1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng Anh

23 1,7K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 30,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng AnhSKKN Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói Tiếng Anh

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, chúng ta đã thấy rõ rằng ngoại ngữ là yếu tố đặc biệt góp phần phát

triển khả năng của mọi dân tộc Cùng với sự phát triển vũ bão của cuộc “Cách mạng khoa học-công nghệ”, chiến lược phát triển ngoại ngữ đã trở thành bộ phận

tất yếu của chiến lược con người cho tương lai ở mọi quốc gia Ngoại ngữ tạo điềukiện để cho các dân tộc trên thế giới ngày càng hiểu và xích lại gần nhauhơn.Việt Nam đang đứng trước thách thức to lớn có tính chất sống còn trong líchsử: phải tìm ra con đường sáng tạo để có thể hội nhập vào khu vực và thế giới, thựchiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa, xây dựng, phát triển đấtnước trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin Vì vậy, mục tiêu chiến lược củangoại ngữ gắn chặt với những mục tiêu lớn của giáo dục và đào tạo, được xác địnhtrên 3 bình diện: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ngoại ngữnói chung và tiếng Anh nói riêng có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệpgiáo dục đào tạo và trong sự phát triển của đất nước

Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và vùng lãnh thổ, là

ngôn ngữ chính thức của EU (European Union) Các sự kiện quốc tế, các tổ chức

toàn cầu,… cũng đều coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp thông dụng Ngoài ra,tiếng Anh được hơn 400 triệu người trên toàn thế giới dùng làm tiếng mẹ đẻ, hơn 1

tỷ người dùng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai Để tìm được một công việc chấtlượng cao, giao tiếp với thế giới bên ngoài, tiếp cận những nguồn khoa học mớithế hệ trẻ Việt Nam đã chú trọng học tập và trau dồi vốn tiếng Anh qua nhiều hìnhthức Vì vậy, nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực bắt buộc ngoài điều kiện có trình độchuyên môn cao thì khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc và giao tiếp phảichuyên nghiệp, đây chính là vần đề nghiêm trọng của người lao động và người sửdụng lao động Do vậy việc giao tiếp tốt bằng tiếng Anh sẽ giúp cho mọi người cónhiều cơ hội làm việc tại các công ty nước ngoài với mức lương cao và có thểthăng tiến nhanh hơn trong công việc

Nắm bắt được tình hình trên, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định

1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 Về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020" Nhiệm vụ đặt ra là xây

dựng và triển khai chương trình mới đào tạo ngoại ngữ bắt buộc ở cấp học phổthông đạt các bậc trình độ như sau: tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theoKhung năng lực ngoại ngữ (KNLNN) hay là A1 của Khung tham chiếu chung của

Châu Âu (Common European Framework of Reference, viết tắt CEFR); tốt nghiệp

trung học đạt trình độ bậc 2 theo KNLNN hay là A2 của CEFR; tốt nghiệp trunghọc phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo KNLNN hay là B1 của CEFR

Đối với các huyện miền núi nói chung, huyện Krông Ana - tỉnh Đaklak nóiriêng việc dạy và học môn Tiếng Anh ở cấp tiểu học còn gặp nhiều khó khăn về cơ

sở vật chất, nguồn nhân lực và tư liệu dạy học Với trường tiểu học Nguyễn ThịMinh Khai nơi tôi đang công tác cũng nằm trong tình hình chung của huyện Đa số

Trang 2

học sinh có hoàn cảnh khó khăn, các em không có đủ đồ dùng học tập và sách giáokhoa để phục vụ cho việc học Thực tế là các em chưa thực sự yêu thích môn tiếngAnh, còn ham chơi và không quan tâm việc học Đặc biệt là trong việc thực hànhnói tiếng Anh, thụ động trong việc học nói, các em chỉ học ở trên lớp, không học ởnhà vì vậy kỹ năng nói đối với học sinh hiện nay còn quá yếu Các em thường ngạingùng khi nói trước đám đông, không có thói quen tranh luận trong lớp hoặc nêu ýkiến của mình dù đúng hay sai, nhất là khi có mặt thấy cô giáo Tâm lý của họcsinh là một bạn trong lớp nói sai, các bạn trong lớp cười ồ lên, điều này làm hạnchế sự tham gia bài học của học sinh và làm học sinh thụ động khi nói tiếng Anh.Đây là lý do tại sao học sinh các cấp học nói chung, học sinh tiểu học nói riênghạn chế trong phát âm và nói tiếng Anh Ngoài ra, trong lớp học sinh tiểu học rấthiếu động, thiếu tập trung, hay nói chuyện… Ảnh hưởng rất nhiều trong việc họctiếng, thực hành nói tiếng Anh Hơn nữa, trong một giờ học không đảm bảo đủthời gian cho học sinh thực hành nói tiếng Anh vì các em phải học các kỹ năngkhác.

