Tuy nhiên việc phát triển tự phát cây dượcliệu nói chung, cây ba kích tím nói riêng khi chưa có những nghiên cứu đầyđủ về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng, ph
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh giới nói chung vàcon người nói riêng Thực vật cung cấp cho con người nguồn lương thực,thực phẩm, nhiên liệu phục vụ các hoạt động, nguyên liệu để sản xuất,…ngoài ra thực vật còn là nguồn cung cấp dược liệu quý Tuy nhiên hiện nay,cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì nhu cầu về cây thuốc ngày càngtăng cao Bên cạnh đó việc khai thác từ thiên nhiên ngày càng gia tăng vớitính chất tận diệt đã dẫn đến việc suy giảm sự đa dạng phong phú của câydược liệu trong tự nhiên Để có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng cây dượcliệu thì cần có những giải pháp phát triển nguồn dược liệu một cách bền vững
Ba kích (Morinda officinalis How) là một trong những loài dược liệu
quý, với nhiều hoạt chất sinh học có lợi cho sức khỏe của con người nên nhucầu khai thác từ tự nhiên, sử dụng và xuất khẩu loài cây này làm dược liệuđang ngày càng gia tăng, dẫn đến tình trạng suy giảm nhanh chóng số lượng
và khu vực phân bố tự nhiên Năm 2002, ba kích được đưa vào danh sáchthực vật hoang dã hạn chế khai thác và sử dụng (Nghị định số 48/2002/NĐ-CP) Và là loài thực vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2007 [32] Vì vậy,loài cây này được bảo vệ, nghiên cứu nhân giống, tiến đến xây dựng mô hìnhtrồng và phát triển hiệu quả trong tương lai
Hiện nay, cây ba kích được trồng chủ yếu ở những vùng có đặc trưngsinh thái nhất định, chủ yếu theo hình thức tự phát Trên thực tế, cây ba kích
đã được di thực thành công ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ như tỉnhThanh Hóa, tỉnh Quảng Ninh (Cô Tô),… ngoài ra cây ba kích tím còn đượcphát hiện trong và trồng ở tỉnh Quảng Nam (Tây Giang, Đông Giang), thành
Trang 2phố (TP) Đà nẵng (chân đèo Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà,…), tỉnh Đăk Lăk(Buôn Ma Thuật, Krông Năng,…) Tuy nhiên việc phát triển tự phát cây dượcliệu nói chung, cây ba kích tím nói riêng khi chưa có những nghiên cứu đầy
đủ về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng, pháttriển và chất lượng củ của cây ba kích tím không phải là một hướng đi bềnvững
Thành phố (TP) Đà Nẵng có diện tích rừng lớn với tổng diện tích rừng
và đất lâm nghiệp của TP Đà nẵng là 62.929,5ha (Quyết định UBND ngày 27/08/2013 của Ủy ban nhân dân (UBND) TP Đà nẵng), đây làđiều kiện thuận lợi để phát triển nguồn dược liệu Cùng với định hướng pháttriển nông nghiệp công nghệ cao trong cơ cấu nông nghiệp thì TP Đà Nẵngcũng xây dựng định hướng về quy hoạch phát triển vùng dược liệu (theoquyết định số 3176/QĐ-UBND ngày 24/04/2012 của UBND TP Đà Nẵng).Tuy nhiên chưa có công trình khảo sát, điều tra về ảnh hưởng của các nhân tốsinh thái đến sinh trưởng, phát triển và dược tính của cây dược liệu nói chung,cây ba kích tím nói riêng tại TP Đà nẵng Vì vậy, việc nghiên cứu có tính hệthống về các điều kiện cần thiết để mở rộng sản xuất loài cây dược liệu nàytại TP Đà Nẵng là rất cấp thiết
5924/QĐ-Xuất phát từ những cơ sở trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sự sinh trưởng
của cây ba kích tím (Morinda officinalis How) in vitro tại phường Hòa
Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng”.
Trang 32 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định được một số nhân tố sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng củacây ba kích tím, làm cơ sở để xây dựng mô hình trồng cây ba kích tím tạiphường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được một số vùng sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng củacây ba kích tím trong giai đoạn vườn ươm tại phường Hòa Khánh Nam, quậnLiên Chiểu, TP Đà Nẵng
- Xác định được một số nhân tố sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng củacây ba kích tím khi trồng trong tự nhiên tại phường Hòa Khánh Nam, quậnLiên Chiểu, TP Đà Nẵng
- Xây dựng được mô hình trồng cây ba kích tím tại phường Hòa KhánhNam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học mới, có tính hệthống về nhân tố sinh thái thích hợp để trồng cây ba kích tím ở phường HòaKhánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng và phát triển các mô hìnhtrồng và phát triển sản xuất cây ba kích tím tại TP Đà Nẵng dùng làm nguyênliệu cho sản xuất dược liệu, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để quy hoạch vùng trồng cây dượcliệu tại TP Đà Nẵng
Trang 44 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm có trang, 13 bảng số liệu, 24 hình ảnh
Cấu trúc luận văn được chia thành các phần sau:
- Phần mở đầu (4 trang)
- Chương 1 Tổng quan tài liệu ( trang)
- Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu( trang)
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận ( trang)
- Kết luận và kiến nghị (2 trang)
- Tài liệu tham khảo ( tài liệu)
- Phần phụ lục ( phụ lục)
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ SINH THÁI ĐỐI VỚI SỰ SINH TRƯỞNG CỦA THỰC VẬT
Sinh trưởng của thực vật luôn chịu tác động của các nhân tố sinh thái(nhiệt độ, ánh sáng, nước, dinh dưỡng,…)
1.1.1 Vai trò của một số nhân tố sinh thái đối với sự sinh trưởng của thực vật
Sinh trưởng là kết quả tổng hợp của các chức năng sinh lý và quá trìnhtrao đổi chất của cây liên quan rất chặt chẽ với các yếu tố của MT Vì vậy ảnhhưởng của các điều kiện sinh thái đến sinh trưởng của cây rất phức tạp nhưngkhá rõ rệt Hiểu biết về mối quan hệ đó giúp chúng ta điều khiển sự sinhtrưởng của cây trồng theo ý muốn dựa trên sự hiểu biết về mối quan hệ củađiều kiện sinh thái đến quá trình sinh trưởng [17]
a Vai trò của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây Cây có thểsinh trưởng trong một khoảng nhiệt khá rộng, vì vậy các loại cây trồng khácnhau thì tồn tại những điểm nhiệt độ tối thấp và tối cao cũng khác nhau.Trong giới hạn nhiệt độ sinh trưởng của cây thì có nhiệt độ tối thích cho sựsinh trưởng, ở nhiệt độ đó sự sinh trưởng của cây xảy ra thuận lợi nhất, trêndưới nhiệt độ tối thích thì tốc độ sinh trưởng sẽ giảm Nhiệt độ tối thấp vànhiệt độ tối cao cho sự sinh trưởng của cây đó là điểm nhiệt độ mà cây ngừngsinh trưởng Giới hạn nhiệt độ sinh trưởng thay đổi theo sự thích nghi của câytrồng ở những vùng sinh thái khác nhau [17]
Trang 6Sinh trưởng của các cơ quan khác nhau của cây cũng nằm trong khoảngnhiệt khác nhau Những cơ quan ở trên mặt đất thích nghi với nhiệt độ khôngkhí cao hơn so với những cơ quan dưới mặt đất, vì vậy ở nhiệt độ cao sự sinhtrưởng của rễ kém hơn thân và cành [17].
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có ảnh hưởng rất lớnđến sự sinh trưởng của cây Ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quanghợp và tích lũy chất hữu cơ, ban đêm nhiệt độ hạ thấp sẽ hạn chế hô hấp vàtiêu phí chất hữu cơ, giảm sự thoát hơi nước nên sinh trưởng nhanh hơn [17]
b Vai trò của ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự sinh trưởng của cây vì nócần cho quá trình quang hợp Nhờ quá trình quang hợp mà cây tổng hợp cácchất hữu cơ làm nguyên liệu để xây dựng nên cơ thể và tích lũy năng lượng ởtrong cây để tiến hành sinh trưởng Tùy theo nhu cầu ánh sáng đối với sự sinhtrưởng của cây mà người ta chia thực vật thành hai nhóm là cây ưa sáng vàcây ưa bóng Cây ưa sáng sinh trưởng mạnh trong điều kiện ánh sáng đầy đủ,còn cây ưa bóng sinh trưởng tốt trong điều kiện bóng râm thích hợp [17]
Ánh sáng tác động lên cây trồng như nguồn năng lượng đối với cácphản ứng quang hóa Ánh sáng cũng là nhân tố kích thích, điều khiển quátrình sinh trưởng phát triển và năng suất cho cây trồng Ngoài ra ánh sángcũng tác động đến sự nảy mầm của hạt [22]
c Vai trò của nước
Nước là thành phần không thể thiếu của tất cả các tế bào sống, chiếm tới
80 – 95% khối lượng của mô sinh trưởng Nước tham gia vào hầu hết các hoạtđộng sống của sinh vật: là MT sống của sinh vật thủy sinh, là dung môi hòatan được nhiều chất trong tế bào và là MT cho các phản ứng sinh hóa học diễn
ra trong cơ thể sống Nước là nguyên liệu cho quá trình tổng hợp và quá trình
Trang 7sinh lí của cơ thể sinh vật, là thành phần bảo vệ cấu trúc sống của tế bào thôngqua sự hidrat hóa [22].
Nước là yếu tố sinh thái tối cần thiết cho sự sinh trưởng của cây, câysinh trưởng mạnh khi tế bào bão hòa nước Sự thiếu bão hòa nước ở trong câydẫn đến làm giảm sự sinh trưởng của cây Trong đời sống của cây, thiếu nước
ở giai đoạn nào cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng [17]
d Vai trò của một số nhân tố sinh thái trong đất
Đất là nơi sinh sống của con người và sinh vật ở cạn Là nền móng, địabàn cho mọi hoạt động sống Là nơi thiết đặt các hệ thống nông lâm nghiệp
để sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người và muôn loài Mộttrong những tính độc đáo của đất là độ phì nhiêu Đối với các hệ sinh thái thìđây là một tính chất độc đáo của đất, giúp cho các hệ sinh thái tồn tại, pháttriển [13]
Đất là MT để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển,
là địa bàn cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải khoáng và hữu
cơ, là nơi cư trú cho các động và thực vật đất, là địa bàn cho các công trìnhxây dựng, địa bàn để lọc nước và cung cấp nước [13]
Đất là vật thể thiên nhiên, được hình thành do quá trình phong hóa cáclớp đá, dưới tác động của quá trình biến đổi địa chất và khí hậu lâu dài củaTrái đất Sự sinh trưởng của thực vật chịu tác động của các nhân tố sinh tháitrong đất (pH, độ ẩm, nhiệt độ, nước, không khí, các chất dinh dưỡng, cácthành phần cấp hạt của đất,…)
* Các chất dinh dưỡng trong đất
- Phân đa lượng: Phân đa lượng cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng
chủ yếu cần thiết cho cây trồng Trong đất, hàm lượng các nguyên tố khoáng
Trang 8thường ít hoặc ở dạng cây không dùng trực tiếp được và thường được bổ sungvào đất thông qua việc bón phân.
+Vai trò của phân đạm: Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với
cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của các protein – chất cơ bản biểu hiện
sự sống Đạm nằm trong nhiều hợp chất cần thiết cho sự phát triển của câynhư diệp lục và các enzim Đạm có trong thành phần cơ bản của axit nucleic,trong đó ADN, ARN của nhân tế bào, nơi khu trú các thông tin di truyền,đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein Đạm là yếu tố cơ bản củaquá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc thu hútcác yếu tố dinh dưỡng khác [22]
+ Vai trò của phân lân: Trong cây, lân chủ yếu nằm ở dạng hữu cơ,
phần rất nhỏ nằm ở phân vô cơ, có tác dụng tốt trong quá trình phân bào, tổnghợp chất béo và protein; thúc đẩy ra hoa hình thành quả, quyết định năng suất
và phẩm chất thu hoạch; hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm; thúc đẩy việc
ra rễ, đặc biệt là rễ bên; làm tăng độ vững chắc của thân, chống lốp đổ [22]
+ Vai trò của phân kali: Tỉ lệ Kali trong thân lá thường cao hơn Kali
trong hạt, rễ và trong củ Ở các bộ phận hoạt động mạnh tỉ lệ Kali cao hơn các
bộ phận già Kali xâm nhập vào các phiến lục lạp, lôi cuốn các sản phẩm phụcủa quá trình quang hợp làm cho quá trình quang hợp được liên tục Kali làmtăng áp suất thẩm thấu của tế bào nên tăng khả năng hút nước của rễ, điềukhiển hoạt động của khí khổng, giảm khả năng thoát hơi nước của rễ, điềukhiển hoạt động của khí khổng, giảm khả năng thoát hơi nước lúc khô hạn.Kali tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các bó mạch nên làm cho câyvững chắc hơn, chống đổ ngả, chịu rét và năng suất cao Làm giảm tác hại củaviệc bón quá nhiều đạm, thiếu kali quang hợp giảm, hô hấp tăng nên năngsuất giảm, chất lượng sản phẩm kém [22]
Trang 9- Phân vi lượng: Các nguyên tố vi lượng như Zn, Mn, Cu, I, Mo, Co,
… có hàm lượng nhỏ từ 10-4 – 10-5 trọng lượng chất khô của cây Cây yêu cầukhông nhiều nhưng mỗi nguyên tố đều có vai trò quan trọng trong đời sốngcủa cây
Vai trò chủ yếu của vi lượng là hình thành và kích thích hoạt hóa các hệthống men trong cây Các nguyên tố vi lượng xúc tiến, điều tiết toàn bộ cáchoạt động sống của cây: quang hợp, hô hấp, hút khoáng, hình thành, chuyểnhóa và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây Tuy nguyên tố vi lượng rấtcần thiết đối với cây nhưng hàm lượng cao trong đất sẽ làm cây ngộ độc [22]
- Phân hữu cơ: Sau khi vùi vào đất, các loại chất hữu cơ được phân
giải và có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây Phân hữu cơ gồm cácloại phân chuồng, phân xanh, phân hữu cơ khác (than bùn, phân rác TP, phângia cầm,…) Tác dụng của phân là cải tạo hóa tính, lý tính và sinh tính của đất[22]
1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố sinh thái đến sinh trưởng của thực vật
a Trên thế giới
Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tốsinh thái đến sự sinh trưởng của thực vật Theo Thomas (1985), chất lượngcây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng Nitơ và phốt phocung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con Tìnhtrạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá [40]
Dazhi và cộng (1999) của Viện thực vật Nam Trung Quốc, đã so sánh
sự ức chế sinh trưởng cây con của 4 loài cây á nhiệt đới bởi cường độ ánh
sáng, là: Castanopsis fissa, Vối thuốc, Cryptocarya concinna và Thông đuôi
ngựa từ rừng á nhiệt đới Dinghushan Sau khi cấy cây con 2 đến 3 năm tuổitrong chậu và che sáng ở các mức độ 16%, 40% và 100% trong thời gian 16
Trang 10tháng Chiều cao và đường kính của Thông đuôi ngựa và Cryptocarya concinna trong trường hợp không che sáng lớn hơn trong trường hợp che
sáng Tất cả các loài số cành giảm đi khi cường độ ánh sáng giảm đi Các loài
Castanopsis fissa, Cryptocarya concinna trong điều kiện che sáng có số lá
nhiều hơn trong điều kiện ánh sáng hoàn toàn, nhưng Vối thuốc thì ngược lại
Hai loài Castanopsis fissa và Vối thuốc sự biến đổi sinh khối trên mặt đất là
rất ít, nhưng sinh khối của rễ giảm khi cường độ ánh sáng giảm (Long S.P andHallgren, 1993)
Ekta và Singh (2000) sau khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống vàsinh trưởng của cây gỗ non đã kết luận rằng cường độ ánh sáng có ảnh hưởng
rõ rệt tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con [39]
Nhiều nghiên cứu về sự sinh trưởng của cây in vitro cũng cho thấy rằng các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây in vitro Nghiên cứu của Juárez và cộng sự về sự thích nghi của cây Nho Đỏ (Vitis vinifera L.)
in vitro khi đem trồng ở nhà lưới trên những giá thể khác nhau và có tưới
dung dịch dinh dưỡng: cây Nho Đỏ được trồng trong những chậu 320 cm3
trong nhà kính với giá thể là than bùn và đá Trân Châu trộn với nhau theo tỉ lệ(0-100, 25-75, 50-50, 75-25, 100-0%) và có tưới dung dịch dinh dưỡng vớinồng độ là 50% và 100% pha theo công thức của Steiner Kết quả: 53.3% -66.7% cây sống sót trên giá thể chứa nhiều chất hữu cơ 73.3%- 93.3% câysống sót trên giá thể chứa tỉ lệ than bùn thấp, tỉ lệ đá Trân Châu cao và có tướidung dịch dinh dưỡng với nồng độ 50%, 100% Sau 7 tuần trồng thử nghiệmcây sinh trưởng trên giá thể 25% than bùn : 75% đá trân châu, có tưới dungdịch dinh dưỡng 50% đạt chiều cao 16,8 cm, đường kính gốc 2,4 mm, diệntích lá 196,84 cm2, đạt sinh khối 1055,7mg Cây sinh trưởng trên giá thể với100% than bùn và không được tưới phân cao 6,5cm, đường kính gốc 0,9 mm,diện tích lá 10,54 cm2, sinh khối 78,8 mg [35]
Trang 11Prasertsongskun và Awaesuemae đã đem cây Aerides houlletiana Rchb.f (Lan đuôi cáo) invitro ra trồng trong nhà lưới với các giá thể là xơ
dừa, than (củi) và xơ dừa trộn với than theo tỉ lệ 1: 1, than củi Kết quả chothấy cây được trồng trên giá thể xơ dừa- than (1:1) là thích hợp nhất cho sựsống sót và sinh trưởng của loài lan này (tỉ lệ sống sót là 72%) [38]
Pacheco và cộng sự đã nghiên cứu tỉ lệ sống sót của cây Arachis retusa
in vitro khi đem ra trồng ngoài nhà lưới trên giá thể plantmax và cát có tưới
dung dịch dinh dưỡng Hoagland (Hoagland & Arnon, 1938) Kết quả cho
thấy cây in vitro sinh trưởng tốt nhất trên giá thể cát (có tưới hay không tưới
dung dịch dinh dưỡng), đạt 100% sau 30 ngày nuôi cấy [36]
b Ở Việt Nam
Ở Việt nam có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân
tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng của thực vật Năm 2006, Nguyễn ThịCẩm Nhung đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng cho cây
Hủynh Liên (Tecoma stans (L)) trong giai đoạn 6 tháng tuổi, kết quả cho thấy
độ che sáng thích hợp cho cây Huỷnh liên là 60% [24]
Năm 2010, Nguyễn Tuấn Bình đã nghiên cứu ảnh hưởng của một sốnhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây con Dầu song nàng một năm tuổi tronggiai đoạn vườn ươm để xác định được độ che sáng, thành phần hỗn hợp giáthể, loại đất gieo ươm, kích thước bầu và kích thước hạt giống thích hợp đểgieo ươm Dầu song nàng Kết quả cho thấy, nhu cầu ánh sáng của cây conDầu song nàng ở vườn ươm thay đổi rõ rệt theo tuổi Trong 6 tháng đầu nóđòi hỏi độ che sáng (50 – 70%), nhưng từ tháng thứ 6 trở đi nó cần độ chesáng (25 – 50%) [3]
Năm 2012, Nguyễn Huy Sơn khi nghiên cứu về cây Re Gừng trong giaiđoạn vườn ươm đã cho rằng: Trong giai đoạn 2 tháng đầu kể từ khi gieo ươm,che sáng 50% là phù hợp, tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng về chiều cao ở
Trang 12mức che sáng này đạt cao nhất với các giá trị tương ứng là 99,07% và21,56cm Nhưng từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 che sáng 25% là phù hợp vàcây con có tỷ lệ sống cũng như khả năng sinh trưởng chiều cao đạt cao nhấtvới các giá trị tuwogn ứng là 94,44% và 33,26cm, sau tháng thứ 6 có thể dở
bỏ dàn che hoàn toàn để huấn luyện cây con trước khi đem đi trồng rừng [33]
Năm 2013, Bùi Kiều Hưng đã nghiên cứu kỹ thuật trồng Sa nhâm tím
(Amomum longiligulare) trên đất vườn đồi tại khu vực vùng đệm Vườn quốc
gia Ba Vì, tác giả khẳng định: Độ tàn che có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởngchiều cao vút ngọn, khả năng ra hoa, đậu quả của San nhân tím giai đoạn 15tháng sau khi trồng nhưng chưa có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống và khả năng
đẻ nhánh Kết quả nghiên cứu cho thấy cây sinh trưởng triển vọng nhất ở độtàn che 0,3 – 0,5 [12]
Năm 2014, Nguyễn Việt Cường và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởngcủa chế độ che sáng đến sự sinh trưởng của cây mỏ chim trong giai đoạnvườn ươm đã cho rẳng: công thức che sáng tốt nhất cho sinh trưởng của cây
Mỏ chim trong giai đoạn vườn ươm từ khi cây bắt đầu được 2 đôi lá đến 4tháng tuổi là công thức che 25% Tại công thức này tỷ lệ sống đạt 95%; câyđạt sinh trưởng về chiều cao là 74,2cm và đường kính là 0,75cm [46b]
Năm 2015, Phạm Hữu Hạnh và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của
phân bón và ánh sáng đến sinh trưởng của cây Hoàng Đằng (Fibraurea tinctoria) ở giai đoạn vườn ươm, kết quả cho thấy: ánh sáng có ảnh hưởng rõ
rệt đến chất lượng cây con Giai đoạn 2 tháng đầu kể từ khi cấy cây vào đất,cây con thích hợp với độ che sáng 75%, tỷ lệ sống đạt 91,7%, đường kính gốcđạt 0,34cm, chiều cao vút ngọn đạt 17,32cm Giai đoạn từ sau 6 tháng đến 8tháng tiếp theo cây con thích hợp ở độ che sáng 25%, tỷ lệ sống đạt 89,8%,đường kính gốc đạt 0,39cm, chiều cao vút ngọn đạt 21,20cm [8]
Trang 13Năm 2016, Võ Quang Duy đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân
tố sinh thái đến khả sinh sinh trưởng của cây Lát Hoa (Chukrasia tabularis)
tại huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy cây Lát Hoatrong giai đoạn vườn ươm sinh trưởng tốt nhất trên loại đất thịt nhẹ, với lượngnước tưới 5L/m2, tần suất tưới 2 lần/ ngày và độ che bóng 50% Cây Lát Hoasinh trưởng tốt nhất ở ngoài tự nhiên tại xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang, TP ĐàNẵng khi trồng xen với tán thực bì, trên loại đất thịt nhẹ, ở địa hình chân núi(độ dốc 7,5 – 10,5o) Sau 4 tháng trồng ngoài tự nhiên, cây có chiều cao đạt93,2cm và đường kính đạt 7,74mm [6]
Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu ảnh hưởng của cácnhân tố sinh thái đến sự sinh trưởng của cây nhân giống nuôi cấy mô Năm
2002, Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (Trung tâm Công nghệ Sinh học Đại
học (ĐH) Nông Lâm TP Hồ Chí Minh) đã nghiên cứu nhân giống in vitro cây dứa Cayenne (Ananas comosus L.) bằng nuôi cấy tế bào lớp mỏng Sau khi
tạo cây dứa hoàn chỉnh (cây đạt chiều cao 4 -5 cm, 5-6 lá và cây có 4-5 rễ) thìtiến hành chuyển cây ra vườn ươm trồng thử nghiệm Cây dứa trồng trong bầuđất (1/3 đất + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng hoai), đặt trong nhà lưới trongđiều kiện che mát 50% và tưới phun sương thường xuyên Sau 30 ngày ra bầuđất tỉ lệ cây sống đạt 60%, trung bình chiều cao đạt 9,5 cm và số lá đạt 11lá/cây [10]
Năm 2008, Nguyễn Thị Thu Huyền (Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP)– ĐH Thái Nguyên) đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý, hiệu quả tạo củ khoai tây
bi in vitro và trồng thử nghiệm tại Thái Nguyên Cây khoai tây trồng từ củ bi
có biểu hiện sinh trưởng, phát triển và cho củ bình thường trong điều kiện vụđông tại Thái Nguyên Khoai tây trồng vào 20/10 có khả năng sinh trưởng tốt,
độ phủ luống cao, khối lượng củ/khóm và tỉ lệ củ thương phẩm cao hơn ở cácthời điểm trồng muộn hơn Khoai tây vụ đông trồng từ củ bi ở các thời điểm
Trang 14trồng muộn (từ giữa tháng 11) có củ nhỏ, số củ/ khóm nhiều hơn vào đầutháng 10, thích hợp cho việc sản xuất củ giống cho vụ sau Củ khoai tây thuhoạch từ cây trồng bằng củ bi có đặc điểm hình thái củ giống củ thu hoạch từcây trồng bằng củ truyền thống [5].
Năm 2009, Vũ Ngọc Phượng và cộng sự đã nghiên cứu khả năng sinh
trưởng, phát triển của cây chuối (Cavendish sp.) invitro ngoài vườn ươm Kết quả cho thấy cây chuối in vitro được nuôi trong điều kiện ánh sáng, nhiệt độ
tự nhiên khi trồng ra nhanh thích nghi với điều kiện vườn ươm hơn cây chuối
nuôi hoàn toàn trong phòng máy lạnh ánh sáng đèn Sau 1 tháng cây chuối in vitro ươm trên bột dừa tăng trọng từ 1gr thành 2,6 gr Khi sang bầu ( gồm bột
dừa, tro trấu, phân bò, đất) trồng thêm 60 ngày nữa, trọng lượng tươi của câygiống lúc xuất vườn là 165 gr Toàn bộ thời gian trong vườn ươm kéo dài 3tháng [25]
Năm 2010, Trần Thị Lệ đã nghiên cứu nhân giống invitro cây hoa Mắt mèo (Torenia fournieri L.) Kết quả nghiên cứu khả năng sống sót của cây invitro khi đem ra vườn ươm trên các giá thể cát, trấu hun, cát- trấu hun (1:1),
cát- phân lân vi sinh (1:1), cát- trấu hun- phân lân vi sinh (3:4:3), cát- trấuhun- phân lân vi sinh- đất phù sa (3:2:3:2) cho thấy giá thể cát- trấu hun-phân lân vi sinh (3:4:3) cho tỉ lệ sống cao nhất (60%) [14]
Năm 2010, Lê Văn Thành và Nguyễn Thị Hiền (viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam) đã nghiên cứu nhân giống cây Dó Tràm (Aquilaria crassna
Plerre) bằng nuôi cấy mô Cây nuôi cấy mô được đưa ra ngoài phóng thínghiệm 5 – 7 ngày, trước khi trồng vào bầu đất trộn xơ dừa theo tỉ lệ 3:1 cầnhuấn luyện cây con trong bể cát giâm khoảng 2 tuần cho phát sinh rễ mới, tỉ lệsống đạt 54,3% [27]
Năm 2011, Trần Thị Lệ và Trần Thị Triệu Hà (trường ĐH Nông Lâm,
Trang 15khoai sọ (Colocasia antiquorum ) và đã trồng cây con in vitro trong vườn ươm Trong các loại giá thể nghiên cứu khi đưa cây con in vitro ra vườn ươm
thì cát và trấu là hai loại giá thể cho tỉ lệ sống cao nhất Tỉ lệ sống ở giá thểcát là 100% Cây con trồng ở giá thể trấu cho tỉ lệ sống là 93,33% đối vớikhoai sọ Hà Tĩnh, 96,67% đối với khoai sọ Tây Nguyên Sau khoảng 2 tuầntrồng trên giá thể, cây đã bén rế hồi xanh và bắt đầu xuất hiện lá mới [15]
Năm 2014, Nguyễn Văn Ây và cộng sự tiến hành nhân giống cây bằng
lăng nhiều hoa (Lagerstroemia floribunda Jack) bằng kỹ thuật nuôi cấy mô.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng giá thể phối trộn: mụn xơ dừa + tro trấu(1:1), mụn xơ dừa + tro trấu + phân rơm (1:1:1) hoặc mụn xơ dừa + tro trấu +đất (1:1:1) kết hợp trùm bọc nylon để thuần dưỡng cây Bằng lăng nhiều hoa,cây con có tỉ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt [2]
Năm 2015 Lã Thị Thu Hằng tiến hành nghiên cứu kỹ thuật nhân giống
in vitro và trồng cây hoa chuông (Sinningia speciosa) in vitro tại tỉnh thừa
thiên Huế, Luận án tiến sĩ nông nghiệp, trường ĐH Nông lâm, ĐH Huế Kếtquả nghiên cứu cho thấy cát là giá thể ươm cây thích hợp nhất, tỉ lệ sống đạtcao nhất 97,78 – 100%, cây sinh trưởng tốt, đồng đều Sử dụng phân bón láĐầu trâu 005 thích hợp cho sự sinh trưởng của cây ở giai đoạn vườn ươm: sốlá/cây: 7,87 – 7,93 là và chiều cao cây: 7,17 – 7,28cm [3]
Năm 2015, Lâm Thị Hồng Ngát (Trường ĐHSP, ĐH Đà Nẵng) đã
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro và trồng thử nghiệm cây hoa chuông Sinningia Speciosa tại Đà Nẵng Kết quả thử nghiệm cho thấy
giá thể cát + xơ dừa + phân trùn quế (1:1:1) có bón bổ sung phân NPK 12-7+TE) cây hoa chuông sinh trưởng tốt nhất, cây có đường kính tán đạt29,52 cm, có 11,91 lá, lá dài 13,55 cm và rộng 10,01 cm Giá thể cát + xơ dừa+ phân trùn quế (1:1:1) có bón bổ sung phân Đầu trâu 901 cây hoa chuông ra
Trang 16(17-hoa nhiều nhất với 8,56 (17-hoa có đường kính 8,58 cm, (17-hoa nở được 10,14 ngày[20].
Tuy nhiên trên đây là những nghiên cứu chú trọng về sự sinh trưởng
phát triển của cây in vitro trong phòng thí nghiệm và bước đầu nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của cây in vitro trong vườn ươm.
1.2 VÀI NÉT VỀ CÂY BA KÍCH
1.2.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái
- Vị trí phân loại: Cây ba kích còn có tên gọi khác là ba kích thiên, cây
ruột gà, chẩu phóng xì (Hải Ninh), thao tẩy cáy, ba kích nhục, liên châu bakích Thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), bộ Long đởm (Gentianales) [11, Tr 304]
- Đặc điểm hình thái: Cây loại thảo, sống lâu năm, thân leo, lá mọc
đối, cứng nhọn, dài 6 – 14cm, rộng 2,5 – 6cm, lá kèm hình mác, non có màuxanh, về già có màu trắng mốc Hoa lúc đầu trắng, sau vàng, 2 – 10 cánh hoa,
4 nhị Quả hình cầu, khi chín màu đỏ [11, Tr 304] Khảo sát thực tế cho thấy
lá cây ba kích tím trồng tại Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận LiênChiểu có chiều dài đến 19,5cm, chiều rộng đến 7,3cm (phụ lục 3)
1.2.2 Phân bố và đặc điểm sinh thái
- Phân bố: Cây ba kích mọc hoang ở ven rừng, trên đồi rậm giữa các
bụi bờ, bãi hoang Trên thế giới cây ba kích tím có mặt tại Trung Quốc, Ấn
Độ, Lào, Triều Tiên Ở Việt Nam cây ba kích tím phân bố ở các tỉnh phía Bắc
và một số tỉnh Nam Trung Bộ như Lào Cai (Sapa), Quảng Ninh (Hải Ninh,Hồng Quảng, Cẩm Phả: Quang Hanh), Bắc Từ (Đại Từ), Vĩnh Phúc (ThanhSơn), Hà Tây (Ba Vì: Ba Trại), Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thừa ThiênHuế (Phong Điền: Phong Mỹ), (Kontum (Đắc Giây) [11, Tr 304], [22, Tr.193] Ngoài ra cây ba kích tím còn phân bố tại Quảng Nam (Tây Giang) [43].Khảo sát thực tế cho thấy cây ba kích tím còn được trồng ở một số khu vực
Trang 17khác: huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam; khu vực đèo Hải Vân, núi Bà Nàcủa TP Đà Nẵng; một số khu vực ở Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam,quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
- Đặc điểm sinh thái: Cây Ba kích tím sống lâu năm, thân leo [18], dưới
2 năm tuổi là cây chịu bóng [29] Loài cây này phát triển được ở những vùng
có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hiện đang phát triển ở dưới tán rừng tự nhiêncủa vùng núi có độ cao từ 700- 1500 m, đất để cây sinh trưởng đòi hỏi có hàmlượng mùn tự nhiên cao, thông thoáng và có tán cây che phủ Nhiệt độ trungbình để loài cây này phát triển tốt là từ 20- 280C, biên độ giữa ngày và đêm là
từ 8- 120C, độ ẩm từ 75- 90% [16]
Ba kích tím sinh trưởng và phát triển tốt ở những vùng có đặc trưng khíhậu nhiệt đới ẩm, độ ẩm trung bình năm trên 80% và tổng lượng mưa cả nămđạt 1100 – 2000mm Nên trồng Ba kích tím trên các loại đất ẩm mát và thoátnước tốt, thành phần cơ giới trung bình (cát pha đến thịt), tầng đất dày trên
10, nhiều mùn tơi xộp Trong tự nhiên, ba kích mọc nhiều dưới tán rừng thứsinh nghèo kiệt, rừng khoanh nuôi phục hồi có độ tàn che từ 0,3 – 0,5 [44].Địa hình đồi núi thấp, độ cao từ 50m – 300m so với mực nước biển [1]
1.2.3 Thành phần hóa học
Trong Ba kích có Gentianine, Carpaine, Choline, Trigonelline, Díogenin,Yamogenin, Gitogenin, Tigogenin, Vitexin, Orientin, Quercetin, Luteolin,Vitamin B1, Morindin, Vitamin C
Rễ chứa Antraglycozid, đường, nhựa, Acid hữu cơ, Phytosterol và ít tinhdầu, Morindin Rễ tươi có sinh tố C
Trong Ba kích có Rubiadin, Rubiadin-1-Methylether, Palmitic acid,Vitamin C, Nonadecane, 24-Ethylcholesterol [45]
1.2.4 Tác dụng dược lý và công dụng
a Tác dụng dược lý
Trang 18- Nước sắc ba kích tím có tác dụng làm tăng sự co bóp của ruột và giảmhuyết áp, không có độc [18]
- Tăng sức dẻo dai: Thí nghiệm với phương pháp chuột bơi, Ba kíchvới liều 5 – 10g/Kg dùng liên tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo daicho súc vật thí nghiệm [2]
- Tăng sức đề kháng: dùng phương pháp gây nhiễm độc cấp bằngAmoni Clorua trên chuột nhắt trắng, với liều 15 g/kg, Ba kích có tác dụngtăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại [2]
- Chống stress, chống trầm cảm, chống oxy hóa [19]
- Nhân dân ở những nơi có cây này mọc hoang thường đào củ này vềnấu với thịt gà, ăn để bồi bổ sức khỏe [11, Tr 304]
1.2.5 Những nghiên cứu trồng cây ba kích
Trang 19Việc nhân giống ba kích tím đã và đang rất được quan tâm nghiên cứu
bằng nhiều phương pháp khác nhau: bằng hạt, hom, nuôi cấy in vitro Xu thế hiện nay là sử dụng cây in vitro vì có nhiều ưu thế: Tạo ra được giống sạch
bệnh với số lượng lớn trong thời gian ngắn, năng suất cao, khả năng chốngchịu tốt, bảo tồn được những giống cây quý hiếm, tạo dòng đơn bội, phục
tráng giống,… Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhân giống in vitro cây
sâm ba kích tím
Năm 2003 Vũ Hoài Sâm, Phạm Văn Hiển và cộng sự đã tiến hành
nghiên cứu nhân nhanh in vitro cây ba kích tím Sau khi tạo rễ trong ống
nghiệm, cây con được chuyển ra giá thể đất và trấu hun (tỉ lệ 1:1) Sau 10ngày cây ra rễ mới và sinh trưởng bình thường (tỉ lệ sống đạt 70- 80%) [26]
Ning- Zhen Huang, Chuan- Ming Fu, Zhi- Guo Zhao, Feng- LuanTang, Feng Li (2007) nhân nhanh cây Ba Kích bằng kỹ thuật nuôi cấy mô từ
chồi đỉnh và đoạn thân non Cây invitro được đưa ra ngoài trên đất hoặc đất
nung với tro thực vật, tỉ lệ sống cao nhất là 90% [37]
Năm 2010 quy trình nhân giống cây ba kích tím có nguồn gốc từ huyệnTây Giang, Quảng Nam bằng nuôi cấy mô đã được hoàn thiện bởi TS.VõChâu Tuấn và Huỳnh Minh Tư, quy trình đã tạo ra cây giống ba kích tím có
chất lượng tốt, sạch bệnh Cây in vitro (30 ngày tuổi) trồng trong đất cát pha
có khả năng sống sót cao (đạt 97,9%) và sinh trưởng tốt (chiều cao đạt15,14cm sau 45 ngày) [29], [31]
Sau công trình nghiên cứu của ThS Võ Châu Tuấn đã có nhiều nghiên
cứu cải thiện quy trình nhân giống in vitro và nghiên cứu ở giai đoạn cây con
trong nhà lưới cây ba kích tím: Năm 2012 Đoàn Thị Kim Ngân trường ĐH sưphạm – ĐH Đà Nẵng đã tiến hành nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây
Ba kích Morinda officinalis How invitro ở giai đoạn cây con trong nhà lưới.
Trang 20Chiều cao cây con khi trồng ở giá thể cát xây- trấu hun đạt 2 cm ở giai đoạn
10 ngày sau khi trồng và 4.54 cm sau 30 ngày trồng ngoài vườn ươm [21]
Năm 2013 các nhà khoa học tại trung tâm Khoa học và sản xuất lâmnghiệp Quảng Ninh kết hợp cùng khoa Công nghệ sinh học trường ĐH Nông
nghiệp Hà Nội đã cải thiện quy trình nhân giống in vitro Cây in vitro sinh
trưởng phát triển tốt nhất trên giá thể hữu cơ đạt 17,7cm sau 60 ngày trồng[28]
Năm 2015 trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và công nghệ tỉnhQuảng Trị tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình [6]
Tại Việt Nam, cây ba kích tím in vitro đã được tiến hành trồng ở một số
nơi trong nhiều điều kiện sinh thái khác nhau như: Quảng Nam (Tây Giang,Nam Giang), Quảng Ninh (Ba chẽ),… Năm 2015 ba kích tím sản xuất bằngphương pháp nuôi cấy mô được triển khai trồng dưới tán rừng tại xã Hà Ninh,huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa [17] Tuy nhiên chưa có một công trìnhnghiên cứu cụ thể nào về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sự sinhtrưởng của cây ba kích tím
Trang 211.3 SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KHI HẬU CỦA PHƯỜNG HÒA KHÁNH NAM, QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG
Phường Hòa Khánh Nam là phường trung tâm của quận Liên Chiểu, TP
Đà Nẵng, với diện tích tự nhiên là 976.75ha, có 27 khu dân cư, với 171 tổ dânphố, có mật độ dân cư thưa
- Khí hậu: Phường Hòa Khánh Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đớiđiển hình, một năm có hai mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12,mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 7
- Tổng diện tích đất vườn rừng phường Hòa Khánh Nam được ủy bannhân dân TP Đà Nẵng giao cho phường quản lý là 247 ha (chiếm khoảng25,3% diện tích toàn phường) Trong đó diện tích rừng và đất rừng sản xuất là242,4 ha; diện tích rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng 4,6 ha, tập trung ở rừngtiểu Khu 41 (theo quyết định số 7266/QĐ-UBND ngày 14 tháng 10 năm 2014
Trang 22của UBND TP Đà Nẵng về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBNDphường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu quản lý, bảo vệ và phát triển).
- Hiện nay trên địa bàn phường Hòa Khánh Nam có khoảng 69 hộ đangtrồng rừng và phát triển rừng trong đó 65 hộ trong địa phương, 04 hộ ngoàiđịa phương (Phương án 03/PA-UBND ngày 30/11/2015 của UBND phườngHòa Khánh Nam về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho nhân dân phườngHòa Khánh Nam phát triển sản xuất)
- Một số hoạt động sản xuất trên đất rừng Tiểu khu 41:
+ Trồng rừng kinh tế: Tổng diện tích rừng trồng là 242,2ha, cây lâmnghiệp được các hộ dân trồng chủ yếu là keo lá tràm, bạch đàn,… với mụcđích chính của trồng rừng là sản xuất gỗ nguyên liệu, ngoài ra còn có rừngđặc dụng bằng vốn ngân sách Hiện có khoảng 66 hộ gia đình đầu tư trồngrừng bằng vốn tự do, bình quân có 2,2ha/hộ
+ Trồng cây ăn quả: Hầu hết các loại vườn có trước năm 1975 nằm venchân rừng tiểu khu 41 thuộc khu vực Khánh Sơn, Đà Sơn vào thời điểm đóđều thuộc diện vườn tạp với các giống cây đã trồng như: Dứa, mít, ổi, vú sữa,
… xen lẫn chuối, đu đủ và các loại cây ngắn ngày khác Từ năm 1995, tất cảcác vườn trên thuộc đất rừng đặc dụng nen thực hiện giao khoán theo Nghịđịnh 01/CP các hộ vẫn tiếp tục trồng cây ăn quả kết hợp trồng rừng kinh tếnhưng hiệu quả không cao.Từ năm 2010, bằng nhiều nguồn vốn khác nhaucủa Thanh Phố, quận, đặc biệt là vốn đầu tư của nhân dân rất lớn đã tập trungcải tạo vườn tạp tồng các loại cây như sau: bưởi da xanh, mít Thái Lan, ổikhông hạt, tre lấy măng,… Có 01 cơ sở, trại nuôi động vật hoang dã vớiphương thức nuôi chuồng trại
Tuy nhiên, cho đến nay diện tích đất vườn có nhiều biến động, giảm doquá rình đô thị hóa, bị thu hồi thực hiện các dự án quân đội,… một số hộ đầu
Trang 23tư còn hạn chế về kỹ thuật, phân bón, nguồn nước tưới không hiệu quả Vềchăn nuôi, nhiều hộ dân thực hiện mô hình nuôi dê, bò, thỏ, heo rừng, gà, vịt,
…
Những năm gần đây, phường Hòa Khánh Nam thực hiện các đề án vềphát triển kinh tế vườn rừng trên địa bàn và đã đạt được những kết quả nhấtđịnh, đã trang bị kiến thức cho nông dân về công nghệ sinh học, về giống câycon và quy trình sản xuát, sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, các hoạtđộng sản xuất phát triển kinh tế, hấp dẫn người dân không bỏ rừng và quay lạibảo vệ, phát triển ngày càng tốt hơn
Tuy nhiên do đặc thù trước đây là rừng đặc dụng cho nên việc giaokhoán rừng rất hạn chế chính vì vậy một số hộ dân chưa mạnh dạn đầu tưtrồng rừng, nhiều diện tích đất còn bỏ hoang, công tác quản lý rừng cònbuông lỏng nên xảy ra tình trạng chặt phá rừng, cháy rừng, lấn chiếm đất rừngxây dựng trái phép
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI , PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là cây ba kích tím (hình 2.1) thuộc họ Cà phê(Rubiaceae), bộ Long đởm (Gentianales)
- Nguyên liệu nghiên cứu: Sử dụng giống cây ba kích tím nuôi cấy in vitro tại phòng Công nghệ sinh học – khoa Sinh – Môi trường (MT), trường
ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng Cây nuôi cấy in vitro được nhân giống có
nguồn gốc tự nhiên tại huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam [29]
(A) Cây ba kích tím ngoài tự nhiên (B) Cây ba kích tím in vitro 1 tháng tuổi
Hình 2.1 Cây ba kích tím tự nhiên và cây ba kích tím in vitro đã được
trồng trong bầu ươm
Cây ba kích tím in vitro 30 ngày tuổi được sử dụng làm cây giống để
bố trí các thí nghiệm có chiều dài 3cm, 6 – 8 lá
Trang 25(A) Cụm chồi trên MT ra chồi (B) Chồi hình thành rễ in vitro
Hình 2.2 cây ba kích tím nhân nuôi cấy in vitro
2.2.PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 9/2015 đến tháng 10/2016
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Tạo cây giống ba kích tím nuôi cấy in vitro hoàn chỉnh tại phòng
Công nghệ sinh học, khoa Sinh – MT, trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà nẵng
- Trồng cây ba kích tím nuôi cấy in vitro giai đoạn vườn ươm và ngoài
tự nhiên tại khu vườn ươm Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận LiênChiểu, TP Đà nẵng (hình 2.3) Khu vực trồng thực nghiệm có tọa độ16,059585 đến 16,058415 Bắc; từ 108,135746 đến 108,136990 Đông
Trang 26A: Bản đồ thể hiện vị trí của phường
Hòa Khánh Nam (Mapinfo)
B: Ảnh chụp vệ tinh phường Hòa
Khánh Nam (google maps)
Hình 2.3 Bản đồ và ảnh chụp vệ tinh phường Hòa Khánh Nam 2.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp hồi cứu số liệu
- Tìm và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đặc điểm sinh thái của cây
ba kích tím, điều kiện tự nhiên tại địa điểm thực nghiệm
- Tìm và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc nghiên cứu ảnh hưởngcủa các nhân tố sinh thái đến sinh trưởng ở thực vật
2.3.2 Phương pháp điều tra thực địa
- Đi thực tế, quan sát, phỏng vấn, hỏi ý kiến chuyên gia, lấy số liệu
2.3.3 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu tự nhiên
a Phương pháp lấy mẫu đất
Lấy mẫu theo đường chéo 5 điểm (theo quy tắc đường chéo góc) tạikhu vực trồng, độ sâu lấy mẫu từ 0 – 30cm Mỗi điểm lấy 200g đất (đã loại bỏ
đá sỏi lớn) sau đó trộn đều
b Phương pháp xác định thành phần cơ giới đất
- Phương pháp khô: Dùng 2 ngón tay bóp nát mẫu đất và xát vào longbàn tay
A
Trang 27+ Hầu hết lượng đất được dính vào long bàn tay thì đây là đất có thànhphần cơ giới nặng.
+ Đất không dính và rơi ra thì đây là đất có thành phần cơ giới nhẹ vìchứa nhiều cát
+ Tùy theo mật độ bám mà xác định mức độ nặng nhẹ của thành phần
cơ giới khi phân tích
- Phương pháp ướt (phương pháp vê giun): Tẩm nước với đất đến trạngthái độ ẩm thích hợp, không ướt quá hoặc khô quá (tuyệt đối không sử dụngnước bọt để tẩm ướt) Dùng 2 bàn tay vê đất thành sợ trên long bàn tay,đường kính của sợi khoảng 3mm, Uốn sợi đất thành vòng tròn trên long bàntay, đường kính vòng tròng khoảng 3cm
+ Sợi không thể hình thành thì đất này là đất cát
+ Sợi hình thành nhưng thành từng mảnh rời rạc thì đất này là cát pha.+ Sợi đứt thành từng đoạn khi vê tròn thì đất này là đất thịt nhẹ
+ Sợi liền nhau nhưng đứt từng đoạn khi uốn thành vòng tròn thì đấtnày là đất thịt trung bình
+ Sợi liều nhau nhưng nứt khi nối thành vòng tròn thì đất này là đấtthịt nặng
+ Sợi liền nhau, vòng tròn nguyên vẹn sau khi uốn thì đây là đất sét
c Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh thái đất
- Sử dụng máy đo pH cầm tay để xác định pH và độ ẩm đất
- Phương pháp Kjeldahl: xác định chỉ số đạm tổng số (N,%)
- Phương pháp công phá bằng hỗn hợp 2 axit (H2SO4 đậm đặc và HClO4
đậm đặc) để xác định chỉ số lân tổng số (P2O5,%) và chỉ số kali tổng số (K2O)
- Phương pháp Walkley black: xác định độ mùn
- Phương pháp rây và sa lắng: xác định thành phần cơ giới đất
Trang 28Toàn bộ mẫu được kiểm tra, xử lý trong phòng phân tích Nông hóa, việnKhoa học Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên (TP Buôn Ma Thuột, tỉnhĐak Lak).
2.3.4 Phương pháp trồng và chăm sóc cây ba kích tím nuôi cấy in
vitro trong vườn ươm
a Phương pháp chuẩn bị giá thể cho bầu ươm
- Chuẩn bị các thành phần của giá thể:
+ Đất sử dụng làm giá thể là đất đỏ vàng được lấy tại khu vực thựcnghiệm Loại bỏ đá, sỏi, rễ cây và rác bằng cách nhặt thủ công hoặc rây Đấtđược lấy vào trời nắng ráo để tránh bị ướt
+ Xơ dừa xay mịn, trấu hun sử dụng là loại chưa thành tro
- Trộn giá thể: trộn các thành phần của giá thể tùy vào mỗi công thức thínghiệm
Ví dụ: Giá thể được sử dụng cho các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởngcủa chế độ che sáng và chế độ tưới nước đến sinh trưởng của cây ba kích tím
nuôi cấy in vitro là đất : trấu hun (9:1) nghĩa là trộn 9 phần đất đỏ vàng với 1
phần trấu hun
- Đóng bầu ươm: Sử dụng túi bầu bằng nhựa polyetylen có kích thước5cm x 9cm để đóng bầu ươm Đục 8 – 10 lỗ nhỏ (đường kính 3mm/lỗ) trên túibầu sau đó cho giá thể đầy vào bầu, vỗ nhẹ để giá thể giàn đều và chặt hơn.Mặt giá thể cách miệng túi bầu khoảng 1,5 – 2cm
b Phương pháp chuẩn bị đất trồng cây ngoài tự nhiên
- Xử lý thực bì: Phát, đốt, dọn sạch thực bì và rác
- Làm đất: Cuốc lật toàn bộ đất trồng, đập tơi, loại bỏ đá lớn và lên luốngvới kích thước như sau: Chiều rộng luống 160cm, chiều dài 10m Luống cáchluống 50cm Luống được làm thẳng hàng theo cùng 1 chiều Đông – Tây
Trang 29Mỗi luống trồng 100 cây Trong mỗi luống trồng 4 hàng, mỗi hàngtrồng 25 cây, cây cách cây 40 cm, hàng cách hàng trong luống 40 cm.
c Phương pháp điều chỉnh độ che sáng và tưới nước
- Phương pháp điều chỉnh độ che sáng: Sử dụng lưới nhựa xanh đen đẻche nắng với độ che sáng 60% cho các công thức thí nghiệm ảnh hưởng củaphân bón, chế độ tưới nước, dinh dưỡng, địa hình đến sinh trưởng của cây ba
kích tím nuôi cấy in vitro.
Đối với thí nghiệm ảnh hưởng của ánh sáng thì không che nắng cho côngthức đối chứng, sử dụng lưới che nắng với độ che sáng 50%, 60%, 85% tươngứng với mỗi công thức thí nghiệm
- Phương pháp tưới nước cho cây ba kích tím nuôi cấy in vitro trong giai
đoạn bầu ươm: tưới phun sương bằng bình phun, mỗi ngày 1 lần vào buổisáng, riêng thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ tưới nước thì tùy thuộc mỗicông thức mà tần suất tưới và lượng nước tưới khác nhau
- Phương pháp tưới nước cho cây ba kích tím nuôi cấy in vitro trồng
ngoài tự nhiên: Tưới nước mỗi ngày 1 lần vào buổi sáng, sử dụng vòi tưới câyPR1515E để tưới cây, điều chỉnh ở mức độ phun hoa xòe (xoay 720 độ) đểtưới cây
d Phương pháp trồng cây ba kích tím nuôi cấy in vitro vào bầu ươm
- Chọn những bịch cây ba kích tím nuôi cấy in vitro 30 – 45 ngày tuổi sao cho cây ba kích tím nuôi cấy in vitro có chiều dài thân khoảng 3cm, có 6
– 8 lá (hình 2.4)
- Chuyển cây ba kích tím nuôi cấy in vitro hoàn chỉnh từ phòng Công
nghệ sinh học đến khu vực thực nghiệm và để cây thích ứng với MT tại đâytrong 7 ngày
- Phun sương bằng bình phun để làm ẩm giá thể
Trang 30Hình 2.4 Cây ba kích tím nuôi cấy in vitro hoàn chỉnh
- Nhúng ướt tay, lấy cây ba kích tím in vitro ra khỏi bịch nuôi cấy và
nhúng nước nhẹ nhàng để loại bỏ MT nuôi cấy Tiếp theo, đặt cây vào bầuươm theo chiều thẳng đứng rồi bổ sung giá thể để lấp rễ Rễ cây ba kích tím
in vitro được lấp sâu khoảng 1cm trong giá thể (hình 2.5)
Hình 2.5 Cây ba kích tím nuôi cấy in vitro được đưa vào bầu chứa giá thể
- Sau khi đã đưa hết cây ba kích nuôi cấy in vitro vào bầu ươm thì tiến
hành tưới nước bằng cách phun sương làm ẩm giá thể
e Phương pháp trồng cây ngoài tự nhiên
- Cuốc xới đất ở hố lên (hình 2.4)
- Trộn đất trong hố với phân dê ủ hoai, trấu hun, bón thêm phân lân hữu
cơ vi sinh cao cấp Sông Gianh đối với công thức có bón phân lân hữu cơ visinh
Trang 31- Dùng dao xẻ dọc, lột bỏ vỏ bầu ni lông, đặt cây vào giữa hố, lấp đấtmịn, nén chặt đất theo chiều thẳng đứng, tránh làm vỡ bầu, vun đất bột vừakín bầu
Hình 2.4 Làm đất, đào hố để trồng cây ba kích tím
e Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí các thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái
đến sự sinh trưởng của cây ba kích tím nuôi cấy in vitro trong vườn ươm và
ngoài tự nhiên
* Thí nghiệm trong vườn ươm: Bố trí 3 thí nghiệm với 12 công thức.Mỗi công thức trồng 30 cây, lặp lại thí nghiệm 3 lần
- Thí nghiệm ảnh hưởng của thành phần bầu ươm đến sự sinh trưởng của
cây ba kích tím nuối cấy in vitro trong giai đoạn vườn ươm.
Làm bầu ươm theo 4 công thức giá thể:
+ Công thức 1 (GT0): Chỉ có đất đỏ vàng
+ Công thức 2 (GT1): Xơ dừa : trấu hun (tỉ lệ 7:3)
+ Công thức 3 (GT2): Đất : Xơ dừa (tỉ lệ 7:3)
+ Công thức 4 (GT3): Đất : xơ dừa : trấu hun (tỉ lệ 7:2:1)
- Thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sự sinh trưởng của cây
ba kích tím in vitro trong giai đoạn vườn ươm
Trang 32Bố trí 4 công thức thí nghiệm tương ứng với độ che sáng khác nhau:+ Công thức 1 (ASB0): Không che sáng
+ Công thức 2 (ASB50): Che sáng 50%
+ Công thức 3 (ASB60): Che sáng 60%
+ Công thức 4 (ASB85): Che sáng 85%
- Thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sự sinh trưởng của
cây ba kích tím in vitro trong giai đoạn vườn ươm.
Bố trí thí nghiệm với 4 công thức tưới nước:
+ Công thức 1 (N0): tưới 1 lần/ngày, tưới 4L/m2
+ Công thức 2 (N1): tưới 2 lần/ngày, tưới 4L/m2
+ Công thức 3 (N2): tưới 1 lần/ngày, tưới 8L/m2
+ Công thức 4 (N3): tưới 2 lần/ngày, tưới 8L/m2
Tưới buổi sáng (trong khoảng thời gian 6 giờ sáng đến 8 giờ sáng) chocác công thức tưới 1 lần/ ngày
Tưới buổi sáng (trong khoảng thời gian 6 giờ sáng đến 8 giờ sáng) vàbuổi chiều (trong khoảng thời gian 3 giờ chiều đến 4 giờ chiều) cho các côngthức tưới 2 lần/ngày
* Thí nghiệm trong tự nhiên
Thực hiện 3 thí nghiệm (với 11 công thức) ảnh hưởng của một số nhân
tố sinh thái đến sự sinh trưởng của cây ba kích tím nuôi cấy in vitro và 1 thí nghiệm so sánh sự sinh trưởng của giống cây ba kích nuôi cấy in vitro và
giống cây ba kích giâm hom Mỗi công thức trồng 100 cây, lặp lại thí nghiệm
3 lần
- Thí nghiệm ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sự sinh trưởng củacây ba kích tím
Bố trí thí nghiệm với 4 công thức che sáng:
+ Công thức 1 (AS0): Không che sáng
Trang 33+ Công thức 2 (AS50): Che sáng 50%
+ Công thức 3 (AS60): Che sáng 60%
+ Công thức 4 (AS85): Che sáng 85%
- Thí nghiệm ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng của cây ba
kích tím nuôi cấy in vitro
Bố trí thí nghiệm với 4 công thức bón phân lân hữu cơ vi sinh:
+ Công thức 1 (PB0): Không bón phân+ Công thức 2 (PB50): bón 50g/ hố+ Công thức 3 (PB100): bón 100g/ hố+ Công thức 4 (PB200): bón 200g/hố
- Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình đến sự sinh trưởng của
cây ba kích tím nuôi cấy in vitro.
Bố trí thí nghiệm với 3 công thức thí nghiệm ứng với 3 khu vực:
+ Công thức 1 (KV1): Khu vực có địa hình khá bằng phẳng, thuộc chânnúi
+ Công thức 2 (KV2): Khu vực có địa hình dốc ít, thuộc sườn núi.+ Công thức 3 (KV3): Khu vực có địa hình dốc nhiều, thuộc đỉnh núi
- Thí nghiệm so sánh sự sinh trưởng của giống cây ba kích nuôi cấy invitro và giống cây ba kích tím giâm hom
Được thực hiện sau khi nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che ánh sáng,
phân bón đến sự sinh trưởng của cây ba kích tím nuôi cấy in vitro trong tự
nhiên Bố trí thí nghiệm với 2 công thức sau:
+ Công thức 1 (TN): Nhóm thực nghiệm, cây giống là giống cây
ba kích tím nuôi cấy in vitro
+ Công thức 2 (ĐC): Nhóm đối chứng, cây giống là giống cây bakích tím giâm hom
Mỗi công thức trồng 100 cây, trồng xen kẽ theo từng ô, mỗi ô 20 cây
Trang 342.3.5 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng
- Phương pháp xác định số lượng lá: Đếm số lá trên cây, trường hợp lárụng thì dựa vào các vết lá trên cây
- Phương pháp xác định chiều dài thân: Dùng thước thẳng và thước mét
có chia độ đến mm để đo chiều dài cây Chiều dài thân cây được đo từ mặtbầu hoặc mặt đất đến đầu mút lá cao nhất (vuốt thẳng) của cây
- Phương pháp xác định khối lượng cây và rễ củ: Dùng cân điện tử đểcân khối lượng tươi của cây và của củ cây ba kích tím
- Mỗi công thức thí nghiệm chọn 20 cây để phân tích các chỉ tiêu sinhtrưởng Tiến hành vào cuối thí nghiệm
2.3.6 Phương pháp xử lý thống kê
Kết quả thu được tiến hành xử lý bằng phần mềm Excel 2010 và đánhgiá theo phương pháp thống kê sinh học
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 KHẢO SÁT MỘT SỐ NHÂN TỐ SINH THÁI TẠI MỘT SỐ VÙNG SINH THÁI Ở PHƯỜNG HÒA KHÁNH NAM, QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG
Để xác định được vùng sinh thái phù hợp cho việc ươm và trồng cây ba
kích tím nuôi cấy in vitro, chúng tôi tiến hành khảo sát một số vùng sinh thái
tại phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Một số chỉ tiêusinh thái được chúng tôi chọn để khảo sát là điều kiện khí hậu, địa hình, một
số nhân tố sinh thái đất Chúng tôi tiến hành khảo sát 4 vùng sinh thái
3.1.1 Khảo sát điều kiện khí hậu
Kết quả khảo sát điều kiện khí hậu tại phường Hòa Khánh Nam, quậnLiên Chiểu, TP Đà Nẵng được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả khảo điều kiện khí hậu tại phường Hòa Khánh Nam, quận
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung trung bộ)
Qua kết quả bảng 3.1 cho thấy nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,2oC,
độ ẩm tương đối trung bình là 81,1%, lượng mưa bình quân hằng năm là2.352mm, số giờ nắng bình quân hằng năm là 2.095,8 giờ Các vùng sinh tháiđược khảo sát đều nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm
Từ những nghiên cứu về đặc điểm khí hậu tại các địa phương có sựphân bố tự nhiên cây ba kích tím (huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam; huyện
Trang 36Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh;…) [46] [47] [48] và kết quả nghiên cứu của HoàngQuỳnh Anh (2016) về điều kiện khí hậu nơi ba kích tím mọc tự nhiên tạihuyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh thì có thể thấy rằng điều kiện khí hậu củaphường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng hoàn toàn thích hợp
để cây ba kích tím sinh trưởng và phát triển
3.1.2 Khảo sát địa hình và đặc điểm đất đai
Sau khi khảo sát chung một số vùng sinh thái tại phường Hòa KhánhNam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng, chúng tôi lựa chọn 4 vùng sinh thái đểkhảo sát chi tiết Vị trí 3 vùng sinh thái được khảo sát thể hiện qua hình 3.1,quang cảnh của 4 vùng sinh thái được khảo sát thể hiện qua hình 3.2
1: Vùng 1 2: Vùng 2 3: Vùng 3 4: Vùng 4
Hình 3.1 Vị trí các vùng sinh thái được khảo sát tại phường Hòa Khánh
Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng (Nguồn: googlemap)
Trang 37(A) Vùng 1: Đồi núi gần đường lên Bà Nà - Suối mơ
(B) Vùng 2: Vùng núi Khánh Sơn (C) Vùng 3 (D) Vùng 4
Hình 3.2 Các vùng sinh thái tại phường Hòa Khánh Nam được khảo sát
Kết quả khảo sát tọa độ và địa hình tại 4 vùng sinh thái được thể hiện ởbảng 3.2