Trang bị những kiến thức cơ bản về quyền lực, quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước; phương thức giành quyền lực và các yếu tố bảo đảm giành, giữ và thực thi QLCT. Định hướng để người học nắm được phương hướng, biện pháp bảo đảm QLCT của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay.
Trang 1I MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Trang bị những kiến thức cơ bản về quyền lực, quyền lực chính trị,quyền lực nhà nước; phương thức giành quyền lực và các yếu tố bảo đảmgiành, giữ và thực thi QLCT
- Định hướng để người học nắm được phương hướng, biện pháp bảođảm QLCT của nhân dân trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay
II NỘI DUNG
1 Quyền lực
1.1 Quan niệm về quyền lực1.2 Tính chất của quyền lực1.3 Phân loại quyền lực1.4 Phương thức giành quyền lực
2 Quyền lực chính trị
2.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của QLCT2.2 Các chủ thể của QLCT
2.3 Các yếu tố đảm bảo giành, giữ, thực thi QLCT
3 QLCT thuộc về nhân dân và những vấn đề đặt ra ở nước
ta hiện nay
3.1 Chủ thể QLCT ở nước ta3.2 Phương hướng, biện pháp bảo đảm QLCT của nhân dân ởnước ta hiện nay
III THỜI GIAN: 4 tiết
IV ĐỊA ĐIỂM: giảng đường
Trang 2- Gợi mở, hướng dẫn học viên nghiên cứu tài liệu và phân tích làm rõmột số nội dung quan trọng.
VI VẬT CHẤT BẢO ĐẢM:
Giáo án, tập bài giảng, tài liệu tham khảo, máy vi tính
Phần 2: THỰC HÀNH BÀI GIẢNGq
I Thủ tục bài giảng
- Nhận báo cáo, kiểm tra công tác chuẩn bị của học viên
- Báo cáo cấp trên (nếu có)
II Trình tự bài giảng
Thứ tự, nội dung Thời gian Phương pháp Vật chất
Phần 1 60 phút Thuyết trình kết hợp nêu
vấn đề, phát vấnPhần 2 40 phút Thuyết trình, kết hợp nêu
vấn đề, phát vấnPhần 3 60 phút Thuyết trình, kết hợp nêu
vấn đề, phát vấn
III Kết thúc bài giảng
- Định hướng nội dung ôn tập
- Nhận xét kết quả học tập
ĐẶT VẤN ĐỀ
- Quyền lực là phạm trù cơ bản nhất của chính trị học, nói lên thực chất
hoạt động chính trị của mọi giai cấp, đảng phái trong xã hội có giai cấp Với
tư cách là phạm trù trung tâm của CTH, có thể xem CTH là khoa học về cuộc đấu tranh cho quyền lực, là khoa học nghiên cứu giành, giữ và thực thi quyền lực trong xã hội có giai cấp, được tổ chức thành nhà nước
- Các phạm trù khác của CTH như: hệ thống chính trị, đảng chính trị, tổchức chính trị - xã hội, văn hóa chính trị, động lực chính trị , đều có thể đượcxem là những phạm trù phát sinh, cụ thể hóa làm sáng tỏ các phương diệnkhác nhau của quyền lực và quyền lực chính trị
Trang 3Vì vậy, nghiên cứu phạm trù quyền lực chính trị có ý nghĩa quan trọng
để vận dụng trong thực thi bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhândân ở nước ta hiện nay
CÂU HỎI GỢI Ý
1 Thống kê những khái niệm có từ "quyền"; từ "lực"
2 Thử đưa ra quan niệm về quyền lực
3 Tại sao trong đời sống xã hội có người chỉ huy, có người phục tùng?mối quan hệ đó phải chăng là định mệnh?
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Ai là người có quyền lực? Vì sao?
2 Tại sao con người có tham vọng quyền lực?
1 QUYỀN LỰC
1.1 Quan niệm về quyền lực
1.1.1 Quan niệm của các nhà tư tưởng phương Đông
* Quan niệm của Khổng Tử (551 – 479 TCN)
- Cho rằng, con người sinh ra có quyền lực gần ngang nhau.
