a. Khái niệmĐảng chính trị là một vấn đề chính trị rộng lớn, có thể xem xét trên nhiều bình diện. Do đó hình thành nhiều quan điểm khác nhau về đảng chính trị. Các quan điểm chính trị học phương Tây: Có nhiều quan điểm nhìn nhận đảng chính trị với các góc độ khác nhau. Nhìn chung họ không thừa nhận quan điểm giai cấp của đảng chính trị. Theo S. Greenberg: Đảng là tổ chức của mọi giai cấp, đảng là ngôi nhà hiện hữu nhiều tính chất ồn ào khác nhau.
Trang 1Trang bị những kiến thức cơ bản về đảng chính trị, hệ thống đảng chínhtrị, đảng cầm quyền và đảng chính trị trong thế giới đương đại trong các nướcTBCN và XHCN.
II NỘI DUNG
1 Đảng chính trị, nguyên nhân ra đời và đặc điểm của đảng chính trị
1.1 Đảng chính trị1.2 Nguyên nhân ra đời các chính đảng1.3 Những đặc điểm chung của đảng chính trị1.4 Vai trò, chức năng của đảng chính trị
2 Hệ thống đảng
2.1 Phân loại hệ thống đảng2.2 Nguyên nhân hình thành các hệ thống đảng
III THỜI GIAN: 4 tiết
IV ĐỊA ĐIỂM: giảng đường
Trang 2VI VẬT CHẤT BẢO ĐẢM:
Giáo án, tập bài giảng, tài liệu tham khảo, máy vi tính
Phần 2: THỰC HÀNH BÀI GIẢNGq
I Thủ tục bài giảng
- Nhận báo cáo, kiểm tra công tác chuẩn bị của học viên
- Báo cáo cấp trên (nếu có)
II Trình tự bài giảng
Thứ tự, nội dung Thời gian Phương pháp Vật chất
Phần 1 40 phút Kết hợp nêu vấn đề với
thuyết trình, phát vấnPhần 2 40 phút Kết hợp nêu vấn đề với
thuyết trình, phát vấnPhần 3 40 phút Kết hợp nêu vấn đề với
thuyết trình, phát vấnPhần 4 40 phút Kết hợp nêu vấn đề với
thuyết trình, phát vấn
III Kết thúc bài giảng
- Định hướng nội dung ôn tập
* Các quan điểm chính trị học phương Tây:
Có nhiều quan điểm nhìn nhận đảng chính trị với các góc độ khác nhau.Nhìn chung họ không thừa nhận quan điểm giai cấp của đảng chính trị
- Theo S Greenberg:
"Đảng là tổ chức của mọi giai cấp, đảng là ngôi nhà hiện hữu nhiều tínhchất ồn ào khác nhau"
Trang 3- G Duverge (Nhà đảng học người Pháp):
Nhấn mạnh góc độ tranh cử, giành chính quyền của đảng chính trị:
"Đảng chính trị là tổ chức chính trị của những người đoàn kết với nhau thànhmột khối Đảng được lập ra để tranh cử trong các cuộc bầu cử, nhằm đưangười đại diện của mình vào tổ chức chính quyền"
- Đồng tình với qquan điểm này, nhà nghiên cứu Trần Thị Huyền Trân
(Lực lượng chính trị, Sài Gòn 1972, tr.56 ), cho rằng: "Đảng là một nhóm
người cùng chung một lý tưởng chính trị, kết hợp lại thành một tổ chức đểchinh phục chính quyền hay để tham gia vào chính quyền"1
- H.J Wiauch (Mỹ) cho rằng:
"Nói đến đảng thì đảng là tổ chức đam mê lợi ích chính trị nhất, nhưng
đó là lợi ích của cộng đồng, xã hội Ngoài lợi ích đó ra, đảng chính trị không
có lợi ích nào khác Rằng, đảng là tổ chức của những người đoàn kết vớinhau, được lập ra để thực hiện lợi ích của quốc gia thông qua những nguyêntắc riêng mà họ thỏa thuận với nhau"
Theo cách nhìn của các ứng cử viên, đảng là tổ chức của những người
