Lịch sử xã hội phát triển cùng với sự phát triển của các tri thức mà con người đã tích luỹ được trong quá trình lao động và đấu tranh. Sự phát triển của đội ngũ tri thức đã góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, từng bước giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên cũng như chi phối bởi các lực lượng xã hội. Nhờ có tri thức và học vấn cao, con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn quy luật vận động và phát triển của tự nhiên và xã hội. Tri thức làm cho con người trở nên tự do, tích cực, có khả năng sử dụng lực lượng của tự nhiên, cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội để phục vụ cho lợi ích của con người
Trang 1Sự HìNH THàNH Và PHáT TRIểN CủA Đội ngũ trí thức VIệT NAM qua các thời kỳ lịch sử, ý NGHĩA Đối với việc phát huy tiềm năng của đội ngũ
trí thức trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
-MỞ ĐẦU
Lịch sử xã hội phát triển cùng với sự phát triển của các tri thức mà con người đã tích luỹ được trong quá trình lao động và đấu tranh Sự phát triển của đội ngũ tri thức đã góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, từng bước giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên cũng như chi phối bởi các lực lượng xã hội Nhờ có tri thức và học vấn cao, con người ngày càng nhận thức đầy đủ hơn quy luật vận động và phát triển của tự nhiên và xã hội Tri thức làm cho con người trở nên tự do, tích cực, có khả năng sử dụng lực lượng của
tự nhiên, cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội để phục vụ cho lợi ích của con người Chính vì vậy, mà trong quá trình lãnh đạo cách mạng cách mạng Việt Nam Đảng ta luôn đánh giá cao về vai trò của đội ngũ trí thức, coi trọng khả năng cách mạng của họ, xem trí thức là “ Vốn quý của dân tộc”, là lực lượng chính trị- xã hội quan trọng trong mọi giai đoạn, đặc biệt là trong cách mạng
xã hội chủ Từ chỗ Đảng chủ trương lôi kéo, tập hợp họ vào quân đội cách mạng, sau đó đào tạo họ, trọng dụng họ, coi họ vừa là động lực, vừa là một trong bộ phận không thể thiếu được của Đảng và của cách mạng Bởi vì nếu thiếu đội ngũ tri thức thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Đảng ta coi việc đoàn kết với trí thức nằm trong chính sách đại đoàn kết dân tộc và coi liên minh giai cấp công nhân, nông dân với trí thức là vấn đề có tính chất chiến lược nhất quán của Đảng Do vậy, nghiên cứu sự hình thành phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc để qua đó mỗi chúng ta nắm được đội ngũ trí thức Việt Nam phát triển qua các thời kỳ lịch sử trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam Đồng thời qua đó hiểu biết sâu sắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta về việc phát huy tiềm năng đội ngũ trí thức Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đất nước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phấn đấu vì mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” hiện nay
1 Đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Khi xem xét quá trình hình thành cũng như nhìn nhận một cách tổng thể đội ngũ trí thức Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử cho thấy nổi lên những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 2Một là, trí thức Việt Nam có lịch sử hình thành hoàn toàn khác với trí
thức ở các nước phương Tây và các nước phương Đông Nếu như ở châu Âu
có thời kỳ lịch sử khá dài mà các tăng lữ là đại diện của những người có học thức, và sau đó là những người giàu có học thức, và sau đó là những người giàu có, “ đặc quyền” về lao động trí óc; nếu như ở Trung quốc trước kia đám quan lại có học thức là bộ phận cơ bản của tầng lớp trí thức, thì ở Việt Nam, suốt 10 thế kỷ( 1075- 1919 ), trong hàng vạn tú tài, cử nhân và trên 3000 nhà khoa bảng có nhiều người đã từ đám bình dân mà vươn lên thành những sĩ phu, đại diện cho trí tuệ của dân tộc trong quá trình phát triển của đất nước
Hai là, trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc rất
sâu đậm, luôn luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc của quốc gia, sự thống nhất của đất nước Suốt trong quá trình lịch sử dựng nước, giới trí thức Việt Nam luôn trăn trở trước vận mệnh của dân tộc, của nhân dân Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc đó được thể hiện là, họ luôn gắn bó với nhân dân,
