1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016

25 640 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 428 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016SKKN Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử Địa lí theo TT22, 2016

Trang 1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu giáo dục tiểu học là đào tạo ra con người chủ động, sáng tạo, sớmthích nghi với lao động, hoà nhập thế giới và góp phần phát triển cộng đồng Cùngvới các thành tố khác, kiểm tra, đánh giá là một khâu then chốt của quá trình đổimới giáo dục phổ thông Vì vậy, để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, bên cạnh việcđổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, thì kiểm tra, đánh giá cũngphải thực sự đổi mới theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo, tích cực hoáhoạt động học tập của học sinh và cần thực hiện trong cả quá trình giáo dục

Trong những năm học gần đây, việc kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học liêntục đổi mới, cụ thể: Thông tư 32 (năm 2009); Thông tư 30 (năm 2014) và Thông tư

22 sửa đổi, bổ sung Thông tư 30 (năm 2016) Mục đích của việc đổi mới trongkiểm tra, đánh giá nhằm giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức

tổ chức hoạt động dạy học; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh

để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của họcsinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật vànhững hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mụctiêu giáo dục tiểu học Đồng thời, giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gianhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập vàrèn luyện để tiến bộ

Công tác đổi mới trong kiểm tra, đánh giá học sinh luôn được Bộ Giáo dụcĐào tạo, các cấp lãnh đạo quan tâm và chỉ đạo sát sao Tại Phòng GD&ĐT Krông

Ana, tháng 12 năm 2014 đã tổ chức thành công chuyên đề Xây dựng Thư viện đề kiểm tra cho các trường tiểu học trong huyện, giúp các đơn vị ra đề có chất lượng

và lưu trữ hiệu quả; tháng 11/2016 tổ chức tập huấn Thông tư 22/2016/TT-BGDĐTquy định về kiểm tra đánh giá học sinh tiểu học Vinh dự hơn giữa tháng 12/2016,bản thân tôi được tham gia tập huấn “Nâng cao năng lực ra đề kiểm tra các mônhọc theo Thông tư 22” tại thành phố Hồ Chí Minh do Bộ Giáo dục và Đào tạo triểnkhai Sau khi tiếp thu, tôi đã nhanh chóng vận dụng ngay tại cơ sở chỉ đạo giáo viênthực hiện ra đề kiểm tra học kì I theo bốn mức độ

Mặc dù đã được tập huấn, chuyên đề nhiều về công tác ra đề song phần lớnvới môn Toán, Tiếng Việt giáo viên thực hiện rất thành thạo, còn đối với các môn íttiết như Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Tin học, Tiếng Anh, Tiếng Ê-đê giáo viên cònlúng túng; chưa biết cách lập ma trận trước khi ra đề; kĩ năng xây dựng câu hỏi và

đề kiểm tra định kì chưa đúng các mức độ, tỉ lệ theo quy định; hình thức các câuhỏi đơn điệu, trùng lặp, Chính vì những lí do trên, năm học này tôi tiếp tục

nghiên cứu đề tài Kinh nghiệm bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi và ra đề kiểm tra môn Lịch sử -Địa lí theo Thông tư 22/2016

Trang 2

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Đề tài đưa ra một số giải pháp, biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng xây dựngcâu hỏi, đề kiểm tra định kì môn Lịch sử và Địa lí theo bốn mức độ cho đội ngũgiáo viên trong nhà trường

Giúp giáo viên xác định được mức độ của từng câu hỏi; có kĩ năng xây dựngcác dạng hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận theo 4 mức độ;biết thiết kế ma trận đề và hoàn chỉnh các đề kiểm tra định kì phù hợp với đốitượng học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

3 Đối tượng nghiên cứu

Kĩ năng xây dựng câu hỏi theo các mức độ và ra đề kiểm tra định kì theoThông tư 22/2016 môn Lịch sử và Địa lí

4 Giới hạn của đề tài

Nghiên cứu thực trạng kĩ năng xây dựng câu hỏi và đề kiểm tra định kì mônLịch sử và Địa lí của đội ngũ giáo viên tại trường Tiểu học Trần Phú năm học2015-2016 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;

- Phương pháp điều tra;

- Phương pháp thử nghiệm;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh;

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

Kiểm tra, đánh giá là một công đoạn không thể thiếu trong quá trình dạy học.Kiểm tra, đánh giá chính xác sẽ có tác dụng giúp giáo viên nắm được cụ thể nănglực học tập của từng em, từ đó có biện pháp cụ thể, thích hợp bồi dưỡng từng nhómđối tượng học sinh, nâng cao chất lượng học tập của môn học Đề kiểm tra chính làphương tiện giúp giáo viên thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá học sinh

Việc dạy Lịch sử và Địa lí ở tiểu học nhằm cung cấp cho học sinh nhữngkiến thức cơ bản về các sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của đất nước Việt Namqua các thời kì từ khoảng năm 700 TCN đến sau 1975 (đối với phân môn Lịch sử);đồng thời giúp các em nắm bắt được các hiện tượng tự nhiên, các lĩnh vực kinh tế -

Trang 3

xã hội của Việt Nam và một số nước trên thế giới (đối với phân môn Địa lí) Thôngqua những kiến thức cơ bản, giáo viên bước đầu hình thành cho học sinh một số kĩnăng: Quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử, địa lí từ cácnguồn thông tin khác nhau; Biết đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thôngtin để giải đáp; Nhận biết đúng các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử và địa lí;Trình bày lại kết quả học tập của mình bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, bảngthống kê; Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống để giải quyết một

số tình huống cụ thể Qua đó giáo dục học sinh luôn có ý thức tôn trọng, bảo vệ cáccảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc và môi trường xung quanh; biết yêuthiên nhiên, con người, quê hương, đất nước

Do đó, khi đánh giá kết quả học tập của học sinh trong môn Lịch sử và Địa líkhông đòi hỏi các em phải học thuộc lòng từng câu, từng chữ trong sách giáo khoa

mà chỉ chú trọng việc trình bày các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, hiệntượng địa lí bằng chính ngôn ngữ của học sinh một cách chính xác và sinh độngdưới nhiều hình thức khác nhau (nói, viết, vẽ, ) Chính vì vậy, việc xây dựng câuhỏi theo bốn mức độ và thiết kế ma trận, đề kiểm tra theo Thông tư 22/2016-BGDĐT giúp cho các đơn vị giáo dục cũng như giáo viên chủ động và thuận lợihơn trong việc đánh giá kết quả học tập của từng học sinh một cách chính xác, sátthực Và để công tác kiểm tra, đánh giá của người dạy thực sự khuyến khích vàthúc đẩy được sự tự kiểm tra đánh giá của người học thì yêu cầu người giáo viêncần biết cách xây dựng hệ thống câu hỏi kiểm tra theo các mức độ để phân hóa đốitượng học sinh; biết ra đề kiểm tra đảm bảo về tính nội dung, tính khoa học, đápứng được yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng môn học, phù hợp với các hình thứckiểm tra và mục đích đánh giá

2 Thực trạng

Trường Tiểu học Trần Phú có 100% học sinh học 2 buổi/ngày; đội ngũ giáoviên nhiệt tình, tự giác, làm việc có tinh thần trách nhiệm, có nhiều kinh nghiệmtrong giảng dạy cũng như công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Bản thân là Phó Hiệu trưởng phụ trách các hoạt động chuyên môn trong nhàtrường, hàng năm chỉ đạo và trực tiếp thẩm định đề kiểm tra định kì các môn họccủa giáo viên Các tổ chuyên môn cơ bản thực hiện đúng quy trình ra đề, khi nộp đề

về nhà trường thẩm định có đầy đủ từ ma trận đề, đề kiểm tra và hướng dẫn đánhgiá

Năm học 2014 - 2015, được sự quan tâm, chỉ đạo của Phòng Giáo dục và

Đào tạo, lãnh đạo nhà trường, bản thân đã thực hiện thành công chuyên đề Xây dựng Thư viện đề kiểm tra và được chia sẻ, nhân rộng thực hiện đến các đơn vị

Trang 4

trong huyện Đa số giáo viên đã xác định được vai trò của Thư viện đề kiểm tra đốivới công tác kiểm tra, đánh giá học sinh, vì vậy đã thực sự đầu tư thời gian, kiếnthức cho chất lượng đề kiểm tra Và thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá khôngnhững giúp học sinh tích cực, chủ động trong học tập mà còn giúp giáo viên thựchiện tốt hơn việc đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đối tượng học sinh, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Bên cạnh những thuận lợi, nhà trường cũng còn một số khó khăn sau:

- Tại phân hiệu Buôn Trấp, 100% học sinh là người dân tộc thiểu số, việcnắm bắt kiến thức các môn học, bài học còn rất nhiều hạn chế Các tổ khối chưa

“phân hóa” đề kiểm tra theo đối tượng học sinh giữa hai điểm trường (nghĩa là cảkhối chỉ thực hiện 01 đề chung) nên việc kiểm tra, đánh giá học sinh đạt kết quảchưa cao

- Đội ngũ giáo viên tuy có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy songmột số giáo viên lớn tuổi ngại đổi mới, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin hạnchế Một số giáo viên còn lúng túng, chưa biết cách lập ma trận trước khi ra đề, kĩnăng xây dựng câu hỏi chưa đúng các mức độ và tỉ lệ theo quy định Vì vậy, côngtác ra đề kiểm tra một số tổ khối thực hiện chưa đúng quy trình và kiểm tra định kìthường lựa chọn đề của tổ trưởng tổ chuyên môn là chủ yếu

- Khi đánh giá thường xuyên, một số giáo viên chưa biết cách phân hóa đốitượng học sinh Trong các tiết học, giáo viên chưa chú trọng đưa thêm hệ thống câuhỏi “mở” nhằm phát huy tối đa năng lực học tập của những học sinh năng khiếunên đa phần các em chưa giải quyết được câu hỏi mức 4 trong bài kiểm tra định kì.Một số giáo viên chưa biết cách lựa chọn nội dung kiến thức trọng tậm để kiểm tranên đề kiểm tra định kì thường mắc lỗi “nhiều về số câu, thiếu về nội dung” hoặccâu hỏi và bài tập đồng dạng, lặp lại kiến thức

Từ những thực trạng trên, hàng năm nhà trường luôn quan tâm việc bồidưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi, đề kiểm tra theo các mức độ, đảm bảo chính xác

cả về cấu trúc, nội dung và hình thức cho đội ngũ giáo viên Bởi thông qua bồidưỡng, giáo viên được học hỏi, trao đổi, rút kinh nghiệm; từ đó có kĩ năng tốt trongquá trình làm đề, mang lại hiệu quả cao trong đổi mới kiểm tra, đánh giá và tạođộng lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục trong nhà trường

3 Nội dung và hình thức của giải pháp

a Mục tiêu của giải pháp

- Nâng cao kĩ năng xây dựng câu hỏi theo bốn mức độ cho đội ngũ giáo viên

Trang 5

trong nhà trường

- Giúp giáo viên thiết lập được ma trận đề, sử dụng hiệu quả ma trận đề để rahoàn chỉnh các đề kiểm tra định kì môn Lịch sử và Địa lí theo Thông tư22/2016/TT-BGDĐT nhằm đánh giá đúng năng lực học tập của các đối tượng họcsinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp

b.1 Xác định những khó khăn, vướng mắc của giáo viên trong quá trình

ra đề kiểm tra định kì

Thực tế, việc ra đề kiểm tra định kì theo các mức độ của tất cả các môn họcnói chung và môn Lịch sử - Địa lí nói riêng đã được triển khai thực hiện trongnhiều năm qua Cụ thể: Thông tư 32/2009 ra đề theo 4 mức độ; Thông tư 30/2014

ra đề theo 03 mức độ: Thông tư 22/2016 ra đề theo 4 mức độ Và bản chất mức độ

2 của Thông tư 30/2014 tương đồng với mức 2 và mức 3 của Thông tư 22/2016.Song điều khó khăn nhất của giáo viên trong quá trình làm đề vẫn là xác định nhầmlẫn mức độ giữa các câu hỏi (mức 2 với mức 3 hoặc mức 3 với mức 4) Chính vìthế, đề kiểm tra định kì của giáo viên xây dựng chưa đảm bảo tỉ lệ số câu, số điểm

và các mức độ theo quy định; phần lớn các đề kiểm tra chưa có câu hỏi mức độ 4

Vì vậy, công tác bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi, đề kiểm tra cho đội ngũ giáoviên đảm bảo tính khoa học, chất lượng luôn là vấn đề đơn vị chúng tôi quan tâm

Mặc dù, Thông tư 22/2016-BGDĐT có hiệu lực ngày 06/11/2016 và đầutháng 02/2017 việc tập huấn nâng cao năng lực ra đề kiểm tra theo TT22/2016 từcấp tỉnh đến cấp huyện, trường mới thực hiện xong Nhưng tại đơn vị TH Trần Phú,ngay đầu tháng 10 chúng tôi đã triển khai sớm đến toàn thể đội ngũ giáo viên nắmbắt tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về các điểm mới trong đánh giáđịnh kì và ra đề kiểm tra theo Thông tư 22/2016

- Đầu tiên, yêu cầu giáo viên tự nghiên cứu Thông tư 22/2016 trên các trangmạng, Website, báo, đài,

- Khi Thông tư chính thức có hiệu lực (ngày 06/11/2016), tiến hành tổ chứctập huấn cấp trường phân tích cụ thể điểm giống và khác nhau khi đánh giá định kì,chú trọng việc thiết kế đề kiểm tra định kì theo các mức độ

Vì giữa hai Thông tư 30 và 22 có nhiều “điều”, “khoản” được sửa đổi, bổsung nên khi triển khai Thông tư 22/2016, tôi định hướng cho giáo viên hiểu kĩ nộidung Điều 10 về “đánh giá định kì” như sau:

+ Khoản 1 Thông tư nêu rõ khái niệm về đánh giá định kì

+ Khoản 2 Sửa đổi đánh giá định kì về học tập: cách đánh giá từng môn học

Trang 6

và hoạt động giáo dục; thời điểm làm bài kiểm tra định kì (bổ sung thêm số lầnkiểm tra đối với hai môn Toán, Tiếng Việt lớp 4 và 5); cách thiết kế đề kiểm trađịnh kì theo các mức độ.

+ Sự khác biệt giữa Thông tư 30/2014 và TT22/2016 là:

để đánh giá học sinh đối với từngmôn học, hoạt động giáo dụcthuộc 1 trong 2 mức sau:

- Hoàn thành

- Chưa hoàn thành

Vào giữa học kì I, cuối học kì I,giữa học kì II và cuối năm học,giáo viên căn cứ vào quá trìnhđánh giá thường xuyên và chuẩnKTKN để đánh giá học sinh đốivới từng môn học, hoạt động giáodục thuộc 1 trong 3 mức sau:

- Thời điểm kiểm tra: cuối học

kì I và cuối năm học

- Các môn học làm bài kiểm trađịnh kì: Tiếng Việt, Toán, Khoahọc, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ,Tin học, Tiếng dân tộc

- Thời điểm kiểm tra:

+ Cuối học kì I và cuối năm học:tất cả các môn học trên

+ Giữa học kì I và giữa học kì II: Đối với lớp 4, lớp 5 có thêm bài KTĐK môn Tiếng Việt và Toán

Từ những việc làm trên đã giúp giáo viên hiểu rõ bản chất của từng mức độnhận thức và hạn chế việc xác định nhầm lẫn mức độ các câu hỏi, bài tập trongkiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trang 7

b.2 Bồi dưỡng kĩ năng xây dựng câu hỏi theo bốn mức độ

Đề bài kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng, từng bước địnhhướng phát triển năng lực và đảm bảo phù hợp với đối tượng học sinh của đơn vị

Vì thế, tùy theo yêu cầu của từng Chuẩn để đặt câu hỏi ở các mức độ thích hợp

- Đầu tiên, cho giáo viên nắm được 6 bước xây dựng câu hỏi theo các mứcđộ:

1 Xác định mục tiêu đánh giá (VD: nhằm đánh giá Chuẩn nào? Yêu cầucần đạt mỗi chuẩn đó là gì?)

2 Xác định mức độ cần đánh giá (Mức 1: nhận biết; Mức 2: hiểu; Mức 3:vận dụng ở mức độ đơn giản; Mức 4: vận dụng ở mức cao)

3 Lựa chọn tình huống, bối cảnh (trường hợp mức độ vận dụng)

4 Lựa chọn hình thức câu hỏi(như các dạng: Đúng – Sai; nhiều lựa chọn;ghép nối; điền khuyết; trả lời ngắn; tự luận; …)

5 Biên soạn câu hỏi; hướng dẫn đánh giá và đáp án

6 Điều chỉnh câu hỏi cho phù hợp nếu thấy cần thiết (nghĩa là: tăng hoặcgiảm độ khó trong câu hỏi bằng cách tăng hoặc giảm thông tin, độ nhiễu, yêu cầu,

- Trình bày, nêu, phân biệt, điền

từ vào chỗ chấm (không cho từ trước), bài tập đúng-sai, nêu

những việc nên hoặc không nênlàm, tìm ví dụ minh họa, so sánh,

giải thích (đơn giản).

Mức 3

Vận dụng KTKN đã học đểgiải quyết những tình huốngđơn giản, quen thuộc, tương tựtrong học tập, cuộc sống

- Dự đoán, suy luận, vẽ sơ đồ, lậpniên biểu, giải thích (ở mức khóhơn theo cách hiểu riêng của cá

nhân: vì sao nói, vì sao, )

Trang 8

Mức 4

Vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết tình huống mới, phức tạp hoặc đưa

ra những phản hồi hợp lí trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt

- Bình luận, đánh giá hoặc giải quyết tình huống bằng cách liên hệ với thực tiễn,…

- Từ bảng gợi ý trên, tôi đưa ra một số ví dụ yêu cầu giáo viên xác định mức

độ của mỗi câu hỏi dưới đây:

* Phần Lịch sử:

Câu 1 Đánh dấu X vào o chỉ mốc thời gian ra đời của nước Văn Lang

Năm 1000 Năm 700 CN Năm 938

o o o o

Câu 2 Vì sao Lý Thái Tổ chọn vùng đất Đại La làm kinh đô ? Câu 3 Trong các nhân vật lịch sử thời Trần, em yêu thích nhất nhân vật nào? Vì sao ? Câu 4 Em có suy nghĩ gì về hành động bóp nát quả cam của Trần Quốc Toản? * Phần Địa lí: Câu 1 So sánh một số đặc điểm tự nhiên của Tây Nguyên và dãy Hoàng Liên Sơn theo bảng sau: Địa danh Địa hình Khí hậu Dãy Hoàng Liên Sơn ………

………

………

………

Tây Nguyên ………

………

………

………

Câu 2 Theo em, nếu rừng rậm Amazon mất đi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến

sự biến đổi khí hậu của trái đất ?

Câu 3 Khoanh vào chữ cái đặt trước ý đúng các câu dưới đây.

1 Một số dân tộc sống lâu đời ở Tây Nguyên là:

A Dân tộc Thái, Dao, Mông C Dân tộc Ba-na, Ê-đê, Gia-rai

B Dân tộc Kinh, Xơ-Đăng, Cơ-ho D Dân tộc Mông, Tày, Nùng

Trang 9

2 Châu Mĩ nằm ở bán cầu nào ?

A Bán cầu Bắc C Bán cầu Tây

B Bán cầu Nam D.Bán cầu Đông

Câu 4 Ở địa phương em không có những hoạt động sản xuất nào mà ở TâyNguyên có ? Hãy giải thích tại sao ở địa phương em lại không có những hoạt độngsản xuất đó ?

Câu 5 Theo em, nếu rừng rậm Amazon mất đi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến

sự biến đổi khí hậu của trái đất ? Em sẽ làm gì để góp phần giảm biến đổi khí hậutrên toàn cầu ?

Giáo viên sẽ dễ dàng xác định và giải thích được:

Mức độ

câu hỏi

Phân mônLịch sử

Phân mônĐịa lí

Lí do để xác định ?

Mức 2: Câu 2 Câu 1 và 2 - HS chỉ vận dụng kiến thức đã

học để trả lời hoặc giải thích

tự lựa chọn và giải thích theo cáchriêng của bản thân

Mức 4: Câu 4 Câu 4 và 5 - HS giải quyết tình huống bằng

cách vận dụng kiến thức đã học vàhiểu biết thực tiễn

Câu hỏi, bài tập trong đề kiểm tra thường tồn tại dưới dạng trắc nghiệmkhách quan hoặc tự luận Vì vậy, tôi chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên kĩ năng xâydựng các dạng hình thức câu hỏi, bài tập như sau:

* Đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan là dạng câu hỏi có thể dùng cho mọi yêu cầu ở mọitrình độ nhận thức Khi xây dựng câu hỏi trắc nghiệm, tôi định hướng cho giáo viênnắm bắt được:

- Xây dựng đa dạng hình thức trắc nghiệm như: điền khuyết, ghép đôi, đúng

- sai, nhiều lựa chọn )

- Cấu trúc câu hỏi nhiều lựa chọn có ba phần: câu lệnh, câu dẫn và cácphương án lựa chọn Trong đó:

+ Câu lệnh (yêu cầu của câu hỏi) và câu dẫn (nội dung câu hỏi) phải rõ ràng;câu lệnh nêu trước câu dẫn

Trang 10

+ Câu dẫn nên dùng ở thể khẳng định, tránh ở thể phủ định.

