1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN một số BIÊN PHAP rèn kỹ NĂNG VIẾT CHÍNH tả

39 481 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 810 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài giảng của top 1 hay ai không tải thì phí đã nhận đc nhiều giải thường của phòng và của tỉnh. mong mọi người ủng hộ giúp cho. ai tải bài giảng này thành công chụp ảnh và gửi cho gmail: thinhdakmamgmail.com nhận ngay 10k card

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH Ở LỚP 4

1 MỞ ĐẦU:

1.1/ Lí do chọn đề tài :

Đối tượng học sinh viết sai chính tả vẫn luôn tồn tại trong giáo dục, tuy nhiên

về số lượng học sinh viết sai nhiều hay ít và mức độ tiến bộ của học sinh nhanh haychậm trong quá trình được giáo dục và rèn luyện mới là điều đáng quan tâm của riêngmỗi giáo viên, mỗi nhà trường Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ởtiểu học Chữ viết là kí hiệu bằng hình ảnh thị giác (các hình nét) ghi lại tiếng nói.Chữ viết là một phát ngôn quan trọng của loài người Trẻ em đến tuổi đi học thườngbắt đầu quá trình học tập bằng việc học chữ Ở giai đoạn đầu (bậc tiểu học) trẻ tiếptục hoàn thiện năng lực tiếng nói mẹ đẻ; bồi dưỡng, tình yêu Tiếng Việt hình thànhthói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Từ đó bắt đầu dạy em học chữ Muốnđọc thông viết thạo trẻ phải được học chính tả

Trong các phân môn của Tiếng Việt, phân môn chính tả có vị trí quan trọng ởbậc tiểu học bởi vì giai đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành

kỹ năng chính tả cho hs Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạyriêng Phân môn chính tả ở tiểu học có hai kiểu bài chính tả là chính tả đoạn bài vàchính tả âm vần Nội dung bài chính tả âm vần là luyện viết đúng chữ ghi tiếng có

âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành cho bài tập chính tả âm vần là rấtngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn kỹ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn,giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả, nắm được các quy tắc chính tả

và hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả; giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng TiếngViệt đạt hiểu quả cao trong việc học tất cả các môn khác góp phần phát triển năng lực

tư duy

Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, hiện tượng học sinh tiểu học nói chung, họcsinh lớp 4 là người dân tộc thiểu số nói riêng, viết sai chính tả còn khá phổ biến.Bằng kinh nghiệm từ thực tiễn và giảng dạy nhiều năm, qua học hỏi từ đồng nghiệptôi đã rút ra một số kinh nghiệm khi áp dụng thấy có hiệu quả trong việc khắc phụctình trạng viết sai chính tả của học sinh Mong muốn được chia sẻ cùng giáo viêntrong trường và cũng tạo điều kiện để thu thập thêm kinh nghiệm, xây dựng kế hoạchkhắc phục tình trạng viết sai chính tả của học sinh toàn trường thiết thực hơn Tôi đãtrình bày một số kinh nghiệm của mình với BGH nhà trường và giáo viên trong khối

để xin ý kiến đóng góp thêm về các giải pháp đã thực hiện thấy có hiệu quả Sau đótổng hợp viết thành sáng kiến kinh nghiệm để giáo viên trong trường cùng tham khảothêm

Từ thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã rút ra được một vài kinh nghiệmnhằm khắc phục tình trạng viết sai chính tả của học sinh Qua thực tế áp dụng thực

Trang 2

hiện trong năm học vừa qua có hiệu quả, trong năm học này, tôi xin trình bày “MỘT

SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH Ở LỚP 4 ”

1.2/ Mục đích nghiên cứu:

- Khi tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:

+ Tìm ra phương pháp và hướng đi giúp hs yếu biết viết đúng chính tả, nắm vững luậtchính tả mà hs tiểu học cần đạt được Qua đó từng bước nâng cao năng lực, nhận thứccủa bản thân

+ Tìm hiểu yêu cầu, nhiệm vụ và thực trạng dạy học của hs lớp 4B

- Như đã nêu trên, mục đích nghiên cứu là mong muốn tập hợp nhiều ý kiến, nhiềugiải pháp và kinh nghiệm, để chia sẻ, trao đổi nhằm thực hiện có hiệu quả hơn việcsửa lỗi chính tả; Giúp giáo viên dạy lớp dễ dàng áp dụng mang lại hiệu quả cao hơntrong giảng dạy Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hạn chế họcsinh viết sai lỗi, thực hiện đúng mục tiêu giáo dục đã đề ra

1.3/ Đối tượng nghiên cứu:

- HS lớp 4B của trường tiểu học Trần Phú

1.4/ Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế dạy học ở khối 4

- Phương pháp thực nghiệm dạy học

- Phương pháp khảo sát thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp

1.5/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp và quy trình tổ chức sửa lỗi chính tảcho học sinh khối lớp 4 trong nhà trường tiểu học Đặc biệt là trường có số lượng họcsinh dân tộc thiểu số nhiều chiếm tới 75 % hs toàn trường Đúc kết thành hệ thốngnhững kinh nghiệm dạy học đạt hiệu quả

2 NỘI DUNG

2.1/ Cơ sở lí luận của vấn đề:

- Việc học sinh viết sai lỗi chính tả là vấn đề trăn trở từ các cấp lãnh đạo chođến giáo viên trực tiếp giảng dạy luôn băn khoăn, lo lắng, nhiều giáo viên mất rấtnhiều thời gian, công sức để tìm được những giải pháp có thể giúp một viết sai tiến

bộ Và cũng không có gì vui hơn khi nhìn thấy học sinh của mình học tập ngày càngtiến bộ

- Qua nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm dạy học của giáo viên thời gianqua Chúng ta tạm thời định nghĩa học sinh viết sai chính tả như sau:

*Thế nào học sinh viết sai chính tả? Là những học sinh bằng kiến thức, kĩ

năng, kinh nghiệm của bản thân mình, dưới sự hướng dẫn của giáo viên không tự giảiquyết được những mâu thuẩn trước mắt để tự hoàn thiện bài viết của mình hoặckhông nắm được quy trình viết, luật chính tả, chậm chạp trong vận dụng các kĩ năng

cơ bản phải có ở học sinh để giải quyết một bài tập hay một yêu cầu được đặt ra trongquá trình dạy và học

2.2/ Thực trạng, nguyên nhân:

Trang 3

- Xuất phát từ thực tế đã nêu trên tôi có thể khẳng định trong bất kì lớp họcnào ở bậc tiểu học cũng có học sinh viết sai lỗi chính tả Có những hs học lớp 4 rồi

mà vẫn chưa thuộc hết bảng chữ cái; kĩ năng đọc, viết yếu Với chương trình sáchgiáo khoa và quy định về chuẩn kiến thức kĩ năng mới hiện nay thì số học sinh cònhụt chuẩn là một con số không nhỏ

- HS đa số là con em người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, nhận thức củaphụ huynh và hs vẫn còn nhiều hạn chế Đặc biệt là nhiều em còn chưa nói thành thạoTiếng Việt, vố từ còn hạn chế Việc học của các em, hầu như là phụ huynh phó mặccho thầy cô giáo ở trường, về nhà phụ huynh ít quan tâm đến việc đôn đốc, nhắc nhởcác em học ở nhà

- Vẫn còn một số ít giáo viên chủ nhiệm chưa nhiệt tình trong công tác giảngdạy, chưa kịp thời giúp đỡ hs khi viết sai HS viết sai mà không được phát hiện vàgiúp đỡ kịp thời thì các em đã sai lại càng sai và lâu dần thành thói quen rất khó sửa,dẫn đến dễ nản lòng, chán học

- Bên cạnh đó vẫn còn rải rác một vài gv chủ nhiệm thiếu sự phối kết hợp chặtchẽ giữa nhà trường và gia đình về thông tin hai chiều, để tìm ra nguyên nhân, biệnpháp giáo dục phù hợp đối với hs viết sai lỗi

- Giáo viên chủ nhiệm cũng như giáo viên bộ môn chưa thường xuyên trao đổivới nhau về tình hình học tập của lớp, của cá nhân từng em thông qua từng môn học,từng tiết học, để từ đó có biện pháp giúp đỡ hs kịp thời

* Khó khăn: Bên cạnh đó còn những khó khăn bức xúc chung rất khó có thể

giải quyết triệt để nếu không có sự đồng tâm của tập thể giáo viên và gia đình phụhuynh hs, cụ thể là:

- Học sinh: Đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai, không nắm được quy tắcchính tả, không có khả năng vận dụng các kĩ năng cơ bản: nghe - đọc –nói -viết củacác em chưa hoàn chỉnh

- Giáo viên: Chưa xác định được nguyên nhân học sinh viết sai, chưa biết phảibắt đầu từ đâu, luôn lúng túng khi xây dựng biện pháp, kế hoạch, nên kết quả thườngkhông cao

Chính vì vậy công tác rèn kỹ năng viết hiện nay luôn được các nhà trường vàgiáo viên đặc biệt quan tâm

1 Về học chính tả học sinh lớp 4:

Số liệu điều tra phân loại đầu năm:

Trang 4

Tổng số hs đầu năm Năng lực của môn chính tả

20 em 12/20 tỉ lệ 60 % 8/20 tỉ lệ: 40 %

Trong thực tế cho thấy hs còn mắc lỗi chính tả quá nhiều, có một số hs còn viếtsai hơn 10 lỗi trong 1 bài chính tả

Ví dụ bài: Mười năm cõng bạn đi học ( sgk TV tập 1- trang 16)

Số lỗi hs sai qua bài viết: Sai 1- 4 lỗi: ( 2 em); Sai từ 5-7 lỗi: ( 3 em); Sai từ

7-10 lỗi: ( 4 em) Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởngtới kết quả học tập môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác

- Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới, chưanắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa hiểu rõnghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả

- Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:

- Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận như ( thiếu dấu thanh hoặc tự thêm dấu thanh)

- Lỗi về các vân khó ( uênh, oang, eoo, uyên, uyêt,…)

- Lỗi do phát âm sai ( at, ac, an, ang, iu, iêu,…)

- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ ( để dành/ tranh giành)

- Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (gh, ngh, k chỉ đứng trước i, e, ê.Cách ghi âm đệm)

Qua thống kê các loại lỗi, tôi thấy hs thường mắc phải các loại lỗi sau:

a/ Về thanh điệu: HS không phân biệt được hai thanh hỏi, ngã

VD: sữa chữa, suy nghỉ

b/ Về âm đầu: HS còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:

+ iu / êu / iêu: chìu chuộng

+ oi / ôi / ơi: kêu gội

+ ăm / âm: con tầm

+ im / iêm: lúa chim

Trang 5

+ ăp / âp: gập gỡ

+ ip /iêp: liên típ

+ ui / uôi: đầu đuôi

+ um / uôm / ươm: con buốm

+ ưi / ươi: quả bửi

- ươn/ương: con lương

2 Về dạy chính tả của giáo viên:

Hạn chế lớn nhất là chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng tiếng địa phương nên

gv ở mỗi vùng miền có cách phát âm chưa chính xác ở một số từ

Người miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng/nh; t/c/ch Hai bán âm cuối i/u lại được ghi bằng 4 con chữ i/y( trong tai/tay); u/o( trong cau/cao), do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với hs miền Nam Mặtkhác còn lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr; s/x; d/r/gi, phát âm không phân biệtđược thanh hỏi, thanh ngã

1.2 Phân tích so sánh:

- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, sosánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để hs ghi nhớ

Trang 6

VD: Khi viết tiếng “ nặng” hs dễ lẫn lộn với tiếng “ nặn” gv yêu cầu hs phântích cấu tạo 2 tiếng này.

VD: Học sinh đọc “ suy nghỉ ” nhưng viết “ suy nghĩ ” do đo hs cần hiểu “nghỉ

” có nghĩa là hoạt động bị ngừng lại, còn “nghĩ ” là tính toán điều gì đó.Vì vậyphải viết là “ suy nghĩ ”

1.4 Ghi nhớ mẹo chính tả:

Mẹo luật chính tả là các hiện tượng mang tính quy luật chi phối hàng loạt

từ, giúp gv khắc phục lỗi chính tả cho hs một cách rất hữu hiệu ngay từ lớp 1,các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: Các âm k, gh, ngh chỉkết hợp với âm i, e, ê

- Để phân biệt âm đầu tr / ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và têncon vật đều bắt đầu bằng ch: chăn, chiếu, chổi, chai, chén,chày, chum, chạn,chõ, chuột, chó, chồn, chèo bẽo, chìa vôi,…

- Để phân biệt âm đầu s / x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đềubắt đầu bằng s: si, sả, sung, su su, sến, sấu, sậy, sầu riêng, sáo, sâu, sên, sam,sò,sóc, soi,.sư tử,…

1.5 Làm bài tập chính tả:

Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập khác nhau đẻ giúp hs tập vậndụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể Saumỗi bài tập, gv giúp các em rút ra quy tắc chính tả đẻ ghi nhớ

* Bài tập trác nghiệm:

1 Khoanh tròn chữ cái trước từ ngữ viết đúng:

a căn dặn b căng nhà c kiêu căng

d nhọc nhằn e lằng nhằng g cằng nhằng

h vắng mặt i vắn tắt k vuông vắng

2 Điền chữ Đ vào ô trông trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào

ô trước những chữ viết sai chính tả

chung sức chung thành

nghèo đói ngoằn ngoèo

3 Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả.

A B

a cuộn trâu ( 1)

Trang 7

* Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong câu sau:

- Chị Hà đang ……… xe đạp ( sửa, sữa)

- Đôi ………này rất đẹp ( dày, giày)

- Bài viết của em còn … sài (sơ, xơ)

- Em thích nghe kể ………… hơn đọc ………… ( truyện, chuyện)

5 Bài tập phát hiện:

+ Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng

- Đàn sếu đang sải cánh trên cao

- Quê hương là con dìu biếc

- Hồ về thu nước chong vắt, mênh mông

6 Bài tập điền khuyết:

Điền vào chỗ trống cho phù hợp:

- d, r hoặc gi: …án các; ….ễ …ãi; đêm ….ao thừa

- s hoặc x: …ôn …ao; …ung phong; ….a ….ôi; đơn …ơ

- ươn hoặc ương: s …… mù; v … rau; cá … ; vấn v……

7 Bài tập tìm từ:

Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua các

từ đồng âm, từ trái nghĩa

* Tìm từ ngữ chứa vần “ ươt” hoặc “ ươc” có nghĩa như sau:

- Dụng cụ để đo, kẻ, vẽ: ………

- Thi không đỗ: ………

* Tìm từ ngữ có thanh hỏi ( ? ) hoặc thanh ngã ( ~) có nghĩa như sau:

- Khung gỗ để dệt vải: ………

- Trái nghĩa với thật thà: ………

8 Bài tập phân biệt:

Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:

* chúc - chút * nắng - nắn

* no - lo * sáu - sáo

* dành - giành * chiên - chuyên

Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho HS biết xây dựng cái đúng, loại bỏcái sai Bên cạnh việc cung cấp cho HS những quy tắc chính tả, hướng dẫn học sinhthực hành luyện tập nhằm hình thành các kỹ xảo chính tả cần đưa ra những trườnghợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa; sai đâu sửa đó rồi từ đó hướnghọc sinh đi đến cái đúng

2 Tổ chức dạy học:

Trang 8

Khi tổ chức các hoạt động thực hành luyện tập giáo viên lựa chọn hình thứcluyện tập phù hợp với đối tượng HS và phù hợp với nội dung của từng bài tập nhằmtạo hứng thú, phát huy tính tích cực chủ động của HS trong học tập.

Trong quá trình HS làm bài, giáo viên quan sát cá nhân học sinh, nhóm họcsinh để đôn đốc hướng dẫn và biết được những bài làm sai để tổ chức cho học sinhnhận xét và sửa chữa Đối với dạng bài tập không chỉ có đáp án đúng duy nhất, giáoviên tổ chức cho HS luyện tập dưới hình thức trò chơi và thảo luận nhóm thì hiệu quả

và việc chữa lỗi bài tối wu hơn cả Giáo viên tổ chức cho HS nhân xét, góp ý bài làmcủa bạn, chỉ ra lỗi để cùng chữa Trường hợp HS không phát hiện ra lỗi giáo viên gợi

ý để học sinh nhận ra và chữa lỗi Khi đánh giá, ngoài việc chấm bài cho hoạc sinh,giáo viên nên tổ chức cho HS tự chấm bài hoặc chấm bài cho bạn dựa vào đáp ánđúng và hướng dẫn chấm của giáo viên Qua mỗi bài giáo viên tổng kết ý kiến và chốtlại nội dung kiến thức cần ghi nhớ và kĩ năng cần rèn luyện

- Giáo viên nên tuyên dương, khen thưởng động viên kịp thời tạo hứng thscho các em say mê học tập

từ 4 – 5 lỗi thì nay chỉ còn 2 – 3 lỗi,…

Kết quả cụ thể như sau:

Sĩ số học sinh Năng lực của môn chính tả

- Kết hợp tốt việc giáo dục giữa nhà trường và gia đình phụ huynh học sinh để giúp các em tiến bộ

- Cần bổ sung những nội dung cần thiết mà sách giáo khoa chưa đề cập đến chophù hợp với việc dạy chính tả cho học sinh

- Giúp học sinh thống kê những lỗi mà các em hay sai vào sổ tay Tiếng việt

- Cần thường xuyên học tập, bồi dưỡng khả năng phát âm chuẩn và trình độ viết chính

Trang 9

tả của bản thân

V- LỜI KẾT

Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng góp phần giúp cho học sinh đọc thông viết thạo , sử dụng ngôn ngữ nói, viết trong học tập và giao tiếp , tạo cơ sở cho các em học tiếp ở các lớp trên Trong đó phân môn chính tả ngoài việc giúp học sinh rèn các kĩ năng viết, nghe, đọc còn cung cấp cho các em vốn từ, vốn hiểu biết vềcác mảng khác nhau của đời sống

Vì vậy khi dạy chính tả, người giáo viên cần phải nắm được những yêu cầu cơ bản về kiến thức kĩ năng của bài học, từ đó lựa chọn những biện pháp phù hợp nhằm giúp cho giờ học diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái, giúp các em khắc phục những lỗi sai

mà các em thường hay mắc phải

Trong quá trình giảng dạy ở lớp 4, với những tìm tòi của bản thân, tôi đã giúp các em thuận lợi trong việc khắc phục những lỗi sai khi viết chính tả Tuy nhiên trên đây chỉ là những ý kiến nhỏ của bản thân tôi , rất mong sự đóng góp của các bạn đồngnghiệp để cho việc giảng dạy các em đạt hiệu quả tốt hơn

Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

Việc tổ chức rèn kỹ năng viết phải được thực hiện có quy trình rõ rệt cụ thể,thực hiện theo các bước sau:

22333

Trang 10

2.3

2.4

33.1

3.2

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Nội dung

Cơ sở lí luậnThực trạngCác biện phápKết quả đạt được

Kết luận và kiến nghị

Kết luậnKiến nghị

3334611131314

Để thực hiện tốt việc giúp học sinh viết đúng chính tả, tôi đã soạn racác biện pháp sau để áp dụng trong các tiết dạy

Trong một tuần có hai tiết chính tả - thứ ba và thứ sáu Ở lớp ba có hai loại bài chính

tả : Chính tả nghe đọc và Chính tả nhớ viết(Loại bài Chính

tả tập chép chỉ có vài tiết ở đầu năm học), ở loại bài chính tả nào, tôi cũng

cho các em về nhà đọc lại bài viết tiết trước rồi đọc bài viết tiết sau ba hoặc

bốn lần Để chuẩn bị bài tiết sau, các em tập viết các từ khó hoặc các em viết

Trang 11

cả bài viết vào vở nháp hay viết vào vở luyện viết ở nhà Lên lớp trong sinh

hoạt 15 phút đầu giờ, lớp phó học tập sẽ kiểm tra và báo cáo giáo viên chủ

nhiệm

3 Trong giờ tập đọc:

Trong Tiếng Việt đối với học sinh Tiểu học, việc rèn luyện bốn kĩ

năng nghe, nói, đọc, viết luôn liên quan và thống nhất với nhau chặtchẽ

Như vậy, "đọc" cũng đóng vai trò quan trọng cho học sinh viết đúngchính tả

(VD: Những em đọc ngọng, đọc sai, trong giờ tập đọc sẽ được luyệnđọc và

các em sẽ ghi nhớ để nói đúng, viết đúng hơn)

4 Tiết chính tả:

Tiết học này, tôi chú ý nội dung bài dạy với tình hình thực tế mắc

lỗi của học sinh Tôi sử dụng phương pháp "Nhớ từng chữ một" Ở lớp ba,

các em đã học cơ bản về cách viết tên riêng nước ngoài và các vần khó như:

ui/uôi ; iêc/ iêt ; ong/ ông ( và các từ học sinh dễ viết sai vì phương ngữ)

Với tên riêng nước ngoài (thường là các phiên âm), tôi hướng dẫn cho

các em cách đọc và cách viết hoa( Vì tên riêng nước ngoài có nhiều tiếng,

mỗi tiếng lại có nhiều bộ phận như: Mat-xcơ-va, En-ri-cô và giữa các bộ

phận có gạch nối) Để các em đọc đúng, viết đúng, tôi đã gọi các em yếu đọc

nhiều lần để hướng dẫn các em nhận biết, sửa chữa và đọc đúng hơn sau đó

cho các em viết vào bảng con-viết và đọc lại Trong quá trình hướng dẫn tôi

hoặc gọi học sinh nhắc lại cách viết hoa tên nước ngoài khác với tên Việt

Nam

Còn các vần khác, những vần các em dễ sai và sai nhiều do phương

ngũ ngoài hình thức viết bằng bảng con tôi còn rèn các em viết đúng bằng

trò chơi

5.Vận dụng trong trò chơi

 Tiết học này, tôi chú ý nội dung bài dạy với tình hình thực tế mắc

lỗi của học sinh Tôi sử dụng phương pháp "Nhớ từng chữ một" Ở lớp ba,

các em đã học cơ bản về cách viết tên riêng nước ngoài và các vần khó như:

ui/uôi ; iêc/ iêt ; ong/ ông ( và các từ học sinh dễ viết sai vì phương ngữ)

Với tên riêng nước ngoài (thường là các phiên âm), tôi hướng dẫn cho

các em cách đọc và cách viết hoa( Vì tên riêng nước ngoài có nhiều tiếng,

mỗi tiếng lại có nhiều bộ phận như: Mat-xcơ-va, En-ri-cô và giữa các bộ

phận có gạch nối) Để các em đọc đúng, viết đúng, tôi đã gọi các em yếu đọc

nhiều lần để hướng dẫn các em nhận biết, sửa chữa và đọc đúng hơn sau đó

cho các em viết vào bảng con-viết và đọc lại Trong quá trình hướng dẫn tôi

Trang 12

hoặc gọi học sinh nhắc lại cách viết hoa tên nước ngoài khác với tên Việt Nam

Còn các vần khác, những vần các em dễ sai và sai nhiều do phương

ngũ ngoài hình thức viết bằng bảng con tôi còn rèn các em viết đúng bằng trò chơi

5.Vận dụng trong trò chơi:

Đa số các bài tập chính tả thường được vận dụng trong trò chơi, dù có

nhiều dạng bài tập như: Tìm từ qua gợi ý; điền âm hoặc vần vào chỗ trống; tìm tiếng với các vần, âm cho sẵn Ở mỗi dạng bài tập tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi khác nhau như: "Tìm nhanh tìm đúng; Bắt vần; Đố chữ

Với phương pháp trò chơi này sẽ gây cho các em sự hứng thú, tính

nhanh nhẹn và qua hoạt động trò chơi kiến thức kỹ năng viết đúng chính tả của các em sẽ được góp phần củng cố

6 Phần dặn dò:

Trong một tuần có hai tiết chính tả vào thứ ba và thứ sáu Chương

trình lớp ba có ba loại bài chính tả( Chính tả tập chép, Chính tả nghe viết và Thực hiện: Lê Thị Thấn - 8 -

Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh nghiệm

Chính tả nhớ viết) Loại bài Chính tả tập chép chỉ có hai đến ba tiết ở đầu năm để các em làm quen Còn CT nhớ viết cũng có nhưng chủ yếu chính vẫn là loại bài CT nghe viết nhiều nhất trong cả năm học Với những em yếu viết sai nhìêu lỗi chính tả tôi dặn các em ở nhà phải đọc bài tiết trướcvà bài viết tiết sau và viết bài viết đó vào vở ở nhà vừa kết hợp giúp các em rèn chữ viết, vì thường những em học yếu thường viết chữ cẩu thả Ngày hôm sau, tôi hoặc lóp phó học tập kiểm tra và hỏi để biết các em thấy khó viết từ nào

để hướng dẫn các em viết đúng hơn, riêng loại bài CT nhớ viết thì yêu cầu học sinh tái hiện lại hình thức chữ viết của một văn bản đã được học thuộc Tuy trong giờ tập đọc, các em đã được luyện học thuộc bài nhưng trước khi viết chính tả, tôi cũng cho học sinh đọc lại văn bản hai, ba lượt để tạo tâm thế viết bài và có cơ sở tái hiện lại văn bản Tôi cũng không quên lưu ý các

em đọc và tập viết đúng các từ khó, các từ mà các em thường viết sai

7 Trao đổi cùng phụ huynh:

Bên cạnh những biện pháp tôi đã nêu ra để thực hiện còn biện pháp

nữa không kém phần quan trọng là gặp và trao đổi riêng với phụ huynh Trước hết, tôi nêu những mặt yếu của học sinh rồi nhờ phụ huynh theo dõi

và giúp đỡ các em trong thời gian học ở nhà Và trong tiếp xúc hằng ngày của gia đình, phụ huynh có thể giúp các em phát âm đúng và hiểu nghĩa

Trang 13

đúng của từ (VD:mặc và mặt, uốn và uống )Hoặc nếu vì phụ huynh có

công việc(làm ca hay đi công tác )thì ủng hộ cho các em việc học nhóm(những em ở gần nhà nhau ) Học nhóm với các bạn, các em sẽ tiếp

thu nhanh vì các em cùng lứa tuổi, cùng ngôn ngữ trong giao tiếp Các em

lại vô tư, hồn nhiên nên có thể giúp nhau bất cứ lúc nào trong học tập, trong

lao động, trong vui chơ

1. PHẦN MỞ ĐẦU : Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh Sáng kiến kinhnghiệm Rèn kĩ năng viết chính tả cho học sinh lớp chủ nhiệm Sáng kiến kinh nghiệm

2. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh Bối cảnh của đề tài: Chính tả là mộttrong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học.Phân môn chính tả dạy cho học sinh trithức và kĩ năng chính tả,phát triển năng lực sử dụng thức viết vào hoạt động giao tiếp

- Chữ viết là kí hiệu bằng hình ảnh thị giác(các hình nét)ghi lại tiếng nói - Chữ viết làmột phát ngôn quan trọng của loài người.Trẻ em đến tuổi đi học thường bắt đầu quátrình học tập bằng việc học chữ.Ở giai đoạn đầu (bậc tiểu học) trẻ tiếp tục hoàn thiệnnăng lực tiếng nói mẹ đẻ.Từ đó bắt đấu dạy em học chữ.Muốn đọc thông viết thạo trẻphải được học chính tả

3. - II Lý do chọn đề tài: Trong quá trình giảng dạy lớp 2 ,bản thân nhận thấy họcsinh còn viết sai nhiều lỗi chính tả.Đặc biệt đầu năm học này ở lớp tôi chủ nhiệm họcsinh viết sai rất nhiều lỗi chính tả.Nên tôi quyết định chọn đề tài: Rèn kĩ năng viếtchính tả cho học sinh lớp chủ nhiệm

4. III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Sáng kiến kinh nghiệm 2

5. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh 1.Phạm vi nghiên cứu: -Rèn cho họcsinh viết đúng phân môm chính tả 2 Đối tượng nghiên cứu: -Học sinh lớp haiTrường tiểu học Mỹ Chánh Năm học 2009 – 2010 B NỘI DUNG I Cơ sở lý luận:Các nguyên tắc chính tả không tách rời các nguyên tắc dạy học Tiếng Việt Chính tả

là phân môn có tính chất công cụ,tính chất thực hành làm cơ sở cho việc dạy học cácphân môn khác của Tiếng Việt.Cùng với phân môn Tập Viết ,Chính Tả cung cấp kiếnthức và hoàn thiện kĩ năng tạo ra hình thức vật chất biểu hiện ngôn ngữ trong hoạtđộng giao tiếp Mục đích của dạy chính tả là rèn luyện khả năng “đọc thông ,viếtthạo”,chủ yếu là viết đúng chuẩn mực và dạng thức viết của ngôn ngữ II Thực trạng:Thực trạng là ở học sinh tiểu học các em viết chính tả còn sai rất nhiều Có phải là do

ở tiểu học việc nhận dạng chữ viết của cá em còn gặp khó khăn hay do các em chưađọc thông thạo chữ.Để giúp các em nắm vững một số qui tắc chính tả ,từ đó các emviết không còn sai như trước Sáng kiến kinh nghiệm 3

6. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh III Biện pháp rèn học sinh viết đúngchính tả: Mặc dù các em đã đọc thông viết thạo nhưng các em chưa nắm được nhữngqui tắc thì việc viết chính tả của các em còn gặp khó khăn rất nhiều.Dưới đây lànhững nguyên tắc dạy chính tả: 1 Nguyên tắc dạy chính tả gắn với việc phát triển tư

Trang 14

duy: Phát triển tư duy cho học sinh gắn với sự hướng dẫn của giáo viên trong quátrình dạy học nhằm đảm bảo kết quả việc tiếp thu và vận dụng lí thuyết vào hoạt độngthực tiễn.Khi phân tích luyện tập ,sửa chữa hoặc cung cấp kiến thức mới cần tiến hànhtheo một số thao tác tư duy để kích thích hứng thú tìm hiểu ,giúp học sinh nắm chắccác hiện tượng và tìm ra cách giải quyết đúng đắn các hiện tượng đó.Trnh1 áp đặtmáy móc những qui tắt mà học sinh chưa được gợi mở suy nghĩ để thực hiện mộtcách tự giác.Trong quá trình dạy chính tả, giáo viên thường xuyên dẫn dắt học sinhchiếm lĩnh các qui tắt chính tả và ghi nhớ áp dụng vào việc viết văn bản bằng thao tác

hệ thống tư duy hợp lí: a)Phân chia nhiệm vụ thực hiện quy tắc thành c ác bước cụthể b)Lần lượt giải quyết các các bước cụ thể đó theo một trình tự logic c)Vận dụngcác kinh nghiệm thực tiễn vào việc giải quyết từng bước cụ thể và giải quyết nhiệm

vụ chung Ví dụ:Dạy cho học sinh phân biệt l/n là nói như viết, nói sao viết vậy Nóitóm lại,nguyên tắc dạy chính tả gắn liền với phát triển tư duy học sinh đòi hỏi : - Vậndụng các phương pháp thích hợp để rèn luyện các thao tác tư duy giúp học sinh chủđộng tích cực lĩnh hội tri thức luyện kĩ năng chính tả tự động hóa Sáng kiến kinhnghiệm 4

7. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh - Hướng dẫn học sinh hoạt động trítuệ để “hiểu” tác dụng của chữ viết trong quá trình giao tiếp và tư duy bằng ngôn ngữviết tronng quá trình giao tiếp - Luyện tập,thực hành các hình thức chính tả để củng

cố kĩ năng viết và kĩ năng thao tác tư duy khoa học cho học sinh 2 Nguyên tắc dạychính tả hướng về dạng thức viết của hoạt động lời nói Ngôn ngữ được hiện thực hóatrong quá trình giao tiếp ở dạng thức nói và dạng thức viết.Nói và viết là những hoạtđộng có hai mặt:một mặt,là hành động phát ra âm thanh hoặc viết thành chữ;một mặt

là hoạt động giao tiếp có nội dung và mục đích cụ thể,biểu hiện bằng chất liệu âmthan h hay kí tự được nói hoặc viết ra thành lời(ngôn ngữ hoặc văn bản ).Chữ viếtvàchinh1 tả là hệ thống hoạt động chức năng của ngôn ngữ.Chữ viết và chính tả cóliên hệ hình thức ngữ âm với nội dung ngữ nghĩa của văn bản Dạy chính tả hướng vềdạng thức viết của hoạt động lời nói yêu cầu sự phát triển phong phú và đa dạng cáckiểu loại bài tập thực hành giao tiếp.Học chữ và học viết chính tả là để viết thạo tiếngnói ,để có công cụ học tập và giao tiếp và dể phát triển ngôn ngữ.Hướng về dạng thứcviết của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ,sẽ kích thích hứng thú và hình thành động

cơ học tập đúng đắn của học sinh đem lại hiệu quả thiết thực và vững chắc cho phânmôn chính tả 3 Nguyên tắc chính tả chú ý đến trình độ và phát triển ngôn ngữ củahọc sinh Sáng kiến kinh nghiệm 5

8. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh Trước tuổi đi học trẻ em mới sử dụngngôn ngữ ở dạng thức nói.Hệ thống ngữ âm hệ thống từ vựng và hệ thống ngữ phápcủa tiếng mẹ đẻ được hình thành ở trẻ em Việt Nam một cách tự nhiên, tự phát và vôthức ,thông qua dạng thức nói.Bước vào lớp 1 (bậc tiểu học)trẻ em mới bắt đầu họcchữ tiếp xúc với dang viết của ngôn ngữ Đề nắm chắc dạng thức viết (biết viết ,biếtđọc chữ viết)trẻ em phải học chữ,viết chữ và học chính tả.Hệ thống chữ viết và hệthống qui tắt chính tả được hính thành ở trẻ emqua con đường học vấn một cách tự

Trang 15

giác và có ý thức Khi viết chữ trình độ tư duy và ngôn ngữ của trẻ em sẽ có một bướcphát triển nhảy vọt;từ tư duy cụ thể trực quan và cảm tính ,trẻ em tiến đến tư duy kháiquát từu tượng vàlí tính hoạt động ngôn ngữ của trẻ em phát triển.Khả năng và lĩnhvực giao tiếp mở rộng Hệ thống chữ viết và hệ thống chính tả đối với học sinh cấpTiểu học là tri thức mới mẻ.Nắm bắt được nội dung kí hiệu của hệ thống chữ viết,họcsinh có phương tiện tiếp thu ,lĩnh hội tri thức khoa học tự nhiên và xã hội,hình thànhnhững phẩm chất có văn hóa.Dạy chính tả dựa vào trình độ phát triển ngôn ngữ củatrẻ em,tức là trên cơ sở trình độ trẻ em nắm và sử dụng dạng thức nói (hệ thống ngữ

âm và các hệ thống bộ phận cấu thành ngôn ngữ ).Ở độ tuổi khác nhau nguồn gốc dântộc và địa bàn cư trú khác nhau,với những ảnh hưởng tiếp xúc văn hóa trong các cộngđồng có nét riêng ,trìn độ nắm và sử dụng dạng thức nói của học sinh ở từng lớp vàtừng cấp tiểu học không đồng đều.Do đó nội dung hình thức yêu cầu dạy chính tả đề

ra phải sát hợp với từng đối tượng Ví dụ:Khi dạy chính tả lớp 1 coi trọng trước hết làmối liên hệ âm và chữ,phát âm và ghi âm,viết và đọc.Dần dần lên các lớp trên cungcấp những qui tắt biểu hiện mối quan hệ chữ- âm – nghĩa hoặc chữ nghĩa trong dạngthức viết của văn bản Sáng kiến kinh nghiệm 6

9. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh 4 Nguyên tắt phát triển song songdạng thức nói và dạng thức viết của ngôn ngữ Dạng thức nói và dạng thức viết đều làhình thức nói của ngôn ngữ Trước khi có chữ viết ngôn ngữ được biểu hiện bằng âmthanh ,bằng dạng thức nói.Chữ viết ra đời làm hình thành một chất liệu biểu hiện quantrọng khác của ngôn ngữ,đó là dạng thức viết.Nguồn góc của chữ viết là hình vẽ biểuvật (tượng hình )chưa có mối quan hệ trực tiếp với âm thanh.Chữ tượng hình chắcchắn là khó học,khó nhớ và khó sử dụng vì ở mỗi chữ tượng hình là một hình vẽ biểuthị một vật thì số lượng hình vẽ sẽ tăng lên rất nhiều,không thể đảm bảo viết ,vẽ thốngnhất những hình vẽ quá phức tạp.Dần dần,chữ tượng hình được đơn giản hóa thànhđường nét khu biệt ổn định, trở thành chữ biểu ý.So với chữ tượng hình , chữ biểu ýtiến bộ hơn ở chỗ không biểu thị các từ có nội dung biểu vật có hình dạng cụ thể màcòn khả năng biểu thị các từ có nội dung là các khái niệm trừu tượng.Tuy vậy,chữbiểu ý cũng không thể đáp ứng đầy đủ sự phát triển của ngôn ngữ.Các hình vẽ biểuvật hay biểu ý thường hạn chế ở khả năng biểu hiện được vốn từ ngày càng phong phú

về số lượng về nội dung ý nghĩa.Chữ viết biểu âm xuất hiện là một tiến bộ:vừa biểuthị âm thanh, vừa biểu thị ý nghĩa đáp ứng mọi nhu cầu giao tiếp của con người.Dạychính tả hướng tới đồng thời cả dạng tức nói và dạng thức viết trên cơ sở mối liên hệ

hệ âm- chữ;âm chữ và nghĩa,nhằm hoàn thiện kĩ năng đọc- viết ;viết- đọc;viết – đọc

và hiểu.Học sinh được đối chiếu so sánh phân biệt dạng thức nói với dạng thức viếttrong các trường hợp đồng âm(khác nghĩa),đồng tự(khác âm hay khác nghĩa);nhữngtrường hợp đồng âm không đồng tự (phát âm như nhau,viết khác nhau) hoặc đồng tựkhông đồng âm(viết như nhau,đọc khác nhau);những biến thể ngữ âm trong lờinói;biến thể ngữ âm trong phương ngữ và chuẩn chữ viết,chuẩn chính tả thống nhất.Sáng kiến kinh nghiệm 7

Trang 16

10. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh IV Hiệu quả của sáng kiến kinhnghiệm: Qua quá trình rèn cho học sinh viết chính tả đã mang lại kết quả như sau: -

Số học sinh được rèn ở lớp Hai/2 năm học 2009 – 2010 đã được điểm cao hơn nămtrước.Số học sinh viết sai chính tả đã giảm đi nhiều Cụ thể nhữnng đợt kiểm tra định

kì như sau : Đầu năm khảo sát 20/43 em sai từ 4 – 5 lỗi GHKI: 38/43 em sai 1-2 lỗi.HKI: 40/43 em chỉ sai 1-2 lỗi Với kết quả đạt được như trên ,bản thân tôi rất vui vìmình đã góp một phần nhỏ vào kết quả học tập của các em C KẾT LUẬN I Bài họckinh nghiệm: Thông qua việc nghiên cứu này, bản thân tôi đã tìm hiểu và đề ra nhữngbiện pháp rèn học sinh viết đúng chính tả ở trường tiểu học nói chung và ở lớp 2 nóiriêng.Từ đó tôi rút ra nhữnng bài học kinh nghiệm như sau: - Phải hướng dẫn học sinhthật kĩ những qui tắc cơ bản - Giáo viên phải phát âm một cách chuẩn và chính xác -Đối với học sinh :các em cần phải tư duy và vận dụng thực tiễn để áp dụng vào bàiviết của mình - Sự cố công rèn luyện và sự phấn đấu của học sinh II Ý nghĩa: Sángkiến kinh nghiệm 8

11. Mai Anh Phong Trường tiểu học Mỹ Chánh Chính tả trong trường tiểu học rấtquan trọng.Giúp các em nói và viết chuẩn xác Tiếng Việt và là tiền đề để học lên cácbậc học tiếp theo III Khả năng ứnng dụng triển khai: Ứng dụng vào dạy lớp 2 vàtrong trường Tiểu học IV Những kiến nghị đề xuất: Trên đây là sáng kiến mà tôi đãvận dụng các biện pháp rèn học viết đúng chính tảvà đạt được những kết quả nhưtrên.Rất mong sự góp ý của BGH và các đồng nghiệp Mỹ Chánh, ngày 15 tháng 1 năm

2010 Mai Anh Phong Sáng kiến kinh nghiệm 9

Biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4

Chủ nhật - 29/09/2013 19:05

Biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4

I LỜI NÓI ĐẦU

Tiếng Việt là một trong những bộ môn quan trọng của bậc tiểu học nói riêng và các bậc học khác nói chung Mục đích của việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học là : "Hình

Trang 17

thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng nghe , nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, góp phần rèn luyện các thao tác

tư duy và hình thành nhân cách con người Việt Nam ; bồi dưỡng, tình yêu Tiếng Việt,hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt"

Các yêu cầu đó được thể hiện hoá qua các phân môn Học vần , Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn Tuy mỗi phân môn có một nhiệm vụ , mục tiêu và phương pháp cụ thể nhưng đều hướng theo mục tiêu chung của môn Tiếng Việt là đặc biệt chú trọng nhiệm vụ hình thành và phát triển 4

kĩ năng sử dụng Tiếng Việt : nghe, nói, đọc, viết

Trong các phân môn của Tiếng Việt, phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt ở trường phổ thông , nhất là trường tiểu học Phân môn chính tả giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả, nắm được các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng , kỉ xảo chính tả

Đối với người sử dụng Tiếng Việt, việc viết đúng chính tả là phải nắm được luật, ngôn ngữ, đối với học sinh tiểu học, việc viết đúng chính tả giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiểu quả cao trong việc học tất cả các môn khác góp phần phát triển năng lực tư duy

Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, hiện tượng học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng, viết sai chính tả còn khá phổ biến Từ thực tế giảng dạy, bản thântôi đã rút ra được một vài kinh nghiệm

nhằm khắc phục tình trạng viết sai chính tả của học sinh Vì thế tôi đã chọn đề tài

"Một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh ở lớp 4 "

II - THỰC TRẠNG

1/ Nguyên nhân mắc lỗi chính tả

Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở lớp 4 , bản thân tôi được gần gũi, tiếp xúc, trao đổi với học sinh, với phụ huynh học sinh, với các đồng nghiệp trong trường và đi đến kết luận Tình trạng viết sai chính tả của học sinh lớp 4 là do những nguyên nhân chủ yếu sau :

- Do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương : vì đối tượng học sinh của tôi phần lớn là các em đều ở vùng nông thôn

- Do các em chưa có động cơ , thái độ đúng đắn trong việc học và rèn luyện viếtchính tả , khi viết các em còn lơ là , không tập trung vào bài viết, lâu ngày thành thói quen cẩu thả " viết quen tay" Vì có nhiều em khi hỏi về quy tắc viết hoa thì các em trả lời tương đối đầy đủ nhưng vẫn mắc rất nhiều lỗi về viết hoa