có mặt cùng với nhân dân ngay những ngày đầu dựng nước và trong suốt những tháng năm giữ nước Bằng kiến thức của mình, người trí thức đã góp phần xây dựng nền văn hoá vẻ vang, lâu đời của dân tộc, góp phần hướng trí tuệ Việt Nam vào việc phòng chống thiên tai, phát triển sản xuất, tạo nên bản sắc phong phú, đa dạng của nền kinh tế Việt Nam Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của người trí thức Việt Nam còn được thể hiện đặc biệt ở vai trò của họ trong các cuộc chiến đấu vì sự nghiệp bảo vệ đất nước, chống kẻ thù xâm lược phương Bắc và cả trong thời kỳ đất nước bị Pháp đô hộ với tư tưởng bất hợp tác với giặc, hoặc tham gia một cách tích cực vào các cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân Tinh thần dân tộc của đội ngũ trí thức Nho học Việt Nam còn được thể hiện ở chỗ là tuy tiếp thu văn hoá Hán, tiếp thu Nho giáo, nhưng họ vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc mình Họ học Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử theo chương trình Hán học, viết bằng chữ Hán, dùng nhiều điển tích lấy từ sách Hán Tuy nhiên toàn bộ các tác phẩm văn học chữ Hán của trí thức Việt Nam lại khẳng định mạnh mẽ nền độc lập dân tộc, động viên khích lệ lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và ý chí chống xâm lược Mặc dù còn có những hạn chế nhất định do ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng về đại thể số đông trí thức vẫn phát huy được truyền thống của mình là gắn bó với nhân dân, với thực tiễn, độc lập suy nghĩ và sáng tạo, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc
Ba là, dân tộc Việt Nam là một dân tộc văn hiến, có truyền thống tôn
trọng trí thức Các triều đại phong kiến nối tiếp nhau ở những mức độ khác nhau đều nhận thức được vai trò của trí thức đối với hưng vong của đất nước Mấy trăm năm trước, Lê Quý Đôn đã có sự tổng kết tài tình: “ Phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng” Sự hưng thịnh của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào vai trò và thái độ của tầng lớp trí thức đối với thể chế xã hội Bài ký đề danh Tiến sĩ khoa nhâm tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) viết: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao Nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi suống thấp
Trang 3Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia như thế, cho nên quý chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng”1
Từ chỗ nhận thức như vậy, trên thế giới các nhà nước phong kiến đã thi hành những chính sách rất thiết thực, hữu hiệu nhằm đào tạo, tập hợp , sử dụng trí thức vào việc quản lý xã hội, quản lý đất nước, phát triển văn hoá Đó là việc
mở trường lớp, khuyến khích việc học, coi trọng việc tuyển chọn hiền tài thông qua thi cử; có chính sách trọng thưởng, và chính sách sử dụng đối với những người đỗ đạt với những chính sách đúng đắn như vậy, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã có được một đội ngũ trí thức phát triển khá đông đảo Họ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước qua các thời kỳ lịch sử
Vai trò của trí thức Việt Nam được thể hiện trước hết ở chỗ họ thực sự
là lực lượng góp phần xây dựng nền văn hiến vẻ vang lâu đời của dân tộc ta Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của các bậc hiền tài: Tô Hiến Thành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật
Duật, Chu Văn An, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trãi, Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Đào Duy Từ vv Với nhiều cương vị khác nhau, người là quan trường, người là nhà thơ, nhà văn, nhà sử học, nhà y học, nhà quân sự, nhà tư tưởng, nhà giáo vv Các trí thức các kẻ sĩ đó tuy thuộc thời đại khác nhau, nhiều địa phương khác nhau; mỗi người có mặt mạnh, mặt yếu khác nhau nhưng tựu trung lại họ đều
là những điểm sáng về văn hoá, những bậc tài cao đức trọng Họ không chỉ để lại cho đời sau những áng thơ bất hủ, mà ở họ còn là những vị tướng tài ba mà tài lược quân sự của họ đã nhiều lần làm cho kẻ thù khiếp sợ như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo Họ vừa là những nhà thơ, nhà văn lớn, lại vừa là những người thầy lớn như: Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Nguyễn Văn Siêu-những người đã đạo tạo biết bao nhiêu thế hệ học trò, góp phần bổ sung, làm đông đảo thêm đội ngũ trí thức Việt Nam
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam còn ghi nhận tên tuổi nhiều nhà trí thức mà những đóng góp của họ thực sự gắn liền với các chặng đường phát triển của dân tộc Đó là Hưng Đạo Vương Trâng Quốc Tuấn, nhà quân sự và chính trị thiên tài của dân tộc ta ở thế kỷ XIII đồng thời
là một trí thức có trình độ học vấn uyên thâm, thông suốt cổ kim Ông đã tổng kết kinh nghiệm những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta trong nhiều thế kỷ về trước và từ đó đã rút ra những kết luận chính xác về quy luật của những cuộc chiến tranh giữ nước Đó là Nguyễn Trãi, nhà trí thức kiệt xuất của nước Đại Việt ở đầu thế kỷ XV Ông không những tinh thông toàn kiến thức đương thời, mà còn hiểu biết sâu rộng về đời sống xã hội trong nước, ngoài nước, thấu suốt nỗi đau khổ và nguyện vọng của nhân dân; nắm được chỗ mạnh, chỗ yếu của kẻ địch Từ đó, ông đã có những cống hiến quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Lê Quý Đôn là nhà bác
