Thanh Hoá có 3 vùng kinh tế miền núi - trung du, đồng bằng và ven biển, với nguồn tài nguyên phong phú về đất, rừng, biển, khoáng sản, nước và lao động có lợi thế để phát triển toàn diện
Trang 1Tìm hiểu khu vực hấp dẫn cảng nghi sơnSinh viên:Nguyễn thế tân
Trang 2Họ tên:Nguyễn Thế Tân
Lớp :QG07
MSSV:0751170058
TÌM HIỂU VỀ KHU VỰC HẤP DẪN CẢNG NGHI SƠN-THANH HÓA:
I TỔNG QUAN VỀ THANH HOÁ
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
1 Vị trí địa lý:
Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ
Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam, với các vùng trong tỉnh và đi quốc tế Hiện tại, Thanh Hóa có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch
2.Địa hình:
Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt:
- Vùng núi và Trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm 75,44% diện tích toàn tỉnh,độ cao trung bình vùng núi từ 600 -700m, độ dốc trên 25o; vùng trung du có độ cao trung bình 150 - 200m, độ dốc từ 15 -20o
- Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61% diện tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên và Sông Hoạt Độ cao trung bình
từ 5- 15m, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập.Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ
ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng
- Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh,với bờ biển dài
102 km, địa hình tương đối bằng phẳng Chạy dọc theo bờ biển là các cửa sông Vùng đất cát ven biển có độ cao trung bình 3-6 m, có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) ; có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển
3 Khí hậu:
Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt
- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600-2300mm, mỗi năm có khoảng 90-130 ngày mưa Độ ẩm tương đối từ 85% đến 87%, số giờ nắng bình quân khoảng 1600-1800 giờ Nhiệt độ trung bình 230C - 240C, nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi cao
- Hướng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và Đông nam
Trang 3Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
4 Diện tích-Dân số:
Diện tích tự nhiên 11.112,4 km2, dân số trung bình năm 2003 là 3,647 triệu người Đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã, 24 huyện thị với 636 xã, phường, thị trấn Thanh Hoá có 3 vùng kinh tế miền núi - trung du, đồng bằng và ven biển, với nguồn tài nguyên phong phú về đất, rừng, biển, khoáng sản, nước và lao động có lợi thế để phát triển toàn diện sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và dịch vụ du lịch
Năm 2005 Thanh Hoá có 3,67 triệu người; có 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Hoa Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới
Trang 4 HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT:
1 Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải:
Thanh Hóa có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ và đường thuỷ:
- Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hoá dài 92km với 9 nhà ga, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá và hành khách
- Đường bộ có tổng chiều dài trên 8.000 km, bao gồm hệ thống quốc lộ quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi; Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng ven biển với vùng miền núi, trung du của tỉnh, quốc lộ 217 nối liền Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào
- Thanh Hoá có hơn 1.600 km đường sông, trong đó có 487 km đã được khai thác cho các loại phương tiện có sức chở từ 20 đến 1.000 tấn Cảng Lễ Môn cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 6km với năng lực thông qua 300.000 tấn/ năm, các tàu trọng tải
600 tấn cập cảng an toàn Cảng biển nước sâu Nghi Sơn có khả năng tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn, hiện nay đang được tập trung xây dựng thành đầu mối về kho vận và vận chuyển quốc tế
