Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội tồn tại trong đời sống xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình từ cổ xưa cho đến ngày nay, tín ngưỡng tôn giáo luôn có sự tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của xã hội, theo cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực. Chính vì thế, trong lịch sử phát triển của loài người, tín ngưỡng tôn giáo sớm được nhiều nhà tư tưởng quan tâm nghiên cứu. Đối với Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo diễn ra, mà chỉ diễn ra trong quá trình đồng nguyên, đồng quy các tôn giáo trên cơ sở của tính ngưỡng tôn giáo bản địa; ở đây đấu tranh về mặt giáo lý thần học cũng không nổi trội, mà vấn đề nổi lên là mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, giữa cộng đồng tôn giáo với toàn thể dân tộc đứng trước nguy cơ mất còn của dân tộc ta
Trang 1QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ ĐỔI MỚI TƯ DUY CỦA ĐẢNG TA TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO TRONG LỊCH SỬ VÀ
HIỆN THỰC
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội tồn tại trong đời sống xã hội Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình từ cổ xưa cho đến ngày nay, tín ngưỡng tôn giáo luôn có sự tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của xã hội, theo cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực Chính vì thế, trong lịch sử phát triển của loài người, tín ngưỡng tôn giáo sớm được nhiều nhà tư tưởng quan tâm nghiên cứu Đối với Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo diễn ra, mà chỉ diễn ra trong quá trình đồng nguyên, đồng quy các tôn giáo trên cơ sở của tính ngưỡng tôn giáo bản địa; ở đây đấu tranh về mặt giáo lý thần học cũng không nổi trội, mà vấn đề nổi lên là mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, giữa cộng đồng tôn giáo với toàn thể dân tộc đứng trước nguy cơ mất còn của dân tộc ta Đến khi Công giáo vào Việt Nam, gắn với quá trình xâm lược của thực dân Pháp, thì vấn đề tôn giáo mới nảy sinh xung đột giữa hai nếp sống tâm linh-văn hóa hoàn toàn khác biệt, và nhất là sự đụng đầu giữa quốc gia, dân tộc đang có nguy cơ bị mất chủ quyền với một tổ chức tôn giáo đang cấu kết với bọn thực dân xâm lược để thôn tính dân tộc ta Chính hoàn cảnh lịch sử đó, để giải quyết thành công vấn đề tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam đòi hỏi Đảng ta có quan điểm giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào thực tiễn tôn giáo Việt Nam là một vấn đề có tính chiến lược lâu dài phải trên cơ
sở chủ nghĩa Mác Lê nin tư tưởng Hồ Chí Minh Bởi nó là một hiện tượng xã hội thuộc đời sống tinh thần của con người, đã và đang có ảnh hưởng quan trọng đến các vấn đề đời sống chính trị xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới Trong thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, khoa học đã thực
sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và tưởng chừng con người cùng với khoa học có thể giải thích được mọi vấn đề của tự nhiên, xã hội, tư duy mà không cần viện dẫn thần linh Nhưng thực tế đang có nhiều vấn đề diễn ra mà chúng ta chưa giải đáp được như những người có khả năng đặc biệt như ngoại cảm có khả năng tiên đoán … Do đó, không ít người đã tìm đến tôn giáo để cầu mong được đấng siêu nhiên làm chỗ dựa tinh thần Vì Tôn giáo ở thời đại nào thì đã và đang đóng vai trò đền bù hư ảo cho sự bất lực, yếu ớt của con người, an ủi động viên khuyến khích, động viên con người hướng vào những lực lượng siêu nhiên, do mình tưởng
Trang 2tượng ra để giải quyết sự yếu kém bất lực của mình trước những hiện tượng tự nhiên và xã hội
Ở nước ta hiện nay có khoảng 20 triệu đồng bào có tôn giáo Trong đó Phật giáo khoảng 10 triệu; Công giáo khoảng 5 đến 6 triệu; Tin Lành khoảng 44 vạn ; Hồi giáo dưới 10 vạn; Cao Đài khoảng 1,2 triệu; Hoà Hảo khoảng 1,4 triệu Nét chung khá rõ là các hoạt động tôn giáo đang đi vào hoạt động bình thường, nhiều
lễ nghi được tiến hành thường xuyên, các cơ sở thờ tự được tôn tạo, sửa chữa và xây dựng mới; kinh sách được in ấn, chức sắc tôn giáo được đào tạo, tu nghiệp ở trong nước và nước ngoài ngày càng nhiều; các hoạt động đối ngoại, hoạt động xã hội của tôn giáo được mở rộng; một số tín đồ khô, nhạt đạo đã sinh hoạt trở lại; thanh thiếu niên được thu hút vào sinh hoạt tôn giáo sôi nổi hơn Đa số chức sắc tôn giáo, đồng bào tín đồ phấn khởi trước chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thể hiện lòng tin với Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới, chấp hành tốt chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước Điều này thấy được khá rõ qua các tôn giáo lớn như: Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài…Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, Giáo hội Thiên Chúa giáo tại Việt Nam đã hưởng ứng tinh thần “sống phúc âm trong lòng dân tộc” Đối với một số giáo phận trước kia chủ trương “bất hợp tác”, cấm giáo sỹ tham gia quan hệ với chính quyền địa phương, thì nay Giáo hội đã chủ trương quan hệ, tăng cường tiếp xúc và ủng hộ chính quyền địa phương, tăng cường các hoạt động từ thiện Phật giáo và một số các tôn giáo khác cũng ngày càng tăng cường hòa nhập với đời sống xã hội hơn Biểu hiện thông qua việc rất nhiều các nhà sư, các vị chức sắc của các tôn giáo tham gia tích cực vào Hội đồng nhân dân, Quốc hội, ủng hộ chính sách của Đảng
