đến 6 tháng, trình tự, thủ tục này có thể thực hiện theo sơ đồ giản lượcsau:
Trang 30Cục Quản lý cạnh tranh phát hiện
dấu hiệu vi phạm LCT của doanh
nghiệp BHĐC
Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra sơ bộ
Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành điều tra chính thức
Chuyển hồ sơ cho Hội đồng xử lý
vụ việc cạnh tranh mở phiên điều
Cục Quản lý cạnh tranh ra quyết
Trang 312.2.3 Quy định về chế tài xử phạt hành vi bán hàng đa cấp bất chính.
Chế tài xử phạt đối với hành vi BHĐC bất chính được quy định cùng với chếtài xử phạt của các hành vi vi phạm hành chính khác liên quan tới hoạt độngBHĐC tại Điều 36, Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh
về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh Qua đó, các quy định về chế tài xửphạt đối với hành vi BHĐC bất chính có thể phân loại thành bốn nhóm dựa trênbốn dấu hiệu cơ bản của hành vi BHĐC bất chính như sau:
Nhóm hành vi cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới BHĐC, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ
dỗ người khác tham gia gồm:
- Điểm p, Khoản 3, Điều 36, Nghị định 71/2014/NĐ-CP: “Cung cấp thôngtin sai lệch hoặc gây nhầm lẫn về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đacấp, về tính chất, công dụng của hàng hóa, về hoạt động của doanh nghiệp bánhàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp” Phạt tiền doanhnghiệp BHĐC từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng
- Điểm i, Khoản 1, Điều 36, Nghị định 71/2014/NĐ-CP: “Không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ công bố công khai tại trụ sở vàcung cấp cho người có dự định tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp các thông tin,tài liệu theo quy định của pháp luật” Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000đồng
Nhóm hành vi không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại gồm:
- Điểm n, Khoản 1, Điều 36, Nghị định 71/2014/NĐ-CP: “Không thông báohoặc thông báo không đúng, không đầy đủ cho người tham gia bán hàng đa cấpnhững hàng hóa thuộc diện không được doanh nghiệp mua lại trước khi người đótiến hành mua hàng” Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
- Điểm e, Khoản 2, Điều 36, Nghị định 71/2014/NĐ-CP: “Không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ mua lại hàng hóa của người