Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã hình thành từ thời cổ đại, bởi các nhà tư tưởng phương Tây, hay tư tưởng pháp trị tại Trung Hoa cổ đại, nhưng mãi đến khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền mới từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực. Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là những giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, gắn liền với một nền dân chủ, nhưng không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế xã hội.
Trang 1MỞ ĐẦU
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã hình thành từ thời cổ đại, bởi cácnhà tư tưởng phương Tây, hay tư tưởng pháp trị tại Trung Hoa cổ đại, nhưngmãi đến khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản,nhà nước pháp quyền mới từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiệnthực Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền với tính cách là nhữnggiá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ, gắn liền vớimột nền dân chủ, nhưng không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo
lý luận về hình thái kinh tế - xã hội Vì vậy, Nhà nước pháp quyền vừa là mộtgiá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốcgia và cũng không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một môhình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc mà nó tuỳ thuộc vào các đặcđiểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển để xây dựng chomình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục
và rèn luyện Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn kiên trì, vận dụng đúng đắn,sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ,vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại,trong đó có sự tiếp thu, kế thừa, phát triển, vận dụng những tư tưởng củanhững nhà kinh điển chủ nghĩa xã hội khoa học và của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong công cuộc đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta đãxác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được xây dựng,
tổ chức và vận hành theo thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là chủtrương, đường lối có tính chiến lược, là bước đột phá trong đổi mới tư duychính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống
Trang 2chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng nhằm đáp ứng yêucầu của tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu quản lý và pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển
xã hội theo hướng dân chủ, hài hòa và bền vững, đảm bảo sự ổn định chính trị,giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội, tạo điều kiện cho người dân thực hành cácquyền tự do dân chủ, hướng tới xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa
NỘI DUNG
1 Sự phát triển lý luận của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Học thuyết Nhà nước pháp quyền không chỉ có những tư tưởng của cáctriết gia tư sản mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển chủ nghĩa
xã hội khoa học C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin dù không chính thức nóiđến Nhà nước pháp quyền như là một trong những nội dung chính yếu tronghọc thuyết của mình nhưng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin luônquan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật Trong các bàiviết, bài nói của các ông ít nhiều đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền Đó lànhững tư tưởng đầu tiên về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Những tư tưởng căn bản của Nhà nước pháp quyền đã được các nhàkinh điển Mác - Lênin đề cập và vận dụng vào thực tiễn xây dựng và củng cốNhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân vànhân dân lao động, bao gồm các vấn đề cơ bản như: xây dựng một nhà nướckiểu mới hợp hiến, hợp pháp, dân chủ, một nhà nước mà pháp chế là nguyêntắc tối quan trọng trong đời sống nhà nước và xã hội; nhà nước có một hệ
Trang 3thống pháp luật đầy đủ và pháp luật được thực hiện nghiêm minh, bảo đảmquyền con người, quyền công dân; nhà nước là công cụ của nhân dân, đặtdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; nhà nước bảo đảm và phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân…
C.Mác khẳng định “Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại
vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người; ở đây sự tồn tại của con người
là luật pháp, trong khi đó thì dưới những hình thức khác của chế độ nhà nước,
con người lại là tồn tại được quy định bởi luật pháp”1 Do đó, “trong chế độ
dân chủ thì bản thân nhà nước chính trị… chỉ là nội dung đặc thù của nhân dân, chỉ là hình thức tồn tại đặc biệt của nhân dân thôi”2 Nhà nước phápquyền với ý nghĩa đó, không làm ra luật pháp, như C.Mác đã khẳng định
“quyền lập pháp không tạo ra luật pháp, - nó chỉ phát hiện và nêu luật pháp”3.Hay nói cách khác, luật pháp tối thượng trong nhà nước pháp quyền chính là
ý chí của nhân dân, phản ánh các quyền của nhân dân Như vậy nhà nướcpháp quyền mới có khả năng tồn tại với tư cách thực chất là nhà nước
V.I.Lênin tiếp thu tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và phát triển tưtưởng Nhà nước pháp quyền hoàn bị hơn Tư tưởng Nhà nước pháp quyền củaV.I.Lênin chủ yếu thể hiện trong tư tưởng về Nhà nước và cách mạng, về xâydựng xã hội mới V.I.Lênin hướng đến một xã hội dân chủ rộng rãi, giảiphóng con người và phát triển toàn diện con người Theo V.I.Lênin, nếukhông rơi vào không tưởng thì không thể nghĩ rằng sau khi lật đổ chủ nghĩa tưbản, người ta tức khắc có thể làm việc cho chủ nghĩa xã hội mà không cầnphải có một tiêu chuẩn pháp quyền nào cả Trong xây dựng Nhà nước Xôviết,V.I.Lênin đòi hỏi bộ máy chính quyền phải thật sự là của nhân dân lao động,phải thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật (pháp luật Xô viết) để đấu
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.350.
23 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.395.
Trang 4tranh chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ (tức là phải sử dụng pháp luật, đưapháp luật lên trên hết)
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền hình thành, phát triểngắn với quá trình tìm đường cứu nước và thực tiễn xây dựng nhà nước kiểumới ở Việt Nam sau năm 1945 Quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh
đã kháo sát, nghiên cứu, so sánh bản chất các kiểu nhà nước trên thế giới và
đi đến kết luận: “Nhà nước phong kiến là công cụ của địa chủ để thống trịnông dân Nhà nước tư bản là công cụ của giai cấp tư sản để thống trị giai cấpcông nhân Song từ cách mạng Nga thành công, một xã hội mới ra đời, nhànước đã trở lên công cụ thống trị của nhân dân lao động"4
Từ thực tiễn khảo cứu các mô hình nhà nước trên thế giới, Hồ Chí Minhphát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền được thể hiện khá sớm trongnhiều văn kiện quan trọng do Người soạn thảo Trong Yêu sách của nhân dân
An Nam gửi Hội nghị Vécxây, Hồ Chí Minh nêu ra yêu cầu “Cải cách nềnpháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được hưởng nhữngđảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu”; “Đòi thay chế độ ra các sắclệnh bằng chế độ ra các đạo luật ”; trong Việt Nam yêu sách ca, Hồ Chí Minhviết “Bảy xin hiến pháp ban hành Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”5.Sau này trong các văn kiện như: Chương trình Việt Minh (1941); Tuyên ngônđộc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945; Chương trình hành động ngày 3 tháng 9năm 1945; Hiến pháp 1946.v.v đã thể hiện kết tinh trí tuệ, tư duy của Hồ ChíMinh về Nhà nước Việt Nam sau một phần ba thế kỷ hoạt động của Người.Những tư tưởng chính của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đó là:nhà nước của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân; nhà nước hợp hiến, hợppháp; nhà nước mà trong đó mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; nhà nước
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.280.
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.438.
Trang 5hoạt động trên cơ sở pháp luật; kết hợp giữa quản lý xã hội bằng pháp luật vớigiáo dục đạo đức, nâng cao giác ngộ của nhân dân
Tư tưởng xuyên suốt, cốt lõi, bao trùm toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước pháp quyền đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân Trongsuốt quá trình tổ chức, xây dựng nhà nước Hồ Chí Minh luôn coi trọng haivấn đề cơ bản, một là xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt củanhân dân; hai là bộ máy nhà nước phải được tổ chức hợp pháp và hoạt độngtrên cơ sở hiến pháp Trong Nhà nước pháp quyền, chủ quyền phải thực sựthuộc về nhân dân và phải được thể hiện đầy đủ trong mối quan hệ giữa nhànước với nhân dân, nhà nước là công bộc, là người phục vụ nhân dân, nhândân là người làm chủ nhà nước là đối tượng được nhà nước phục vụ
Nhà nước pháp quyền của dân theo Hồ Chí Minh đó là nhà nước donhân dân làm chủ, nhân dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là cóquyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theopháp luật Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực để xây dựng các thiết chếdân chủ để thực thi quyền làm chủ của nhân dân Nhà nước pháp quyền dodân, tức là nhà nước đó phải do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu củamình; nhà nước đó do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu,hoạt động; nhà nước do nhân dân phê bình và xây dựng, giúp đỡ Mọi cơquan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắngnghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân
Thực tiễn, ngay sau khi giành được chính quyền lập nên nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh khẳng định rõ vai trò to lớn của nhândân trong xây dựng và bảo vệ chính quyền Theo Người, nhân dân vừa là chủthể vừa là đối tượng phục vụ của nhà nước, nhà nước phải là công bộc, đầy tớcủa nhân dân, nhân dân là người lập ra nhà nước, mọi quyền lực nhà nước đềuthuộc về nhân dân Người khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiều lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Chính
Trang 6quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”6
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì dân
được Đó là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không cóđặc quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính Trong nhà nước
đó, mọi cán bộ, viên chức nhà nước đều là công bộc, đầy tớ của nhân dân.Nhà nước pháp quyền theo Tư tưởng Hồ Chí Minh đó còn là nhà nước
mà bản chất của nó luôn có sự thống nhất chặt chẽ giữa bản chất giai cấpcông nhân với tính nhân dân, tính dân tộc Nhà nước là một thành tố cơ bảnnhất cấu thành hệ thống chính trị, luôn dưới sự lãnh đạo của Đảng, mang bảnchất của giai cấp công nhân, là nhà nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tuynhiên, nhà nước đó cũng thể hiện tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc Bản chấtgiai cấp công nhân và tính nhân dân, tính dân tộc luôn thống nhất hài hòatrong nhà nước đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đópháp luật được đề cao Nói cách khác, Nhà nước pháp quyền theo Hồ ChíMinh là nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ Nhà nước có hiệu lực pháp lýmạnh mẽ trước hết phải là nhà nước hợp hiến; nhà nước quản lý đất nướcbằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế Trong mộtNhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, nương tựavào nhau mới bảo đảm cho chính quyền trở lên mạnh mẽ Không thể có dânchủ ngoài pháp luật Pháp luật là bà đỡ của dân chủ Mọi quyền dân chủ củangười dân nhất thiết phải được thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật,ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ củangười dân được tôn trọng trong thực tế
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.698.
Trang 7Để tiến tới một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ,theo Hồ Chí Minh vấn đề căn bản cốt lõi là phải nhanh chóng đào tạo, bồidưỡng hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, amhiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính, có đạo đức cách mạng trongsáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
1.2 Quá trình nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hoà ra đời Đó là một nhà nước kiểu mới, nhà nước công nông đầu tiên ởĐông Nam Á “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế
kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần một trăm năm, đã đưa chính quyềnlại cho nhân dân, đã xây dựng nền tảng cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoàđộc lập, tự do, hạnh phúc Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sửnước nhà…”7
Đảng ta khẳng định, nhiệm vụ lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hoà là “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiến quốc giatrên nền tảng dân chủ” Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cácquan điểm của Đảng về Nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước đã được thể chếhoá trong bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp 1946 Với Hiến pháp 1946,Đảng ta chủ trương thực hiện “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhândân” nhằm đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp,tôn giáo, đảm bảo các quyền tự do dân chủ Hiến pháp 1959 đã thể chế hoáquan điểm Đảng ta về “sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân, làm nhiệm vụlịch sử của chuyên chính vô sản”8, Đảng ta cho rằng “khi nào cách mạng dântộc dân chủ nhân dân tiến triển thành cách mạng XHCN thì chuyên chính dânchủ nhân dân sẽ trở thành chuyên chính vô sản… Hình thức Nhà nước cộng
7
Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Tập 2, Nxb Sự thật, H,1980, tr.463.
8 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Nxb Sự thật, H,1961, tr.179.
Trang 8hoà dân chủ nhân dân vẫn có thể tồn tại khi nội dung của nó đã chuyển đổithành chuyên chính vô sản Nhưng nếu nhiệm vụ và yêu cầu là cách mạngXHCN và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì về thực chất chế độ dân chủ nhândân sẽ trở thành chế độ dân chủ XHCN…”9.
Đại hội lần thứ IV của Đảng (1976) đã xác định: “Nhà nước XHCN làNhà nước chuyên chính vô sản, một tổ chức thực hiện quyền làm chủ tập thểcủa giai cấp công nhân và nhân dân lao động, một tổ chức thông qua đó Đảngthực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển xã hội…”10 Quanđiểm của Đảng về Nhà nước chuyên chính vô sản đã được thể chế hoá trongHiến pháp 1980 “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là nhà nước chuyênchính vô sản Sứ mệnh lịch sử của Nhà nước đó là thực hiện quyền làm chủtập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân tiến hành đồngthời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học
kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹthuật là then chốt, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đập tan mọi sự chốngđối của bọn phản cách mạng trong nước, mọi hành động xâm lược và pháhoại của kẻ thù bên ngoài, xây dựng thành công XHCN, tiến tới chủ nghĩacộng sản; góp phần củng cố hoà bình và đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng củanhân dân thế giới” (Điều 2 - Hiến pháp 1980) Phát triển quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin về chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủCNXH, Đảng ta xác định “quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động mànòng cốt là liên minh công nông, thực hiện bằng nhà nước dưới sự lãnh đạocủa Đảng tiên phong của giai cấp công nhân, đó là chuyên chính vô sản Nhànước ta, vì vậy, là nhà nước chuyên chính vô sản”11
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đổi mới
đã đặt ra những cơ sở quan trọng cho việc đổi mới tư duy, quan điểm về xây
9 Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam Nxb Sự thật, H,1975, tập 1, tr.193.
10 Văn kiện Đảng toàn tập NxbCTQG, H,2004, tập 37, tr.577.
11 Văn kiện Đảng toàn tập NxbCTQG, H,2004, tập 37, tr.162.
Trang 9dựng nhà nước trong các điều kiện tiến hành cải cách kinh tế Đảng ta khẳngđịnh “Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể XHCN, do giai cấpcông nhân và nhân dân lao động tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị.Trong thời kỳ quá độ, đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độdân chủ XHCN…”12 Mặc dù vẫn dùng khái niệm “Nhà nước chuyên chính vôsản”, nhưng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quan điểm của ĐảngCộng sản Việt Nam tại Đại hội VI đã có đổi mới: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng,chức năng của Nhà nước là thể chế hoá bằng pháp luật, quyền hạn, lợi ích,nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật Nhànước ta phải bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thờikiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân…”13 Vớitinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội VI của Đảng đãchỉ ra nhiều yếu kém, bất cập của bộ máy nhà nước và cho rằng: “… cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho bộ máy nặng nề,nhiều tầng, nhiều nấc Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức và chức năng, tiêuchuẩn cán bộ chưa được xác định rõ ràng”14 Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêubao cấp là cơ sở để đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước Đồng thời,cải cách bộ máy nhà nước sẽ thúc đẩy việc xoá bỏ cơ chế quản lý tập trungquan liêu, bao cấp, tạo ra cơ chế quản lý mới phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏicủa cải cách kinh tế Để thực hiện mục tiêu này, Đảng ta chủ trương “… Đểthiết lập cơ chế quản lý mới, cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộmáy của các cơ quan nhà nước theo phương hướng: Xây dựng và thực hiệnmột cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân laođộng ở tất cả các cấp Tăng cường bộ máy nhà nước từ trung ương đến địaphương và cơ sở thành một hệ thống thống nhất, có sự phân định rành mạchnhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
12 Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX) NxbCTQG, H,2006, tr.124.
13 Sđd, tr.125.
14 Sđd, tr.125.
Trang 10phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùnglãnh thổ phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội…”15.
-Đại hội lần thứ VII của Đảng xác định thực hiện dân chủ XHCN là thựcchất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị Đây vừa là mục tiêuvừa là động lực của công cuộc đổi mới Như vậy, việc đổi mới và kiện toàn hệthống chính trị được Đảng ta đặt ra như một tất yếu để thực hiện và phát huydân chủ XHCN Để đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị, Đảng chủ trươngtiếp tục đẩy mạnh cải cách bộ máy nhà nước theo hướng: Nhà nước thực sự làcủa dân, do dân, vì dân Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnhđạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thựchiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máytinh giản, gọn nhẹ và hoạt động có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng cácthành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý…”16
Những quan điểm chủ yếu của Đảng về xây dựng, cải cách bộ máy nhànước được xác định tại Đại hội VI, VII tiếp tục được Đảng ta phát triển trong
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” là
“tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhândân Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổchức quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, sửa đổi hệ thống tổchức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp
để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước Nhà nước có mối liên
hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến củanhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Có cơ chế và biện pháp kiểm soát,ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm,xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy
15 Sđd, tr.125.
16 Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới NxbCTQG, H,2006, tr.297.
Trang 11quản lý nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có
sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trungương Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó…”17 Quan điểm của Đảng vềNhà nước trong Cương lĩnh 1991 đã nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nềntảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong một chế độ dânchủ – pháp quyền: có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp, quản lý
xã hội bằng pháp luật; thống nhất quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp) với sự phân công rành mạch ba quyền đó Tuy chưa đềcập trực tiếp đến phạm trù nhà nước pháp quyền, nhưng sự thể hiện các vấn
đề cơ bản có tính pháp quyền trong tổ chức nhà nước ở tầm cương lĩnh chínhtrị cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng ta trong đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước theo các yêu cầu, đòi hỏi của nhà nước pháp quyềnXHCN trong bối cảnh cụ thể nước ta
Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII(01/1994) là mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển nhận thức của Đảng ta
về Nhà nước pháp quyền Đây là lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụngthuật ngữ “nhà nước pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện những quanđiểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân với nội dung cơ bản là: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoànthiện nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là nhà nước của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đấtnước phát triển theo định hướng XHCN Nhà nước pháp quyền Việt Namđược xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấyliên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng,
do Đảng ta lãnh đạo”18 Với cách thể hiện trong văn kiện Hội nghị đại biểu
17 Sđd, tr.327.
18 Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, tr.56.
Trang 12toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, những quan điểm cơ bản về các nội dungchủ yếu của phạm trù Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
đã được xác lập, đặt cơ sở lý luận cho việc triển khai các chủ trương, giảipháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong những giai đoạnphát triển tiếp theo
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá VII) đã đánhdấu một bước quan trọng trong việc cụ thể hoá quan điểm của Đảng Cộng sảnViệt Nam về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đây là Hộinghị chuyên bàn về nhà nước “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcCộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâ m là cải cách một bước nền hành chính”.Sau khi đánh giá những thành tựu và khuyết điểm, yếu kém trong tổ chức,hoạt động của nhà nước ta và những yêu cầu trước tình hình mới, văn kiệnHội nghị đã nêu 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựngkiện toàn bộ máy nhà nước, đó là:
Thứ nhất, xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân, lấy liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nềntảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhândân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạmlợi ích của Tổ quốc và của nhân dân;
Thứ hai, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp,hành pháp, tư pháp;
Thứ ba, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam;
Thứ tư: tăng cường pháp chế XHCN; xây dựng nhà nước pháp quyền
Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nângcao đạo đức XHCN;
Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Trang 13Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tạiĐại hội lần thứ VIII tiếp tục khẳng định 5 quan điểm cơ bản về xây dựng nhànước pháp quyền đã được Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định, đồngthời đặt ra các nhiệm vụ: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp vàgiám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cảicách nền hành chính nhà nước đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hànhchính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hànhchính; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp; củng cố kiện toàn bộ máy các
cơ quan tư pháp Phân định lại thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân, từngbước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho toà án nhân dân huyện Đổimới tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra, cơquan thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp…