và Nhà nước Theo số liệu thống kê của 44/64 tỉnh thành phố thì có 1171 đại biểu hội đồng nhân dân các cấp thì trong đó đạ biểu hội đồng nhân cấp tỉnh là 74 người, cấp huyện là 265 người, cấp xã phường là 832 người
Song song với xu hướng tôn giáo hòa nhập với đời sống kinh tế xã hội, xu hướng thương mại hóa các hoạt động tôn giáo đang xuất hiện và có khả năng gia tăng Trong đời sống tôn giáo, hiện tượng mê tín, hủ tục, diễn ra khá phổ biến, xuất hiện những “tôn giáo mới” mà theo các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn đánh giá “lành ít, dữ nhiều” Ước tính ở nước ta hiện nay, có khoảng trên 30
Trang 3giáo phái, với hơn 50 tên gọi khác nhau như: Đạo chân không, Thiên Đạo, Tân Sứ, Đạo siêu hóa, Long Hoa Di Lặc, Vàng Chứ, Thìn Hùng… Trong đó có trường phái bộc lộ sự tiêu cực rõ rệt và bị dư luận xã hội lên án Riêng đạo Tin Lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có xu hướng xóa bỏ truyền thống văn hóa của dân tộc
Qua thực tế tôn giáo của nước ta hiện nay cho thấy: Xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thị trường một số mặt đã và đang tạo ra những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước, đời sống đa phần nhân dân được cải thiện, trong đó có các tín đồ tôn giáo, bên cạnh đó cũng tạo môi trường khách quan, thuận lợi cho sự phát triển tín ngưỡng tôn giáo và tàng trữ trong lòng nó những yếu tố tiêu cực Cùng với những vấn đề “dân tộc”, “dân chủ”, “nhân quyền”, vấn đề tôn giáo hiện nay đang
là một vấn đề nhạy cảm và có nhiều diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch đang lợi dụng sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội, lợi dụng toàn cầu hoá kinh tế quốc
tế, sử dụng vấn đề “tôn giáo” để tác động, can thiệp vào công việc nội bộ của nước
ta, phục vụ các ý đồ chính trị phản động của chúng Tình trạng lợi dụng tôn giáo để chống phá, vu khống đường lối lãnh đạo của Đảng, phá hoại khối đại đoàn kết dân
tộc đang có xu hướng tăng lên Do đó nghiên cứu quá trình nhận thức đổi mới tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam trong thực hiện chính sách tôn giáo trong lịch
sử và hiện thực có có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Tính nhất quán về quan niệm tín ngưỡng tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn xác định vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo là vấn đề chính trị quan trọng, quan hệ đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của các tầng lớp nhân dân Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng
Trang 4Quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam là sự vận dụng trung thành và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Sự nhất quán trong quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam thể hiện ở chỗ: từ khi thành lập cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam không bao giờ xa rời quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân; quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo; cảnh giác và nghiêm trị những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của cách mạng
Văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên thể hiện quan điểm của Đảng ta về tín ngưỡng tôn giáo đó là Chỉ thị của Thường vụ Trung ương, chỉ đạo cao trào Xô Viết
Nghệ Tĩnh năm 1930 Trong chỉ thị có đoạn viết: “Vì những chỗ đó đã có cao trào hay
phong trào cách mạng, thì phải lãnh đạo từng tập thể sinh hoạt hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức cách mạng, để dần dần cách mạng hoá quần chúng và lại bảo đảm tự do tín ngưỡng của quần chúng, đập tan luận điệu phản tuyên truyền cộng sản là vô chính phủ, vô gia đình, vô tôn giáo…”1
Như vậy, ngay từ khi mới ra đời Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chính sách
“tín ngưỡng tự do, Lương - Giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc Nhờ đường lối
3/2002,tr.3-13
Trang 5đúng đắn đó mà Đảng ta đã đoàn kết được các tôn giáo, động viên các tín đồ tôn giáo tham gia vào sự nghiệp chung của dân tộc; làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của
kẻ thù hòng chia rẽ, đối lập, lợi dụng các tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, vấn đề tôn giáo có những nội dung mới
Năm 1990, Bộ Chính trị (khoá VI) đã ra Nghị quyết 24 Về tăng cường công tác
tôn giáo trong tình hình mới Nghị quyết xác định: Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại
lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới Cần khắc phục nhận thức thiển cận đối với tôn giáo và thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo Đảng chủ trương: đối với các giáo hội và tổ chức tôn giáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ, mục đích, điều
lệ phù hợp với luật pháp nhà nước, có tổ chức phù hợp và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ được Nhà nước xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động Nghị quyết này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó chính là cơ sở cho việc giải quyết vấn đề tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước sau này Nó chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử mới của dân tộc ta
Sau Hội nghị tổng kết NQ 24/TW, ngày 02.7.1998, Bộ Chính trị (Khoá VIII)
đã ban hành Chỉ thị 37-CT/TW:” Về công tác tôn giáo trong tình hình mới” và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19.4.1999:” Về các hoạt động tôn giáo”.v.v
Các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, X của Đảng đã tiếp tục khẳng định những quan điểm cơ bản được nêu trong Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị và làm sáng tỏ thêm một số nội dung cho sát với hoàn cảnh, điều cụ thể trong từng thời điểm lịch sử
Trang 6ở trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng
định quan điểm: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bào”2
Ngày nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra những đòi hỏi to lớn đối với toàn dân tộc, trong đó đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời Trong khi đó, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta đang có những diễn biến hết sức phức tạp Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường làm nẩy sinh tâm lý tín ngưỡng, tôn giáo và cả mê tín dị đoan phát sinh, phát triển; chủ nghĩa
đế quốc ra sức lợi dụng kích động các vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây rối, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta… Đứng trước tình hình đó vấn đề tư duy và đổi mới tư duy về vấn
đề tôn giáo là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Quá trình đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam
Việc đổi mới tư duy trên lĩnh vực tôn giáo và công tác tôn giáo được thực hiện trong khuôn khổ đổi mới tư duy của Đảng từ Đại hội VI Trong văn kiện Đại
hội VI ghi rõ: “Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, thực hành chính sách
tôn trọng, tự do tín ngưỡng Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc Cảnh giác, kiên quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động chia
Trang 7rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo đạo này với đồng bào theo đạo khác”3
Để thực hiện quan điểm của Đảng ta về nhất quán chính sách tôn giáo, nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI (tháng 3-1990) về đổi mới công tác quần
chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân đã nhìn nhận:
“Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân”.
Đây là một trong những cơ sở cho việc đổi mới nhận thức của Đảng về tôn giáo Với vấn đề đổi mới nhận thức về tôn giáo ở nước ta, đến nay ai cũng hiểu rằng, nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá VI được xem như dấu mốc thể hiện quan điểm mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn
giáo với ba luận điểm quan trọng có tính đột phá là: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn
tại lâu dài Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”
Với 3 luận điểm đó đã nhanh chóng tạo nên sự đột phá nhận thức: Phải nhìn nhận tôn giáo như một “thực tại xã hội” và là nhu cầu của một bộ phận quần chúng, và
nó hoàn toàn có thể đồng hành với chủ nghĩa xã hội Riêng luận đề mới mẻ về văn hoá tôn giáo đã khơi dậy trực tiếp những suy nghĩ, hành động tích cực của quần chúng, người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo Khi các giá trị văn hoá đạo đức của tôn giáo được đặt trong khuôn khổ của văn hoá dân tộc, một mặt đã thừa nhận sự đa dạng của văn hoá dân tộc, mặc khác tạo ra thêm một con đường đoàn kết dân tộc, tôn giáo Khai thác tốt các giá trị văn hoá, đạo đức của tôn giáo là cách tốt nhất để cho các tôn giáo thuận lợi hơn trong quá trình tìm về dân tộc Tiếp đó Nghị quyết 24 đã nêu ra 3 quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác tôn giáo, ba nhiệm vụ, năm nguyên tắc và năm chính sách cụ thể đối với tín đồ, chức
3 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội,1987,Tr.117
Trang 8sắc, nhà tu hành, với tổ chức giáo hội, với hoạt động từ thiện của tôn giáo và hoạt động đối ngoại và quan hệ quốc tế của tôn giáo
Trong báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa 6 tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VII có nêu: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ làm nghĩa vụ công dân”4
Tư tưởng nhất quán của Đảng trước sau như một, luôn quan tâm đến đời sống của đồng bào có đạo cũng như đồng bào không có đạo cả về mặt vật chất và tinh thần, mọi thành viên trong xã hội đề bình đẳng trước pháp luật Hệ thống tôn giáo truyền thống cũng như các tôn giáo ngoại sinh hay nội sinh cũng phải mang yếu tố
dân tộc để tồn tại trên nguyên tắc “tốt đời đẹp đạo; kính chúa yêu nước; sống
phúc âm trong lòng dân tộc”.
Trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều
70 có ghi: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo
một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật
và chính sách của Nhà nước”5
Kể từ sau nghị quyết 24 nói trên, Đảng ta còn có nhiều văn kiện khác khẳng định và phát triển tư duy đổi mới về vấn đề tôn giáo, đặc biệt là chỉ thị 37-CT/TW
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ấự thật, H 1991, tr.78.
5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Hà nội, 1992, tr 36.
Trang 9ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị khoá VIII về công tác tôn giáo trong tình hình mới, một văn kiện quan trọng lần đầu tiên được đăng tải công khai trên báo nhân dân và hàng loạt báo khác
Nghị quyết 25 (12/3/2004) của Hội nghị Trung ương 7 (Khóa IX) về công tác tôn giáo là sự tiếp tục đổi mới nhận thức của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo Đây là lần đầu tiên trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Trung ương bàn chuyên đề về công tác tôn giáo Trên cơ sở đánh giá tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo ở nước ta hiện nay Trung ương xác định những quan điểm, chính sách đối với tôn giáo; đề ra nhiệm vụ, những giải pháp chủ yếu và tổ chức thực hiện công tác tôn giáo hiện nay Cần ghi nhận con số sau đây: từ 1990 đến 2003, đã có 13 văn kiện
về các vấn đề tôn giáo gồm 2 nghị quyết, 2 chỉ thị, 9 thông báo Trong đó Ban bí thư ban hành một chỉ thị, 7 thông báo; Bộ Chính trị ban hành 1 nghị quyết, 1 chỉ thị và 2 thông báo; Ban Chấp hành Trung ương ban hành 1 nghị quyết
Điều quan trọng hơn cả là, đến nay nhận thức về vấn đề tôn giáo của cán bộ, đảng viên và nhân dân đã có bước tiến khá dài Một bầu không khí xã hội mới mẻ
đã lan toả, ranh giới vô hình mà khắc nghiệt về sự phân biệt “lương, giáo” mà các thế lực đế quốc thực dân, phong kiến trước đây cố tình khoét sâu mâu thuẫn này đã được gỡ bỏ căn bản, tạo nên những điểm sáng trong quan hệ đạo đời “tốt đời, đẹp đạo” Trong nghị quyết Trung ương bảy khóa IX đã xác định phương và mục đích
cơ bản của hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo là: “Nhằm tăng cường đoàn kết
đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” 6
2003, Tr 48.
Trang 10Nhận thức tôn giáo trong Nghị quyết thể hiện quá trình tiếp tục đổi mới về
tư duy của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo Nếu nghị quyết 24 nêu ba quan điểm chỉ đạo thì trong nghị quyết này Đảng ta nêu tới năm quan điểm, trong đó có sự khẳng định lại những quan điểm trước đó và có một số điểm mới bổ sung:
Một là: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Như
vậy, tín ngưỡng tôn giáo không chỉ được coi là hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, mà còn được xác định rõ: nó “đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội” Ở đây Đảng ta đề cập 2 mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và tôn giáo với chủ nghĩa xã hội Điều này Hồ Chí Minh cũng cho rằng, người cộng sản tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội không những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo Lý tưởng xây dựng xã hội của những người cộng sản có sự trùng hợp nhất định với những nhà sáng lập ra tôn giáo Khai thác những giá trị tích cực của các tôn giáo trước hết là các giá trị văn hoá và đạo đức, đồng thời luôn cảnh giác những âm mưu lợi dụng các tôn giáo và mục đích chính trị phản dân tộc và chống phá chủ nghĩa xã hội
Hai là: Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc Xuất phát từ nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay, từ vai trò
của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng và tính quần chúng của tôn giáo, Đảng
ta luôn chú ý tới yếu tố đại đoàn kết toàn dân tộc Đoàn kết toàn dân tộc không phải là điểm mới trong nhận thức của Đảng, nhưng Nghị quyết Trung ương Bảy khóa IX nhận mạnh yếu tố đoàn kết trong hoàn cảnh lịch sử mới Song, sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời phải chống lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà