1.1 Sự cần thiết phải thiết kế quy hoạch xây dựng thị xã Sầm Sơn- tỉnh Thanh HoáThị xã Sầm Sơn nằm trong vùng đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, là một trong những trung tâm du lịch
Trang 1MỤCLỤC Trang
PHẦN I: THUYẾT MINH
A QUY HOẠCH CHUNG CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Sự cần thiết phải thiết kế quy hoạch xây dựng thị xã Sầm Sơn 3
1.2 Các căn cứ lập quy hoạch 4
1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ 5
1.4 Những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài 6
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ HIÊN TRẠNG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên 2.1.1 Vị trí địa lý 7
2.1.2 Đặc điểm địa hình 8
2.1.3 Điều kiện địa chất công trình 9
2.1.4 Điều kiện khí hậu 9
2.1.5 Điều kiện thuỷ văn 11
2.1.6 Điều kiện địa chấn 12
2.2 Đặc điểm hiện trạng 2.2.1 Hiện trạng đô thị 12
2.2.2 Tính chất, quy mô dân số và diện tích 12
2.2.3 Đặc điểm kinh tế và xã hội 14
2.2.4 Hiện trạng sử dụng đất 17
2.2.5 Hiện trạng về kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật 21
CHƯƠNG 3: QUY HOẠCH XÂY DỰNG KHU VỰC ĐÔ THỊ 3.1 Dự kiến phát triển kinh tế xã hội và phát triển dân số đến năm 2020 26
Trang 23.2Định hướng phát triển không gian kiến trúc 27 3.3 Quy hoạch xây dựng đợt đầu 41
PHẦN I: THUYẾT MINH
A : PHẦN QUY HOẠCH CHUNG CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Trang 31.1 Sự cần thiết phải thiết kế quy hoạch xây dựng thị xã Sầm Sơn- tỉnh Thanh Hoá
Thị xã Sầm Sơn nằm trong vùng đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, là một trong những trung tâm du lịch tắm biển, nghỉ mát nổi tiếng của khu vực phía Bắc và cả nước
Thị xã Sầm Sơn có diện tích tự nhiên là 1.790 ha, tổng dân số: 54.500 người, có 9 km bờ biển trong đó có 5 km bãi tắm đẹp, nước trong
độ dốc thoải, cát vàng mịn sạch, vị trí thị xã Sầm Sơn gần với Thành phố Thanh Hoá (trung tâm chính trin, kinh tế, văn hoá- xã hội của toàn tỉnh) cách Thành phố Thanh Hoá 16 km về phía Đông
Thị xã Sầm Sơn có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền thờ Tô Hiến Thành, hòn Trống Mái, thung lũng Trường Lệ, đầm nước lợ cửa Hới
Sầm Sơn nằm trong vùng đô thị “ Thanh Hoá- Sầm Sơn ” có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển mạng đô thị và kinh tế xã hội toàn tỉnh Thanh Hoá
a/ Đồ án quy hoạch tổng thể xây dựng thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 1992 –2000 đã được UBND tỉnh Thanh Hoá phê duệt tại quyết định số 1383XD/UBTH ngày 10/11/1992 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và quản lý đô thị Quyết định này đã khẳng định quy
mô, tính chất, dân số và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, bố cục kiến trúc, làm
cơ sở cho việc chỉ đạo xét duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng, các chương trình dự án đầu tư và tổ chức xây dựng, việc xây dựng từ năm 1992 đến nay
cơ bản phù hợp với quy hoạch chung được phê duyệt
b/ Tuy nhiên đến nay thời hạn thực hiện quy hoạch chung (2000) đã hết Mặt khác Sầm Sơn là một đô thị nghỉ mát hấp dẫn và quan trọng, trước những yêu cầu đổi mới của cơ chế thị trường, kinh tế xã hội ngày càng phát triển, những vấn đề đã đặt ra và giải quyết trong đồ án quy hoạch chung trước đây không còn phù hợp như qui mô dân số, phân bố dân cư, ranh giới
Trang 4khu nội thị cần mở rộng, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần nâng cấp, cơ cấu các khu du lịch nghỉ mát cần thay đổi, số lượng giường nghỉ, chất lượng các khách sạn, yêu cầu dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật, cảnh quan môi trường đô thị đến nay có nhiều điểm không còn phù hợp.
- Trong tình hình hiện nay một số vấn đề mới phát sinh mà trong
đồ án trước đây chưa đề cập nghiên cứu như:
+ Sự nâng cấp xã Quảng Tường lên phường Trung Sơn
(Theo quyết định số 85 CP ngày 6/12/1995 của Chính Phủ)
+ Mối liên hệ giữa thị xã nghỉ mát Sầm Sơn với khu du lịch Nam Sầm Sơn ( đã được chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá phê duyệt)
c/ Để đảm bảo cho thị xã Sầm Sơn phát triển đúng hướng, phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội toàn tỉnh đồng thời đáp ứng các yêu cầu xây dợng cải tạo, nâng cấp hệ thống nhà nghỉ, khách sạn du lịch của thị
xã Sầm Sơn (từ số lượng giường nghỉ, chất lượng phục vụ, dịch vụ du lịch
và cảnh quan môi trường, vệ sinh đô thị )
Việc điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thị xã Sầm Sơn là cần thiết và cấp bách phù hợp với nghị định 91 CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ
Xuất phát từ các căn cứ trên UBND tỉnh Thanh Hoá đã giao cho UBND thị xã Sầm Sơn, Sở Xây Dựng, Viện Quy Hoạch xây dựng Thanh Hoá và các ngành có liên quan nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch chung thị
xã Sầm Sơn đến năm 2020 như nhiệm vụ đã phê duyệt
1.2 Các căn cứ lập quy hoạch
* Căn cứ tờ trình số 558 CN/UBSS ngày 22/10/1998 của UBND thị
xã Sầm Sơn về việc phê duyệt nhiệm vụ và dự toán điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thị xã Sầm Sơn đến năm 2020
Trang 5* Căn cứ quyết định số2733 QĐ/UB ngày 10/10/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về việc phê duyệt nhiệm vụ và dự toán điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010
* Căn cứ quyết định số 254 QĐ/UB – CN ngày 24/7/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về việc giao kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản đợt II/1998
* Căn cứ quyết định số 1383 XD/UBTH ngày 10/11/1992 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá phê duyệt quy hoạch tổng thể thị xã Sầm Sơn đến năm 2000
* Căn cứ Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam do Bộ Xây dựng ban hành
* Nắm được quy trình lập một đồ án chuẩn bị kỹ thuật cho một đô thị nhằm bước đầu làm quen với các công việc chuyên môn của một kỹ sư
đô thị trong việc lập dự án, thiết kế quy hoạch, thiết kế kỹ thuật
1.3.2 Nhiệm vụ
* Đánh giá đất đai, lựa chọn đất xây dựng đô thị
* Quy hoạch chiều cao cho khu đất
Trang 6* Tổ chức thoát nước mặt cho khu đất
* Vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề cụ thể thông qua một đồ án thiết kế
* Thể hiện kĩ năng nghề nghiệp trong việc nghiên cứu và thể hiện một đồ án
1.4 Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài:
* Khó khăn:
Công việc thực địa nghiên cứu hiện trạng gặp rất nhiều khó khăn do địa bàn nghiên cứu ở xa, lại không thuận tiện giao thông
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRANG KHU VỰC NGHIÊN
CỨU
Trang 72.1 Điều kiện tự nhiên:
2.1.1 Vị trí địa lý:
* Thị xã Sầm Sơn nằm ở 20º0' đến 20º35' vĩ độ Bắc 105º0' đến 105º14' kinh Đông
* Phía Bắc giáp sông Mã và huyện Hoằng Hoá
* Phía Tây giáp sông Đơ và huyện Quảng Xương
* Phía Đông giáp biển Đông
* Cách Thành phố Thanh Hoá 16 km về phía Đông
* Cách khu CN Bỉm Sơn 52 km về phía Đông Nam
* Cách khu công nghiệp tập trung Lam Sơn Sao Vàng, Nghi Sơn khoảng chừng 60 km
2.1.2 Đặc điểm địa hình:
Thị xã Sầm Sơn có hai loại địa hình chính đó là địa hình đồng bằng ven biển và địa hình đồi núi thấp
a Địa hình đồng bằng ven biển:
- Khu vực phía Tây thị xã Sầm Sơn chạy dọc suốt sông Đơ từ Trường Lệ đến sông Mã là vùng đất trước đây bị ngập mặn, từ khi đắp đập Trường Lệ đã ngọt hoá dần và hiện nay dùng trồng lúa có năng suất thấp Cấu thành địa hình này là cát pha sét, bề dày lớp mặt từ 1,2m- 2,0m
Cốt tự nhiên khu vực từ 0,7m- 1,5m Địa hình trũng thấp không bằng phẳng với diện tích 300ha
- Khu vực phía Đông Bắc Sầm Sơn (xã Quảng Cư ) là khu vực hồ nước ngập mặn cũng có địa hình tương tự như khu phía Tây có diện tích khoảng 200 ha Hiện nay là hồ nuôi tôm cá của nhân dân, cốt trung bình từ 0,5- 2,0m
- Khu vực trung tâm thị xã Sầm Sơn chạy từ núi Trường Lệ đến bờ Nam sông Mã địa hình bằng phẳng cốt trung bình từ 2,5- 4,5m, khu vực này không bị ngập nước, thuận lợi cho việc xây dựng khách sạn, nhà nghỉ,
Trang 8khu trung tâm hành chính và khu dân cư của thị xã Sầm Sơn, diện tích 700ha.
- Khu vực phía Đông đường Hồ Xuân Hương kéo dai đến Quảng Cư
là dải cát mịn, thoải, dốc dần ra biển phù hợp với yêu cầu của bãi tắm (dốc 2%- 5%) , diện tích này khoảng 150 ha với chiều dài 7km rộng 200m
b Địa hình đồi núi thấp:
Bao gồm toàn bộ dải núi Trường Lệ nằm ở phía Nam thị xã Sầm Sơn, độ dốc của núi thoải, về cơ bản có thể xây dựng được các công trình nhà nghỉ và công trình phục vụ vui chơi giải trí trên núi Núi có thể trồng cây xanh bao phủ chống xói mòn Tổng diện tích đất đồi khoảng 300 ha
2.1.3 Điều kiện địa chất công trình
- Nước ngầm không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm cao tới 1- 1,4
- Mùa lạnh từ tháng 12 – tháng 3 nhiệt độ trung bình 20ºC
- Mùa nóng từ tháng 5 – tháng 9 nhiệt độ trung bình 25ºC
Trang 9- Nhiệt độ trung bình năm 23ºC
- Nhiệt độ tối đa cao trung bình năm 27,1ºC
- Nhiệt độ tối đa cao tuyệt đối 40,7ºC ( tháng 5 )
- Nhiệt độ tối thiểu trung bình năm 20ºC
- Nhiệt độ tối thiểu tuyệt đối 5,6ºC ( tháng 12 )
Mưa:
Tổng lượng mưa trung bình khoảng 1700 – 1800 mm nhưng biến động rất nhiều
- Năm ít mưa chỉ đạt 1000 mm
- Năm nhiều mưa có thể đạt 3000 mm
Trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt:
- Mùa ít mưa từ tháng 12 – tháng 4 tổng lượng mưa chiếm 15% cả năm
- Mùa nhiều mưa ( tháng 5 – tháng11 )
- Tháng 8 nhiều mưa nhất thường đạt tới 896 mm, trong 24 giờ có thể đạt tới 700 mm Nửa sau mùa lạnh thường có mưa phùn
Nhìn chung tính biến động lớn nhất là đặc điểm nổi bật của chế độ mưa Sầm Sơn, điều này dẫn tới nhiều khó khăn trong khai thác nguồn nước, hay bị hạn hán hoặc bão lụt
Độ ẩm:
- Độ ẩm của không khí 85% bình quân cả năm
- Cao nhất vào tháng 3 là 90%
- Thấp nhất vào tháng 7 là 81%
- Trong thời kỳ hanh khô độ ẩm thấp tuyệt đối có thể đạt tới 27%
- Lượng bốc hơi trung bình năm 800 mm
- Lượng bốc hơi trung bình vào tháng 7 cao nhất 105 mm
- Lượng bốc hơi trung bình vào tháng 3 nhỏ nhất 40 mm
Nắng:
Trang 10Hàng năm có 1700 giờ nắng trong đó tháng 7 có nắng nhiều nhất, tháng 2
- Gió Đông Nam xuất hiện vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 9
- Gió mùa Đông Bắc vào tháng 10 – tháng 12
- Bão gió Sầm Sơn khá mạnh đạt tới 38 – 40 m/s ( tương đương cấp 13 )
- Bão trực tiếp đổ bộ vào Sầm Sơn chủ yếu là tháng 6 đến hết tháng
9 ( tháng 9 là tháng có nhiều bão nhất )
2.1.5 Điều kiện thủy văn:
Sầm Sơn trực tiếp chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của hệ thống sông Chu và sông Mã (sông Đơ nằm phía Tây thị xã Sầm Sơn ít chịu ảnh hưởng đến thuỷ văn Sầm Sơn )
- Sông Mã đổ ra biển hàng năm khoảng 17 tỷ m3 nước, riêng cửa Hới ( Sầm Sơn ) là 14 tỷ m3 nước
- Mùa cạn ( từ tháng 11 – tháng 5 ) chiếm khoảng 22% tổng lượng nước cả năm
- Mùa lũ ( tháng 6 – tháng 10 ) chiếm 78%, lũ lụt lớn xảy ra vào tháng 8, tháng 9 Điều đáng chú ý là trong trường hợp lũ lớn gặp gió bão hoặc gió mùa Đông Bắc, mức nước ở cửa sông lên rất cao
- Thuỷ triều Sầm Sơn là cực yếu trung bình trong một ngày biên độ trung bình chỉ khoảng 150 cm lớn nhất là 300 cm Cách cửa Hới
40 km xem như triều đã tắt
Trang 11Độ mặn: Độ mặn ở cửa sông không vượt quá 32% đến 35% trên sông Mã, cách cửa Hới 29 km độ mặn của nước chỉ đạt 0,02% bằng nước
tự nhiên
2.1.6 Điều kiện địa chấn:
Thị xã Sầm Sơn không nằm trong vành đai địa chấn do đó cũng không có các hiện tượng nghiêm trọng về địa chấn xảy ra trong khu vực
2.2 Đặc điểm hiện trạng
2.2.1 Hiện trạng đô thị:
- Thị xã Sầm Sơn có diện tích 1790 ha bao gồm các phường xã :+ Phường Trường Sơn diện tích: 408,86 ha
+ Phường Bắc Sơn diện tích: 178,45 ha
+ Phường Trung Sơn diện tích: 233,07 ha
+ Xã Quảng cư diện tích: 641,47 ha
+ Xã Quảng Tiến diện tích: 328,16 ha
- Tổng dân số trên địa bàn: 54.500 người
Trong đó Nam: 26.700 người
Nữ: 27.800 ngườiThị xã Sầm Sơn là đô thị loại IV có tính chất là một đô thị du lịch có vùng biển đẹp, hàng năm thu hút một lượng khách du lịch rất lớn
2.2.2 Tính chất, quy mô dân số và diện tích:
a Tính chất đô thị :
Tại quyết định số 2733 QĐ/UB của chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Sầm Sơn ngày 10/12/1998 nêu rõ: “ thị xã Sầm Sơn là thị xã du lịch, nghỉ mát dưỡng sức
và là trung tâm du lịch của tỉnh Thanh Hoá” Thị xã phát triển nông lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để phục vụ cho nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh du lịch
Thị xã Sầm Sơn có các mặt thuận lợi cho việc phát triển đô thị du lịch nghỉ mát, chỉ cách Quốc lộ 1A 16 km về phía Đông, cách Thủ đô Hà
Trang 12Nội 160 km, nằm ở khu vực thuận lợi phát triển kinh tế, là một trong 5 khu động lực phát triển của toàn tỉnh Sầm Sơn có thể nói là điểm du lịch thuận lợi về mặt vị trí địa lý Trong tương lai đến 2020 thành phố Thanh Hoá và thị xã Sầm Sơn sẽ phát triển gắn liền về tổ chức không gian và hệ thống KTHT theo trục Quốc lộ 47, Thanh Hoá - Sầm Sơn thành đô thị , trung tâm hành chính và là trung tâm du lịch Nếu nhìn rộng ra toàn quốc thì Sầm Sơn
là một trong những điểm du lịch nghỉ mát hấp dẫn của khu vực phía Bắc nước ta Có thể nói bãi tắm Sầm Sơn đẹp nhất toàn quốc với chiều dài trên
5 km cát sạch, bờ thoải
Chính vì vậy cần phải điều chỉnh quy hoạch chung, khẳng định rõ tính chất của thị xã Sầm Sơn dựa trên cơ sở sẵn có làm cơ sở thúc đẩy các ngành nghề TTCN, dịch vụ, nông lâm ngư nghiệp để phục vụ cho nhiệm vụ chính là kinh doanh du lịch
b Dân số:
Theo tài liệu điều tra dân số 1/4/1999 và thống kê khách nghỉ đến tại thị xã Sầm Sơn qua các năm cho thấy:
Tổng dân số trên địa bàn thị xã là: 54.500 người
Trong đó: - Nam: 26.700 người
- Nữ: 27.800 người
Tổng số lao động: 24.600 người bằng 45% dân số trên địa bàn toàn thị xã
Trong đó: - Lao động nông lâm ngư : 40% = 7.540 người
Lao động phi nông nghiệp: 60% = 1.7000 người
Tổng số hộ: 11.851 hộ
Trong đó: - Hộ nông lâm ngư : 6.153 hộ
Hộ phi nông nghiệp: 5.698 hộ
Tổng số cơ sở đón nhận khách nghỉ: 214 cơ sở = 10.100 giường
Trong đó: - Khối nhà nước quản lý: 6.833 giường
Khối tư nhân quản lý : 3.267 giường
Trang 13 Tổng số khách vãng lai: 286.306 lượt khách.
Trong đó mùa hè chiếm 80% = 230.000 lượt khách
Bình quân 1 ngày là: 5.660 khách tính 4 tháng/ năm có khách
c Quy mô đất đai:
Chỉ tiêu sử dụng đất đai:
- Đất dân dụng: 60 m2/ người
Trong đó: + Đất ở : 30 m2/ người
+ Đất công cộng : 5m2/ người
+ Đất cây xanh đô thị: 7 m2/ người
+ Đất giao thông đô thị: 18m 2/ người
- Đất khách sạn nhà nghỉ: 50 m2/ giường
Cân đối các quỹ đất trên cơ sở địa giới hành chính hiện nay gồm 3 phường và 2 xã Sử dụng triệt để các quỹ đất hiện có như đất ở, khách sạn nhà nghỉ
Từ cơ sở thực tiễn sẵn có và dự báo phát triển đến năm 2020 thì thị
xã Sầm Sơn đạt 80.000 dân trên tổng diện tích 1790 ha, trong đó diện tích khu vực núi Sầm Sơn đã chiếm tới 356 ha, đất ao hồ ngập mặn, rừng phi lao cũng hiếm một diện tích đáng kể do vậy diện tích đất xây dựng được chỉ còn khoảng 1200 ha
2.2.3 Đặc điểm về kinh tế và xã hội:
a Về kinh tế:
Theo như thống kê năm 1999 cơ cấu lao động của thị xã Sầm Sơn như sau:
+ Khu vực 1: nông nghiệp 9.600 người
+ Khu vực 2: công nghiệp, thủ công nghiệp, đánh bắt chế biến hải sản 9.800 người
+ Khu vực 3: thương mại, dịch vụ du lịch 5.200 người
+ Lao động chưa có việc làm: 33.600 người
* Đánh giá tình hình phát triển kinh tế biển:
Tổng sản lượng hải sản là 11.600 tỷ đồng trong đó:
Trang 14+ Sản lượng khai thác cá biển là 4 tỷ đồng
+ Sản lượng khai thác tôm là 5 tỷ đồng
+ Sản lượng khai thác mực là 36 tỷ đồng
+ Sản lượng khai thác các hải sản khác là 6,74 tỷ đồng
Thị xã Sầm Sơn chủ yếu là đánh bắt hải sản, không có những cơ sở chế biến để xuất khẩu hoặc lưu thông ra thị trường tỉnh ngoài, vì vậy giá của sản phẩm thu bắt được đều do tư thương mua với giá giảm Một phần
do các xí nghiệp đông lạnh hoặc các cơ sở chế biến trong tỉnh thu mua thì
số lượng không nhiều, các tàu đánh bắt xa bờ thường đem sản phẩm đánh bắt được bán cho các cơ sở dọc biển Bắc Trung Bộ
Các sản phẩm quý hiếm như mực, tôm, cua bị tư thương mua với giá thấp rồi tiêu thụ đi nơi khác, một phần cung cấp nội địa trong tỉnh và địa bàn Sầm sơn phục vụ khách du lịch
* Nuôi trồng thuỷ sản bao gồm:
- Diện tích nuôi tôm 95 ha
- Diện tích nuôi tôm quảng canh 65 ha
- Diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh là 95 ha
- Sản lượng nuôi trồng là 150 tấn, riêng sản lượng nuôi tôm đạt 50 tấn
* Chế biến hải sản: chủ yếu là nước mắm đạt 800 nghìn lít/ năm 1998
Trang 15+ Cơ sở do UBND thị xã Sầm Sơn quản lý: 10 cơ sở với 530 giường
Bình quân 240 học sinh / 1000 dân
Cơ sở vật chất phục vụ giáo dục khá hơn, hầu hết các trường đều đã ngói hoá, 70% nhà lớp học kiên cố cao tầng phù hợp với quy hoạch
* Y tế:
Thị xã hiện có trung tâm y tế quy mô 70 giường tại phường Bắc Sơn , 1 phòng khám đa khoa 2 tầng 250 m2 sàn, 2 trạm xá xã, 3 trạm xá phường có quy mô từ 10 đến 15 giường chủ yếu là nhà cấp 4 diện tích mỗi trạm 150 m2
Việc xử lý dịch bệnh về mùa hè, giải quyết cấp cứu cho khách đến tắm và nghỉ dưỡng được tăng cường hơn trước đây
Trang 16* Văn hoá thể thao:
Quy hoạch đã dành đất xây dựng các công trình văn hoá thể thao vui chơi giải trí ở khu trung tâm nhưng chưa được đầu tư xây dựng Nhà hát nhân dân xuống cấp Có thể nói mảng văn hoá thể thao còn rất nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách nghỉ và dân cư đô thị
* Lao động, việc làm:
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi ở thị xã Sầm Sơn chiếm 45% dân số (24.600 người ) Một đặc thù cần nêu là mùa hè thu hút được nhiều lao động có việc làm, còn lại 9 tháng số lượng người chưa có việc làm rất lớn chiếm 33.600 người (kể cả dân cư nông ngư nghiệp và CBCNVC trong các nhà nghỉ khách sạn)
Trình độ dân trí thấp hầu hết lao động không được đào tạo nghề do
đó chất lượng phục vụ khách du lịch nghỉ mát còn non yếu Bởi vậy cần chú ý đến khâu đào tạo nghề cho dân cư và lao động, nhanh chóng khôi phục phát triển CN- TCN nhằm giải quyết việc làm cho người dân lao động
2.2.4 Hiện trạng sử dụng đất:
Tổng diện tích đất toàn thị xã Sầm Sơn theo địa giới hành chính hiện nay là 1.790 ha gồm 3 phường nội thị và 2 xã ngoại thị
Đất ở thị xã Sầm Sơn gồm 2 loại:
* Đất ở nội thị chiếm tổng diện tích là 110 ha chủ yếu là nhà cấp II 3
A Tầng cao trung bình là 1,5 tầng do CBCNV và dân tự xây dựng
Các khu dân cư nội thị chủ yếu nằm phía Tây đường Nguyễn Du, tập trung chủ yếu ở phường Trường Sơn và Bắc Sơn, phường Trung Sơn mới thành lập nên ở vẫn theo kiểu làng xã
Đất ở nội thị chủ yếu chia lô dạng 4 x 20 m hoặc 5 x 18 m
+ Thị xã Sầm Sơn chưa có một khu nhà ở kiểu chung cư cao tầng nào
+ Mật độ xây dựng trên một lô đất quá cao
Trang 17+ Kiến trúc nhà ở lộn xộn, xấu.
+ Môi trường ô nhiễm không kiểm soát được
+ Phường Trung Sơn có nhiều dân cư ở trên đất dự kiến phát triển nhà ở và khách sạn
+ Một số lượng đáng kể nhà nghỉ của dân mới xây dựng làm dịch vụ kiêm ở
+ Mật độ xây dựng 100% dẫn đến tình trạng thiếu đất cây xanh, vệ sinh môi trường không tốt
* Đất ở ngoại thị: chiếm 97 ha đất ngoại thị thuộc 2 xã Quảng Cư và Quảng Tiến ở theo kiểu làng xóm, nghề chính tập trung ở 2 xã này là làm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt cá ven bờ
Quảng Tiến dân cư ở dày đặc, Quảng Cư dân cư ở tản mạn
Nhà thấp để tránh gió bão chủ yếu là nhà cấp 4 A, tỷ lệ nhà mái bằng rất ít trong khu vực này khoảng 20% Các hộ dân cư ở không theo quy hoạch, đường ngõ hẹp mỗi hộ có diện tích là 200 m2 đất trở lên, thường nhà nào cũng xây dựng kiểu nhà chính 3 – 5 gian, nhà phụ vuông góc với nhà chính và có sân phơi, công trình phụ tạm bợ mất vệ sinh do vùng đất cát nên thường thiếu cây bóng mát và ít cây ăn quả
b/ Đất xây dựng khách sạn:
+ Đất xây dựng khách sạn chủ yếu nằm ở phía Đông đường Nguyễn
Du đến đường Hồ Xuân Hương và một phần nằm ở phía Tây đường Nguyễn Du như nhà nghỉ Tổng Công Đoàn, nhà nghỉ Đường Sắt Tổng diện tích đất khối nhà hiện nay là 75 ha với tổng số 10.100 giường
Mật độ xây dựng đảm bảo, tầng cao trung bình khu khách sạn nhà nghỉ <= 5 tầng Nhìn chung công trình đã xuống cấp thời gian sử dụng trong năm chỉ đạt từ 3 – 4 tháng, thời gian để lãng phí dài không được chăm sóc sử dụng thường xuyên
Trang 18c/ Khu trung tâm: Đã đầu tư xây dựng khu trung tâm Hành chính – Chính trị của thị xã như: Thị uỷ, UBND thị xã, Thị đội, Công an thị xã, Ngân hàng, Bưu điện Tuy có một số công trình có kết hợp với nhà nghỉ của ngành nhưng nhìn chung các công trình đã được đầu tư với quy mô vừa
Lê Lợi và đường Nguyễn Du mới đầu tư xây dựng được tầng 1, còn lại các cửa hàng nhỏ do dân đầu tư nằm rải rác trên trục đường Nguyễn Du, làm mới cảnh quan đô thị
Nhìn chung công trình dịch vụ công cộng của thị xã Sầm Sơn hầu như không có gì đáng kể
e/ Khối y tế giáo dục: Cơ bản đã được đầu tư xây dựng đúng quy hoạch, hệ thống xây dựng các trường trung học và tiểu học tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo ở các trường chưa được đầu tư theo tiêu chuẩn
Hệ thống Bệnh viện, trạm xá đã được đầu tư đáng kể, đặc biệt là Bệnh viện thị xã Sầm Sơn, thường xuyên được nâng cấp cải tạo dàn từng bước đảm bảo yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong toàn thị xã
Hệ thống trạm xá tại các phường xã còn yếu không được chú ý đầu
tư kể cả về xây dựng cơ bản và thiết bị y tế
f/ Khu vực chơi giải trí: Toàn thị xã Sầm Sơn chỉ có một Nhà hát ngoài trời và một khuôn viên đang đầu tư xây dựng chưa hòan chỉnh
Sân vận động thị xã chưa có Đã xây dựng tạm một khu thể thao ở trung tâm như: Sân chơi tennis, sân chơi bóng rổ, cầu lông, bóng chuyền,
Trang 19đã đáp ứng kịp thời cho nhu cầu thi đấu, vui chơi giải trí cho dân thị xã và các nhà nghỉ trong khu vực.
l/ Đất cây xanh:
Đất cây xanh trong khu nội thị tại 3 phường Bắc Sơn, Trung Sơn và Trường Sơn chưa được đầu tư thoả đáng, chủ yếu là cây xanh bên bờ biển, trên núi và cây xanh vườn ươm, trên các trục đường phố
Tổng diện tích cây xanh trong khu vực 130 ha Chưa được đầu tư xây dựng thành công viên cây xanh, trồng để giữ đồi núi và các bãi cát trống kể cả khu công viên trung tâm cũng chưa được đầu tư thoả đáng
* Đất ngoài khu dân dụng
a/ Đất công nghiệp và kho tàng
b/ Đất thuỷ lợi và mặt nước chuyên dùng
Diện tích có khả năng khai thác nuôi trồng thuỷ sản là 126 ha trong
đó Quảng Tiến là 34 ha, Quảng Cư là 92 ha Toàn bộ diện tích này nằm trong đê sông Mã, tuy nhiên chưa đạt tiêu chuẩn về nuôi nhưng đã hình thành cơ bản các vùng ao hồ có thể nuôi trồng thuỷ sản Con nuôi hiện tại
là cua, tôm rảo
c/ Đất di tích lịch sử
Tổng diện tích là 2,25 ha gồm các đền thờ, miếu mạo như Đền Độc Cước, Cô Tiên, Chùa Đệ Nhị trên núi thuộc phường Trường Sơn, Đền Bà Triệu xã Quảng Tiến, Chùa Bình Chiều xã Quảng Cư và các Đài tưởng niệm liệt sĩ ở các phường xã
Trang 20d/ Đất an ninh quốc phòng
Diện tích đất an ninh quốc phòng là 4,2 ha nằm trong lòng núi thuộc phường Trường Sơn Đây là hệ thống bảo vệ đặc biệt quan trọng của quân đội đang quản lý
e/ Đất nghĩa địa
Tổng diện tích đất nghĩa địa hiện nay nằm rải rác ở các phường là 5,11 ha, thị xã Sầm Sơn đang có dự án qui tụ và xây dựng tập trung một nghĩa địa tại xã Quảng Xương đến nay chưa thống nhất địa điểm xây dựng
2.2.5 Hiện trạng kiến trúc và hạ tầng kỹ thuật:
2.2.5.1 Nhà ở
Làng xóm: các công trình chủ yếu là nhà cấp 4A tập trung ở đất dân cư ngoại thị, diện tích mỗi nhà lớn khoảng 200 m2, gian chính có từ 3 – 5 gian, gian phụ vuông góc với gian chính
Nhà ở nội thị: số ít xây dựng có quy hoạch, kiến trúc không đồng nhất Một số dạng nhà ở kiêm nhà nghỉ khoảng từ 3 –5 tầng Nhà chia lô ở nội thị khoảng từ 4x20 m, 5x 18 m
Chưa hề có bất cứ một nhà chung cư cao tầng nào ở Sầm Sơn.Tóm lại là nhà ở khu vực thị xã Sầm Sơn không đồng nhất theo bất cứ một loại nhà quy hoạch nào
2.2.5.2 Cảnh quan thiên nhiên
Khu du lịch nghỉ mát thị xã Sầm Sơn được thiên nhiên ưu đãi Phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp sông Đơ, phía bắc giáp sông Mã, phía nam có núi Trường Lệ Phần lớn đất đai là ruộng canh tác và các điểm dân
cư kiểu làng xóm Khu vực xây dựng nhà nghỉ khách sạn còn ít, nhiều công trình là do dân tự ý xây dựng Đan xen với nhà ở trong làng là một số công trình di tích, đình, chùa làm nên cảnh quan chung của khu vực
2.2.5.3 Hiện trạng san nền, thoát nước mưa:
Địa hình thị xã Sầm Sơn khá bằng phẳng và chia làm 2 cấp
Phía Tây đường Thanh niên, địa hình cao, dốc dần từ Đông sang
Trang 21Tây, thoát nước mưa tự chảy thuận lợi Nhưng do chỉ mới đầu tư được:
4000 m mương và 9000 m cống thoát nước nên về mùa mưa nhiều nơi vẫn
bị ngập úng cục bộ từ 3 đến 5 ngày
Phía Đông đường Thanh niên địa hình thấp phải san nền, tạo dốc đểnước thoát tự chảy Cốt khống chế >=+2,8 m Do chưa đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước ở khu vực này nên nước mưa chủ yếu chảy tràn ra biển,
có nơi có lúc làm phá hỏng cả đường Hồ Xuân Hương Một số cơ sở bị đọng nước úng ngập nhiều ngày gây ô nhiễm môi trường
Hệ thống cống rãnh thoát nước mưa đều đã xuống cấp nghiêm trọng.Một số rãnh nắp đan ven đường đã hư hỏng, ga thu nước đã bị rác làm cho tắc nghẽn Các cống thoát nước mưa cũng không được bảo dưỡng định kỳ nên cũng ở trong tình trạng tắc nghẽn không đảm bảo yêu cầu thoát nước mặt Trong quá trình xây dựng đô thị nhiều miệng xả đã bị bịt kín gây hiên tượng chảy tràn nước mưa và gây ngập
2.2.5.4 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật khác:
a/ Về giao thông:
Hệ thống mạng lưới giao thông thị xã được hình thành theo kiểu bàn
cờ cho khu nội thị, khu ngoại thị chủ yếu là đường đất đá, hình thành theo khu dân cư chưa được quy hoạch
Kết cấu mặt đường cho toàn thị xã được chia làm 3 loại chủ yếu:+ Đường nhựa át phan gồm 19 tuyến chủ yếu phân bổ ở trung tâm thị
xã Tổng chiều dài khoảng 17 km, các tuyến này cơ bản đã được quy hoạch
ổn định, phục vụ chính việc đi lại, thăm quan, du lịch, nghỉ mát cho nhân dân và khách trong ngoài thị xã, là tuyến chính cho việc giao thông của thị xã
+ Đường BTXM chủ yếu là đường lên núi Trường Lệ và một số đường nhánh khu nhà nghỉ và khu dân cư gồm 8 tuyến, tổng chiều dài khoảng 3,6 km Tổng diện tích mặt đường BTXM là 18.200 km2, diện tích đất chiếm khoảng 43.680 m2 Đây là những tuyến xây dựng mới phục vụ