Tiềm năng phát triển thuỷ điện tương đối phong phú và phân bố đều trên các sông với công suất gần 800 MW Ngoài những nhà máy thuỷ điện lớn như Cửa Đặt, bản Uôn đang và sẽ đầu tư, Thanh Hóa có thể phát triển nhiều trạm thuỷ điện nhỏ có công suất từ 1-2 MW
3 Hệ thống Bưu chính viễn thông:
Trong những năm qua, hệ thống bưu chính viễn thông của Thanh Hóa đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông tin liên lạc trong tỉnh, trong nước và quốc tế với các phương thức hiện đại như telex, fax, internet
Hiện nay, có 598/636 xã phường, thị trấn có điện thoại, đạt tỉ lệ 94%; mạng di động
đã phủ sóng được 26/27 huyện, thị, thành phố, đến năm 2010 toàn tỉnh sẽ được phủ sóng mạng điện thoại di động Tốc độ phát triển máy điện thoại hàng năm tăng nhanh, năm
2005 đạt bình quân 5,9 máy điện thoại/100 người dân, tháng 6 năm 2006 đạt 8,69
máy/100 dân
4 Hệ thống cấp nước:
Hệ thống cung cấp nước ngày càng được mở rộng, đáp ứng yêu cầu cho sinh hoạt
và sản xuất, nhất là ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn và các khu công nghiệp Nhà máy nước Mật Sơn và Hàm rồng với công suất 30.000m3/ngày đêm, đang chuẩn bị mở rộng lên 50.000 m3/ ngày đêm đảm bảo cấp nước sạch đủ cho Thành phố Thanh Hoá, thị
xã Sầm Sơn và các khu công nghiệp Lễ Môn, Đình Hương Tỉnh đang triển khai xây dựng nhà máy cấp nước cho Khu kinh tế Nghi Sơn và các thị trấn cấp huyện Đến nay,
Trang 580% dân số nông thôn và 90% dân số thành thị đã được dùng nước sạch Các cơ sở sản
xuất kinh doanh đều được cung cấp đủ nước theo yêu cầu
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
Thanh Hoá nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với các tỉnh Trung Bộ và Nam Bộ, là
cửa ngõ ra biển của vùng Tây Bắc và Hủa Phăn – Lào Với vị trí trong vùng ảnh hưởng
của những tác động trực tiếp từ khu vực trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, và sự cộng tác tổng
hợp của các vùng kinh tế Trung Bộ và Nam Bộ, Thanh Hoá có thể huy động các nguồn
lực của mình để vươn lên thành một tỉnh kinh tế phát triển đồng bộ
Trong những năm qua, với nỗ lực của toàn ngành công nghiệp Thanh Hoá đã dần khẳng
định được vị trí, vai trò của mình trước xu thế hội nhập Phân theo ngành cấp II, sản xuất
công nghiệp trên địa bàn Thanh Hoá có 21 ngành sản xuất công nghiệp Trong đó, chỉ
tính riêng 5 ngành sản xuất chủ lực, năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 7.211,5 tỷ
đồng chiếm 87,4% Chiếm tỷ trọng cao nhất là ngành sản xuất sản phẩm từ chất khoáng,
phi kim loại, giá trị SXCN năm 2005 chiếm tỷ trọng 53,5%
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng và phát triển khích cầu các ngành dịch vụ
phát triển với tốc độ khá kết hợp với việc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng đã thúc đẩy quá
trình cải thiện, nâng cấp trình độ sản xuất và cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn
chuyển dịch theo hướng CNH – HĐH, tăng tỷ trọng ngnàh nghề phi nông nghiệp: Cơ cấu
kinh tế trong tỉnh (Nông lâm ngư nghiệp/ Công nghiệp – Xây dựng/ Dịch vụ thương
mại): Năm 2005: 32,3/ 34,6/33,1 Trong đó tỷ trọng riêng ngành công nghiệp năm 2005
đạt 24%, năm 2006 đạt 25,4%
Trong 6 khu công nghiệp được xây dựng đến năm 2010 đã có 2 khu được Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập: KCN Lễ Môn và KCN Đình Hương Chủ tịch UBND
tỉnh đã phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN Bỉm Sơn, đang thẩm định trình Chủ tịch
UBND tỏnh phê duyệt các KCN Nghi Sơn 1, Nghi Sơn 2, KCN Lam Sơn, Khu CN Tây
Nam Thanh Hoá đang xác định vị trí, ranh giới của KCN
Thanh Hoá có 38 cụm công nghiệp vừa và nhỏ - Cụm làng nghề có được UBND tỉnh phê
duyệt chủ trương hoặc dự án đầu tư xây dựng, trong đó có 2 cụm được đầu tư xây dựng
và lấy đất; 26 cụm đang triển khai, bao gồm cả các cụm có xây dựng hạ tầng hoặc đã
hoàn tất thủ tục quy hoạch, có doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh trong cụm, vốn
xây dựng cụm thực hiện thực hiện khoảng 250 tỷ đồng; diện tích đất sử dụng là 564 ha
Các cụm còn lại có chủ trương đầu tư, đang hoàn tất thủ tục đầu tư hạ tầng cụm
Giá trị sản xuất công nghiệp (tỷ đồng)
2007Giá trị
Trang 6 Thương mại - tổng sản phẩm(GDP)
Mạng lưới thương mại Thanh Hoá ngày càng được mở rộng, hệ thống siêu thị ở đô thị và hệ thống chợ ở nông thôn phát triển nhanh, văn minh thương mại đã có nhiều chuyển biến tích cực Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hộ kinh doanh cá thể tham gia ngày càng nhiều trong lĩnh vực thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống nhân dân Kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm tăng trên 23% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông-lâm-thuỷ sản (chiếm 51,4%), công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (24,6%), khoáng sản - vật liệu xây dựng (13,4%)… Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng Bên cạnh thị trường truyền thống như: Nhật Bản, Đông Nam Á, một số sản phẩm đã được xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Châu Âu
Trang 7Điểm nổi bật trong 3 năm 2001 - 2003 là kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao và liên tục Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2001 tăng 8,2%, năm 2002 tăng 9,25%, năm 2003 tăng 9,7%, bình quân mỗi năm tăng 9,05% Các nguồn lực cho đầu tư phát triển được huy động tốt hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và một số ngành dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản Cơ cấu của khu vực I (nông, lâm nghiệp, thuỷ sản) từ 39,6% năm 2000 giảm xuống còn 35,7% năm 2003 Khu vực II (công nghiệp, xây dựng) từ 26,6% tăng lên 31,4% trong thời gian tương ứng Thu ngân sách Nhà nước ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, năm 2003 đạt 1021 tỷ đồng, lần đầu tiên Thanh Hoá vào nhóm các tỉnh có nguồn thu ngân sách 1000 tỷ đồng, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phấn đấu của Thanh Hoá
Định hướng phát triển
Trong những năm tới, Thanh Hoá sẽ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, lợi thế phù hợp với xu thế phát triển và nhu cầu của thị trường khu vực và thế giới Ưu tiên sản xuất các sản phẩm công nghiệp có lợi thế với quy mô vừa và nhỏ, có sức cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ, lựa chọn công nghệ và thiết bị phù hợp để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh môi trường, chú trọng sử dụng nhiều lao động, gắn với việc phân bố lại lao động và dân cư trên địa bàn và trong phạm vi toàn tỉnh Tập trung vào một số lĩnh vực sản xuất giấy, bột giấy, chế biến hoa quả, chế biến cao su, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất phân bón, thuỷ điện, nhiệt điện…Mạnh dạn đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp có công nghệ cao như dự án công nghiệp sản xuất phần mềm Coi trọng và khuyến khích sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ theo hướng khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống và du nhập phát triển thêm các ngành nghề mới, hình thành các làng nghề sản xuất như mặt hàng thông dụng cho người tiêu dùng, những mặt hàng xuất khẩu Có chính sách ưu tiên và khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ
sở sản xuất trên địa bàn Đẩy nhanh tiến độ lấp đầy khu công nghiệp Lễ Môn, thúc đẩy xây dựng phát triển khu công nghiệp Nghi Sơn và các khu công nghiệp khác
Hướng phát triển các nhóm ngành chính
Nhóm ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng sản có tiềm năng về tài nguyên tại chỗ và lao động dồi dào, là sản phẩm chủ lực của công nghiệp Thanh Hoá Những năm tới, nhu cầu về xây dựng cơ bản rất lớn, tỷ trọng công nghiệp vật liệu xây dựng trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh luôn chiếm trên 20 % Nhóm ngành chế biến nông lâm thuỷ sản và đồ uống: hướng phát triển và nhóm ngành này là đầu tư xây dựng hàng loạt các cơ sở chế biến với thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến, xây dựng nhà máy hoa quả hộp và nước quả, nhà máy xúc sản đông lạnh, xí nghiệp chế biến tinh bột sẳn, mở rộng sản xuất bia, cồn