“Bản tính lành ban sơ làm cho người ta gần giống nhau" (Luận ngữ)
- Do thói quen, nghề nghiệp mỗi người trong quá trình tương tác xã hội đã sở hữu những giá trị xã hội khách nhau và đã hình thành những con người có phẩm chất khác nhau: người quân tử, kẻ tiểu nhân Người quân tử là
những kẻ cai trị, tiểu nhân là những người bị trị, phải phục tùng người cai trị
Như vậy, theo Khổng tử thì phẩm chất của người quân tử đáp ứng đượcyêu cầu tiến bộ chung của cộng đồng xã hội (xét theo bối cảnh đương thời),nhưng:
Trang 4+ Những phẩm chất của người quân tử không tự sinh ra mà do xã hộiđem đến (thói quen, nghề nghiệp)
"Nhưng vì thói quen, nghề nghiệp, kẻ thì giữ được nết lành, kẻ nhiễmtính ác, cho nên họ khác xa nhau” (Luận ngữ)
+ Những phẩm chất này thỏa mãn được nhu cầu của cộng đồng, xã hội.+ Xã hội trao cho người quân tử quyền lực để thống trị xã hội
- Khi bàn về quyền lực nhà nước, Khổng Tử quan niệm quyền lực nhà nước là quyền lực do “thiên định” – Trời trao cho người quân tử quyền lực
Tóm lại, quan điểm của Khổng tử về quyền lực là:
- Quyền lực nhà nước là quyền lực do "thiên định" Trời trao cho ngườiquân tử quyền lực để thống trị xã hội (thiên mệnh - vâng lệnh trời)
- Nguồn lực quyền lực chính là "đức tin" của con người vào "thiênmệnh" của người quân tử Đức tin vào thiên mệnh là một giá trị xã hội Giá trịnày là nguồn lực của quyền lực, khi nhà vua sử dụng nó để cai trị đất nước thì
giá trị này trở thành quyền lực nhà nước.
* Quan niệm của Lão Tử
Ông cho rằng, nguồn gốc của quyền lực trong xã hội, quyền lực nhà nước là việc thực hiện việc cai trị xã hội, để xã hội đó vận động theo đúng
"đạo" (con đường) Quyền lực đó thuộc về bậc thánh nhân - những người biết
"đạo" Vì:
- Theo ông, thế giới tự nhiên hay xã hội đều có những quy luật, đường đi
- "đạo" - của nó Con người sống trong thế giới này nếu hiểu biết “đạo” sẽ sángsuốt và hành động thuận theo quy luật này sẽ có sức mạnh cải biến con người
và xã hội
Trang 5- Chỉ có thánh nhân mới là người nắm được “đạo”, vì vậy, việc dẫn dắt,cai trị dân chúng, thiết lập và duy trì trật tự, ổn định xã hội là việc của các bậcthánh nhân.
Lão Tử cho rằng: nếu trị nước theo "đạo" thì sẽ "vô vi nhi trị"- tức là trị
mà không trị.
* Quan niệm của Hàn Phi Tử (khoảng 280 -233 TCN)
Cho rằng quyền lực trong xã hội là do con người tạo ra, được thể chế hóa thành những địa vị nhất định trong xã hội; quyền lực cá nhân phụ thuộc vào “thế”, "địa vị" của họ trong xã hội
Nghĩa là, theo Hàn Phi Tử, thế và địa vị là những vị trí quyền lực đã
được thiết lập trong xã hội, là cái người ta lập ra, không phải là cái một người
có thể lập ra
Vì vậy: Người có tài mà không có thế thì dù có hiền cũng không thể
khống chế được kẻ hư hỏng
- Kẻ hư hỏng mà khống chế được người hiền là nhờ "thế".
"Kiệt làm thiên tử thì có thể khống chế được thiên hạ, không phải
vì ông ta hiền nhưng cái thế của ông ta nặng
Nghêu làm kẻ thất phu thì không thể khống chế được ba nhà Không phải ông ta hư hỏng mà vì cái địa vị của ông ta thấp.
Dân chúng vốn phục tùng theo quyền thế chứ không mấy người
vì đạo nghĩa mà cảm hóa Uy thế dễ làm cho người ta phục tùng theo mình".