Hội nghị Trung ương lần thứ ba khoá VIII đã thông qua nghị quyết
“Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộnghoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh” Nghị quyết Trung ương 3khoá VIII đã đưa ra sự đánh giá tình hình xây dựng Nhà nước trong thời gianqua với những nhận định về các bước tiến bộ, các mặt yếu kém trong quátrình xây dựng Nhà nước và chỉ ra rằng: việc xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biếtcủa chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm.Nghị quyết khẳng định cần tiếp tục thực hiện Nghị quyết lần thứ 8 Ban Chấphành Trung ương khoá VII và nhấn mạnh ba yêu cầu:
Một là: tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân
dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân thamgia xây dựng và bảo vệ Nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhândân đối với hoạt động của cơ quan và cán bộ công chức Nhà nước
Trang 14Hai là: tiếp tục xây dựng và hoàn hiện nhà nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; cán bộ côngchức Nhà nước thật sự là công bộc, tận tuỵ phục vụ nhân dân
Ba là: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xây dựng và
hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với đặc điểm,tính chất của cơ quan nhà nước ở từng cấp, chú trọng sự lãnh đạo của tổ chứcđảng đối với việc kiểm kê, kiểm soát trong quản lý kinh tế, tài chính
Nghị quyết nhấn mạnh: “3 yêu cầu trên quan hệ chặt chẽ với nhau, dựatrên nền tảng chung là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, dodân, vì dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh côngnhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.Như vậy, đến Hội nghị lần thứ ba khóa VIII quan điểm về xây dựng Nhànước pháp quyền được xác định như một quan điểm chủ đạo, chi phối toàn bộnội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2002), Đảng ta khẳngđịnh: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhândân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước làthống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước quản lý xãhội bằng pháp luật”19 Từ Nghị quyết Đại hội IX, tại Điều 2 Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2001) đã ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nềntảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
19 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb CTQG, H, 2001, tr.131-132
Trang 15pháp”20 Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) Đảng ta đã
chỉ rõ phương hướng xây dựng, cơ chế vận hành, đồng thời xác định nhiệm
vụ, giải pháp hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Trong đó tiếp tục khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảođảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lựcnhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trongviệc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thốngpháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật.Xây dựng và hoàn thiện thể chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháptrong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”21
Đại hội XI (tháng 01/2011) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và khẳng định “tiếp tục đẩy mạnh việcxây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nhànước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo,thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội, giải quyết đúng mốiquan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhândân, với thị trường” Báo cáo chính trị đã xã định một trong những phươnghướng quan trọng của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa là “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế, vậnhành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân, và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phốihợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nướcphù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành
20 Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.178.
21 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.45.
Trang 16có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi íchquốc gia, dân tộc Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm
1992 đã sửa đổi, bổ sung năm 2001 phù hợp với tình hình mới”22
Như vậy, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Đại hội Đảng VI,Đảng Cộng sản Việt Nam chưa sử dụng khái niệm Nhà nước pháp quyền, tuynhiên xét theo nội dung và yêu cầu khách quan của Nhà nước pháp quyền thì
đã được Đảng ta nhận thức và diễn đạt ngày càng rõ nét Từ Hội nghị đại biểutoàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) lần đầu tiên Đảng ta chính thức sửdụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và từ đó đến nay, tư tưởng về Nhànước pháp quyền tiếp tục được xây dựng và từng bước hoàn thiện, phản ánhquá trình nhận thức ngày càng đúng đắn, sâu sắc và hoàn thiện của ĐảngCộng sản Việt Nam về tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởngnhân loại, trong quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước kiểu mới dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Đó là những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Nhà nước của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đấtnước phát triển theo định hướng XHCN
1.3 Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Từ nhận thức lý luận, tiếp thu có chọn lọc các giá trị phổ biến của Nhànước pháp quyền nói chung và từ thực tiễn lãnh đạo quá trình xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng ta đã đúc kết, kế thừa cóchọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tưtưởng nhân loại và quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước, pháp luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ởnước ta Theo đó, quan niệm về những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp
22 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG-ST 2011, tr.246-347.