Thanh Hoá có tiềm năng lớn về sản xuất giấy đến năm 2010 đạt được trên 10 vạn tấn Trước mắt xây dựng nhà máy giấy Châu Lộc - Hậu Lộc
Nhóm ngành cơ khí - điện - điện tử: phát triển ngành cơ khí sản xuất ô tô, tàu thuỷ cùng vệ tinh sản xuất phụ tùng, linh kiện mở rộng cơ khí sửa chữa, dịch vụ và lắp ráp các sản phẩm điện tử và tin học, sản xuất sản phẩm phụ tùng thay thế cho các máy công tác phục vụ nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trong tỉnh Trước mắt, tập trung đầu tư sản xuất thép cán, thép định hình, luyện cán thép inox…
Công nghiệp hoá chất và phân bón: trong những năm tới cần phát triển mạnh sản xuất phân bón
và thuốc trừ sâu, nhất là phân bón hữu cơ vi sinh và phân lân để đáp ứng nhu cầu thâm canh
Trang 8trong nông nghiệp Thúc đẩy dự án lọc dầu và công nghiệp hoá dầu tạo ra các sản phẩm phục vụ
các ngành công nghiệp
Công nghiệp dệt, may, công nghiệp giả da: Đối với Thanh Hoá, việc phát triển các ngành này có
lợi thế vì lao động nhiều và công nghiệp da và giả da phát triển Trong thời gian tới sẽ phát triển
mạnh các ngành nghề này theo hướng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất hàng may xuất khẩu,
vùng thuận tiện sẽ đầu tư sản xuất sản phẩm dệt kim và tổ hợp dệt, nhuộm
Trên cơ sở lợi thế về nguyên liệu, nhân công, tập trung phát triển mạnh ngành nghề thủ công mỹ
nghệ để tạo ra khối hàng hoá xuất khẩu, là hướng quan trọng để giải quyết việc làm và chuyển
đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn
Tổ chức xây dựng các khu công nghiệp động lực
Khu công nghiệp động lực Thanh Hoá - Sầm Sơn: ngành công nghiệp chủ đạo ở khu công
nghiệp này là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm phục vụ xuất khẩu và nội tiêu và công
nghiệp dịch vụ gia công lắp ráp Ngoài ra, còn bố trí một số ngành công nghiệp khác như phân
bón, cơ khí, luyện cán thép, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, vật liệu xuất khẩu, dịch vụ cảng…
Nơi đây sẽ tập trung các khu công nghiệp như Lễ Môn, Đình Hương, Tây Ga, Hàm Rồng…
Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thạch Thành: Ngành công nghiệp chủ đạo là sản xuất vật liệu xây
dựng và công nghiệp mía đường Khu công nghiệp tập trung này được chia thành 2 khu công
nghiệp: KCN Bỉm Sơn, xây dựng liên hiệp vật liệu xây dựng: xi măng, bê tông đúc sẵn, gạch
ngói, sản xuất phụ tùng linh kiện và lắp ráp ô tô KCN Thạch Thành, xây dựng khu liên hợp mía
đường: đường, bánh kẹo, cồn, rượu, thức ăn gia súc…
KCN Mục Sơn – Lam Sơn: ngành công nghiệp chủ đạo ở đây là mía đường, giấy và chế biến
lâm sản Xây dựng tại đây liên hợp giấy bao gồm: bao bì giấy, bao bì cót, chế biến gỗ luồng, ván
ép, phôi bào, liên hợp mía đường, rượu cồn, thức ăn gia súc
KCN Nghi Sơn – Tĩnh Gia: Ngành công nghiệp chủ đạo là vật liệu xây dựng, công nghiệp dịch
vụ cảng biển và du lịch, cơ khí lắp ráp – cơ khí đóng sửa chữa tàu thuyền, chế biến hải sản, công
nghiệp hóa dầu, phân bó
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008Lao
động
67.7 70.7 73.4 74.6 74.1 81.0 83.3 80.6 98.2 99.1 97.5 96.6 95.9 95.1
Lao động bình quân của tỉnh theo các năm (nghìn người)
Năm 2010, Thanh Hóa sẽ dồn sức cho phát triển kinh tế - xã hội, nhằm hoàn thành ở mức
cao nhất các mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, tạo tiền đề cho bước phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững trong giai đoạn 2011 - 2015
Hàng loạt giải pháp cụ thể đã được UBND tỉnh Thanh Hóa đặt ra và quyết tâm thực hiện
trong năm 2010, như tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh; tăng
cường huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển; tận dụng
tối đa cơ hội phục hồi kinh tế, tháo gỡ kịp thời khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất,