- Do các em không nắm được nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong Tiếng Việt , không nắm được vị tríû phân bổ giữa các kí hiệu

- Do các em chưa hiểu nghĩa của từ , chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả vì quá trình học chính tả có liên quan mật thiết với quá trình trí nhớ Những lỗi chính tả

do không nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả như lẫn lộn các phụ âm đầu, các nguyên âm,

- Nhiều em còn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em ít có điều kiện học tập,

Trang 18

rèn luyện và đọc thêm sách báo nên vốn từ ngữ của các em ít được mở rộng

2/ Phân loại lỗi chính tả :

Từ những nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh và thông qua thực tế giảng dạy, tôi đã tổng hợp và phân loại các loại lỗi chính tả mà học sinh hay mắc phải là :

a) Lỗi về âm đầu :

- Lẫn lộn giữa ng / ngh :

vd : Ngành - viết thành Nghành

- Lẫn lộn giữa S/ X

vd : Xinh sắn - viết thành : Sinh sắn

Mùa xuân - viết thành : mùa suân

- Lẫn lộn giữa d / gi

vd : Duyên dáng - viết thành : duyên giáng

Tờ giấy - viết thành : tờ dấy

Con dao - viết thành : con giao

b) Lỗi về vần : lẫn lộn giữa vần ăn và en , uyên và iên , ao và ô ,

vd : rắn chắc - viết thành : rén chắc

Tiền tuyến - viết thành : tiền tiến

Bao nhiêu - viết thành : bô nhiu

Bánh quy - viết thành : bánh qui

c) Lỗi viết hoa : các em thường viết sai ở dạng

- Không viết hoa chữ cái ở đầu mỗi câu, không viết hoa các chữ cái của danh từ riêng,tên riêng, địa danh ,

vd : Cao bá Quát, trần đại nghĩa ,

- Viết hoa tuỳ tiện : Các em thường có thói quen viết hoa tuỳ tiện các chữ các đầu như: Đ, K, C, P, H ,

d) Lỗi về dấu thanh : thanh hỏi / thanh ngã

vd : Vàng thẫm - viết thành : vàng thẩm

Sửa xe - viết thành : sữa xe

Củ khoai - viết thành : cũ khoai

III- BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC

1/ Lập bảng quy tắc viết đúng chính tả theo ở góc tường của lớp

Sau khi điều tra, tôi sẽ cùng với ban cán sự lớp thống kê lại những lỗi mà các em thường hay viết sai Từ đó lập ra một bảng quy tắc viết đúng chính tả treo ở góc lớp

Vd : - Quy tắc viết hoa tên riêng : Viết hoa tất cả các chữ cái đầu trong mỗi

chữ

- G, ng viết trước các nguyên âm (a, ă, â, o, ô, u, ư )

- Gh , ngh viết trước các nguyên âm ( ơ, ê, e )

Trang 19

- IÊ : viết sau âm đệm , trước âm cuối : tuyên,

- IA : viết sau âm âm , không có âm cuối : chia ,

- YA : viết sau âm đệm không có âm cuối:khuya

- I : viết sau âm đầu

- Y : viết sau âm đệm ,

2/ Rèn luyện cho học sinh khả năng phối hợp các kỹ năng nghe, nói, nhớ, viết trong các giờ học của các phân môn khác

Để khắc phục cho học sinh tình trạng viết sai lỗi chính tả do phát âm tiếng địa

phương Điều đầu tiên bản thân tôi sẽ cố gắng tạo cho các em có thói quen phát âm chuẩn trong tất cả các giờ học, khuyến khích những em phát âm chưa chuẩn luyện đọcthêm ở nhà, tăng cường việc luyện phát âm chuẩn cho các em Và cuối mỗi tuần, mỗitháng tôi sẽ tổ chức cho các em các cuộc thi như: thi đọc hay, đọc chuẩn; phát thanh viên tài năng của lớp,

Ngoài ra ,thông qua những giờ chính tả hướng dẫn các em phân tích, so sánh những trường hợp viết đúng chính tả với trường hợp viết sai chính tả để biết tiếng đó sai ở đâu, lý do vì sao sai Hoặc ngược lại có thể đưa ra những trường hợp viết sai chính tả, hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa, rồi từ đó hướng học sinh đi đến cái đúng Để học sinh sửa các loại lỗi chính tả theo hướng loại bỏ cái sai, xây dựng cái đúng, tôi sẽ nêu ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm ra nguyên nhân sai và sửa lại cho đúng Qua đó, các em sẽ được kiểm tra, củng cố lại kiến thức chính tả đồng thời giúp các em phát triển óc phântích, xét đoán

Bên cạnh đó, để giúp các em ghi nhớ các hiện tượng chính tả được xây dựng theo quyluật, tôi có thể giúp các em đặt các từ cần ghi nhớ thành một câu thơ có vần điệu hoặctrong một ngữ cảnh quen thuộc Ví dụ : Để giúp các em ghi nhớ các từ láy có thanh ngã thì từ đi kèm với từ đó có thanh huyền hoặc thanh nặng; còn với từ láy có thanh hỏi thì từ đi kèm có thanh sắc hoặc thanh ngang

Thằng huyền ngã nặng té đau

Hỏi không sắc thuốc đến khi nào lành

3/Sửa lỗi chính tả theo nhóm

Qua việc tiến hành điều tra để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh , bản thân tôi đãchấm và phân loại những học sinh thường mắc cùng một loại lỗi chính tả thành một nhóm riêng

- Đặt tên nhóm theo lỗi thường mắc phải như : Nhóm âm đầu, nhóm vần, nhóm viết hoa

- Số em ở mỗi nhóm tuỳ tình hình thực tế của lớp

- Nhóm trưởng của mỗi nhóm do một em học sinh khá, giỏi trong lớp phụ trách, nhómtrưởng phụ trách nhóm đó phải là em không hoặc rất ít mắc lỗi đó

- Trong giờ chấm bài chính tả nói chung và chính tả so sánh nói riêng , dưới sự hướngdẫn của giáo viên, nhóm trưởng hướng dẫn các bạn trong nhóm phát hiện lỗi chính tả trong bài viết của mỗi thành viên và cùng chữa lỗi

Ngày đăng: 14/05/2017, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w