+ Mỗi câu hỏi thiết kế 04 phương án lựa chọn và sử dụng chữ cái “in hoa” kíhiệu mở đầu cho mỗi phương án (A, B, C, D) Độ dài của các phương án lựa chọnphải tương đồng nhau Tránh xây dựng các phương án gây độ nhiễu quá nhiều vớihọc sinh, hạn chế đưa ra phương án "Tất cả các đáp án trên đều đúng”

Ví dụ về phân môn Địa lí (lớp 4): Khoanh vào chữ cái đặt trước ý trả lời đúng cho câu hỏi sau:

Đồng bằng Nam Bộ có đặc điểm gì ?

A Vựa lúa lớn nhất cả nước

B Vựa trái cây lớn nhất cả nước

C Nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước

D Tất cả các ý trên đều đúng => Đây là phương án hạn chế sử dụng.

- Câu hỏi ghép đôi: thông tin cột A ít hoặc nhiều hơn thông tin ở cột B

Ví dụ: Nối hoạt động ở cột A với một ý ở cột B sao cho phù hợp (phân môn

Địa lí, lớp 4)

A B

1 Hoạt động nông nghiệp điện, phân bón, a) Khai thác dầu khí sản xuất

2 Hoạt động công nghiệp b) Chợ nổi trên sông

3 Nét độc đáo của đồng

bằng sông Cửu Long

c) Vựa lúa, vựa trái cây và nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước

d) Trồng nhiều cây công nghiệp: chè, cà phê, cao su,…

- Câu hỏi điền khuyết:

Nếu cho biết trước từ ngữ: đây là câu hỏi ở mức 1; số từ đưa ra để lựa chọnđiền nhiều hơn chỗ trống để gây nhiễu cho học sinh

Nếu không cho trước từ ngữ: đây là câu hỏi ở mức 2

- Câu hỏi điền đúng - sai (Đ/S), nên - không nên (N/K): không nên xây dựngnội dung của 01 bài học; nên dàn trải mỗi phương án là nội dung của 01 bài học

Ví dụ: Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống :

Trung du Bắc Bộ là một vùng núi với các đỉnh nhọn, sườn thoải Một số dân tộc sống lâu đời ở Hoàng Liên Sơn là Thái, Dao, Mông

Điều kiện thuận lợi để Tây Nguyên trồng được nhiều cây công nghiệp là đất

đỏ ba dan màu mỡ, tơi xốp

Trang 11

Đồng bằng Bắc Bộ do sông Hồng và sông Ba bồi đắp

* Đối với câu hỏi tự luận

Câu hỏi tự luận thường dùng để yêu cầu học sinh nhớ và trình bày lại cáckhái niệm, thông tin đã học (mức 2); giải thích những khái niệm, vấn đề quen thuộc(mức 3) đến tình huống tương đối phức tạp (mức 4) Do đó, khi xây dựng câu hỏi

tự luận, tôi định hướng cho giáo viên rằng:

- Câu hỏi diễn đạt dễ hiểu về yêu cầu và nội dung kiến thức cần đánh giá,tránh làm cho học sinh lạc đề

- Tăng cường câu hỏi mở, câu hỏi phát huy năng lực tư duy, năng lực giảiquyết vấn đề của học sinh

- Câu hỏi mức 3: yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải thíchnhững vấn đề quen thuộc theo cách hiểu, quan điểm của cá nhân

- Câu hỏi mức 4: nội dung câu hỏi phải yêu cầu học sinh vừa vận dụng kiếnthức kĩ năng đã học, vừa vận dụng kiến thức kĩ năng hiểu biết từ thực tế để giảiquyết một vấn đề được đặt ra Vì thế, câu hỏi mức 4 thường ra dưới dạng tìnhhuống, đồng thời khuyến khích ra câu hỏi có nội dung tích hợp kiến thức về lịch sử,địa lí địa phương