có chung quan điểm chính trị với quan điểm của các tổ chức đảng trong Nghịviện hay trong bộ máy chính quyền, có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động củacác cơ quan quyền lực nhà nước Đây chính là cơ hội để lôi kéo các ứng cửviên của đảng vào các cuộc tranh cử
* Cách tiếp cận của trường phái lựa chọn công cộng:
+ Định nghĩa theo chức năng: Đảng chính trị là một tổ chức cung cấp 3loại dịch vụ:
.# Giúp các ứng cử viên lập pháp được bầu vào cơ quan quyền lực nhànước => muốn giành chiến thắng phải thông qua một tổ chức đảng phái nào
đó => ít tốn kém
# Giúp các nhà lập pháp thông qua các luật
Ví dụ: trong nghị viện có sự tồn tại của các đảng phái để định hướng bỏphiếu thông qua luật => bỏ phiếu theo khuynh hướng của đảng của giai cấp
mà mình đại diện
# Giúp các thành viên của một tập thể tác động lên cơ quan lập pháp
1 Trần Thị Huyền Trân, Lực lượng chính trị, Sài gòn, 1972, tr 56.
Trang 4Ví dụ: biểu đạt cá nhân ở cơ quan lập pháp; thông qua đảng tác độngđến cơ quan lập pháp bởi các đảng viên được làm việc trong các cơ quan lậppháp
+ Theo quan điểm này, đảng chính trị là một công ty phi lợi nhuận.Những công nhân được trả lương, được thưởng bằng việc làm trong bộ máynhà nước, hoặc theo những cách thức khác
* Theo quan điểm mác xít:
Đảng chính trị là bộ phận tiên tiến nhất, có tổ chức của một giai cấp(hay một tầng lớp) nào đó
Sự tồn tại của các đảng chính trị gắn liền với sự phân chia xã hội thànhcác giai cấp, sự không đồng nhất về lợi ích giữa các giai cấp đó Đảng chínhtrị là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp, đại biểu lợi ích của giai cấp
Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân,đảng bao gồm những người ưu tú nhất của giai cấp công nhân, đại biểu cholợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
=>Quan điểm chung:
Đảng chính trị là một tổ chức có mục đích giành quyền lực nhà nước thông qua bầu cử hoặc các phương thức chính trị khác nhằm hiện thực hóa lợi ích của giai cấp, tầng lớp xã hội mà nó đại diện.
(Ở Hoa kỳ, những giá trị riêng của mỗi đảng khác nhau rất ít, đến nỗi hệ
tư tưởng chỉ là thứ yếu so với việc bảo vệ lợi ích mỗi đảng Các sắc màu tưtưởng được mở rộng hơn ở Pháp, Ý so với ở Anh, Đức)
Trang 5Hệ tư tưởng là yếu tố khá ổn định, nhưng "cường độ" hệ tư tưởng cũngthay đổi theo thời gian: những năm 60 (TK XX), những nhà quan sát phươngTây chào mừng "sự kết thúc của hệ tư tưởng", thì về sau đã chứng minh hệ tưtưởng không phải là sụp đổ mà đang "sắp xếp lại"
Các đảng tư sản, tư tưởng xích lại gần nhau, đó là hệ tư tưởng tư sản
Ở các Đảng Cộng sản: hệ tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin
Đảng ta: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HCM là nền tảng tư tưởngcủa Đảng Đây là một nhân tố hết sức quan trọng và có tính nguyên tắc
Đặt vấn đề: vậy hệ tư tưởng vô sản có thay đổi không?
Trả lời: chỉ phát triển phong phú thêm chứ không thay đổi bản chất.
Trong tình hình hiện nay, xa rời hệ tư tưởng Mác - Lênin => sẽ làm mấtbản chất giai cấp của Đảng Ở các đảng CS cầm quyền ở Đông Âu trước đây,
do xa rời những nguyên tắc mác - xít dẫn đến sụp đổ chế độ, và ngay bản thânĐảng cũng bị đặt ra ngoài vòng pháp luật
Ở VN hiện nay: kẻ thù đang tìm cách hạ bệ vai trò của chủ nghĩa Mác
-Lênin Chúng cho hệ tư tưởng đó là lỗi thời, hết vai trò, nay không còn phùhợp trong thời đại mới Thực tế, học thuyết Mác - Lênin luôn và học thuyếtcách mạng và khoa học Vấn đề là nghiên cứu và vận dụng sáng tạo như thếnào chứ không phải là giáo điều, kinh viện, xơ cứng
- Yếu tố tổ chức:
Trang 6Là yếu tố đảm bảo cho đảng là một thiết chế chính trị thống nhất, bềnchặt, có kỷ cương và cơ chế hoạt động của nó.
Mỗi đảng chính trị được tổ chức theo một nguyên tắc nhất định
Trong các đảng chính trị, chỉ có Đảng CS với nguyên tắc TTDC là có tổchức thống nhất, chặt chẽ nhất
Các đảng tư sản cũng có nguyên tắc tổ chức của nó (tất nhiên khôngphải là TTDC) Họ thường tổ chức lỏng lẻo, nhất là ở Mỹ (Họ chỉ cần có thờigian và đóng góp tài chính cho 1 đảng là thành đảng viên của đảng đó)
Các đảng TS thường phân chia phe phái do cách giải thích khác nhau về
hệ tư tưởng thành phái tả, phái hữu, giữa, cấp tiến Và do các yếu tố khác: uytín lãnh tụ, các trào lưu trong và ngoài đảng, nhân tố bầu cử, lợi ích
Đảng ta tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có kỷ luật nghiêmminh, thực sự là một khối thống nhất Sự lãnh đạo thông qua cương lĩnh,đường lối của mình
Đó là 3 yếu tố bên trong để cấu thành đảng chính trị Ngoài ra, để đảng
có thể tồn tại và hoạt động bình thường phải có sự thể chế hóa về pháp lýnhằm chính đáng hóa quyền lực (Nó là yếu tố bên ngoài, là điều kiện để đảngtồn tại và hoạt động bình thường, nếu không có yếu tố này thì nó vẫn là đảngchính trị)
Ví dụ:
- Hiến pháp Ý, Điều 49:
"Tất cả công dân có quyền hội họp một cách tự do thành các đảng đểgóp phần theo phương pháp dân chủ vào việc xác định đường lối chính trịquốc gia"
- Hiến pháp nước ta, Điều 4
(Hiến pháp đầu tiên nói về đảng là HP Liên xô 1936 Hiến pháp khôngnói về đảng là HP Hoa kỳ Vì khi HP Hoa kỳ ra đời chưa có đảng chính trị,
mà HP Hoa kỳ tồn tại hơn 200 năm hầu như không thay đổi)
Như vậy: đảng chính trị là một thiết chế chính trị mang tính tổng thể, hệ
thống với đầy đủ các yếu tố cần thiết Đồng thời nó lại là một nhân tố, mộtphân hệ của của hệ thống lớn hơn, hệ thống chính trị, nhằm đạt mục đích
Trang 7trước hết cho bản thân giai cấp mình đại diện và góp phần cho sự phát triểnkhông ngừng của xã hội đương đại.
1.2 Nguyên nhân ra đời của các đảng chính trị
Có nhiều cách lý giải nguyên nhân ra đời của các chính đảng:
- Theo lý thuyết thể chế:
Đảng hình thành xuất phát từ những yếu tố của thể chế dân chủ Theothể chế dân chủ, quyền lực thuộc về dân số, và muốn đạt được đa số, các lựclượng chính trị nào đó phải tập hợp nhau thành một tổ chức, tạo công luận, đểgiành đa số trong tranh cử
- Theo lý thuyết về hoàn cảnh lịch sử:
Đảng chính trị ra đời trong hoàn cảnh mâu thuẫn chính trị - XH trở nêngay gắt, cần có những tổ chức chính trị để lãnh đạo, định hướng cuộc đấu tranh
- Theo lý thuyết về sự phát triển:
Sự phát triển xã hội đến một giai đoạn nào đó dẫn đến đòi hỏi phải đổimới, xuất hiện các quan điểm đối lập, giữa yêu cầu phá bỏ cái cũ, lạc hậuvới yêu cầu hình thành các quan điểm mới thay thế Đây là thời kỳ cho cácđảng ra đời
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin:
Sự ra đời đảng chính trị xuất phát từ 2 tiền đề:
+ Tiền đề kinh tế:
Là sự tồn tại tư hữu - giai cấp và đấu tranh giai cấp;
+ Tiền đề chính trị:
Là sự phát triển đến trình độ cao của đấu tranh chính trị
Từ quan điểm đó, có thể luận giải tại sao đảng chính trị hình thành cùngvới sự hình thành giai cấp, và đảng chính trị là một hiện tượng lịch sử
C.Mác, nhấn mạnh tính giai cấp trong sự ra đời của Đảng
Theo Ông: + Chính sự tồn tại tư hữu, giai cấp và đấu tranh giai cấp; và
+ Sự trưởng thành của giai cấp – Trình độ tự giác, tính tậptrung, kỷ luật là những tiền đề dẫn đến sự ra đời của Đảng
Trang 8Như vậy, không phải giai cấp nào cũng lập được chính đảng của mình ,
mà nó phụ thuộc vào trình độ tự giác và trưởng thành của giai cấp
- Có hai cách thức hình thành đảng:
+ Nội sinh: đó là sự phân hóa nội bộ cơ quan lập pháp: (Ví dụ: ở Anh –
Mỹ đảng chính trị ra đời thông qua đấu tranh giữa sự khác nhau về quanđiểm tư tưởng trong Nghị viện)
+ Ngoại sinh: đó là sự hình thành từ bên ngoài, do cạnh tranh để chiếm
vị trí trong nghị viện (Ví dụ: Đức + thụy điển; hoặc phái tử phái hữu trong quốc tế 2; ).
Lưu ý: Đảng của giai cấp công nhân hình thành từ bên ngoài chứ không phải nội bộ các cơ quan lập pháp Hình thành từ bên ngoài và từ bước tiến vào trung tâm quyền lực
Trong tác phẩm Lôgic chính trị Mỹ (The Logic of American Politic),với tiêu đề Đảng là đứa con ngoài ý muốn của Hiến pháp, tác giả SamuelKernell và Gary Jacobsson viết: “Hiến pháp không hề đề cập đến các đảngphái chính trị Trong suốt thời kỳ lập quốc, các đảng phái bị đông đảo ngườidân coi là mối đe dọa đối với một chính phủ tốt và trật tự công, đặc biệt lànhững người Cộng hòa Trong một bầu không khí như vậy, không một nhàlãnh đạo tự trọng nào lại công khai kêu gọi thành lập đảng phái chính trị”
Trong những năm đầu của việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
quan điểm chung của mọi người là phản đối kịch liệt các đảng phái chính trị.Benjamin Franklin đã phát biểu chống lại “sự lạm dụng lẫn nhau vô hạn địnhcủa đảng phái, phá hủy tan tành những đặc trưng tốt đẹp nhất” Trong bàiNhững người liên bang số 10, J Madison đã gọi đảng là những biến thể củacác bè phái, có những ý định đi ngược lại các quyền của các công dân khác,hoặc ngược với lợi ích chung và vĩnh cửu của cộng đồng G Washington đãdùng bài diễn văn từ nhiệm của mình để cảnh báo - theo cách thức trọng thểnhất - về các tác động tai hại của tinh thần đảng phái nói chung, và người kếnhiệm ông, J Adams đã khẳng định rằng việc chia nền cộng hòa thành haiđảng phái lớn phải bị coi là điều đáng ghê sợ nhất về chính trị theo hiến phápcủa chúng ta Ngay cả T Jefferson cũng có lần tuyên bố: “Nếu tôi không thểtới thiên đường vì không mang theo một đảng phái, tôi thà không tới đó cònhơn” “Bị tất cả mọi người coi thường, nhưng các đảng phái vẫn phát triển
Trang 9rầm rộ Tu chính án thứ nhất của hiến pháp bảo đảm quyền tự do nói, viết vàhội họp đã xác định rằng, các hoạt động của đảng phái là hợp pháp Ngoài ra,các khung thể chế được thiết lập bởi hiến pháp đã tạo ra những động lựcmạnh mẽ để tiến hành các hoạt động giúp cho sự ra đời và duy trì các đảngphái”.
Tuy nhiên, cơ chế bầu cử quy định trong hiến pháp đã là một trongnhững nguyên nhân chính của việc sinh ra các đảng phái Chính nhu cầu củacác cuộc bỏ phiếu với mục đích thành lập ra từ nhân dân các cơ cấu nhà nước
đã là nguyên nhân cho sự ra đời các tập hợp có đồng quan điểm, hoặc có thểcùng chấp nhận một sự liên hợp các chương trình, quan điểm cho hành động
Đó là nguyên nhân ra đời của các đảng phái chính trị để có thể có quyền lực
Họ quan niệm một cách rõ ràng rằng, quyền lực chính trị là một loại quyềnlực xã hội quan trọng nhất Như vậy, động cơ chính trị để tạo ra đảng phái làrất rõ ràng
Trong mọi hệ thống mà sự lựa chọn tập thể được thực hiện thông qua
bỏ phiếu, một tổ chức bao giờ cũng có lợi thế Hiến pháp quy định việc thôngqua các đạo luật và bầu ra các nhà lãnh đạo bằng bầu cử hay biểu quyết với đa
số phiếu đã khiến cho việc xây dựng các liên minh đa số trong những thể chế
và đơn vị bầu cử trở nên hết sức quan trọng Các đảng phái xuất hiện từnhững nỗ lực của các tác nhân chính trị nhằm xây dựng những liên minh nhưvậy và điều phối hoạt động tập thể cần thiết để giành quyền kiểm soát vàdụng bộ máy chính quyền Và việc một đảng có quyền lực lãnh đạo haykhông phụ thuộc vào lá phiếu của người cử tri
1.3 Những đặc điểm chung của đảng chính trị
- Thứ nhất, là tổ chức chính trị đại diện cho lợi ích giai cấp, tầng lớp
mà nó đại diện
Tuy nhiên, việc giải quyết các lợi ích của đảng chính trị không tách rờilợi ích của dân tộc, quốc gia Đặc trưng này thể hiện tính rộng lớn của cácđảng chính trị so với các tổ chức khác
- Thứ hai, là tổ chức chính trị của những người có đồng chính kiến,
quan điểm mà trước hết là chính sách công (chính sách nhà nước).
Trang 10- Thứ ba, mục tiêu của đảng chính trị trước hết là giành quyền lực nhà
nước, hướng tới chấp chính và sử dụng quyền lực đó cho các mục tiêu lợi ích của đảng
- Thứ tư, đảng chính trị là tổ chức chính trị, không phải là cơ quan công quyền, ngay cả khi đã trở thành đảng cầm quyền Đảng không có chức
năng làm các công việc của của cơ quan quyền lực công
- Thứ năm, đảng chính trị là một tổ chức chặt chẽ (từ trung ương
xuống địa phương), hoạt động liên tục, không hoàn toàn lệ thuộc vào lãnh tụ,
luôn gắn với một hệ tư tưởng nhất định.
- Thứ sáu, đảng chính trị phải là đảng hợp pháp, hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật.
1.4 Vai trò chức năng của đảng chính trị
- Vai trò giáo dục, thông tin:
Đảng chính trị tổ chức công luận, hướng dẫn công luận, tạo ý chí trongcuộc đấu tranh để chuyển nguyện vọng của một nhóm lợi ích, của một đảngthành ý chí chung, ý chí xã hội, hướng đến đa số nắm quyền lực nhà nước
- Củng cố, siết chặt kỷ luật của đảng trong quá trình hướng đến hoặcthực thi quyền lực nhà nước
- Gây ảnh hưởng sâu rộng đến tổ chức và hoạt động, các mối quan hệcủa các tổ chức công quyền
- Chuyển các nguyện vọng của giai cấp, tầng lớp mà nó đại diện đếncác trung tâm quyền lực
- Đào tạo, tuyển lựa cán bộ để đưa vào các cơ quan công quyền
- Cầu nối giữa nhóm lợi ích mà nó đại diện với các cơ quan quyền lực công
2 HỆ THỐNG ĐẢNG VÀ ĐẢNG CẦM QUYỀN
2.1 Phân loại hệ thống đảng
a Phân loại theo tính chất, đặc điểm của tổ chức mỗi đảng
- Chính đảng loại hình cán bộ (cốt cán):
Trang 11Đây là lại hình tổ chức chính đảng lỏng lẻo, ít thống nhất, tổ chức đảng
ít hoạt động, trừ khi tranh cử Thành viên hoạt động chủ yếu là những cán bộcốt cán (như: Đảng Dân chủ, Cộng hòa ở Mỹ)
- Chính đảng loại hình quần chúng:
Loại này đảng rất quan tâm phát triển đội ngũ đảng viên, chủ yếu hìnhthành từ bên ngoài nghị viện Các chính đảng ở phương Tây chủ yếu thuộcloại này
- Chính đảng loại hình tinh hoa:
Đây là loại hình chính đảng chỉ quan tâm thu hút những người ưu túvào đảng Vai trò hoạch định chính sách của đảng cũng thuộc những người ưu
tú này Kỷ luật của đảng rất chặt chẽ
Đây là hệ thống đảng không có đảng đối lập, không có cạnh tranh
Hệ thống đảng không cạnh tranh là hệ thống chỉ có một đảng duy nhấthoặc một đảng nổi trội nắm tất cả cơ cấu của bộ máy chính quyền Và do đó
hệ thống này có nhiều mặt ưu điểm, nhưng cũng có những hạn chế, như dễmắc vào các bệnh quan liêu, đối lập với dân chủ và pháp quyền
Hầu hết các nước có hệ thống đảng này, đảng cầm quyền thường canthiệp rất sâu vào công việc của nhà nước, dẫn dến nhà nước hóa đảng, đảngvới nhà nước ít có sự phân biệt Để hạn chế những hạn chế đó chỉ có thểthông qua phát huy dân chủ thật sự, thông qua sự tham gia rộng rãi của toàn
Trang 12dân vào đời sống chính trị, phát huy vai trò tư vấn, giám sát, phản biện củacác đoàn thể chính trị - xã hội.