Từ những khó khăn và trăn trở trên, tôi đã suy nghĩ tìm tòi, chắt lọc, học hỏicác đồng nghiệp đi trước rút ra một vài biện pháp có thể áp dụng trong việc rèn

luyện kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Một vài biện pháp giúp học sinh lớp 5 rèn kỹ năng nói tiếng Anh” để nghiên cứu và đóng

góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng môn tiếng Anh trường Tiểuhọc Nguyễn Thị Minh Khai nói riêng, và tất cả các trường tiểu học trên địa bànhuyện Krông Ana nói chung ngày một tốt hơn

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

- Đề tài đưa ra một vài biện pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh lớp 5 nhằm rèncho học sinh thói quen học nói tiếng Anh qua các tiết học một cách chủ động

- Nghiên cứu thực trạng, tìm ra các biện pháp, giải pháp giúp học sinh tự tinvà mạnh dạn khi giao tiếp tiếng Anh trong lớp học và ngoài lớp học

- Giúp học sinh đủ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp Giúp các em giảm áp lựctự ti khi nói sai, tạo thói quen nói tiếng anh mọi lúc và thái độ học tích cực trongmỗi học sinh

- Khuyến khích học sinh tự học, tự rèn luyện kỹ năng nói, tạo niềm vui vàhứng thú học tiếng Anh trong trường tiểu học

- Nâng cao chất lượng mũi nhọn trong nhà trường và của địa phương

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu về một vài biện pháp rèn luyện kỹ năng nói cho học

sinh lớp 5

4 Giới hạn của đề tài

- Thời gian thực hiện đề tài từ năm học 2016-2017

- Nghiên cứu về một vài biện pháp rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 5trường TH Nguyễn Thị Minh Khai, xã Ea Bông, huyện Krông Ana, tỉnh Đaklak

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu

a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Phương pháp phân tích-tổng hợp tài liệu: nghiên cứu các khái niệm công cụ,tình hình dạy học ngoại ngữ, các văn bản, tài liệu, sách, báo…

- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập: tìm hiểu thực trạng họcngoại ngữ của huyện và trường TH Nguyễn Thị Minh Khai huyện Krông Ana

b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra khả năng giao tiếp của học sinh trong và ngoài lớphọc, trao đổi, phỏng vấn học sinh…

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, rút ra từ thực tế và công tác giảng dạy đểtìm nguyên nhân và đưa ra biện pháp, giải pháp hiểu quả

- Phương pháp khảo nghiệm, thực nghiệm, quan sát học sinh khi thực hành vàgiao tiếp

c) Phương pháp thống kê toán học:

- Khảo sát học sinh trước và sau khi thực hiện đề tài, tổng hợp kết quả trongquá trình thực hiện

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

Những năm gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo rất quan tâm đến chất lượng giáodục của bộ môn tiếng Anh từ tiểu học đến Trung học phổ thông (THPT) TiếngAnh được xem là môn học chính thức trong các cấp học và trong các kỳ thi Biếtđược tầm quan trọng của tiếng Anh trong xã hội ngày nay, Bộ Giáo dục và Đàotạo đã có nhiều sự đổi mới về cách dạy và học môn tiếng Anh trong những nămgần đây như thay đổi sách giáo khoa (SGK); thay đổi phương pháp giảng dạy,nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh

Xác định được tầm quan trọng của tiếng Anh, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành quyết định 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 về việc phê duyệt Đề án

"Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020"

với mục tiêu chung là: “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệthống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở cáccấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt vềtrình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một sốlĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp,cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giaotiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biếnngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mục tiêu cụ thể là triển khai thực hiện chươngtrình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổthông Ngày 26/8/2016, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã ký ban hành Chỉ thị số

Trang 4

3031/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dụcvề việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTH năm học 2016 -2017 như sau:

“Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu triển khai chương trìnhngoại ngữ 10 năm đối với giáo dục phổ thông Hỗ trợ các trường đại học sư phạmvà cao đẳng sư phạm triển khai đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ theochương trình ngoại ngữ mới; xây dựng chương trình và triển khai bồi dưỡng giáoviên giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, giảng dạy chuyên ngành bằng ngoại ngữ.Xây dựng, hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa, hệ thống học liệu ngoại ngữtrực tiếp và trực tuyến đáp ứng mục tiêu đào tạo chung Xây dựng chương trình, tàiliệu dạy và học ngoại ngữ tăng cường, chuyên ngữ và song ngữ ở các cấp học vàtrình độ đào tạo Triển khai đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giánăng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên theo chuẩn đầu ra ngay trong quá trìnhvà theo kết quả từng giai đoạn giáo dục, đào tạo Tiếp tục xây dựng các định dạngđề thi theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam và từng bước hoànthiện, phát triển ngân hàng đề thi quốc gia Nghiên cứu xây dựng hệ thống trungtâm khảo thí ngoại ngữ quốc gia Tiếp tục triển khai dạy học ngoại ngữ theo đề án

2020 áp dụng cho chương trình mới hiện nay”

Trong việc học ngoại ngữ, kỹ năng nói là một trong các kỹ năng quan trọng,đòi hỏi người học phải giỏi các kỹ năng nghe, đọc, viết, có vốn từ vựng tốt Kỹnăng nói tốt giúp người học dễ dàng trở nên tự tin trước đám đông hơn, thể hiệnđược bản lĩnh của cá nhân trong mọi lĩnh vực…như giao tiếp với người nướcngoài, giao tiếp trong công việc, thậm chí là dễ dàng tìm được một công việc tốt…

Do đó, tiếng Anh đã trở thành môn học thiết yếu trong chương trình giáo dục tiểuhọc Vì học sinh tiểu học có một số khả năng học ngoại ngữ khá đặc biệt như: khảnăng nắm bắt nghĩa, khả năng sử dụng một cách sáng tạo nguồn ngôn ngữ hạn chế,khả năng học gián tiếp, khả năng tích hợp với hoạt động vui chơi, khả năng ghinhớ, khả năng chú ý, tư duy của học sinh, khả năng đối đáp và nói chuyện, vai tròcủa trí tưởng tượng Yếu tố bên ngoài (khách quan) cũng tác động trực tiếp đến họcsinh là chương trình, sách giáo khoa, giáo viên và điều kiện, môi trường học tập,gián tiếp tác động là gia đình và môi trường xã hội Như mục tiêu giáo dục đã đưa

ra học sinh cấp tiểu học cần đạt được sau khi học xong chương trình tiếng Anh tiểuhọc hiện nay là hiểu và giao tiếp được tiếng Anh một cách cơ bản, chính vì vậygiáo viên dạy tiếng Anh cần trau dồi về kiến thức, thường xuyên đổi mới phươngpháp dạy học giúp học sinh chủ động Lấy học sinh làm trung tâm của hoạt độnghọc nhằm giúp các em phát huy tính tư duy, độc lập, phát triển khả năng học tập,tạo niềm say mê và hứng thú đối với thầy và trò trong từng giờ học Tạo cho các

em niềm đam mê với môn học tiếng Anh nhằm giúp các em đủ khả năng và đạtđược trình độ sau khi hoàn thành chương trình tiểu học

2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu

- Thuận lợi:

Trang 5

Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyệnKrông Ana, của Ban giám hiệu nhà trường trong việc bồi dưỡng chuyên môn vàđầu tư cơ sở vật chất.

Giáo viên trẻ, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, yêu thương học sinh, có trình độtrên chuẩn Giáo viên thường xuyên đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm tòi cáccách thức mới phù hợp trong quá trình dạy học Giáo viên có trình độ đại học sưphạm Tiếng Anh, đạt trình độ B2 theo khung tham chiếu châu Âu; biết ứng dụngcông nghệ thông tin trong giảng dạy Đa số học sinh có khả năng tiếp thu tốt kiếnthức, một số em có năng khiếu môn tiếng Anh

Đa số các em học sinh thích môn học tiếng Anh, thích khám phá, ham tìmhiểu và tích cực học môn tiếng Anh Các em tích cực tham gia các cuộc thi củatrường và nghành tổ chức

Cha mẹ học sinh rất khuyến khích con em mình học tiếng Anh vì họ biết đượctầm quan trọng của tiếng Anh trong việc học ở các cấp phổ thông

- Khó khăn:

Tuy nhiên, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiệnnay Chưa có phòng học riêng phù hợp với học sinh để học sinh có thể phát hy khảnăng giao tiếp Sách giáo khoa thường xuyên thay đổi, học sinh phải làm quen vớicác phương pháp mới và cách thức học mới Tranh ảnh dùng cho bộ sách khôngđủ để đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy của học sinh và giáo viên Trường cóphòng học Tiếng Anh chuyên dụng nhưng đã xuống cấp không thể sử dụng được

Đa số học sinh phát âm và nhấn trọng âm sai do các em bị ảnh hưởng giọngnói vùng miền Mặc dù giáo viên đã hướng dẫn cách phát âm và nhấn trọng âmthường xuyên

Học sinh ngại nói tiếng Anh trong giờ học do nhiều nguyên nhân khác nhaunhư: tâm lý ngượng ngùng, dè dặt, ngại các bạn cười khi mình nói sai

Do lớp học quá đông nên giáo viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng cho mỗihọc sinh

Kỹ năng nói của học sinh còn kém so với đọc và viết Chưa ý thức được vaitrò, mục tiêu của phát triển kỹ năng nói, nên vẫn còn một số học sinh chưa chủđộng tự giác, thiếu tự tin

Hệ thống bài tập luyện kỹ năng nói chưa phong phú để cuốn hút học sinh.Giáo viên dành nhiều thời gian cho việc dạy chưa chú trọng hướng dẫn họcsinh tự thực hành nói tại nhà Học sinh còn lúng túng trong cách phát âm cũng nhưnhấn trọng âm sai, do đó học sinh nói tiếng Anh còn chưa lưu loát

Một số cha mẹ học sinh chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con emmình Đa số cha mẹ học sinh không biết và hiểu nhiều về tiếng Anh Vì vậy, họkhông thể chủ động trong việc hướng dẫn con học tiếng Anh và hướng dẫn con emmình sử dụng một số phần mềm tiện ích trong việc học và giao tiếp tiếng Anh

Trang 6

Trường áp dụng dạy chương trình tự chọn với số lượng là 2 tiết/tuần nên việcdạy theo tiến độ thường chậm hơn so với các trường dạy 4 tiết/tuần Thời gianthực hành nói tiếng Anh trên lớp chưa đủ đảm bảo cho tất cả các em học sinh, chonên đa số các em học sinh còn chưa tự giác thực hành tại lớp và tham gia vào tiếthọc một cách nghiêm túc

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

- Giáo viên nâng cao nhận thức, tầm quan trọng của việc dạy Tiếng Anh trongtrường tiểu học để từ đó có những biện pháp và phương thức giảng dạy phù hợp vớiđối tượng học sinh, tâm huyết hơn với nghề dạy học

- Thông qua các cách thức giáo viên áp dụng trong dạy học nhằm gây hứngthú cho học sinh tham gia vào giờ học nói tiếng Anh Từ đó học sinh yêu thích mônTiếng Anh hơn

- Học sinh tự tin, mạnh dạn giao tiếp tiếng Anh không sợ sai Học sinh học kỹnăng nói tốt giúp bổ trợ tốt cho các kỹ năng: nghe, đọc, viết

- Các biện pháp nêu trên giúp học sinh học tốt cách phát âm và ngữ điệu,nhằm hỗ trợ các em nói tốt tiếng Anh

- Giáo viên dễ dàng bao quát và kiểm soát lớp học, quân tâm hơn đối với mỗicá nhân học sinh

- Các bài học với nhiều hình ảnh và hoạt động mang tính sư phạm cao giúp tiếthọc trở nên sinh động không gây nhàm chán cho học sinh, giờ học đạt hiệu quả cao

- Tích hợp dạy và học với nhiều nguồn tư liệu giúp học sinh mở rộngkiến thức và sự hiểu biết, động viên, khuyến khích học sinh tham gia các cuộcthi như: Tài năng nói tiếng Anh cấp tiểu học (OTE); Tiếng Anh qua mạng(IOE); học qua các kênh như mạng internet, đài, báo… tạo cho các em nhữngsân chơi bổ ích

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

Biện pháp 1: Rèn luyện kỹ năng phát âm, nhấn trọng âm và ngữ điệu trong

từ và câu cho học sinh.

- Mục đích: Giúp học sinh phát âm đúng, nhấn đúng trọng âm và nói đúng ngữđiệu của từ, câu Tạo thói quen phản xạ nhanh cho học sinh khi trả lời các câu hỏi

- Cách thức thực hiện: hướng dẫn học sinh cách học phát âm, nhấn trọng âmvà ngữ điệu trong từ, câu qua các bài học cụ thể

+ Bước 1: Hướng dẫn học sinh đánh trọng âm và ngữ điệu của từ và câu.+ Bước 2: Bật băng, đĩa (giáo viên đọc); học sinh lặp lại nhiều lần (3-4 lần).+ Bước 3: Yêu cầu học sinh đọc theo cặp đôi, nhóm; học sinh đọc cá nhântrước lớp (giáo viên sửa lỗi); hướng dẫn học sinh luyện đọc ở nhà

- Ví dụ: áp dụng cách rèn luyện kỹ năng phát âm, nhấn trọng âm, ngữ điệutrong phần Lesson 3 (Phần 1: Listen and repeat) của các bài học (sách Tiếng Anh 5,tập 1, 2)

Trang 7

Unit 1: What’s your address? – Lesson 3 / Part 1: Listen and repeat/ trang 10 SGK Tiếng Anh 5 tập 1.

Unit 17: What would you like to eat? Lesson 3/ part 1: Listen and repeat/ trang

50 SGK Tiếng Anh 5 tập 2.

Giáo viên nên kiên trì luyện phát âm cho học sinh để tạo cho các em có thóiquen phát âm đúng và phải phát âm đúng Bởi lẽ, nếu các em bước đầu học tiếngAnh mà phát âm không đúng thì sẽ thành thói quen ảnh hưởng không tốt trong quátrình học và giao tiếp sau này

Sau đây tôi xin đưa ra một số kiến thức mà bản thân chắt lọc cách thức phát

âm, cũng như cách đọc ngữ điệu đơn giản, để giáo viên rèn cho học sinh khi dạy kỹnăng nói cho học sinh

Trong tiếng Anh phát âm (Pronunciation) gồm:

+ 12 nguyên âm (12 vowels) :

/i:/, /u/, /e/, / ә/, / o/, / Λ/, /i/ , /u:/, / æ/, /З:/, /o:/ /a:/

+ 8 nhị trùng âm (8 dipthongs):

/iә/, /uә/, /әu/, /ei/, /oi/, /eә/, /ai/, /au/

+ 24 phụ âm (24 consonants):

/p/, /d/, /b/, /f/, /s/, /n/, /t/, /m/, /l/, /h/, /r/, /z/, /v/, /w/, /g/, /k/, /j/, /ŋ/, /ð/, /ө//ƒ/, /tƒ/ /dδ/, /δ/

+ / i:/ âm / i:/dài : sheep, meal, read, tea ….

+ / i/ âm / i/ ngắn ship, it, sit, bin…

+ / e/ âm e ngắn pen, ten, leg, check, men…

+ / æ/ âm e dài (mở miệng to hơn âm e) man, hat, cat, bag, apple, maths….

+ /Λ/ thực tập âm /æ/ trước, sau đó đưa lưỡi ra sau một chút /Λ/ là âm rất ngắn.

cup, suck, burn, luck, fun, sun…

Trang 8

+ /a:/ Đưa lưỡi xuống và ra sau, /a:/ là âm dài: heart, carp, march….

+ /o/ Thực tập âm /æ/ trước, sau đó đưa lưỡi ra sau và đưa môi ra trước một chút /

o/ la âm ngắn: hot, sock, top…

+ / o:/ Thực tập âm /o/ trước, sau đó đua phần cuối lưỡi lên trên một chút /o:/ là

âm dài: ball, call, sport, four, door, floor…

+ / u/ Thực tập âm /o/ trước, sau đó đưa phần cuối lưỡi ra trước và lên một chút.

/u/ là âm ngắn: book, look, good, cook, …

+ / u:/ Thực tập âm /u/ trước , sau đó đưa lưỡi lên trên và ra sau /u:/ là âm dài:

afternoon, spoon, moon, pool…

+ /З:/ Thực tập âm /o:/ trước, sau đó đưa lưỡi ra trước và lên trên một chút /З:/ là

âm dài : skirt, shirt, nurse …

+/ ә / Phát âm /З:/ trước, rồi phát âm / ә / thật ngắn: son, a camera…

+ / ei/ âm này gồm 2 âm: e và i Trước hết phát âm e, rồi phát âm dài hơn : eee rồi

âm i: wait, game, name, paper…

+ /au/ Thực tập âm æ trước, bây giờ thêm âm u vào: cow, house, brown, town… + / әu/ âm này gồm 2 âm: ә và u phát âm ә trước, bây giờ phát âm dài hơn: әәә rồi

them âm u vào Âm này thật ngắn: phone, woke, some, home …

+ /iә/ âm này gồm 2 âm i và ә, phát âm i trước, rồi thêm ә vào iә : ear, tear, hear,

beer…

+ /eә/ Thực tập âm e trước, phát âm dài hơn, rồi thêm âm ә eә :air, bear, pear,

hair, tear…

+ /ө/ Đặt lưỡi ở hai hàm răng Thổi không khí giữa lưỡi và răng lên trên: thin,

thick, think, three, thirst…

+ /ð/ Thực tập âm /ө/ dùng giọng của bạn phát âm /ð/.: Than, they, there, either…

Các quy tắc nhấn trọng âm cơ bản:

Quy tắc 1: Động từ có 2 âm tiết -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 2

Ví dụ: be'gin, be'come, for'get, en'joy, dis'cover, re'lax, de'ny, re'veal,…

Ngoại lệ: 'answer, 'enter, 'happen, 'offer, 'open…

Quy tắc 2: Danh từ có 2 âm tiết -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'children, 'hobby, 'habit, 'labour, 'trouble, 'standard…

Ngoại lệ: ad'vice, ma'chine, mis'take…

Quy tắc 3: Tính từ có 2 âm tiết -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'basic, 'busy, 'handsome, 'lucky, 'pretty, 'silly

Ngoại lệ: a'lone, a'mazed, …

Quy tắc 4: Động từ ghép -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 2

Ví dụ: be'come, under'stand

Quy tắc 5: Trọng âm rơi vào chính các vần sau: sist, cur, vert, test, tain, tract,vent, self

Ví dụ: e'vent, sub'tract, pro'test, in'sist, main'tain, my'self, him'self …

Quy tắc 6: Với những hậu tố sau thì trọng âm rơi vào chính âm tiết chứa

nó: -ee, - eer, -ese, -ique, -esque, -ain.

Trang 9

Ví dụ: ag'ree, volun'teer, Vietna'mese, re'tain, main'tain, u'nique, pictu'resque,engi'neer…

Ngoại lệ: com'mittee, 'coffee, em'ployee…

Quy tắc 7: Các từ có hậu tố là –ic, -ish, -ical, -sion, -tion, -ance, -ence, -idle,

-ious, -iar, ience, -id, -eous, -acy, -ian, -ity -> trọng âm rơi vào âm tiết liền trước.

Ví dụ: eco'nomic, 'foolish, 'entrance, e'normous …

Quy tắc 8: Hầu như các tiền tố không nhận trọng âm

Ví dụ: dis'cover, re'ly, re'ply, re'move, des'troy, re'write, im'possible, ex'pert,re'cord, …

Ngoại lệ: 'underpass, 'underlay…

Quy tắc 9: Danh từ ghép -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'birthday, 'airport, 'bookshop, 'gateway, 'guidebook, 'filmmaker,…

Quy tắc 10: Tính từ ghép -> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 1

Ví dụ: 'airsick, 'homesick, 'carsick, 'airtight, 'praiseworthy, 'trustworth,'waterproof…

Ngoại lệ: duty-'free, snow-'white …

Quy tắc 11: Các tính từ ghép có thành phần đầu tiên là tính từ hoặc trạng từ,

thành phần thứ hai tận cùng là –ed -> trọng âm chính rơi vào thành phần thứ 2.