Ví dụ 1: Trong các nhân vật lịch sử thời Trần, em yêu thích nhất nhân vật

nào ? Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 5 - 6 câu) thể hiện hành động hoặc việc làmtiêu biểu của nhân vật đó

Ví dụ 2: Ninh Bình là một tỉnh có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp Nếu em là

hướng dẫn viên du lịch thì em sẽ giới thiệu như thế nào ? (Viết khoảng 4 - 5 câu)

Ví dụ 3: Vì sao ở nước ta thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông ? Ở địa

phương em đã có những biện pháp gì nhằm hạn chế các tai nạn giao thông đó ?

b.3 Bồi dưỡng kĩ năng xây dựng hoàn chỉnh đề kiểm tra định kì

Kiểm tra định kì là quá trình tổ chức cho tất cả học sinh làm bài kiểm tratheo từng môn học để kiểm tra kiến thức các em đã học sau từng giai đoạn học tập.Môn Khoa học kiểm tra định kì được thực hiện 2 lần/năm Khi ra đề, giáo viên đềuphải bám vào Chuẩn kiến thức kĩ năng, Hướng dẫn 5842 của Bộ Giáo dục - Đàotạo và đối tượng học sinh của đơn vị để xây dựng đề kiểm tra định kì phù hợp,nhằm đáp ứng yêu cầu các môn học

Đề kiểm tra định kì thông thường được kết hợp cả hai hình thức: trắc nghiệm

và tự luận Theo Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 26/8/2016, đề kiểm tra định

kì môn Lịch sử và Địa lí được chia tỉ lệ như sau:

Trắc nghiệm Tự luận

Trang 12

(Trong đó: Mức 4 có thể ở phần Địa lí hoặc phần Lịch

sử hoặc tích hơp cả ĐL&LS)

Phần Địa lí

Trong đó: Đề kiểm tra chỉ nên sử dụng một câu hỏi mức 4 (có thể phần Lịchsử; hoặc phần Địa lí, hoặc lồng ghép cả nội dung Lịch sử và Địa lí); câu hỏi mức 3chỉ nên sử dụng 01 câu/phần Vì vậy, căn cứ tình hình thực tế của từng khối lớp,hướng dẫn giáo viên linh động xây dựng tỉ lệ câu hỏi trắc nghiệm và tự luận saocho phù hợp

Việc xây dựng đề kiểm tra định kì được thực hiện theo quy trình 6 bước như

sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu kiểm tra

Cần xác định rõ bài kiểm tra dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinhsau một học kì hay sau cả năm học

Bước 2: Xác định nội dung kiểm tra

Việc xác định các nội dung cần đánh giá để đưa vào đề kiểm tra phải dựatrên những mục tiêu giáo dục đã được cụ thể hóa bằng các chuẩn kiến thức, kĩ năngghi trong chương trình từng môn học Đây là việc làm công phu đòi hỏi người ra đềphải quán triệt các mục tiêu cụ thể của từng bài, từng chủ đề của chương trình Khi

ra đề, giáo viên cần bám vào Chuẩn kiến thức, kĩ năng; Hướng dẫn số5842/BGDĐT, để xác định yêu cầu cần đạt của đề kiểm tra phù hợp chuẩn kiếnthức, kĩ năng các môn học theo từng giai đoạn kiểm tra

+ Đề kiểm tra học kì I: ra kiến thức, kĩ năng các bài đã học trong kì I

+ Đề kiểm tra cuối năm học: ra kiến thức, kĩ năng các bài đã học trong kì II

Nội dung kiểm tra cần xác định kiến thức, kĩ năng trọng tâm cốt lõi cần

kiểm tra Việc xác định nội dung kiểm tra được thực hiện như sau:

+ Hệ thống các mạch nội dung kiến thức và kĩ năng cần kiểm tra

Ví dụ: Yêu cầu cần đạt của đề kiểm tra cuối học kì I môn Lịch sử và Địa

lí khối lớp 4 như sau :

- Buổi đầu dựng nước và giữ nước

(khoảng từ năm 700 TCN đến năm

179 TCN)

- Một số đặc điểm về thiên nhiên

và hoạt động sản xuất của conngười ở :

Ngày đăng: 14/05/2017, 12:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w