- Hệ thống đảng bán cạnh tranh:
Đây là hệ thống đảng có những đặc điểm trung gian giữa các hệ thốngđảng không cạnh tranh và hệ thống đa đảng cạnh tranh Các hệ thống đảngnày tồn tại chủ yếu ở các nước giành độc lập, thoát khỏi hệ thống thuộc địacủa thực dân
Hệ thống đảng bán cạnh tranh cũng đồng thời là một dạng của hệ thống
đa đảng đối lập, nhưng trong các hệ thống đa đảng đó có một đảng (hay liênminh đảng) vượt trội so với các đảng khác về quy mô và năng lực chính trị
Vì vậy các đảng này liên tục thắng cử, cầm quyền trong một thời gian dài
- Hệ thống đảng đối lập cạnh tranh thay nhau cầm quyền:
Hệ thống này bao gồm, hệ thống nhiều đảng hoặc 2 đảng thay nhau cầmquyền Các hệ thống đảng này tồn tại phổ biến ở nhiều nước Âu - Mỹ đương đại.Trong hệ thống đảng này không có 1 đảng nào cầm quyền liên tục trong mộtthời gian dài Bởi do thể chế quy định hạn chế kéo dài nhiệm kỳ; hoặc do tươngquan lực wlowngj giữa các đảng ở các thời kỳ khác nhau
Tính tích cực và hạn chế của của hệ thống đa đảng cạnh tranh xuất phát
từ vai trò trong sự hiện diện của các đảng đối lập:
(1) Là lực lượng đối trọng với đảng cầm quyền; công khai tuyên truyềnquan điểm của đảng, lôi kéo công luận, tranh cử, giành quyền lực;
(2) Là van điều chỉnh hoạt động của đảng cầm quyền, không cho đảngcầm quyền tự do đề ra các nguyên tắc trong cuộc chơi chính trị; có thể làmcản trở, làm sa lầy, làm bế tắc, làm biến dạng các dự án mà đảng cầm quyềnđưa ra; đấu tranh hướng tới tạo lập sự cân bằng chính trị cũng như trong phânchia những giá trị xã hội, phân chia quyền lực
Nêu vấn đề: Tại sao ở nước ta lại thực hiện chế độ nhất nguyên chính
trị, không chấp nhận chế độ đa đảng đối lập?
Trả lời:
Trang 13+ Bản chất của chính trị là nhất nguyên (nói cách khác, vềphương diện giai cấp chế độ nào cũng nhất nguyên) Vì quyền lực bao giờcũng của một giai cấp, không có quyền lực cho mọi giai cấp.
+ Chế độ 1 đảng ở nước ta là vấn đề từ lịch sử: sự nghiệp cáchmạng từ đầu và suốt quá trình chỉ do ĐCS lãnh đạo
+ Do so sánh lực lượng: nước ta có nhiều lực lượng chính trịchống đối, được hậu thuẫn từ bên ngoài
+ Do âm mưu thủ đoạn của kẻ thù muốn xóa bỏ vai trò củaĐCS, đi đến xóa bỏ CNXH ở nước ta
+ ĐCS Việt Nam luôn đại diện lợi ích của mọi tầng lớp nhândân và của cả dân tộc
c Nguyên nhân hình thành các hệ thống đảng
Có nhiều quan điểm khác nhau chưa được khẳng định Tuy nhiên có thểđưa ra những lý do sau đây:
- Do sự lựa chọn và tiếp nối hình thức ban đầu:
Ví dụ: ở Mỹ chỉ có 2 đảng chính thay nhau cầm quyền, mặc dù nước
này có nhiều sắc tộc, màu da, lợi ích Ở Anh 2 đảng Bảo thủ, Công đảng thaynhau
Bởi vì: lúc đầu ở Mỹ gắn với lịch sử hình thành Hiến pháp 1776 Ở anhgắn với lịch sử đấu tranh giữa phái ủng hộ chế độ vương quyền và phái ủng
hộ chế độ cộng hòa đại nghị trong thế kỷ XVII và XVIII
- Xuất phát từ quy định của pháp luật:
Chẳng hạn: từ hiến pháp (ví dụ TQ); từ chế độ bầu cử (ví dụ: ở Anh,
Mỹ đảng nào chiếm được đa số có quyền lập chính phủ)
- Sự khác biệt về lý thuyết phát triển:
Bảo vệ tư tưởng phát triển truyền thống hoặc cải cách tư tưởng để pháttriển
Ví dụ:
+ CNTB: là sự tự do cạnh tranh giữa cánh tả và cánh hữu
Trang 14+ CNMác: là nhận thức và hoạt động trên cơ sở tất yếu kháchquan => chỉ có một tất yếu khách quan => không cần cạnh tranh và chia sẻquyền lực.