1 Tuyển tập văn bia H N à N ội, tập 1.
Trang 4học lớn, đã sáng tác và để lại cho đời sau 40 tác phẩm đồ sộ gồm hàng trăm quyển về triết học, sử học, dân tộc học, địa lý, kinh tế, phấp luật, tôn giáo, giáo dục, văn hoá nghệ thuật: những bộ sưu tầm thơ ca, văn xuôi và mấy trăm bài thơ do ông sáng tác Suốt mấy chục năm, trên đường đi từ Bắc vào Nam, ông đã tìm tòi, phát hiện ra nhiều tư liệu đặc sắc như bia đá, chuông đồng cho đến thơ ca Ông đã gắn mình với đời sống thực tiễn, quan tâm đến những vấn
đề do thực tiễn đặt ra Gần 200 loại lúa mà ông miêu tả tỉ mỉ trong Vân đài loại ngữ và phủ biên tạp lục, với những lời khuyên nông gia, thể hiện nhiệt
tình, sự thông cảm sâu sắc của ông với nông dân, ý nguyện thiết tha của ông đóng góp vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp của đất nước Nối gót các nhà trí thức lỗi lạc ấy, rất nhiều trí thức nổi tiếng cũng được liên tục xuất hiện khiến cho đất nước ta “ tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt không thể nào thiếu” Vai trò của phong kiến Việt Nam còn thể hiện ở phẩm chất , đạo đức, ở tinh thần trách nhiệm đối với công việc, sẵn sàng vì nghĩa lớn mà không sợ nguy hiểm, liên luỵ đến bản thân Đó là trường hợp của Chu Văn An( đời Trần), Nguyễn Bỉnh Khiêm ( đời Mạc) đều dâng sớ chém bọn loạn thần, nịnh thần, khi không được chấp nhận đã cương quyết cáo quan Đó cũng chính là trường hợp Nguyễn Trường Tộ đề xuất một số cải cách để đổi mới
xã hội Việt Nam vào thế kỷ XIX
2 Quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam trong giai đoạn đầu của lịch sử cho thấy người trí thức Việt Nam xuất hiện trong lịch sử như người đại biểu chân chính về tư tưởng và văn hoá, về tài năng và trí tuệ của cả dân tộc Cùng với sự phát triển của sản xuất, của thực tiễn dựng nước
và giữ nước, sự hiểu biết của dân tộc ta về giới tự nhiên, về đời sống xã hội và chính bản thân con người cũng dần dần được nâng cao Chủ nhân của những kiến thức ngày một phong phú đó chưa phải là một tầng lớp riêng biệt của xã hội mà chính là khối cộng đồng người Việt Nam đã liên tục qua nhiều thời đại vừa đấu tranh với thiên nhiên, với chống xâm lược và áp bức Từ tuổi bình minh của xã hội ta, những thành tựu huy hoàng của thời đại Hùng Vương và
Âu Lạc đã chứng minh sự phong phú của trí tuệ Việt Nam Những di vật khảo
cổ học ngày nay chúng ta sưu tầm được đã chứng minh điều đó Những công
cụ sản xuất bằng đá và bằng kim loại Những đồ trang sức, đồ gốm, đặc biệt
là trống đồng và vũ khí bằng đồng được chế tạo từ trước công nguyên, đã chứng tỏ rằng: ngay từ bấy giờ, ông cha ta đã có sự hiểu biết tinh tế về hình khối và trọng lượng, về quy luật chất lượng và số lượng, về âm thanh cũng như về thuộc tính của kim loại, của động vật, thực vật Những hoa văn trên các trống đồng, trên đồ gốm và đồ trang sức thời bấy giờ cũng đủ khẳng định trình độ thẩm mỹ của người Việt Nam lúc ấy đã nhận thức được tính đối xứng và mối quan hệ phức tạp giữa các đường thẳng và đường cong, đã tạo
ra được những giá trị vật chất và tinh thần đáng kể Văn học dân gian, đặc biệt là các truyện thần thoại cũng nói lên những hiểu biết của người Việt Nam
Trang 5lúc bấy giờ về các hiện tượng tự nhiên và xã hội, đồng thời phản ánh nguyện vọng và khả năng, ý chí, ước mơ của họ Lúc đó xã hội chưa có sự phân hoá giai cấp rõ rệt, chưa có sự phân công lao động trí óc và chân tay Cả cộng đồng gánh trên vai mình toàn bộ trách nhiệm lịch sử, sản xuất, chiến đấu, suy nghĩ và sáng tạo Lịch sử trí thức Việt Nam đã bắt đầu từ đó Những người trí thức vô danh đã hoà với tập thể nhân dân và chính tập thể nhân dân lúc đó đã làm nhiệm vụ của người trí thức
Trong thời kỳ hơn một ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân lao động vẫn giữ vai trò là người trí thức tập thể, vẫn đại biểu cho trình độ văn hoá và tư tưởng của tinh thần đấu tranh và sáng tạo của dân tộc Gần 10 thế kỷ, chính sách của phong kiến phương Bắc là đồng hoá người Việt Bởi vậy, cùng với việc truyền bá chữ Hán, các triều đại phong kiến phong kiến Trung Quốc đã áp đặt một nền giáo dục ngoại lai và nô dịch cho đối tượng là con em các quan lại cai trị và một số ít người Việt ở tầng lớp trên, nhằm đào tạo những người giúp việc cho bộ máy cai trị của chúng Cho nên có thể nói suốt một nghìn năm Bắc thuộc, trên đất nước ta chưa hình hành nên một tầng lớp riêng biệt gọi là trí thức của dân tộc Dẫu sử sách cũ còn ghi chép lại có một số nho sĩ người Việt Nam thành đạt và được tuyển cử làm quan như Trương Trọng làm thái thú ở Kim Thành, Lý Kiến làm thứ sở ở Giao Châu, Lý Cần làm tự lệ hiệu uý đời Hán, Tính thiều làm Quảng Dương môn lang ( chức gác cổng thành, sau
đó đã bỏ về giúp Lý Bôn khởi nghĩa và làm quan văn nhà nước Vạn Xuân), Khương Công Phụ làm giám nghị đại phu, em là Khương Công Phục làm Bắc
bộ thị lang đời Đường( Công Phụ và công Phục đều đậu tiến sĩ đời Đường) , nhưng họ đều chưa xứng đáng là những người trí thức tiêu biểu cho dân tộc
Thời kỳ quốc gia độc lập cho thấy chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại của Ngô Quyền vào 938 đã chấm dứt hẳn ách đô hộ kéo dài hơn 1000 năm của phong kiến Trung Quốc Từ đây nhân dân ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ, có đầy đủ điều kiện để xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt Đặc biệt đứng trước yêu cầu phát triển văn hoá của một quốc gia độc lập, các triều đại phong kiến trong thời kỳ này đã hết sức quan tâm đến việc xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức của dân tộc Thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ ( thế kỷ X- thế kỷ XV), sau khi giành được độc lập, các triều Ngô ( 939- 965), Đinh( 968 - 980), Tiền Lê( 980- 1009) vì phải chăm lo củng cố chính quyền
và vì thời gian trị vì của mỗi triều đại lại quá ngắn nên không có điều kiện tổ chức giáo dục Đến đời Lý, hai vua đầu nhà Lý, là Lý Thái Tổ (ở ngôi 1009-1028) và Lý Thái Tông( ở ngôi 1028- 1054), tình hình cũng tương tự như vậy Vào những năm này, những người trí thức đầu tiên của nước ta phần nhiều là những nhà sư Họ không dừng lại ở cương vị một người tu hành thoát tục, mà còn tham gia cả vào những hoạt động nội trị, trong đó có hoạt động giáo dục, chủ yếu là giáo dục Phật học bằng chữ Phạn và chữ Hán Việc giáo dục Nho học với mầm mống từ thời Bắc thuộc chỉ phát triển lẻ tẻ, chưa có vị trí đáng
kể Phải tới thời vua Lý Thánh Tông ( ở ngôi 1054- 1072), giáo dục Nho học mới được chính thức xác lập trên đất nước ta Mở đầu là việc nhà vua cho xây
Trang 6dựng Văn Miếu ( năm 1070), rồi sau đó lập Quốc Tử Giám ( năm 1076) và
mở khoa thi đầu tiên ở Thăng Long (tổ chức vào năm 1075) Tiếp đó, việc học hành và thi cử ngày càng được đẩy mạnh Các kỳ thi Nho học xen lẫn với các kỳ thi Tam giáo Thường xuyên được mở đều đặt dưới các triều đại Lý-Trần, do đó đã tạo ra hàng loạt trí thức, làm cho đội ngũ trí thức nước ta ngày một trở lên đông đảo, đảm nhận các chức vụ của bộ máy chính quyền, thay thế dần đội ngũ trí thức tăng lữ Đặc biệt dưới đời Trần, giáo dục Nho học được tiếp tục phát triển ngày một quy củ hơn Các vua Trần rất quan tâm đến việc mở trường lớp, tổ chức các khoa thi để tuyển chọn người hiền tài Ngoài Quốc Tử Giám năm 1253 nhà Trần( đời vua Trần Thái Tông) còn lập thêm Quốc học viện ở kinh đô Thăng Long; năm 1281 lập nhà học ở phủ Thiên Trường( tỉnh Nam Định ngày nay) Dưới đời Trần, năm 1397, đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly đặt thêm Học quán tại lộ, phủ , châu nhằm thu hút rộng rãi các nho sĩ Cũng dưới đời Trần, lần đầu tiên, các kỳ thi Thái học sinh được phân chia thành 3 hạng ( tam giác) Đến năm 1247 mở khoa thi tiến sĩ
Trên cơ sở của sự phát triển văn hoá, giáo dục, trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều khoa bảng, tiêu biểu cho đỉnh cao trí tuệ dân tộc như Lê Văn Thịnh người đỗ đầu khoa thi Nho học đầu tiên; Nguyễn Hiền khi đỗ mới 13 tuổi; Mạc Đĩnh Chi- Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long12 ( 1304), đời Trần Anh Tông Nhiều người sau này đã trở thành những nhà văn hoá lớn của dân tộc như Chu Văn AN, Trương Hán Siêu, Lê Văn Hưu
Từ thời Lê đến thời Nguyễn (thế kỷ XV đến thế kỷ XIX), sau 20 năm
bị gián đoạn do cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Minh( 1407- 1428), dưới Triều các vua Lê, một thời kỳ mới của lịch sử dân tộc đã được mở ra, thời kỳ nước đại Việt phát triển hưng thịnh vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam Nền văn hoá dân tộc được phát triển nhanh chóng và đạt được những thành tựu rực rỡ Giáo dục Nho học phát triển mạnh, việc thi cử càng đi vào nền nếp Ngay sau khi lên ngôi, chỉ trong khoảng thời gian ngắn ( 1428-1433), Lê Thái Tổ đã liên tiếp tổ chức nhiều kỳ thi như khoa thi Minh Kinh( 1433), khoa thi Hành Từ ( 1431), thi Văn Sách( 1433) nhằm nhanh chóng tuyển lựa đội ngũ quan lại đảm nhiệm các chức vụ trong bộ máy chính quyền các cấp vừa được thành lập sau khi đuổi được quân minh về nước Tiếp theo Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông, vua Lê Thái Tông( ở ngôi 1460-1497) đã
có nhiều biện pháp phát triển giáo dục Vua đã cho mở nhà Thái học ( Quốc
Tử Giám), lập thêm nhiều phòng học, lấy thêm học trò, định lại các kén chọn
sĩ tử, lập bí thư khố( thư viện ) để chứa ván in sách và phát sách cho học trò Vua đã bổ sung nhiều điều trong thi cử như vào năm 1462, đã hạn hành định lệ” bảo kết thi hương”, quy định những người có đức, hạnh mới được ứng thi Ngoài việc làm long trọng hơn lễ xướng danh, treo bảng, ban mũ áo, cờ biển vinh quy, Lê Thánh Tông còn cho dựng bia Tiến sĩ vào năm 1484 cho các khoa thi từ 1442 đến lúc đó
Trang 7Được sự quan tâm của nhà nước phong kiến, tính từ khoa thi đầu tiên dưới thời Lý đến khi chấm dứt thi cử Nho học, số người đỗ tiến sĩ là trên ba ngàn người, số trạng nguyên là 444 người, thì riêng dưới triều Lê Thánh Tông
đã có trên 500 Tiến sĩ và 9 trạng nguyên Nhiều Tiến sĩ đỗ lúc đó rất trẻ( 18,
19 tuổi), nhiều gia đình, cha con, anh em ruột đỗ đồng khoa, nhiều nhà 3 đến
4 đời đều có người đỗ đại khoa Xung quanh Đông Kinh ( tức Hà Nội ngày nay) có nhiều vùng nổi tiếng về học tập khoa cử như làng Mộ Trạch, làng Kim Đôi, làng Liêu xá
Dưới triều Mạc, nền giáo dục Nho học vẫn được tiếp tục phát triển Tính từ khoa Kỷ Sửu năm thứ 3 Minh Đức( 1529) đến khoa nhâm thìn năm đầu Bảo Định( 1592) đến khoa Nhâm Thìn năm đầu bảo Bảo Định ( 1592) , triều Mạc đã tổ chức được 21 khoa thi, lấy đỗ 84 tiến sĩ, trong đó có 11 trạng nguyên Nhiều người đã trở thành danh nhân, đóng góp xây dựng nền văn hoá dân tộc như: Giáp Hải, Đỗ Uông, Nguyễn Bỉnh Khiêm Từ thế kỷ 16, xã hộ Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng với những cuộc chiến tranh giành quyền lực kéo dài giữa Lê và Mạc, Trịnh và Nguyễn Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển đội ngũ trí thức Nho học Nền giáo dục trong giai đoạn này mặc dầu vẫn được duy trì( thời Lê, Mạc và Lê Trung Hưng đã có
121 khoa thi, lấy đỗ 2241 tiến sĩ (không kể những khoa thi đầu triều Lê, vì không có số liệu), trong đó có 37 trạng nguyên, nhưng nhìn chung là sa sút cả
về nội dung giáo dục và thi cử Nhất là về giáo dục ở Đàng trong( thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh 1533- 1578), các chúa Nguyễn do lo mở mang bờ cõi, tổ chức cho dân khai khẩn đất đai, tổ chức chính quyền cai trị, tuyển mộ binh lính, tích trữ lương thực, đào hào đắp luỹ để chuẩn bị đối phó với chúa Trịnh; vì vậy việc giáo dục ở Đàng trong hầu như không được chú ý Mãi đến những năm 1674, 1995 mới mở một vài khoa thi, nhưng nội dung quá sơ sài, chủ yếu nhằm tuyển chọn những quan lại làm công việc hành chính Số người
đi học và đi thi không được ghi lại, nhưng chắc chắn là rất ít Phải đến đời Tây Sơn, sau chiến thắng quân Mãn Thanh xâm lược, mặc dầu phải giải quyết nhiều việc cấp bách, vua Quang Trung cũng rất chú ý đến sự nghiệp giáo dục Vua đã ban hành “ Chiếu lập học” quy định việc tổ chức học tập đến tận cấp phủ, cấp xã và chấn chỉnh việc thi cử Sự nghiệp giáo dục Nho học được coi trọng và tiếp tục được đẩy mạnh vào thời Nguyễn Sau khi lập lên ngôi vua( 1802), vua Gia Long cũng như các vua đầu triều Nguyễn do nhận thức được vai trò của Nho giáo trong việc củng cố chế độ phong kiến tập quyền chuyên chế nên đã lấy Nho giáo làm quốc giáo, tổ chức và phát triển giáo dục Nho học Hệ thống trường lớp được thành lập đến tận phủ, huyện, tổ chức trường thi và các khoa thi Triều Nguyễn đã tổ chức được 47 khoa thi Hương, lấy đỗ 5232 cử nhân; 39 khoa thi Hội và thi Đình, lấy đỗ 588 người, trong đó
có 292 tiến sĩ và 266 phó bảng Do coi trọng phát triển giáo dục Nho học nên thời kỳ này cũng là thời kỳ xuất hiện nhiều công trình học thuật về sử, địa, hội điển, hiến chương ; nhiều tác phẩm văn học chữ Hán và chữ Nôm có giá trị
Trang 8đã được soạn thảo, gắn liền với tên tuổi nhiều nhà khoa bảng như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thông, Tống Duy Tân, Nguyễn Trường Tộ
Bước sang thời thuộc Pháp (đầu thế kỷ XX); trong thời kỳ đầu ( từ
1884 đến 1919), thực dân Pháp vẫn áp dụng hai hệ thống giáo dục, thi cử phong kiến và thực dân song sang với nhau Bởi vậy mà mặc dầu dưới sự đô
hộ của Pháp, triều Nguyễn vẫn còn tổ chức được 12 khoa thi cử, ở khoa thi Nho học cuối cùng vào năm Kỷ Mùi, niên hiệu Khải Định 4 (1919), tổng số người đã đỗ là 23, trong đó có 5 Hoàng Giáp và 16 Phó Bảng Về phía Pháp, nhằm nhanh chóng có những trí thức phục vụ cho sự cai trị của Pháp, trung thành với sự bảo hộ của bọn thực dân; Pháp đã từng chuẩn bị triển khai nền giáo dục Pháp- như đưa chữ Quốc ngữ vào trường học Nhiều môn học mới: như lịch sử nước Pháp, địa lý, canh nông, thiên văn được đưa vào nhà trường; từng bước thay thế Nho học Đến năm 1919, thực dân Pháp đã bỏ Nho học, bỏ hệ thống thi cử phong kiến Việt Nam, thay thế vào đó chế độ thi
cử duy nhất là thi cử thực dân Do chính sách thống trị của thực dân Pháp như vậy, cho nên Nho học bước vào thời kỳ suy tàn, hệ thống trường , lớp bị co hẹp, dẫn đến số lượng trí thức được đào tạo trong thời kỳ này là rất ít ỏi Đáng
kể như năm học 1937- 1938, thời kỳ tương đối phát triển của chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam cũng như có 400 học sinh trung học 547 sinh viên đại học
và 2.051 học sinh học nghề Đến năm 1945, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ cũ chỉ để lại cho nhà nước cách mạng có khoảng 400 người có trình độ đại học và cao đẳng
Bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sự hình thành và phát triển của đội ngũ trí thức ở nước ta có những bước phát triển mới đó chính là những kết quả của những chính sách đúng đắn của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng trí thức trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đặc biệt trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, việc đào tạo trí thức đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của cách mạng nước ta Đảng chủ trương; “ Đẩy mạnh việc đào tạo một đội ngũ đông đảo trí thức có tài năng trên tất cả các ngành hoạt động xã hội, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, có quyết tâm và nghị lực lớn, dám chinh phục những đỉnh cao của văn hoá, khoa học, kỹ thuật hiện đại để giải quyết những vấn đề cụ thể của đất nước”2 Những chủ trương đúng đắn đó đã tạo ra sự phát triển nhanh chóng của đội ngũ trí thức cả về số lượng và chất lượng So với trí thức đào tạo trước cách mạng tháng Tám( 1945) thì đội ngũ trí thức nước ta hiện nay đã tăng đáng kể về số lượng Trước cách mạng tháng Tám, Việt Nam là một nước thuộc địa dưới sự thống trị của thực dân Pháp Với chính sách “ ngu dân”, chúng chỉ mở rất ít trường đào tạo trí thức người bản xứ, nhằm mục đích phục vụ cho việc cai trị và bóc lột thuộc địa Cả Đông Dương chỉ có vài trường Y dược, Cao đẳng sư phạm, Canh nông, Luật Khoa Đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 40 của thế kỷ XX, một số trường sát
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ IV, NXB ST, H 1977, Tr155-156.
Trang 9nhập để thành lập Viện đại học Đông Dương, với số lượng sinh viên khoảng
từ 500 đến 600 người
Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, một số trí thức yêu nước được Đảng giác ngộ đã tham gia cách mạng và trở thành người trí thức cách mạng đầu tiên Trước cách mạng tháng Tám nước ta: “Chỉ có 140 người
có trình độ cao đẳng, 24 người có trình độ đại học và 8 người có trình độ trên đại học”3 Sau cách mạng thành công, chính quyền dân chủ nhân dân đã chăm
lo mở mang giáo dục, đào tạo cán bộ, xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng Bên cạnh số trí thức cũ được Đảng giác ngộ đã phụng sự cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã đào tạo được lực lượng trí thức mới từ giai cấp công nhân, nông dân, đúng như tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“ Trí thức hoá công -nông” Tính đến năm 1954, miền Bắc đã có tới hàng nghìn sinh viên đại học Sau 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ văn hoá và chuyên môn cao đã có bước phát triển mới Sau 10 năm xây dựng đất nước trong điều kiện hoà bình, công tác đào tạo trí thức diễn ra với nhịp độ cao và quy mô lớn Điều đó được thể hiện ở mức độ tăng trưởng cao về số lượng trường lớp, số giáo viên, sinh viên tốt nghiệp Tính đến năm 1964, số sinh viên theo học ở các trường đại học đã lên tới 34.213 người Sau khi thống nhất Tổ quốc, lực lượng trí thức ngày càng phát triển mạnh Ngoài số trí thức được đào tạo ở các trường đại học, đội ngũ trí thức còn được bổ sung bởi lực lượng trí thức do chế độ cũ để lại ở các tỉnh phía Nam Đó là những cán bộ khoa học ở các cơ quan nghiên cứu, trong các trường đại học, các cơ quan hành chính Nhà nước và phần lớn là các giáo chức với khoảng trên 3 vạn người kể cả trung học, đại học và trên đại học Trong đó khoảng 16.000 người
có trình độ đại học, 250 người là tiến sĩ hoặc thạc sĩ khoa học Kết quả to lớn của sự nghiệp giáo dục và đào tạo là nguồn bổ sung chủ yếu cho đội ngũ trí thức, góp phần đẩy nhanh sự phát triển về số lượng đội ngũ trí thức Tính đến năm 1986 trong cả nước có tới 400 000 người có trình độ đại học
Bên cạnh sự tăng nhanh về số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa nước ta cũng ngày càng nâng cao Trí thức có trình độ cao ngày càng tăng trong cơ cấu đội ngũ trí thức Nếu trước đây tỉ lệ trí thức có trình độ đại học chiếm 20% trong tổng số trí thức, thì đến năm 1986 tỷ lệ đó đã lên tới 36,4 % Từ năm 1976 nước ta bắt đầu mở hệ đạo tạo sau đại học Tính đến nửa sau của thập kỷ 80, đã có 30 trường đại học và viện nghiên cứu được giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ trên đại học Bên cạnh việc đào tạo trong nước, nhiều cán bộ được gửi đi đào tạo ở nước ngoài Vì vậy, số cán bộ có trình độ phó tiến sĩ, tiến sĩ tăng nhanh hàng năm Theo số liệu thống kê, con số cụ thể là: năm 1965 là 107 người; năm 1975 là 1.724 người; năm 1985 là xấp xỉ 6.000 người Đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành cũng ngày một trưởng thành Hàng nghìn giáo sư đang công tác ở các viện, học viện, các trường đại học, đã phát huy vai trò chuyên gia của mình trên các lĩnh vực nghiên cứu,
3 Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số tháng 6- 1981, tr.7.
Trang 10giảng dạy và đưa tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào phục vụ sản xuất Nhiều giáo sư và cán bộ khoa học nước ta đã tham gia vào việc hợp tác nghiên cứu khoa học với nhiều nước trên thế giới Điều đó chứng tỏ khả năng chuyên môn cao của các chuyên gia đầu ngành trong đội ngũ trí thức Việt Nam
Ngoài sự trưởng thành về chuyên môn, dưới sự giáo dục và rèn luyện của Đảng ta, trí thức nước ta đã không ngừng trưởng thành về tư tưởng và phẩm chất chính trị Họ xác định đem tài năng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phục vụ nhân dân là nghĩa vụ thiêng liêng, là mục tiêu
lý tưởng của mình Nhiều trí thức đã phấn đấu để trở thành đảng viên cộn sản, được Đảng giao cho những nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Tỷ lệ đảng viên trong số trí thức ngày càng tăng Tính đến năm 1985, tỷ lệ đảng viên trong những người có trình độ đại học là 28,7 %; trên đại học là 36%
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, do yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ trí thức đã có cơ cấu nghề nghiệp và lĩnh vực hoạt động ngày càng đa dạng, phong phú Nhiều trường đại học mới được thành lập và đào tạo cán bộ khoa học cho nhiều chuyên ngành khác nhau Nếu năm 1954, ta chỉ đào tạo được 10 chuyên ngành thì tới năm 1965 hệ thống giáo dục miền Bắc đã đào tạo được gần 200 chuyên ngành Đội ngũ trí thức làm công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và kỹ thuật phát triển nhanh chóng; ở các ngành Y tế, văn hoá nghệ thuật, quản lý, kinh tế lực lượng trí thức cũng ngày càng đông đảo Họ có mặt ở tất cả các lĩnh vực hoạt động: giảng dạy, nghiên cứu, ứng dụng thực hiện chức năng chuyên môn của mình trên khắp các địa bàn, từ Trung ương đến các đại phương
Trước cách mạng tháng Tám, ở Việt Nam có sự của phụ nữ trong giới trí thức là rất hiếm Chỉ có một số chị em hoạt động trong lĩnh vực giáo dục,
Y tế, văn hoá Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại một nét mới trong cơ cấu của đội ngũ trí thức Đó là sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng cán
bộ nghiên cứu nữ, học sinh và cán bộ giảng dạy, giáo viên nữ trong các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng, các trường chuyên nghiệp và phổ thông Trí thức có trình độ học vấn cao xuất hiện ngày càng nhiều trong lĩnh vực khoa học, quản lý sản xuất, quản lý Nhà nước và nhiều lĩnh vực khác Theo số liệu thống kê, nếu năm 1965 trí thức nữ chiếm 14, 3% trong tổng số trí thức thì năm 1985 là 50,3% Điều đó một phần nói lên năng lực của chị
em, một phần thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước để bảo đảm quyền bình đẳng nam- nữ trong phân công lao động xã hội Sự xuất hiện ngày càng nhiều trí thuộc các dân tộc ít người cũng nói lên nét mới trong cơ cấu đội ngũ trí thức nước ta trong chế độ xã hội chủ nghĩa Mặc dù các dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 15 % trong tổng số dân cư, trí thức người dân tộc chiếm khoảng 3% trong tổng số trí thức toàn quốc Tuy chỉ là con số khiêm tốn, nhưng đó là kết quả của chính sách xã hội đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cho các dân tộc ít người