Ví dụ: ,bad-'tempered, ,short-'sighted, ,ill-'treated, ,well-'done, well-'known…

Quy tắc 12: Khi thêm các hậu tố sau thì trọng âm chính của từ không thay

đổi -ment, -ship, -ness, -er/or, -hood, -ing, -en, -ful, -able, -ous, -less

Ví dụ: ag'ree – ag'reement; 'meaning – 'meaningless; re'ly – re'liable; 'poison –'poisonous; 'happy – 'happiness; re'lation – re'lationship; 'neighbour –'neighbourhood; ex'cite - ex'citing

Quy tắc 13: Những từ có tận cùng là: –graphy, ate, –gy, cy, ity, phy, al

-> trọng âm rơi vào âm tiết thứ 3 từ dưới lên

Ví dụ: eco'nomical, de'moracy, tech'nology, ge'ography, pho'tography, in'vestigate,im'mediate,…

Các quy tắc ngữ điệu thường gặp:

Quy tắc 1: Câu nói bình thường: chính là câu trần thuật, câu bình thường thìđều xuống giọng cuối câu

Vd: I’m from England; In my free time, I often go camping with my family

Quy tắc 2: Câu hỏi WH: what, where, when, why, whose, whom, who…vàHow: xuống giọng ở cuối câu

Vd: Where are you from?/ How are you?

Quy tắc 3: Câu hỏi Yes/ No: Lên giọng ở cuối câu

Vd: Do you like pets?/ Is your father a doctor?

Quy tắc 4: Câu liệt kê: Cuối câu xuống, sau mỗi dấu phẩy và trước từ “and”lên giọng

Vd: There are four seasons in my country: spring, summer, autumn and winter

Quy tắc 5: Câu hỏi lựa chọn: cuối câu xuống

Vd: Would you like some tea or coffee?

Trang 10

Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân đã chắt lọc và áp dụng khi dạytrọng âm, ngữ điệu cho học sinh Qua giảng dạy tôi thấy chúng rất hiệu quả và cóích trong việc dạy nói tiếng Anh cho học sinh.

Biện pháp 2: Rèn kỹ năng nói cho học sinh bằng hình thức thi nói theo nhóm đôi, nhóm lớn sử dụng tranh ảnh và tạo tình huống.

Mục đích: tăng cường cơ hội tham gia đóng góp xây dựng bài của học sinh;

tăng thêm tần số luyện tập, tiết kiệm được thời gian; tăng thêm cơ hộ cho nhiều họcsinh được làm việc trong cùng một lúc; tăng cường sự giao tiếp, trao đổi, hợp tác,giúp đỡ lẫn nhau của học sinh và tạo điều kiện cho giáo viên làm việc với tư cách làhướng dẫn, tư vấn cho học sinh

Hình thức luyện tập: luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ điệu mới, đoạn

hội thoại, tạo tình huống tương tự giống đoạn hội thoại mà học sinh đã học…Luyệntập giữa giáo viên-cả lớp; nửa lớp-nửa lớp; cặp mở (hai học sinh không ngồi gầnnhau); cặp đóng (hai học sinh ngồi cạnh nhau

Tiến trình thực hiện: Các bước luyện nói cho học sinh:

+ Chuẩn bị nói (Pre-Speaking):

- Giới thiệu chủ đề của bài bằng cách đặt câu hỏi (Who, what, where, how, why)

- Giới thiệu kiến thức ngôn ngữ mới nếu có hoặc ôn lại những kiến thức đã học để giúp các em dễ dàng trong khi luyện nói

+ Luyện nói có kiểm soát (While-Speaking)

- Học sinh dựa vào tranh hoặc mẫu câu gợi ý để luyện nói

- Học sinh luyện nói theo cá nhân, cặp, nhóm dưới sự kiểm soát của giáo viên

+ Luyện nói tự do (Post-Speaking)

- Một vài cặp, nhóm học sinh thực hành nói

- Học sinh vận dụng kiến thức ngôn ngữ để áp dụng vào thực tế

Ghi chú: khích lệ động viên học sinh bằng phần thưởng để tạo sự sôi nổi, tạo

không khí cạnh tranh và sự tích cực của từng cá nhân học sinh trong khi thực hànhnói

- Học sinh thực hành nói theo nhóm đôi:

Trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai là trường áp dụng dạy theo mô hìnhtrường học mới VNEN nên giáo viên dễ dàng chia nhóm đôi, nhóm lớn khi thựchành nói tiếng Anh Học sinh tự giác hơn trong việc làm nhóm vì các em thườngxuyên được học và thực hành theo mô hình này

Ví dụ một tiết thực hành nói tại lớp 5B trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai:

Unit 15: What would you like to be in the future? Lesson 1; part 2: point and say.

Ví dụ: A: What would you like to be in the future?

Trang 11

B: I’d like to be a nurse

A: Why would you like to be a nurse?

B: Because I’d like to look after patients

Mô hình chia nhóm

Ngày đăng: 14/05/2017, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w