- Do sự khác biệt trên bình diện kinh tế dẫn tới khác biệt trên bình diện chính trị:
Sự khác biệt giữa giới chủ và công nhân, người lao động, hình thànhnên các đảng công nhân và các đảng tư sản
- Sự chấp thuận của công chúng:
=> Suy cho cùng, hệ thống đảng do tương quan lực lượng chính trịtrong xã hội quyết định
- Theo quan điểm mác xít:
Sự hình thành và đấu tranh giai cấp giữa các chính đảng là biểu hiệncao nhất của đấu trang giai cấp Do đó, có thể nói sự tồn tại hệ thống đảngnhư thế nào cuối cùng vẫn do tương quan so sánh các lực lượng chính trịtrong xã hội quyết định
2.2 Đảng cầm quyền
a Quan niệm đảng cầm quyền
Có nhiều quan niệm khác nhau về đảng cầm quyền:
Thứ nhất, sử dụng khái niệm đảng cầm quyền để phân biệt đảng đó ở
thời kỳ đã nắm chính quyền với thời kỳ đảng đó chưa nắm chính quyền
Thứ hai, đảng cầm quyền là khái niệm chỉ một đảng (hoặc liên minh
một số đảng) nắm chính quyền
Chính quyền theo nghĩa rộng là nhà nước, bao gồm cả 3 nhánh quyềnlực lập pháp, hành pháp và tư pháp
Thứ ba, đảng cầm quyền (liên minh một số đảng cầm quyền) là các
đảng nắm trong tay chính quyền (quyền hành pháp)
Thứ tư, đảng cầm quyền phải là đảng chiếm đa số trong nghị viện.
Trang 15Ở đây, khi nói tới bộ máy chính quyền trước hết vẫn là bộ máy hànhpháp, bất kể chính thể đó là gì, nguyên tắc thể chế hình thành các cơ quanquyền lực nhà nước như thế nào Muốn trở thành một đảng cầm quyền thì ýchí của đảng đó phải trở thành ý chí chung của xã hội Nhưng muốn ý chí củađảng thành ý chí chung của xã hội thì đảng phải chiếm đa số (đa số trong nghịviện đối với chính thể quân chủ đại nghị, cộng hòa đại nghị, hoặc chiến thắngtrong bầu cử với chính thể cộng hòa tổng thống).
Có thể khái quát:
Đảng cầm quyền là đảng duy nhất (hay liên minh một số đảng) nắm quyền đại điện ý chí chính trị chung trong xã hội, và do đó đảng này (hay liên minh những đảng này) nắm quyền chi phối hoạt động của bộ máy chính quyền.
b Phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền
Phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền là những hình thức, phương
pháp, cách thức tác động vào nhà nước để thực hiện ý chí của đảng đã đượcxác định
Xem xét cách thức tác động của đảng cầm quyền vào nhà nước, có thể
khái quát chia các phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền thành 3 loại cơ
bản: loại phương thức mang tính can thiệp trực tiếp của đảng vào nhà nước,phương thức tuân thủ các nguyên tắc dân chủ - pháp quyền và phương thứccầm quyền hỗn hợp của cả 2 phương thức trên
- Phương thức đảng cầm quyền can thiệp trực tiếp vào nhà nước
+ Đặc trưng nổi bật của thể chế chính trị đó là sự tập trung quyền lực cao độ vào đảng cầm quyền, gắn liền với phương thức điều hành theo kiểu hành chính, chỉ huy
Trong phương thức này, chức năng của đảng cầm quyền và nhà nước bịlẫn lộn, cơ cấu đảng cầm quyền biến thành hoặc thay thế cơ cấu quyền lựcnhà nước Nhờ phương thức cầm quyền mang tính can thiệp trực tiếp, đảng cóthể nhanh chóng biến ý chí của đảng thành pháp luật của nhà nước, quá trình
"nhà nước hóa" ý chí của đảng diễn ra trực tiếp
+ Ở phương thức này, đảng có thể trực tiếp bố trí, sắp xếp nhân sự trong
bộ máy nhà nước