- Những người thực thi quyền lực là những người có thể sở hữu: phẩmhạnh, thế, đức tin - thiên mệnh, đạo (cơ sở của quyền lực) Đó là nhữngthánh nhân, bậc quân tử, những người "hiền"
Trang 61.1.2 Quan niệm của các nhà tư tưởng phương Tây
* Thời cổ đại và trung đại
- Platon (428 – 347 TCN)
+ Quan niệm quyền lực là cái mà người ta có nó có khả năng buộc
người khác hành động theo ý chí của mình.
+ Cơ sở (cái người ta có) của quyền lực là trí tuệ, bạo lực.
+ Quyền lực nhà nước xuất hiện là do nhu cầu của con người Quyền lực nhà nước nằm trong tay những nhà thông thái (nhà triết học).
+ Nguồn gốc của quyền lực chính trị là sự khôn ngoan và trí tuệ.
Bởi do con người tự nhiên có xu hướng sống thành một cộng đồng chính trị Trong cộng đồng, quyền lực thuộc về người nắm giữ sự khôn
ngoan, trí tuệ, mà phẩm chất là hành động ra lệnh của ông sẽ là dựa trên cácquy luật mà ở đó người ta tìm thấy sự hợp lý để có thể tuân thủ"
+ Sự hình thành xã hội, nhà nước là một quá trình lịch sử tự nhiên.
Bởi các hoạt động hiệp tác xã hội của con người đòi hỏi phải có tổ chứcchính trị Mục tiêu của quyền lực là làm cho cộng đồng xã hội ngày một tốtđẹp hơn, người dân có cuộc sống hạnh phúc hơn
* Thời cận đại
- Hobbes (1588 - 1679)
Trang 7+ Cho rằng quyền lực của con người (theo nghiã chung nhất) là khả năng hiện tại của mình để đạt được đến mẫu hình tương lai của Thượng đế.
+ Đưa ra tư tưởng về tập trung quyền lực, việc góp quyền hay uỷ quyền.
Theo ông: Quyền lực lớn nhất là quyền lực của loài người, được tổng
hợp bởi quyền lực của hầu hết con người, hợp lại bởi sự nhất trí (đồng lòng)vào một người
+ Ông đưa ra quan điểm về nguồn gốc và bản chất của quyền lực nhà nước.
>Nguồn gốc của quyền lực là quyền tự nhiên:
"Các cá nhân đều bình đẳng - không có ai sinh ra đã có một đẳng cấp hay vị thế cao hơn ai".
> Bản chất của quyền lực nhà nước là nhờ sự chấp thuận củanhân dân, nhân dân ủy quyền cho một người hoặc những người nắm quyềnlàm bất cứ điều gì cần thiết để duy trì trật tự và hòa bình
Bởi: Theo ông sự kết hợp giữa con người với tự nhiên có trước sự kếthợp con người vói con người Trong quan hệ tự nhiên đó luật tự nhiên chi
phối hay các quyền tự nhiên thống trị Ở đó những Quyền tự nhiên của con
người là tối cao và bất khả xâm phạm Đó là quyền được sống, quyền tự do,quyền sở hữu
Mặt khác, theo luật tự nhiên con người buộc phải kết hợp với nhauthành cộng đồng, xã hội Để bảo vệ quyền tự nhiên của mình mọi thành viêntrong xã hội buộc phải “ký kết” hình thành chính quyền Đó là cơ quan quyềnlực chung mà chức năng gốc của nó chính là bảo vệ những quyền tự nhiêncủa mỗi con người Quyền lực chung đó không phải tự có mà là tổng hợp sự
ủy quyền của mỗi thành viên xã hội, của mỗi công dân
Trang 8Như vậy, Bản chất của quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân,
do nhân dân thiết lập nên để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong xã hội.
Trong quan hệ với nhân dân, về bản chất, nhà nước không có quyền mà chỉ là
thực hiện sự uỷ quyền của nhân dân.
+ Nhà nước – xã hội chính trị - xã hội công dân, thực chất là một “khế
ước xã hội”, trong đó nhân dân nhường một phần quyền của mình để hình
thành quyền lực chung - quyền lực nhà nước.
Nhà nước sử dụng quyền lực chung do nhân dân uỷ quyền để quản lý
xã hội, nhằm bảo đảm quyền lực tự nhiên của mỗi cá nhân, công dân
Theo Ông nhân dân chỉ tuân thủ một nhà nước hiến định hoặc có giớihạn, nhân dân không trao toàn bộ quyền tự nhiên của mình cho nhà nước màvẫn giữ lại quyền tự do tín ngưỡng ngưỡng và quyền nổi dậy làm cách mạng
Vì vậy, tính chất của quyền lực nhà nước là quyền lực dựa trên sự
cưỡng chế nhờ sự chấp thuận của toàn xã hội
+ Bảo toàn quyền tự nhiên của cá nhân con người là tiêu chí căn bản xác định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước Đi qua giới hạn này, chính quyền dễ trở thành chuyên chế, kẻ thù của tự do, đối tượng của cách mạng.
Lốc cơ định nghĩa: “Quyền lực chính trị là quyền làm ra luật mà hìnhphạt cao nhất là cái chết và các hình phạt thấp hơn, để qui định và bảo vệ sởhữu, và quyền sử dụng sức mạnh của cộng đồng để thực thi các luật đó và bảo
vệ đất nước khỏi sự xâm chiếm của nước ngoài”
Khi nhà nước làm sai "khế ước" - hợp đồng, nhân dân có quyền huỷ bỏkhế ước, kể cả cầm vũ khí làm cách mạng
Tóm lại theo ông: Về bản chất, quyền lực nhà nước là thực hiện sự uỷ quyền của nhân dân Tuy nhiên, nhân dân không uỷ quyền toàn bộ, họ chỉ uỷ quyền một phần quyền lực của mình - uỷ quyền có điều kiện, có kiểm soát.
- Môngtétxkiơ (1689 – 1755)
Ông phát triển và cụ thể hóa cách tiếp cận quyền lực từ khía cạnh conngười - xã hội của Lốccơ và cho rằng:
Trang 9+ Quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho nhà nước để thực hiện những mục tiêu nhất định của từng cá nhân, cộng đồng xã hội phát triển phù hợp với tự nhiên nhất.
+ Đưa ra phương thức thực hiện QLCT, QLNN:
Lý thuyết phân quyền về cách tổ chức và thực thi QLCT, QLNN
-Thuyết tam quyền phân lập - quyền lực chế ước quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp)
- Rútxô (1712 – 1778)
+ Tiếp cận quyền lực từ sự thỏa thuận xã hội, nhà nước là một thỏathuận của các thành viên trong cộng đồng, xã hội Nhà nước và xã hội ký kếtmột bản khế ước nhằm thực hiện những mục tiêu chung
Theo ông không ai tự nhiên có quyền uy với đồng loại, thế và lực thìkhông sinh ra quyền, chỉ có công ước là có thể làm cơ sở cho mọi quyền uychính đáng giữa người với người mà thôi
+ Vì vậy, Ông coi sự thỏa thuận cũng là nguồn gốc, cơ sở của quyền
lực chứ không chỉ là sức mạnh Chính công ước là cách thức con người liênkết nhau để dùng sức mạnh chung mà bảo vệ mỗi thành viên
Nguồn gốc của quyền lực nhà nước là nhân dân nhường lại quyền của
mình để nhà nước thực hiện những mục tiêu chung vì sự phát triển của các thành viên trong xã hội.
+ QLNN là sự thỏa thuận của các thành viên trong cộng đồng, xã hội Nhà nước và xã hội kí kết một bản khế ước nhằm thực hiện những mục tiêu
chung.
Như vậy, theo Rútxô:
> Nguồn gốc và cơ sở của quyền lực là sự thoả thuận của các thành viên trong cộng đồng, xã hội thông qua kí kết một bản khế ước.
> Cơ quan được trao quyền, nếu vi phạm khế ước sẽ bị tướcquyền bằng các hình thức khác nhau, kể cả làm cách mạng Nhưng khác
Môngtétxkiơ là nhân dân nhường lại tất cả các quyền cho nhà nước và nhận
lại một phần ngang nhau, bình đẳng như nhau trước nhà nước
*Thời hiện đại
Chính trị học phương Tây chú trọng tập trung vào 3 cách tiếp cận vềquyền lực: (1) tâm lý học, (2) xã hội học; và (3) chính trị học
Trang 10Với những cách tiếp cận từ góc độ CTH, CTH phương Tây có 3 loạiquan điểm xem xét về quyền lực:
` > Loại quan điểm thứ nhất, cho rằng quyền lực là một phạm trù
của khoa học chính trị, nên không thể sử dụng trong quan hệ cá nhân (khôngthuộc phạm trù cá nhân)
> Loại quan điểm thứ hai, quan niệm rộng hơn, một mặt thừa nhận
hình thức cá nhân của quyền lực, quyền lực này khác với QLCT nhưng cũng cócùng những điểm chung nhất định
> Loại quan điểm thứ ba, cho rằng khoa học chính trị nghiên cứu
quyền lực trong tổng thể, trong tất cả hình thức tồn tại của nó
Tóm lại:
Ba loại quan điểm có điểm chung về quan niệm quyền lực là: quyền lực
trước hết là quan hệ giữa hai chủ thể cùng tác động đến nhau trong quá trìnhphối hợp hành động chung
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tựu trung lại, người ta chia
ra bốn phương án tiếp cận về quyền lực
- Cách tiếp cận hệ thống:
Cho rằng, quyền lực không bao giờ chỉ trao cho một người, nó thuộc về cả nhóm và tồn tại cho đến lúc nhóm đó còn tồn tại (Luman).
"Nếu chúng ta nói rằng, anh ta có quyền lực có nghĩa trên thực tế anh ta
đã hành động thay mặt cả nhóm Khi nhóm không trao quyền cho anh ta nữathì anh ta cũng không có quyền lực" - người sở hữu quyền lực phụ thuộc vào
cấu trúc hệ thống.
- Tiếp cận xung đột (lý thuyết chống đối)
Cho rằng, quyền lực là phương tiện để cưỡng bức được sử dụng trong quá trình xung đột, trong đó chủ thể quyền lực đàn áp sự chống đối của đối tượng theo các cấp độ và hình thức khác nhau (tiêu biểu là M.Weber,
D.Kaplan, Jfrench, B.Raven…)
Theo cách tiếp cận này: "Khả năng của một cá nhân hay một nhóm thựchiện ý chí của mình trong quan hệ với cá nhân hoặc nhóm nhờ những sự sợhãi, hoặc thưởng phạt, hoặc trừng phạt bất chấp sự kháng cự; tất cả nhữngphương thức hành động đó gọi là những biện pháp tiêu cực" (chế tài)
Trang 11- Lý thuyết trao đổi nguồn lực
Cho rằng quyền lực là một dạng trao đổi.
Nghiên cứu tình huống khi không có sự ngang bằng về phân bổ nguồnlực giữa các bên tham gia trong quan hệ xã hội, xuất hiện nhu cầu gay gắt vềnguồn lực ở những người đã bị tước mất Lúc đó phía người thừa nguồn lực(đã có quyền lực) đưa một phần nguồn lực ra trao đổi với người thiếu hụt đểlấy hành vi mà mình mong muốn
- Đại biểu tiêu biểu là (P.Blau, D.Hikson; K.Hainings…) Blau phânloại sự trao đổi trong các tình huống phối hợp hành động xã hội và cho rằngquyền lực là một dạng trao đổi Theo ông một người có quyền lực đối vớingười thứ hai, khi người thứ hai thường xuyên phụ thuộc vào người thứ nhất,cần phải nhận được lợi ích mà người thứ hai không thể nhận được ở đâu khácngoài người thứ nhất
- Quan niệm này tương đồng với quan niệm của Rút xô và sau nàyĂngghen cũng nhắc lại về tính khách quan của quyền lực , tức là quyền lựccủa A đối với B xuất hiện không phải do A mong muốn mà do B cần có nó.Nói rộng ra, quyền lực xuất hiện do nhu cầu của B Trong trường hợp nàyquyền lực của A là một nguồn cung
- Phân chia vùng ảnh hưởng
Quyền lực phụ thuộc vào từng tình huống riêng biệt trong phối hợp hành động và tổng thể các hành động đó.
> Khi có sự thay đổi vai trò của các bên tham gia hành động, nếutrong tình huống này bên này có quyền lực, thì trong thay đổi tình huống, lĩnhvực tương tác, bên đó có thể trở thành không có quyền lực
> Nguồn gốc của quyền lực không phải gắn với sự hiện diện củacác cá nhân, mà có nguồn gốc xã hội, như một giá trị xã hội, tồn tại kháchquan ngoài chủ thể của nó
Khi xem xét quyền lực, nhất là trong tình huống được kế thừa haychuyển giao thì người có quyền lực cố gắng giữ quyền lực trước hết và cơ bản
là nhờ xã hội chứ không phải nhờ cá nhân Trong quá trình đó có càng nhiềungười ảnh hưởng ủng hộ, trao quyền thì quyền lực của chủ thể càng mạnh
Như vậy, phẩm chất cá nhân tuy rất cần thiết để có quyền lực nhưngchúng chỉ là một trong những điều kiện chứ không phải là đủ và không phải
là cơ bản, quyết định
Trang 121.1.3 Quan niệm của Mác - Ăngghen
Mác và Ăngghen tuy ít bàn về phạm trù quyền lực, nhưng tất cả những
di sản hai ông để lại, đã đưa ra sự luận giải về quyền lực chính trị mà chủ yếu
là quyền lực của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
- Tiếp cận QLCT, QLNN từ góc độ kinh tế - xã hội
Xã hội tất yếu khách quan phân công lao động xã hội / Địa kinh tế
-xã hội của cá nhân, nhóm, giai cấp khác nhau -/- Mỗi người, nhóm, giai cấp
có quyền lực khác nhau
- Quyền lực xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện của con người;
là một loại quan hệ xã hội, quan hệ phối hợp hành động chung Vì:
+ Con người là con người xã hội, phối hợp hoạt động chung là thuộctính của con người
+ Để đạt được mục đích trong phối hợp hoạt động chung cần có sự tổchức, phân công, quản lý điều hành Xuất hiện người chỉ huy, điều hành vàngười phục tùng để có thể hành động thống nhất
Ăngghen rút ra: quyền uy (quyền lực) là cái tất yếu phải có trong xã hội.
- Nguyên nhân của sự chuyển hoá quyền lực gắn với sự biến đổi điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Ăngghen phân tích sự chuyển hoá quyền lực từ góc độ gia đình đến sự
chuyển hoá quyền lực trong xã hội:
Điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định quyết địnhđến tổ chức, kết cấu của gia đình, chuyển từ gia đình mẫu quyền đến gia đìnhphụ quyền
.Chế độ mẫu quyền: Người phụ nữ là người nắm được lương thực
-nguồn sống chính của gia đình, duy trì sự tồn tại của một gia đình bằng sự khéoléo của họ
.Chế độ phụ quyền: Người đàn ông nắm nguồn sống chính của gia đình
(chăn nuôi, trồng trọt - cần sức khoẻ)
- Chỉ ra nguồn lực của quyền lực là: kinh tế, đạo đức, bạo lực.
Ba yếu tố này đều được xem xét dưới góc độ xã hội:
+ Quyền lực kinh tế: nắm kinh tế thì nắm quyền điều hành xã hội, thốngtrị XH - phải dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước
Trang 13+ Quyền lực đạo đức: dựa trên những giá trị đạo đức được thừa nhận tuân thủ tự nguyện
-+ Quyền lực bạo lực:
- Phương pháp luận trong xem xét quyền lực
+ Xem xét quyền lực từ góc độ kinh tế - xã hội
.Nguyên nhân của sự chuyển đổi quyền lực là sự phát triển của sảnxuất, của lao động
.Sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội dẫn đến sự thay đổi quyền lựctrong xã hội của giai cấp thống trị qua các giai đoạn lịch sử
+ Chủ thể nào nắm được nguồn lực (quyền lực) trong đời sống xã hội,chủ thể đó có quyền lực tương ứng Chủ thể nào nắm được nguồn lực lớn hơn,
có tính quyết định hơn đến khuynh hướng phát triển của cộng đồng, của xãhội, chủ thể đó sẽ có quyền lực lớn hơn và trở thành người thống trị
1.1.4 Khái niệm quyền lực:
Quyền lực là một loại quan hệ xã hội trong quá trình phối hợp hành động chung, do nhờ sở hữu các nguồn lực (các giá trị xã hội), chủ thể này có thể làm thay đổi nhận thức, hành vi của chủ thể khác theo một mục đích nhất định.
- Nguồn lực (hay cơ sở của quyền lực): là những giá trị xã hội như của
cải, tiền bạc, vũ khí, thể chế - tổ chức, văn hóa, tri thức - kỹ năng, thông tin
VD: A buộc B làm việc C (quan sát được)
- Chủ thể của quyền lực: có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng, quốc
gia
- Đối tượng của quyền lực: có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng, quốc gia
- Mục đích của quyền lực: ý chí của chủ thể cá nhân, hoặc nhóm, cộng
đồng, quốc gia muốn thay đổi nhận thức và hành vi của đối tượng trong phốihợp hành động chung
1.2 Tính chất của quyền lực
* Quyền lực là một mối quan hệ mang tính hướng đích
Quan hệ quyền lực: A => B => C
Sự ảnh hưởng: A ó B ó C
Trang 14* Quyền lực luôn cần năng lực thưởng phạt đi kèm đủ lớn để vượt qua sự kháng cự
A đủ khả năng buộc B làm điều C
Năng lực: Bạo lực, của cải, khả năng thuyết phục…
* Quyền lực là một mối quan hệ mang tính phụ thuộc
A có quyền lực như thế nào phụ thuộc vào:
Nhận thức của BNăng lực chống đối của B
- Một người thường có quyền lực đối với người khác khi anh ta kiểm
soát cái mà người kia muốn
- Để tạo ra sự phụ thuộc, người ta phải kiểm soát những gì được xem làquan trọng
* Quyền lực luôn cần có tính chính đáng
- Tính chính đáng: là sự chấp nhận quyền lực một cách tự nguyện, sự
đồng tình của người dân đối với người cai trị, giai cấp và chế độ xã hội
Quyền lực hợp pháp, chính đáng dựa trên sự thừa nhận quyền của chủthể Quyền lực này dựa trên những giá trị như truyền thống, giá trị văn hoá,giáo dục, hệ thống chuẩn mực đạo đức, pháp lý
- Khêu gợi nghiên cứu: Quyền lực nào là quyền lực chính đáng?
1.Tính công ích (mục đích phù hợp) 2.Tính hợp lệ, hợp pháp (được đối tượng thực thi chấp nhận) 3.Tính hợp lý (phương thức thực thi quyền lực khoa học và hiệu quả)
1.3 Phân loại quyền lực
1.3.1.Các tiêu chí phân loại quyền lực:
Có nhiều cách phân loại quyền lực:
- Theo nguồn gốc nguồn lực: bạo lực, của cải, trí tuệ, đạo đức
- Theo các mối quan hệ chủ yếu trong xã hội: gia đình, cộng đồng, nhà nước.
- Theo phương thức thực thi và hiệu quả của quyền lực: cưỡng bức,
điều tiết, ảnh hưởng
Trang 15Mỗi cách phân loại quyền lực trên đều xuất phát từ chách tiếp cận khácnhau về quyền lực, tuy nhiên giữa chúng không có sự mâu thuẫn hay loại trừlẫn nhau mà chỉ làm phong phú thếm các góc độ nhân biết về quyền lực.
* Tham khảo một số tiêu chí phân loại quyền lực
- Dựa theo nguồn gốc của quyền lực:
(French và Raven cho rằng có một số loại quyền lực)
+ Quyền lực cưỡng bức
Buộc người khác làm điều họ không muốn Quyền lực này dựa trên sự
sợ hãi;
+ Quyền lực ban thưởng
Quyền ban thưởng cho người dưới quyền vì họ đã hoàn thành một công việcđược giao
+ Quyền lực hợp pháp
Quyền lực có được nhờ vị trí mà người đó nắm giữ, được xã hội tôntrọng và thừa nhận Tức là, nhân dân hay người dưới quyền tuân thủ vị trí củaanh A, chứ không phải vì bản thân con người A
+ Quyền lực tham chiếu
Quyền lực có được nhờ mối quan hệ với người có quyền lực Loại quan
hệ này thường được sử dụng mềm hơn nhưng rất có hiệu quả
Ví dụ: Qua vợ xếp hoặc xếp để tiếp cận xếp hay nhờ vả công việc
+ Quyền lực chuyên gia
Quyền lực có được nhờ thuần thục những tri thức - kỹ năng nhất định
và đáp ứng được yêu cầu của một tổ chức nào đó
- Dựa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Quyền lực chính trị;
+ Quyền lực kinh tế;
+ Quyền lực văn hóa;
+ Quyền lực tôn giáo;
+ Quyền lực gia đình
- Dựa vào thời gian