dịch vụ , nhằm đưa GDP toàn tỉnh đạt mức tăng trưởng 13,5% trở lên Trong đó, nông,
lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,6%; công nghiệp - xây dựng tăng 20,5%; dịch vụ tăng
11,6%
II.CẢNG NGHI SƠN:
Trang 91.Vị trí địa lý, Điều kiện tự nhiên và xã hội:
Khu kinh tế Nghi Sơn(KKTNghi sơn) là một khu kinh tế được thành lập vào giữa năm 2006tại
huyện Tĩnh Gia, phía Nam tỉnh Thanh Hóa nhằm mục đích phát huy lợi thế địa lý trên quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam, và có hệ thống cảng Nghi Sơn để tạo ra một động lực phát triển kinh tế
- xã hội cho tỉnh Thanh Hóa, cho khu vực kém phát triển Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An, và cho các tỉnh phía Bắc Việt Nam nói chung Tuy là một khu kinh tế tổng hợp, song các ngành kinh tế được ưu tiên là công nghiệp nặng và công nghiệp hóa dầu
KKT Nghi Sơn được xây dựng và phát triển với mục tiêu trở thành một KKT tổng hợp đa ngành,
đa lĩnh vực, trọng tâm là công nghiệp nặng và công nghiệp cơ bản gắn với việc xây dựng và khai thác có hiệu quả cảng biển Nghi Sơn, hình thành các sản phẩm mũi nhọn, có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, các loại hình dịch vụ cao cấp; đẩy mạnh xuất khẩu; mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới Vì vậy KKT Nghi Sơn đóng vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -xã hội của tỉnh Thanh Hoá nói riêng và cả nước nói chung
Nhằm khuyến khích thu hút các dự án đầu tư vào Nghi Sơn,
Cảng Nghi Sơn thuộc Khu Kinh tế Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đây là cảng biển nước sâu lớn đã được quy hoạch với hơn 10 cầu cảng cho tàu 50.000 tấn ra vào, với lượng hàng hóa thông qua hơn 10 triệu tấn/năm Cảng có vị trí địa lý thuận lợi, được che chắn sóng, gió nên tần suất khai thác tính theo ngày trong năm rất cao là một trong những nước sâu quan trọng nhất theo quy hoạch của Việt Nam
Hiện nay, Cảng Nghi Sơn đang phục vụ bốc xếp vật tư, hàng hoá chủ yếu như xi măng, clinke, đường, phân đạm, sắt thép…Trong đó ximăng và clinke chiếm khoảng 70-80% về khối lượng Cảng Nghi Sơn cũng đang được nạo vét nâng cấp luồng vào, rộng 120m, sâu -11m để tiếp nhận tàu 30.000T Với việc cải tạo luồng, công suất của cảng Nghi Sơn sẽ được nâng lên tới 1,6- 2 triệu tấn/năm
2 chức năng,nhiệm vụ của cảng:
Trang 11Bến cảng Nghi Sơn: 19°18'20"N - 105°49'00"E
Xã Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
ĐT: (84.37) 3862237
Fax: (84.37) 3862373
Điểm đón trả hoa tiêu: 19°17'01"N - 105°49'50"E
• Luồng vào bến cảng Nghi Sơn: 2 km Độ sâu: -8.5 m Mớn nước cao nhất cho tàu ra vào: 8.5 m
• Chế độ thủy triều: nhật triều không đều Chênh lệch b/q: -2.5 m.
Cầu bến:
Trang 12Nghi Sơn:
Cầu 1
Cầu 2 165 m225 m -8.5 m-11.0 m Hàng tổng hợp
-nt- Kho Bãi:
Tổng diện tích: 161,000 m2 (Nghi Son: 110,000 m2, Le Mon: 51,000 m2).
• Nghi Sơn: Kho: 2,880 m2 Trong đó kho CFS: 1,440 m 2 Bãi: 72,000 m2, trong đó bãi
chứa container 12.350m2
Thiết bị chính:
Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, Nghi Sơn đã hình thành khu cảng biển nước sâu với hai chức năng chính: vừa là cảng tổng hợp, vừa là cảng chuyên dụng Cảng nước sâu Nghi Sơn gồm 2 bến với công suất thiết kế trên 1 triệu tấn hàng hóa/năm, hiện đang được tỉnh giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cảng Thanh Hóa tạm thời quản lý và khai thác
Trong năm 2006, bến cảng số 1 Nghi Sơn- Thanh Hoá đã bốc xếp 1 triệu tấn hàng hoá các loại qua cảng, gấp đôi công suất thiết kế, đạt năng suất cao nhất kể từ khi đưa bến cảng số 1 vào hoạt động
Năm 2006, cảng Nghi Sơn đã đón được 750 lượt tàu có trọng tải từ 1000 - 7000 tấn đến “ăn” hàng, trong đó có 20 lượt tàu nước ngoài Ban lãnh đạo cảng đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị hải quan, cảng vụ, bộ đội biên phòng, công an tạo thuận lợi cho các hoạt động vận chuyển hàng hoá tại khu vực bến cảng được an toàn, kịp thời Ngoài các mặt hàng chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn